1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ước chung bội chung

32 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải pháp thay thế - Giúp học sinh tìm ra những sai lầm, phân tích được nguyên nhân và chỉ rõ cách khắc phục những sai lầm đó trong quá trình thực hành giải bài toán số học - Nâng ca

Trang 1

MỤC LỤC

Nội dung Trang

1 Tóm tắt: 3

2 Giới thiệu: 4

3 Phương pháp: 5

3.1 Khách thể nghiên cứu: 5

3.2 Thiết kế: 6

3.3 Quy trình nghiên cứu: 6

3.4 Đo lường: 11

4 Phân tích dữ liệu: 11

5 Kết luận và khuyến ghị: 12

6 Tài liệu tham thảo: 14

7 Phụ lục: 15

Trang 2

KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG

Tên đề tài: Nâng cao kỹ năng giải bài toán tìm ước chung lớn nhất và bội

chung nhỏ nhất, thông qua một số biện pháp khắc phục những sai sót của

học sinh lớp 6a1

Người nghiên cứu: Trần Văn Ái

Đơn vị: Trường trung học cơ sở Tân Lập – Huyện Tân Biên

2 Giải pháp thay thế - Giúp học sinh tìm ra những sai lầm, phân tích được

nguyên nhân và chỉ rõ cách khắc phục những sai lầm đó trong quá trình thực hành giải bài toán số học

- Nâng cao kỹ năng giải bài toán tìm ước chung lớn nhất và bội chung nhỏ nhất, thông qua một số biện pháp khắc phục những sai sót của học sinh lớp 6a1

3 Vấn đề nghiên cứu

Dữ liệu có thể thu thập

được

Giả thuyết nghiên cứu

- Các kiến thức số học lớp 6 liên quan đến bội và ước trong chuong I

- Đưa ra một số biện pháp khắc phục những sai sót khi làm các dạng toán tìm ƯCLN và BCNN ở lớp 6 có tạo ra một nền tảng vững chắc cho việc học tập tiếp theo hay không?

- Có, nó sẽ giúp các em học tập đạt hiệu quả tốt hơn

Đồng thời chất lượng môn toán được nâng lên

4 Thiết kế - Lựa chọn thiết kế KT trước tác động và sau tác động

với các nhóm tương đương

- Mô tả số học sinh trong hai nhóm thực nghiệm và đối chứng

5 Đo lường - Thu thập dữ liệu về kiến thức qua bài kiểm tra

- Sử dụng công cụ đo bài kiểm tra trên lớp

6 Phân tích dữ liệu - Lựa chọn phép kiểm chứng Ttes độc lập để so sánh

giá trị trung bình của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng

- Tính độ lệch giá trị trung bình SMD

7 Kết quả - Kết quả đối với vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa không ?

Trang 3

1 TÓM TẮT :

Toán học là một trong những môn cơ bản giúp học sinh phát triển khả

năng tư duy, trí phán đoán, có cái nhìn khái quát, chính xác, khoa học Hình

thành kỹ năng nói chung, kỹ năng học tập toán nói riêng, là một quá trình phức

tạp, khó khăn phải phối hợp, đan xen, lồng ghép các biện pháp sư phạm một

cách hài hòa Để có kỹ năng phải qua quá trình luyện tập Việc luyện tập có hiệu

quả nếu biết khéo léo khai thác nội dung học tập, từ kiến thức ban đầu sang một

loạt nội dung tương tự, giúp học sinh lặp đi lặp lại nhiều lần, trong nhiều tình

huống khác nhau nhằm mục đích rèn luyện, củng cố, khắc sâu kiến thức, qua đó

học sinh được rèn luyện không chỉ tri thức mà còn rèn cả tri thức phương pháp

Như thế học sinh không những chỉ trang bị kiến thức mà còn là tri thức thực

hành toán học Vì vậy giáo viên cần rèn luyện các kỹ năng, các thuật toán, vận

dụng kết hợp một cách sáng tạo hợp lý giữa các kiến thức để giải quyết các bài

tập trên cơ sở nội dung lý thuyết đã học sao cho phù hợp với đại đa số học sinh

Rèn luyện kỹ năng thực hành trong tính toán, kỹ năng vận dụng cả hệ thống lý

thuyết đã học Xây dựng cho các em nề nếp khoa học chính xác phấn khởi trong

học tập, chủ động sáng tạo, tạo nếp tư duy các phương thức thao tác cần thiết

Giáo viên rèn luyện các kỹ năng nhằm đem lại thành công là vận dụng lý thuyết

vào bài tập tốt, kỹ năng giải bài tập thành thạo, lập luận lôgíc, chặt chẽ tránh

được những sai sót Nhưng sai sót trong lập luận, trong khi trình bày bài toán

vẫn xảy ra thường xuyên ở đối tượng học sinh đại trà mà tôi đã dạy trong các

năm qua như :

1/ Sử dụng ký hiệu toán học

2/ Sai sót do cẩu thả, thiếu tính cẩn thận trong trình bày

3/ Sai sót do không nắm vững hệ thống kiến thức

4/ Sai sót do không lập luận hoặc lập luận vô căn cứ

5/ Sai sót do không biết cách trình bày hoặc trình bày tuỳ tiện hoặc trình

bày rập khuôn, máy móc

Do đó, khắc phục những sai sót là rất cần thiết đối với học sinh lớp 6 để

tạo nền tảng cho các lớp sau

Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương đương : Hai lớp 6 trường

THCS Tân Lập Lớp 6A1 là lớp thực nghiệm và 6A2 là lớp đối chứng Lớp thực

nghiệm được thực hiện giải pháp thay thế giúp học sinh khắc phục những sai

sót là rất cần thiết đối với học sinh lớp 6 Kết quả cho thấy tác động đã có ảnh

hưởng rõ rệt đến kết quả học tập của học sinh lớp thực nghiệm đã đạt kết quả

học tập cao hơn so với lớp đối chứng

Trang 4

5,78 -test cho

giữa điểm trung bình của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng Điều đó chứng

minh rằng thông qua một số biện pháp khắc phục những sai sót khi làm các

dạng toán tìm ƯCLN và BCNN trong chương I Kỹ năng giải toán của học sinh

tốt hơn Chất lượng bộ môn toán được nâng cao

2 GIỚI THIỆU:

2.1 Hiện trạng :

Với những sai sót và nguyên nhân dẫn đến sai sót trong khi giải toán số

học nói chung, dạng toán tìm ƯCLN và BCNN nói riêng, vận dụng những kinh

nghiệm của bản thân và đồng nghiệp trong giảng dạy tôi đã tìm ra những biện

pháp giúp học sinh trình bày tốt các dạng toán tìm ƯCLN và BCNN Sau đây là

những biểu hiện sai sót cụ thể và biện pháp khắc phục triệt để những sai sót đó

qua từng dạng bài tập cơ bản sẽ thể hiện được điều đó :

1/ Sử dụng ký hiệu toán học

2/ Sai sót do cẩu thả, thiếu tính cẩn thận trong trình bày

3/ Sai sót do không nắm vững hệ thống kiến thức

4/ Sai sót do không lập luận hoặc lập luận vô căn cứ

5/ Sai sót do không biết cách trình bày hoặc trình bày tuỳ tiện hoặc trình

bày rập khuôn, máy móc

Nguyên nhân sai sót :

- Học sinh chưa có phương pháp học tập đúng đắn với bộ môn:

+ Chưa học lý thuyết đã làm bài tập

+ Chưa nắm kiến thức một cách có hệ thống

+ Một số học sinh yếu chưa có cố gắng trong học tập, thiếu tập trung

trong tiết học thậm chí lười ghi cả bài giải mẫu của giáo viên

+ Học sinh chưa chú trọng việc học bài cũ, giải bài tập ở nhà

- Trong quá trình giải bài tập :

+ Học sinh thiếu tính cẩn thận khi trình bày

+ Không nắm được đề bài cho cái gì, yêu cầu cái gì ? mà nguyên nhân là

do không đọc kỹ đề nên lập luận sai dẫn đến bài toán sai

- Thiếu sự quan tâm của gia đình trong việc học ở nhà do đó các em chỉ làm

bài tập “qua loa, lấy lệ” rồi đi chơi

Trang 5

2.2.Giải pháp thay thế :

- Giúp học sinh tìm ra những sai lầm, phân tích được nguyên nhân và chỉ

rõ cách khắc phục những sai lầm đó trong quá trình thực hành giải bài toán số

học

- Nâng cao kỹ năng giải bài toán tìm ước chung lớn nhất và bội chung

nhỏ nhất, thông qua một số biện pháp khắc phục những sai sót của học sinh lớp

6a1

2.3 Một số nghiên cứu gần đây liên quan đến đề tài

- Chuyên đề : Hoạt đông tổ nhóm của học sinh

- Hướng dẫn học sinh học bài và làm bài tập ở nhà môn toán phần số học

lớp 6

- Một vài phương pháp giúp học sinh rèn luyện kĩ năng vẽ hình theo cách

diễn đạt

2.4 Vấn đề nghiên cứu :

Việc áp dụng một số biện pháp khắc phục những sai sót khi giải bài toán

tìm ước chung lớn nhất và bội chung nhỏ nhất ở lớp 6 có nâng cao kết quả học

tập của học sinh không ?

2.5 Giả thuyết nghiên cứu :

Đưa ra một số biện pháp khắc phục những sai sót khi làm các dạng toán

tìm ƯCLN và BCNN ở lớp 6 có nâng cao kết quả học tập của học sinh

3 PHƯƠNG PHÁP:

3.1 Khách thể nghiên cứu:

*Giáo viên: Trần Văn Ái – giáo viên toán dạy lớp 6A1 trường THCS Tân

Lập trực tiếp thực hiện việc nghiên cứu

*Học sinh: Lớp 6A1 (Nhóm thực nghiệm) và lớp 6A2 (Nhóm đối chứng)

Trang 6

-test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình của 2 nhóm trước khi tác động

Bảng kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương:

Sử dụng thiết kế 2: Kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm

O4

, tôi sử dụng phép kiểm chứng T-Test độc lập

3.3 Quy trình nghiên cứu và các biện pháp áp dụng:

* Chuẩn bị của giáo viên:

Trang 7

- Đề cương, kế hoạch bài học và các biện pháp áp dụng, sau đó tiến hành

thực nghiệm Thời gian thực nghiệm bắt đầu từ ngày 22 tháng 9 năm 2014 đến

ngày 9 tháng 1 năm 2015

- Giúp học sinh ôn luyện kiến thức vừa học ở trường và cách trình bày bài

giải

- Hình thành học sinh thói quen tập trung chú ý, làm việc theo thời gian,

đọc sách giáo khoa trước khi đến lớp, tích cực tham gia xây dựng bài

- Tạo sự tự tin trong học tập và tự kiểm tra bài giải

- Tổ chức các nhóm và giao nhiệm vụ cho các nhóm, hướng dẫn cách làm

việc cho nhóm

- Bài tập thực tế, bài tập về nhà cần hướng dẫn

- Phối hợp với phụ huynh trong việc học tập của con em, thường xuyên trao

đổi thông tin học tập.Giáo viên theo dõi, uốn nắn, khắc phục

Nắm bắt được nguyên nhân và đã kịp thời đưa ra biện pháp giải quyết

nguyên nhân nhưng học sinh vẫn mắc phải những sai sót Vì vậy, tôi đã xác định

các luận điểm và đưa ra biện pháp khắc phục

Sau đây tôi sẽ đi sâu diễn giải các luận điểm với mỗi dạng bài tôi sẽ chỉ ra

những sai sót qua các ví dụ minh chứng đã gặp và chỉ rõ các biện pháp khắc

phục đã thực hiện

* Sử dụng ký hiệu toán học :

Trong quá trình giải quyết dạng toán về ước và bội, việc sử dụng ký

hiệu toán học đóng vai trò khá quan trọng Vì vậy đối với các kiến thức về tập

hợp nếu học sinh không hiểu và nắm vững các ký hiệu, cách ghi ký hiệu nên dẫn

đến sai sót trong trình bày Đại bộ phận học sinh yếu và trung bình yếu

Ví dụ : Bài tập 136/ 53/ SGK tập 1

Học sinh ghi tập hợp A các số tự nhiên nhỏ hơn 40 là bội của 6:

A = 0 ; 6 ; 12 ; 18 ; 24 ; 30 ; 36 mà không dùng dấu ngoặc nhọn để chỉ tập

hợp A

Hoặc giữa các phần tử bằng số mà học sinh chỉ ghi dấu phẩy (,) mà

không ghi dấu chấm phẩy (;) như A = {0 , 6 , 12 , 18 , 24 , 30 , 36 }

Hoặc thiếu dấu bằng “ = ”

Biện pháp :

Để khắc phục những sai sót trên, đây là sai sót đáng tiếc, giáo viên cần thường

xuyên cho học sinh sử dụng các ký hiệu toán học quen thuộc này thông qua các

bài tập trắc nghiệm: Phân biệt cách ghi đúng sai, tìm chỗ sai và sửa sai trong cách

ghi …,hoặc thông qua một số phản ví dụ nhằm giúp các em khắc sâu các ký hiệu

Trang 8

toán học và tránh được một số nhầm lẫn đáng tiếc Cần giải thích thấu đáo để các

em hiểu đó là quy định bắt buộc không thể thay đổi Giải thích rõ quan hệ giữa

phần tử với tập hợp chỉ có thể là: phần tử thuộc “ ” hoặc không thuộc “ ” tập

hợp Còn quan hệ giữa tập hợp và tập hợp là : tập hợp này là con của tập hợp kia

hoặc tập hợp này bằng tập hợp kia

Trong từng tiết dạy cần cho các em tự tìm cái sai và sửa sai qua từng chi tiết

nhỏ nhất dần tạo cho các em thói quen cẩn thận trong quá trình giải toán

* Sai sót do cẩu thả, thiếu tính cẩn thận chính xác khi làm bài :

Khi giải các bài tập về tìm ƯCLN hoặc BCNN, học sinh trung bình, trung

bình khá thường mắc phải sai sót nhiều nhất là tính toán không cẩn thận kể cả

trong phép chia cho số có một chữ số Chẳng hạn phân tích số 420 ra thừa số

nguyên tố, học sinh sẽ ghi :

Với những sai sót này đòi hỏi giáo viên phải nhắc nhở học sinh cẩn thận với

từng con số, từng phép tính, khi thực hiện xong mỗi một phép tính, mỗi một bài

toán các em cần “ dò ” lại bài, có thể qua phép toán ngược hoặc làm lại lần hai

xem có nhầm lẫn con số, phép tính nào không ? Việc làm này cần được tập thành

thói quen thường xuyên khi giải toán Thông qua các bài tập ở bảng lớp trong

từng tiết dạy giáo viên cũng hướng dẫn sửa sai tương tự để học sinh dần đi vào

nếp, dần dần tạo cho tính cẩn thận, chính xác

Trang 9

* Sai sót do không nắm vững hệ thống kiến thức :

Khi tìm ƯCLN và BCNN của 2 hay nhiều số, ngoài việc mắc phải những sai

sót như đã nói ở trên học sinh còn khá nhiều sai sót cơ bản do không nắm vững

hệ thống kiến thức Chẳng hạn cách viết ký hiệu ƯCLN và BCNN, học sinh vẫn

còn nhầm lẫn giữa hai ký hiệu này do không hiểu rõ bản chất của ƯCLN là “ số

lớn nhất trong tất cả các ƯC ” hoặc BCNN là “ số nhỏ nhất khác 0 trong các BC

” Sau khi học bài ƯCLN và BCNN, học sinh vẫn không vận dụng được cách tìm

ƯC thông qua ƯCLN hoặc BC thông qua BCNN mà vẫn giữ thói quen tìm ƯC

hoặc BC qua các bài trước vừa mất nhiều thời gian vừa không liên kết kiến thức

Khi tìm ƯCLN và BCNN, học sinh còn mất khá nhiều công sức khi phân tích

một số ra thừa số nguyên tố do không nắm vững cách làm, không thuộc các số

nguyên tố nhỏ hơn 100 Do không hệ thống được kiến thức, phân biệt được sự

giống và khác nhau giữa cách tìm ƯCLN và BCNN nên học sinh mắc rất nhiều

sai sót khi tìm ƯCLN và BCNN dẫn đến những sai sót đáng tiếc sau này khi giải

bài toán giải liên quan đến bội và ước và tìm mẫu số chung ở phần phân số

Ví dụ : Bài tập 142/56 SGK toán 6 tập I

Tìm ƯCLN rồi tìm ƯC của 60;90;135

Bài giải : Bước 1 : 60 = 22.3.5 ; 90 = 2.32.5 ; 135 = 33 5

Bước 2 : ƯCLN ( 60; 90; 135) 3.5=15

Bước 3 : ƯC ( 60;90;135) = Ư(15) = {1;3;5;15}

Học sinh sẽ mắc sai sót :

Bước 1 : Nhiều em còn yếu sẽ rất lúng túng và không phân tích được các số ra

thừa số nguyên tố do không nắm các số nguyên tố

Bước 2 : Học sinh sẽ sai sót vì không biết phải chọn thừa số nguyên tố chung

hay riêng, số mũ lớn nhất hay số mũ nhỏ nhất vì không nắm vững quy tắc tìm

ƯCLN và BCNN

Bước 3 : Rất nhiều học sinh sẽ không đi theo bước 3 mà quay lại lần lượt tìm

Ư(60), Ư(90), Ư(135) rồi tìm giao của 3 tập hợp ước đó theo cách làm ở bài 16

vừa tốn nhiều công sức vừa rất dễ gặp sai sót, hoặc một số em biết cách làm

nhưng lại rất lúng túng trong trình bày thậm chí là trình bày sai

Biện pháp :

Đối với việc học sinh không nắm được hệ thống các số nguyên tố nhỏ hơn

100 thì giáo viên có thể bắt buộc từng đôi bạn hoặc nhóm học tập tự kiểm tra và

báo cáo kết quả Hoặc khi dạy về phần số nguyên tố, sau tiết học có thể tổ chức

Trang 10

một trò chơi nhỏ vui: Điền số nguyên tố còn thiếu vào bảng theo yêu cầu của đề

bài Học sinh sẽ rất hào hứng tham gia, vừa gây hứng thú học tập vừa khắc sâu

kiến thức cho các em Sai sót do không biết cách tìm ƯCLN và BCNN: Đây là

sai sót rất thường gặp Vì vậy sau hai bài học này, giáo viên cần cho học sinh tự

so sánh hai cách tìm để tìm ra điểm giống khác nhau giữa hai quy tắc Đồng thời

cũng thường xuyên củng cố hai quy tắc này qua các bài tập củng cố Nhấn mạnh

những sai sót thường gặp đó và nói rõ tác hại nguy hiểm của các sai sót đó Yêu

cầu mỗi em lập bảng so sánh dán ngay đầu trang bìa vở để thường xuyên đập vào

mắt các em giúp các dễ nhớ kiến thức

Riêng với cách tìm ƯC và BC thông qua ƯCLN và BCNN:

Sau khi học lý thuyết giáo viên cho các em thực hành một số ví dụ sau khi đã

có một bài giải mẫu Đưa ra cho các em lời khuyên “ từ bài này trở đi ta không

cần tìm ƯC và BC bằng cách làm như ở bài 16 ”

* Sai sót do không lập luận, lập luận không có căn cứ khi trình bày

Trong trình bày bài toán bằng lời học sinh thường thiếu chính xác, lập luận

không chặt chẽ, thiếu căn cứ, không có cơ sở toán học Nguyên nhân là khả năng

tư di các em chưa cao, phụ thuộc vào lứa tuổi

Ví dụ : Bài tập 146/ 57 SGK toán 6 tập 1

Tìm số tự nhiên x biết rằng 112  x ; 140  x và 10 < x < 20

Rất nhiều học sinh nhẩm tìm từng số nhưng khi hỏi lý do vì sao có các số đó thì

học sinh rất lúng túng không thể trả lời được Nguyên nhân là do các em chưa

biết cách lập luận bài toán để giải cho lôgíc

Biện pháp :

Đối với sai sót này, giáo viên cần chỉ cho các em biết cách xoáy sâu vào yêu

cầu của đề, lập luận theo những điều đề đã cho để không đi lệch hướng hoặc hoặc

giải bài toán chỉ có kết quả mà không qua một bước lập luận nào Giáo viên có

thể hướng dẫn cho học sinh tập lập luận qua một số câu hỏi gợi mở:

+ x N; 112  x ; 140  x như vậy x là gì ?

+ 10 < x < 20 , vậy thì những số nào là số cần tìm ?

* Sai sót do không biết cách trình bày hoặc trình bày tuỳ tiện, máy

móc :

Đối với hai bài toán giải bằng lời liên quan đến bội và ước, học sinh không biết

cách giải hoặc không nắm vững cách trình bày nên nhiều em trình bày lẫn lộn,

tuỳ tiện giữa các bước làm mất đi tính lôgíc trong lời giải, hoặc bỏ đi một vài

bước trong bài giải làm cho bài giải thiếu tính chặt chẽ Đôi lúc do lập luận nhầm

lẫn giữa hai bài toán này nên học sinh không làm được bài Một điều quan trọng

Trang 11

hơn nữa là nhiều em kể cả học sinh khá giỏi vẫn rất máy móc, rập khuôn theo bài

giải mẫu, thuật toán có sẵn mà quên mất rằng đề bài đã đưa ra không theo bài

toán mẫu

Ví dụ : Một số sách nếu xếp thành từng bó 10 quyển, 12 quyển,15 quyển đều thừa

1 quyển Tính số sách đó biết rằng số sách trong khoảng từ 100 đến 150

Sai sót :

Do không đọc kỹ đề, học sinh cứ thế theo bài toán mẫu rập khuôn vào mà

giải, không để ý bài toán cho khi xếp thừa 1 quyển để lập luận bài toán theo chiều

hướng khác

Biện pháp :

Đối với dạng mở rộng này, giáo viên cần nhắc nhở kỹ cho các em không phải

khi nào cũng rập khuôn đúng mẫu mà ta phải linh hoạt lập luận theo đề bài toán,

đi theo đúng hướng chặt chẽ theo đề bài

Chẳng hạn ở ví dụ trên ta phải biết số sách (a) đó xếp 10 quyển, 12 quyển, 15

quyển đều thừa 1 quyển nghĩa là nếu bớt 1 quyển thì số sách đó sẽ được chia đều

cho 10, cho 12, cho 15 a-1 là BC ( 10;12;15) Tìm a - 1 rồi mới tìm a

- Giáo viên mở rộng ra cho học sinh :

Nếu trường hợp bài toán cho tương tự nhưng thay vì thừa 1 thì bài toán lại

cho thiếu 1 thì sao ?

Cách giải tương tự chỉ thay vào a – 1 là a + 1 là BC (10,12,15)

- Tiến hành kiểm tra và chấm bài

( nội dung kiểm tra trình bày ở phần phụ lục )

4 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN:

Trang 12

0 1 2 3 4 5 6 7 8

Trước tác động

Sau tác động

Nhóm đối chứng Nhóm thực nghiệm

Đề tài đã được thực hiện và đảm bảo những yêu cầu đề ra Đề tài đã chỉ ra

những sai sót mà học sinh thường mắc phải khi giải toán, nguyên nhân dẫn đến

những sai sót đó và những biện pháp thiết thực, cụ thể với từng trường hợp sai

sót của từng dạng toán, qua đó giúp học sinh khắc phục dần các sai sót để giải

Trang 13

đây không hẳn là hoàn toàn mới lạ nhưng nó thể hiện được các biện pháp cụ thể,

thiết thực khắc phục cách giải trong từng dạng bài toán hay sai sót khi học sinh

giải toán mà nhiều thầy cô không chú ý hoặc không thực hiện đầy đủ và cụ thể

nên không giúp học sinh rèn giải dạng toán nói trên Hơn nữa đề tài đòi hỏi phải

thực hiện bền bỉ, kiên trì thì mới có hiệu quả thiết thực nhất là với các em học

sinh yếu

Trong quá trình thực hiện đề tài có sự góp ý của các đồng nghiệp, tạo điều

kiện của tổ, của trường Tôi xin cảm ơn các ý kiến đóng góp chân thành của các

đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành đề tài

Đối với các cấp lãnh đạo: Cần khuyến khích giáo viên nghiên cứu chọn

ra giải pháp hữu hiệu nhằm khắc phục học sinh yếu kém của từng môn học

Động viên, giúp đỡ và khen thưởng những giáo viên có thành tích trong việc

nâng cao chất lượng dạy và học ở nhà trường

Đối với giáo viên: Phải không ngừng đầu tư nghiên cứu tìm ra giải pháp

nâng cao chất lượng giáo dục Phải không ngừng học tập nâng cao trình độ

chuyên môn nghiệp vụ của bản thân, tích lũy kinh nghiệm từ đồng nghiệp và

bản thân, biết cách áp dụng hợp lí với lớp mình giảng dạy

Với kết quả của đề tài nghiên cứu, tôi rất mong muốn được sự quan tâm,

giúp đỡ của các cấp lãnh đạo ngành giáo dục Những ý kiến đóng góp quý báu,

chân thành của quý đồng nghiệp giúp cho tôi hoàn chỉnh đề tài này đạt kết quả

cao hơn

Trang 14

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

- Tài liệu NCKHSPƯD của Bộ Giáo Dục

- Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục

- Phương pháp dạy học môn toán

Trang 15

-HS hiểu được thế nào là ƯCLN của hai hay nhiều số, thế nào là hai số

nguyên tố cùng nhau, ba số nguyên tố cùng nhau

-HS biết tìm ƯCLN của hai hay nhiều số bằng cách phân tích các số đó ra

thừa số nguyên tố

1.2 Kĩ năng:

HS biết tìm ƯCLN của hai hay nhiều số bằng cách phân tích các số đó ra

thừa số nguyên tố

HS biết tìm ƯCLN một cách hợp lý trong từng trường hợp cụ thể, biết tìm

ƯC và ƯCLN trong các bài toán thực tế

1.3 Thái độ:

-Giáo dục cho hs tính cẩn thận, chính xác, thẩm mỹ Ứng dụng của các bài

toán trong thực tế

2/ Nội dung học tập :

Tìm ƯCLN của hai hay nhiều

3/ Chuẩn bị:

3.1.GV: Thước thẳng, máy tính

3.2.HS: Thước thẳng, máy tính

4/ Tổ chức các hoạt động học tập:

4.1/ Ổn định tổ chức – kiểm diện:

4.2/ Kiểm tra miệng:

HS1:-Thế nào là giao của hai tập hợp?(4đ)

-Chữa bài tập 172/23 SBT (6đ)

HS2:-Thế nào là ước chung của hai hay nhiều số? (4đ)

-Chữa bài tập 171/23 SBT.(6đ)

ĐÁP ÁN : ĐN:SGK

Trang 16

Bài tập 171/ 23 SBT:

GV: đặt vấn đề: Có cách nào tìm ước chung của hai hay nhiều số mà không cần

liệt kê các ước của mỗi số hay không?

HS: Chú ý bài mới

4.3.Tiến trình bài học:

Hoạt động 1: Định nghĩa ƯCLN ( 10’) (1) Mục tiêu:

- Kiến thức: Hiểu ƯCLN của hai hay nhiều số

- Kỹ năng: Tìm được ƯCLN trong tập hợp các ước chung

(2) Phương pháp, phương tiện dạy học:

- Phương pháp: Vấn đáp, gợi mở, trực quan, …

- Phương tiện dạy học: Thước thẳng, bảng phụ ghi nội dung các bài tập

(3) Các bước của hoạt động:

Bước 1: GV nêu ví dụ 1: Tìm các tập

hợp Ư(12); Ư(30); ƯC(12;30).Tìm số lớn

nhất trong tập hợp ƯC(12;30)

HS hoạt động nhóm thực hiện bài làm

trên giấy trong:

Số lớn nhất trong tập hợp các ƯC(12;30)

là 6

Bước 2:GV giới thiệu ƯCLN và kí hiệu:

Ta nói 6 là ước chung lớn nhất của 12

Đọc phần đóng khung trong SGK/54

GV:-Hãy nêu nhận xét về quan hệ giữa

ƯC và ƯCLN trong ví dụ trên

1/ Ước chung lớn nhất:

Nhận xét: SGK/54

ĐS:1

Cách

chia Số nhóm

Số nam ở mỗi

nhóm

Số nữ ở mỗi nhóm

Ngày đăng: 27/02/2021, 14:32

w