1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Hướng dẫn cách học và làm bài thi HSG Địa lý

36 4,1K 41
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hướng dẫn cách học và làm bài thi học sinh giỏi địa lý
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Địa lý
Thể loại Hướng dẫn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 591,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

b Trong mỗi lĩnh vực, những kiến thức cơ bản mà HS cần hiểu sâu, nhớ lâu, vận dụng được là các khái niệm, mối liên hệ nhân quả địa lí, quy luật địa lí,các học thuyết, quan điểm địa lí..

Trang 1

độ cao hơn nữa, HS giỏi là những người có khả năng sáng tạo, nghĩa là khảnăng tìm ra cái mới, cách giải quyết mới.

Như vậy, để trở thành HS giỏi nói chung và HS giỏi địa lí nói riêng, cần phảirèn luyện trên cả ba phương diện : kiến thức, kĩ năng địa lí và kĩ năng tư duy

1 Kiến thức

a) Kiến thức địa lí phổ thông hiện hành gồm cả địa lí đại cương (tự nhiên,

kinh tế - xã hội), địa lí thế giới (tự nhiên, kinh tế - xã hội), địa lí Việt Nam(tự nhiên, kinh tế - xã hội) Chương trình địa lí THPT yêu cầu HS phải nắmvững một số kiến thức phổ thông, cơ bản, mang tính hệ thống, thiết thực về:

- Trái Đất - môi trường sống của con người (các thành phần cấu tạo và tácđộng qua lại giữa chúng, một số quy luật của môi trường tự nhiên trên TráiĐất ; dân cư và các hoạt động của dân cư trên Trái Đất ; mối quan hệ giữadân cư, hoạt động sản xuất và môi trường)

- Đặc điểm của nền kinh tế thế giới đương đại Đặc điểm tự nhiên, dân cư,kinh tế - xã hội của một số khu vực, quốc gia trên thế giới

- Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, dân cư, kinh tế và những vấn đềđặt ra đối với tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội của đất nước, của các vùng

và địa phương nơi HS đang sinh sống

b) Trong mỗi lĩnh vực, những kiến thức cơ bản mà HS cần hiểu sâu, nhớ lâu,

vận dụng được là các khái niệm, mối liên hệ nhân quả địa lí, quy luật địa lí,các học thuyết, quan điểm địa lí Những loại kiến thức này làm rõ bản chấttri thức địa lí

Trang 2

- Các khái niệm địa lí nhằm phản ánh bản chất của sự vật, hiện tượng địa lí vàmối quan hệ giữa chúng với nhau Trong chương trình địa lí THPT, chúng

có thể được trình bày theo nhiều cách khác nhau, tuỳ thuộc vào nội dungkhái niệm Có những khái niệm được trình bày một cách khái quát, ngắngọn, chẳng hạn như : "Thổ nhưỡng (đất) là lớp vật chất tơi xốp ở bề mặt lụcđịa, được đặc trưng bởi độ phì", hay "Nội lực là lực phát sinh ở bên trongTrái Đất", Tuy nhiên, do nội dung phức tạp của nhiều sự vật, hiện tượngđịa lí, nên một số khái niệm được trình bày theo lối diễn dịch, liên quanđến nhiều kiến thức địa lí khác Ví dụ, khái niệm về chuyển động biểu kiếnhằng năm của Mặt Trời, về hiện tượng mùa và hiện tượng ngày đêm dàingắn theo mùa, về gió mùa, Việc hiểu một khái niệm địa lí thường phảidựa trên ít nhất một khái niệm khác đã học có liên quan ; có nhiều kháiniệm mà để hiểu được phải dựa trên cơ sở của nhiều khái niệm khác, ví dụ :giờ trên Trái Đất, quy luật địa đới, tính đai cao,

- Các mối liên hệ nhân quả là loại kiến thức phổ biến trong địa lí Việc giảithích các hiện tượng địa lí phần lớn phải dựa vào các mối liên hệ này Cácmối liên hệ nhân quả có nhiều loại khác nhau Có những mối liên hệ đơngiản (chỉ có một nguyên nhân và một kết quả), ví dụ : mối liên hệ giữa độcao địa hình và nhiệt độ không khí, nhiệt độ và khí áp, độ ẩm và khí áp,cấu tạo của đá và nước ngầm, chế độ mưa và nhiệt với chế độ nước sông,dòng biển với lượng mưa ven bờ đại dương, đá mẹ và thổ nhưỡng, khí hậu

và sự phân bố sinh vật, Có những mối liên hệ nhân quả phức tạp (mộtnguyên nhân gây ra nhiều kết quả, hay nhiều nguyên nhân gây ra một kếtquả), ví dụ : vận động tự quay quanh trục của Trái Đất đã gây ra các hệ quảnhư sự luân phiên ngày đêm, chuyển động biểu kiến hằng ngày của cácthiên thể, giờ trên Trái Đất, sự lệch hướng chuyển động của các vật thể ; sựphân bố nhiệt độ trên Trái Đất chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, như :hình dạng và vị trí của Trái Đất so với Mặt Trời, sự phân bố lục địa vàbiển, các dòng biển nóng và lạnh, Các nguyên nhân và kết quả liên tục

kế tiếp nhau tạo ra một chuỗi mối liên hệ nhân quả, ví dụ : ở thảo nguyênvới khí hậu lục địa nửa khô hạn có thực vật chủ yếu là cỏ, tạo nên đất đen

có tầng mùn dày ; ở sườn núi, khi lên cao, nhiệt độ, lượng mưa và áp suấtkhông khí thay đổi, do đó sinh vật phân bố theo từng vành đai thẳng đứngcũng khác nhau ; địa hình có tác động đến sự phân bố lại lượng nhiệt và ẩmtrong đá mẹ, nhiệt và ẩm đó có tác động đến chiều hướng và cường độ củaquá trình hình thành đất,

Trang 3

- Các quy luật địa lí thường được học tập trung ở chương cuối của một phầnhay một số phần (trong một lớp), có tính khái quát các mối liên hệ nhânquả phổ biến và lặp đi lặp lại thường xuyên Học thuyết được học trongchương trình địa lí tuy không nhiều, nhưng rất cần thiết cho việc hiểu đượcnhiều kiến thức địa lí khác (Ví dụ, học thuyết BicBang về sự hình thành Vũtrụ, thuyết kiến tạo mảng Đặc biệt thuyết kiến tạo mảng cho phép giảithích rất nhiều sự vật và hiện tượng trên Trái đất, ví dụ sự tạo núi, các vànhđai núi lửa và động đất, ).

- Ngoài các kiến thức cơ bản trên, trong sách giáo khoa còn trình bày về các

sự vật hiện tượng địa lí cụ thể, các biểu tượng địa lí, Các kiến thức nàyđóng vai trò hoặc để cụ thể hoá các kiến thức cơ bản trên, hoặc là cơ sở đểrút ra các kiến thức khái quát

c) Kiến thức địa lí phổ thông mà HS cần nắm, được chia thành 6 mức độ :

Biết : Ghi nhớ được các sự kiện, khái niệm, định nghĩa, hệ quả, thuật ngữ

và các nguyên lí dưới hình thức được học

Hiểu : Hiểu được kí hiệu, ý nghĩa và mối liên hệ trong khái niệm, định lí,

hệ quả, công thức, Có khả năng diễn giải, mô tả, tóm tắt thông tin đã thuđược, không nhất thiết phải liên hệ tư liệu này với tư liệu khác

Vận dụng : Sử dụng thông tin trong các tình huống khác với tình huống đãhọc ; khái quát hoá, trừu tượng hoá những kiến thức đã biết

Phân tích : Biết cách tách tổng thể thành các bộ phận và biết rõ sự liên hệgiữa các bộ phận đó với nhau trong cùng một cấu trúc

Tổng hợp : Biết kết hợp các bộ phận thành một tổng thể mới từ tổng thể cũ.Cần có khả năng phân tích để đi đến tổng hợp Ở đây bắt đầu thể hiện sựsáng tạo của cá nhân

Đánh giá : Đòi hỏi có những hành động so sánh, phê phán, chọn lọc, quyếtđịnh trên cơ sở các tiêu chí và tính hợp lí Cần có khả năng tổng hợp đểđánh giá

Cũng là một kiến thức, nhưng có thể yêu cầu HS nắm ở 6 mức độ khácnhau Ví dụ : kiến thức "Hệ quả chuyển động tự quay của Trái Đất", yêucầu theo 6 mức như sau :

- Biết : Nhớ được 3 hệ quả : sự luân phiên ngày đêm, giờ trên Trái Đất vàđường chuyển ngày quốc tế, sự lệch hướng chuyển động của các vật thể

Trang 4

- Hiểu : Không những nhớ mà còn phải giải thích được như thế nào là sự luânphiên ngày đêm, như thế nào là giờ địa phương, giờ quốc tế, đường chuyểnngày quốc tế, sự lệch hướng chuyển động của các vật thể khác nhau giữahai bán cầu như thế nào.

- Áp dụng : Sử dụng kiến thức về sự lệch hướng chuyển động của các vật thể

để giải thích sự lệch hướng gió trên Trái Đất, sự mài mòn đường ray xe lửabên phải ở các nước thuộc bán cầu Bắc giải thích được hiện tượng trongnhật kí ghi chậm một ngày lịch so với lịch địa phương khi về lại đích củacác đoàn thám hiểm vòng quanh Trái Đất

- Phân tích : Làm rõ được nguyên nhân của sự luân phiên ngày đêm là do haiyếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau : Hình khối cầu của Trái Đất làm cho

nó luôn được chiếu sáng một nửa (ngày), còn một nửa khuất trong bóng tối(đêm) Đồng thời, do Trái Đất tự quay quanh trục, nên mọi nơi trên bề mặtTrái Đất đều lần lượt được Mặt Trời chiếu sáng rồi lại chìm trong bóng tối,gây nên hiện tượng luân phiên ngày đêm Thiếu đi một trong hai yếu tố đó

sẽ không có hiện tượng luân phiên ngày đêm Hoặc, phải đặt ra đườngchuyển ngày quốc tế, vì trên Trái Đất có một múi giờ, tại đó vừa là 0 giờ(của ngày hôm sau), vừa là 24 giờ (của ngày hôm trước) Hai bên đườngkinh tuyến có ngày khác nhau Do vậy, khi vượt qua kinh tuyến đó theochiều từ tây sang đông phải cộng thêm một ngày ; ngược lại - phải trừ đi

1 ngày Đường kinh tuyến đó được gọi đường chuyển ngày quốc tế

- Tổng hợp : Có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng trên cơ sở phân tíchtrên, có thể HS dự đoán được kết quả của trường hợp giả định nếu Trái Đấtkhông tự quay quanh trục, thì có hiện tượng ngày đêm không ? Lúc đó thờigian một ngày đêm trên Trái Đất là bao nhiêu ? Hay, nếu không đặt rađường chuyển ngày quốc tế, điều gì sẽ xảy ra trong quan hệ quốc tế giữacác nước thuộc các múi giờ khác nhau ?

HS bình thường, về cơ bản chỉ cần đạt ở mức 1 và 2, một số kiến thức cóthể đạt ở mức 3, 4 là được HS giỏi cần phải có kiến thức đạt ở mức caohơn, như phân tích, tổng hợp, đặc biệt là đánh giá Những mức này đòi hỏicác em phải có một hệ thống tri thức địa lí nhất định, đồng thời có được các

kĩ năng tư duy cần thiết

2 Kĩ năng địa lí

a) Học Địa lí ở THPT, HS cần phải củng cố và phát triển các kĩ năng :

Trang 5

- Quan sát, nhận xét, phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá các sự vật, hiệntượng địa lí ; sử dụng bản đồ, biểu đồ, đồ thị, lát cắt, số liệu thống kê,

- Thu thập, xử lí, trình bày các thông tin địa lí

- Vận dụng kiến thức để giải thích các hiện tượng, sự vật địa lí và giải quyếtmột số vấn đề của cuộc sống, sản xuất gần gũi với HS trên cơ sở tư duykinh tế, tư duy sinh thái, tư duy phê phán

b) Kĩ năng địa lí trong nhà trường phổ thông được chia ra 5 mức độ :

Bắt chước : Quan sát và cố gắng lặp lại một kĩ năng nào đó

Thao tác : Hoàn thành một kĩ năng nào đó theo chỉ dẫn hơn là bắt chướcmáy móc

Chuẩn hoá : Lặp lại một kĩ năng nào đó một cách chính xác, nhịp nhàng,đúng đắn và thường được thực hiện một cách độc lập, không phảihướng dẫn

Phối hợp : Kết hợp nhiều kĩ năng theo một trật tự, một cách nhịp nhàng và

Các kĩ năng sẽ có được một cách vững chắc nhờ vào việc luyện tập thườngxuyên và có kết quả trên cơ sở những hiểu biết cần thiết về kĩ năng

3 Tư duy

a) Tư duy có nhiều loại Trong học tập hiện nay, tư duy cần có ở HS là tư

duy lôgic (xem xét sự vật trong dạng tĩnh tại), tư duy biện chứng (xem xét

sự vật trong sự vận động một cách lôgic), tư duy hình tượng (hình dung ra

sự vật, hiện tượng với những đặc điểm vốn có của nó)

Ngoài ra, do đặc điểm của đối tượng địa lí, nên tư duy đặc thù của địa lí làluôn xem xét sự vật trong các mối liên hệ và gắn liền với lãnh thổ, dựa vàobản đồ Ví dụ : Khi nhận xét một địa điểm nào đó mưa nhiều hay ít, phảixem xét chúng trong mối quan hệ với các dạng địa hình núi (nằm ở sườnđón gió hay khuất gió, ở độ cao nào), trong vùng khí hậu nào, gió thổi đến

Trang 6

hướng nào, có đi qua biển không, địa điểm đó nằm gần kề hay xa biển(hoặc đại dương), có dòng biển nóng hay dòng lạnh chảy ven không vìnhững yếu tố này đều tác động đến lượng mưa nhiều hay ít của một địađiểm.

b) Tư duy diễn ra trong khuôn khổ của các thao tác tư duy : phân tích, tổng

hợp, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá Nếu sử dụng các thao tác tưduy này một cách linh hoạt, thì sẽ đưa đến các kết quả thích hợp Do vậytrong quá trình học tập cũng như ôn luyện thi HS giỏi địa lí cần phải chútrọng rèn luyện các thao tác tư duy này

B MỘT SỐ BIỆN PHÁP HỌC TẬP CÓ HIỆU QUẢ TRONG

ÔN LUYỆN THI HỌC SINH GIỎI ĐỊA LÍ

1 Nhớ kiến thức một cách lôgic

Muốn có tư duy lôgic, phải có một hệ thống kiến thức nhất định Một sốnghiên cứu của các nhà khoa học sư phạm trên thế giới chỉ ra rằng, sở dĩtrong môn Địa lí, HS THPT hiện nay có tư duy không tốt là do thiếu nhữngkiến thức cần thiết, trong đó đặc biệt là hệ thống khái niệm địa lí Việc nắmvững một hệ thống kiến thức địa lí cơ bản làm cơ sở cho tư duy, sẽ tạo cơ

sở cho việc nắm những kiến thức địa lí mới Kiến thức mới lại tiếp tục làm

cơ sở cho tư duy để nhận thức được những kiến thức khác mới hơn

Hiện nay, một số HS có quan niệm cực đoan rằng chỉ cần có tư duy tốt là

đủ để nắm được các kiến thức cần thiết ; hay nói cách khác, chỉ cần thôngminh là thi được HS giỏi địa lí Đó là một quan niệm không đúng Cần nhớrằng mục tiêu của việc học tập là vừa có được những kiến thức cơ bản, vừaphát triển được năng lực tư duy Muốn tư duy phải có kiến thức (tựa như

"có bột mới gột nên hồ" vậy) Không có đủ kiến thức cần thiết, như nói ởtrên, không thể có tư duy địa lí được Chính vì vậy, học để nắm chắc kiếnthức là việc làm hết sức quan trọng, không chỉ riêng đối với HS giỏi địa lí,

mà đối với tất cả các em học sinh nói chung

Nắm chắc kiến thức có nghĩa là hiểu được, nhớ lâu bền kiến thức địa lí cầnthiết và có thể vận dụng được vào các trường hợp cụ thể Để nhớ lâu bền,cần phải có trí nhớ lôgic Muốn ghi nhớ lôgic, trong quá trình ghi nhớ phảihiểu và vận dụng được các quy luật của trí nhớ

a) Trí nhớ là hoạt động phản xạ có điều kiện Muốn lập được phản xạ có điều

kiện, thông tin phải lặp đi lặp lại nhiều lần Do vậy, trong ghi nhớ kiến

Trang 7

thức, việc ôn tập thường xuyên tỏ ra hết sức cần thiết Sau một số bài, saumột chương hoặc một số chương, cần phải ôn tập để tăng cường ghi nhớ.

b) Nhớ lâu được dựa trên ấn tượng mạnh Một kiến thức hay, một cách giải

quyết vấn đề độc đáo, một lần bị sai lầm và nhận ra được, là những ấntượng khó quên, lưu lại lâu bền trong trí nhớ mỗi HS Vì vậy, khi học bàiđịa lí, cần chú ý tạo ra các ấn tượng sâu về kiến thức Các ấn tượng có thểbắt nguồn từ việc sử dụng phương tiện trực quan trong khi học bài (ví dụkhi học về các sự vật, hiện tượng địa lí nên sử dụng Atlát địa lí, hay bản đồtrong SGK, bản đồ treo tường ; khi học về các tầng đất nên quan sát phẫudiện ; khi học về hình thái địa hình nên dựa vào lát cắt địa hình ), từ việckết hợp nghe và nhìn (quan sát videoclip, băng hình địa lí ), từ việc làm(trao đổi, tranh luận với bạn ; làm các bài thực hành, giải các bài tập địalí ) Một kết quả nghiên cứu sư phạm đã chỉ ra : kiến thức được nhớ lànhờ 10% qua đọc, 20% qua nghe, 30% qua nhìn, 50% qua nghe và nhìn,80% qua nói và 90% qua làm Vì vậy, để tăng cường ghi nhớ, nên chọn cácbiện pháp học tập đề cao vai trò của trao đổi, thảo luận, thực hành, hoặc kếthợp nghe và nhìn, hỏi thầy và bạn về những điều chưa rõ

c) Nhớ lâu bắt nguồn từ hứng thú học tập Nếu một HS đam mê với việc giải

thích các hiện tượng địa lí, HS đó sẽ nhớ về các mối liên hệ nhân quả tốthơn ; nếu thích thú với các hiện tượng địa lí diễn ra xung quanh môi trườngsống, HS đó quan tâm nhiều hơn đến việc quan sát thực tế và vận dụngkiến thức địa lí vào giải quyết những vấn đề đó Như vậy, hứng thú có thể

ví như một chất men kích thích việc học tập Hứng thú học tập phải đượctạo ra bằng thái độ, động lực học tập (ví dụ học giỏi để thi đạt kết quả cao)

và được nuôi dưỡng suốt trong quá trình học tập Mỗi khi gặp khó khăn,phải tìm cách giải quyết thích hợp để đạt được nguyện vọng chính đáng đãxác định ban đầu của bản thân

d) Kiến thức mới được ghi nhớ trong mối quan hệ với kiến thức đã có Những

kiến thức đã có làm cơ sở cho việc ghi nhớ các kiến thức mới cùng loại Do

đó, khi học kiến thức mới cần phải liên hệ với kiến thức đã có Đồng thời,khi có được một kiến thức mới, cần phải xếp chúng vào hệ thống các kiếnthức đã có một cách hợp lí

e) Ghi nhớ phải có tính hợp lí, đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Do

vậy, trong quá trình học tập và luyện tập cần chú ý thực hiện những nhiệm

vụ từ dễ đến khó

Trang 8

g) Tập trung chú ý sẽ làm tăng cường trí nhớ Thường não bộ không tiếp thu

thông tin hai loại cùng một lúc Do vậy, khi học, phải tập trung tối đa vàoviệc học (nghe giảng, họăc trao đổi thảo luận về nội dung học tập, giải bàitập ) Học xong, mới tập trung vào việc khác

g) Những thông tin sau cản trở, góp phần xoá đi những thông tin trước cùng loại và liên tục Đó là quy luật về ức chế tương đồng của trí nhớ Do vậy,

nếu vừa nghe giảng xong trên lớp, về nhà học bài ngay, không tốt bằng đểsau 5 - 6 tiếng đồng hồ mới học lại bài trên lớp Tuy nhiên, nếu khoảngthời gian đó để quá lâu (sau 11 - 12 tiếng đồng hồ chẳng hạn), sự ghi nhớ

sẽ bị suy giảm rất nhiều

h) Thông tin đơn giản dễ nhớ hơn thông tin phức tạp Vận dụng quy luật này

của trí nhớ, trong học tập cần xác định các kiến thức cơ bản, hoặc các đềmục một cách gọn rõ để dễ nhớ

i) Khả năng não bộ trong ghi nhớ không phải là vô hạn Theo nhiều nhà khoa

học, một người trong một phút chỉ học được khoảng 75 đơn vị thông tin,trong suốt cuộc đời chỉ nhớ nổi 58 tỉ đơn vị thông tin Do đó, trong học tập,cần biết chọn nhớ những thông tin có ích, biết quên đi những thông tinkhông cần thiết Việc xác định những kiến thức cơ bản cần thiết khi học địa

lí là việc làm cần thiết đối với mỗi HS giỏi Có thể chỉ cần nhớ những kiếnthức "chìa khoá", khi cần sẽ sử dụng nó để phát triển đến những kiến thứckhác Ví dụ, khi học về Địa lí tự nhiên đại cương, việc thông hiểu và ghinhớ các quy luật địa đới, phi địa đới cho phép vận dụng chúng vào việcnhận biết và giải thích các hiện tượng khí hậu khác nhau theo vĩ độ, theođai cao, theo bờ đông hay bờ tây lục địa

2 Rèn luyện kĩ năng tư duy

Tư duy được biểu hiện bằng các thao tác tư duy (phân tích, tổng hợp, sosánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá) Để đánh giá một người có tư duy tốthay không tốt (nôm na là thông minh hay ít thông minh hơn), thường dựavào việc đánh giá khả năng của các thao tác tư duy Do vậy, rèn luyện kĩnăng tư duy, chính là rèn luyện việc sử dụng các thao tác tư duy

a) Việc rèn luyện tư duy một cách thông dụng nhất trong thực tế học tập là dựa vào việc tự trả lời các câu hỏi và thực hiện các bài tập (ở SGK, sách

bài tập, từ thực tế môi trường xung quanh đặt ra ) Ứng với mỗi thao tác

tư duy, có một loại câu hỏi tương ứng để tập trung rèn luyện thao tác tưduy đó Ví dụ, câu hỏi yêu cầu phân tích sẽ góp phần rèn luyện thao tác

Trang 9

phân tích của tư duy, câu hỏi yêu cầu trừu tượng hoá góp phần rèn luyệnthao tác trừu tượng hoá của tư duy

Trong học tập địa lí hiện nay, HS nên rèn luyện kĩ năng tư duy theo cácloại câu hỏi sau :

+ Câu hỏi phân tích : nhằm gợi ý HS tách riêng từng phần của sự vật và hiệntượng địa lí, hoặc các thành phần của mối liên hệ Ví dụ, phân tích nhữngkhả năng để Đồng bằng sông Cửu Long thành vùng lương thực, thực phẩmhàng đầu của cả nước Hay, phân tích sự thay đổi về mối tương quan giữaxuất khẩu và nhập khẩu ở nước ta từ năm 1980 đến nay

+ Câu hỏi tổng hợp : nhằm làm cho HS xác lập được tính thống nhất và mốiliên hệ giữa các thuộc tính của các sự vật, bộ phận hay dấu hiệu của chúng.Câu hỏi tổng hợp không phải là tổng cộng đơn thuần các bộ phận của sựvật địa lí Sự tổng hợp đúng sẽ là một hoạt động tư duy mang lại kết quảmới nhất về chất Ví dụ : Chứng minh rằng nền công nghiệp nước ta có cơcấu ngành khá đa dạng Vị trí địa lí nước ta có những tác động như thế nàođến tự nhiên và phát triển kinh tế - xã hội ? Hãy chứng minh rằng, việc xâydựng các công trình thuỷ lợi có ý nghĩa hàng đầu để sử dụng hợp lí tàinguyên nông nghiệp của vùng Đông Nam Bộ Hãy chứng minh rằng HàNội và TP Hồ Chí Minh là hai trung tâm công nghiệp lớn nhất nước.Phân tích và tổng hợp là hai thao tác tư duy có liên hệ mật thiết với nhau,không thể tách rời nhau khi hình thành khái niệm Những dấu hiệu bản chấtcủa hiện tượng được phát hiện bằng cách phân tích hiện tượng đang nghiêncứu Đạt tới bản chất của hiện tượng trong sự hoàn chỉnh và thống nhất làsản phẩm của tổng hợp Do vậy câu hỏi phân tích và tổng hợp luôn luôn đikèm với nhau, có quan hệ chặt chẽ với nhau, đôi lúc trong loại câu hỏi này

có thành phần của loại câu hỏi kia tham gia

+ Câu hỏi so sánh, liên hệ : nhằm liên hệ các sự vật và hiện tượng địa lí lạivới nhau trong các mối quan hệ địa lí có thể có và thiết lập sự giống nhau,khác nhau giữa chúng Ví dụ : Hai trung tâm công nghiệp lớn Hà Nội và

TP Hồ Chí Minh có những điểm giống nhau như thế nào về cơ cấungành ? Nêu những điểm giống nhau và khác nhau về nguồn lực phát triểnkinh tế - xã hội của vùng Đông Nam Bộ với Trung du và miền núi Bắc Bộ

Sự khác nhau đó có tác động như thế nào đến sự phát triển kinh tế của haivùng ? Phân biệt các hình thức tổ chức trang trại, thể tổng hợp nông nghiệp

và vùng nông nghiệp Khi đặt câu hỏi so sánh, những đối tượng so sánh

có thể có những nét tương đồng hay trái ngược nhau

Trang 10

+ Câu hỏi nguyên nhân - kết quả : là loại câu hỏi nêu lên mối liên hệ nhânquả, một trong những dạng liên hệ có tính chất phổ biến trong bài địa lí Ví

dụ : Tại sao thời gian mùa nóng ở Bắc bán cầu dài hơn ở Nam bán cầu ?Tại sao phân bố dân cư trên thế giới có sự khác nhau giữa các vùng, cácchâu lục, các quốc gia ? Giải thích tại sao các thành phố lớn cũng đồng thời

là các trung tâm dịch vụ lớn Tại sao ngành công nghiệp chế biến lươngthực, thực phẩm trở thành ngành công nghiệp trọng điểm của nước ta ? + Câu hỏi khái quát hóa : là loại câu hỏi dùng để khái quát hóa các kiến thức

cụ thể, nêu lên cái chính, cái căn bản, cái "chung", thường dùng vào cuốichương hay tổng quát cuối bài Ví dụ : Hãy nêu các thế mạnh của vùngĐông Nam Bộ trong việc phát triển tổng hợp nền kinh tế vùng ? Nêu nhữngđặc điểm cơ bản của khu công nghiệp tập trung và trung tâm công nghiệp.Thực tế cho thấy, để thực hiện một câu hỏi, dù với yêu cầu chính là sửdụng một thao tác tư duy, nhưng HS vẫn phải vận dụng nhiều thao tác tưduy để thực hiện Ví dụ : Để trả lời câu hỏi "Tại sao ở Duyên hải miềnTrung cần phải kết hợp nông - lâm - ngư nghiệp trong phát triển kinh tế ?",

HS cần phải sử dụng nhiều thao tác tư duy như : phân tích (để thấy rõ tiềmnăng và hiện trạng phát triển nông - lâm - ngư nghiệp), tổng hợp (để thấyđược bức tranh chung về tiềm năng và hiện trạng phát triển nông - lâm -ngư nghiệp), trừu tượng hoá (để chọn ra được hướng phát triển chính củavùng lãnh thổ và khái quát hoá (để kết luận về hướng phát triển chung làkết hợp nông - lâm - ngư nghiệp) Hay để trả lời câu hỏi : Câu ca dao "Đêmtháng năm chưa nằm đã sáng Ngày tháng mười chưa cười đã tối" có đúngvới tất cả mọi nơi trên Trái Đất không ? HS phải sử dụng thao tác phân tích(để làm rõ câu ca dao từ phương diện địa lí), tổng hợp (để nêu lên cáichung về sự thay đổi ngày đêm theo mùa và theo vĩ độ), so sánh (để phânbiệt sự khác nhau về độ dài ngày đêm theo mùa của các khu vực nội chítuyến và ngoại chí tuyến) Do vậy, trả lời nhiều câu hỏi khác nhau, sẽ giúpcho việc rèn luyện các kĩ năng tư duy

b) Khi đã có các kĩ năng tư duy tốt, HS sẽ có điều kiện vận dụng chúng một cách linh hoạt để trả lời các câu hỏi thi Nên nhớ, câu hỏi thi địa lí không

phải được nêu ra dưới dạng phân tích, tổng hợp hay trừu tượng hoá, kháiquát hoá đòi hỏi chỉ sử dụng một thao tác tư duy tương ứng Câu hỏi thibuộc phải sử dụng các thao tác tư duy một cách tổng hợp trên cơ sở vậndụng các tri thức địa lí đã có ở mỗi HS Ví dụ : Hãy trình bày và phân tíchtrung tâm công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh (Đề thi năm 1998) Dựa

Trang 11

vào Atlát Địa lí Việt Nam, hãy so sánh hai vùng chuyên canh cây côngnghiệp Đông Nam Bộ và Trung du - miền núi phía Bắc (Đề thi năm 1999) ;Dựa vào Atlát hãy trình bày và giải thích tình hình phân bố dân cư ở Đồngbằng sông Cửu Long (Đề thi năm 2000) ; Căn cứ vào Atlát Địa lí ViệtNam, hãy phân tích đặc điểm địa hình, sông ngòi, đất, thực vật và động vậtcủa miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ (Đề thi năm 2005) ; Dựa vào Atlát Địa

lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy phân tích sự phân hóa đa dạng của địahình đồi núi nước ta Độ cao đồi núi nước ta đã ảnh hưởng đến sự phân hóađất như thế nào (Đề thi năm 2006)

3 Rèn luyện kĩ năng địa lí

a) Kĩ năng làm việc với bản đồ

- Kĩ năng làm việc với bản đồ là kĩ năng cơ bản của môn Địa lí Nếu khôngnắm vững kĩ năng này thì khó có thể hiểu và giải thích được các sự vật,hiện tượng địa lí, đồng thời cũng rất khó tự mình tìm tòi các kiến thức địa líkhác Do tính chất cơ bản của kĩ năng, nên trong các đề thi HS giỏi quốcgia môn Địa lí, việc kiểm tra kĩ năng này được thực hiện chủ yếu thông quayêu cầu làm việc với Atlát Địa lí Việt Nam Tuy nhiên, nếu HS không rõcác nhiệm vụ và kĩ thuật sử dụng bản đồ thì không thể làm việc trên cáctrang bản đồ của Atlát đươc Do vậy, việc rèn luyện kĩ năng làm việc vớibản đồ là không thể thiếu khi học môn Địa lí

- Thông thường khi làm việc với bản đồ, HS cần phải :

+ Hiểu hệ thống kí, ước hiệu bản đồ

+ Nhận biết, chỉ và đọc tên các đối tượng địa lí trên bản đồ

+ Xác định phương hướng, khoảng cách, vĩ độ, kinh độ, kích thước, hình thái

và vị trí các đối tượng địa lí trên lãnh thổ

+ Mô tả đặc điểm đối tượng trên bản đồ

+ Xác định các mối liên hệ không gian trên bản đồ

+ Xác định các mối quan hệ tương hỗ và nhân quả thể hiện trên bản đồ.+ Mô tả tổng hợp một khu vực, một bộ phận lãnh thổ (vị trí địa lí, địa hình,khí hậu, thuỷ văn, đất đai, thực vật, động vật, dân cư, kinh tế)

Đối với HS giỏi, những việc làm trên tất yếu phải được thực hiện một cáchthành thạo để đạt mức cao nhất của kĩ năng bản đồ là đọc bản đồ (phân tích

Trang 12

được các mối liên hệ nhân quả, mô tả tổng hợp một lãnh thổ, một ngành,một thành phần tự nhiên, ).

- Muốn đọc được bản đồ, yêu cầu phải có kiến thức địa lí Ví dụ, muốn phântích được tại sao mưa tập trung nhiều nhất ở vùng xích đạo, mưa tươngđối ít ở hai vùng chí tuyến Bắc và Nam, thì ngoài việc quan sát bản đồ,cần phải có kiến thức về mối quan hệ giữa lượng mưa và áp thấp, áp cao,

sự bốc hơi nước nhiều từ các đại dương và rừng xích đạo trong điều kiệnnhiệt lượng lớn, sự bốc hơi nước kém hơn ở vùng lục địa có diện tích lớn

ở khu vực chí tuyến

b) Kĩ năng làm việc với Atlát Địa lí Việt Nam

- Câu hỏi yêu cầu sử dụng Atlát Địa lí Việt Nam trở thành phổ biến trong tất

cả các đề thi HS giỏi quốc gia từ trước đến nay Để khai thác kiến thức từAtlát, yêu cầu HS phải sử dụng tổng hợp cả kiến thức và kĩ năng địa lí,đồng thời phải sử dụng kĩ năng tư duy, trong nhiều trường hợp còn cần đến

óc sáng tạo Do vậy, trong nhiều đề thi HS giỏi quốc gia, có đến 2 câu hỏiyêu cầu làm việc với Atlát Địa lí Việt nam (năm 2005 và năm 2006 chẳnghạn)

- Thông thường câu hỏi gắn với Atlát có dạng "Dựa vào Atlát Địa lí ViệtNam và kiến thức đã học " Ví dụ : Dựa vào Atlát Địa lí Việt Nam vàkiến thức đã học, hãy so sánh mạng lưới đô thị giữa hai vùng : Trung du vàmiền núi Bắc Bộ với Tây Nguyên (Đề thi năm 2006)

Với những câu hỏi kiểu này, nhiều thí sinh chỉ dựa vào một trong hai cơ sởtrên (hoặc là riêng Atlát, hoặc riêng kiến thức đã học) để làm bài Việc làm

đó không cho phép trình bày kiến thức một cách đầy đủ Nếu chỉ dựa vàokiến thức đã học, nhiều kiến thức từ Atlát bị bỏ sót, đặc biệt là các kiếnthức về sự phân bố cụ thể, mối quan hệ về mặt không gian lãnh thổ của các

sự vật, hiện tượng địa lí Nhưng nếu chỉ dựa vào Atlát địa lí, nhiều kiếnthức như tình hình phát triển, nguyên nhân phát triển, về đường lối, chínhsách, kinh nghiệm và truyền thống sản xuất của dân cư không được đềcập đến một cách đầy đủ và hợp lí

Kinh nghiệm ôn luyện HS giỏi quốc gia cho thấy, trong những trường hợpnhư vậy phải chú ý phân biệt các loại kiến thức có thể khai thác từ Atlát địa

lí, các loại kiến thức không thể hoặc rất khó thể hiện rõ trên Atlát, phảikhai thác từ vốn kiến thức đã có của bản thân Trong mỗi ý trình bày củabài làm, cần kết hợp hai loại kiến thức này với nhau một cách thích hợp

Trang 13

Sau đây là một ví dụ kết hợp kiến thức khai thác được trên Atlát địa lí vớikiến thức đã có của bản thân.

Ví dụ : Dựa vào Atlát Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy phân tích đặcđiểm của đất (thổ nhưỡng) miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ

- Những kiến thức có thể khai thác được từ Atlat một cách rất rõ ràng :

+ Nhiều loại đất khác nhau (đất feralit, đất phù sa, )

+ Đất feralit nâu đỏ trên đá ba dan : tập trung ở các cao nguyên Tây Nguyên.+ Đất feralit trên các loại đá khác : chiếm diện tích lớn và phân bố rộng rãi ởvùng núi Trường Sơn Nam và Đông Nam Bộ

+ Ở các vùng núi, độ cao trên 500 - 600 m đến 1600 - 1700 m có đất mùnvàng đỏ trên núi, độ cao trên 1600 - 1700 m có đất mùn alit núi cao, diệntích không lớn

+ Đất xám bạc màu trên đá axit tập trung ở Tây Nguyên và rải rác ven biển ởcác đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ

+ Đất xám bạc màu trên phù sa cổ, tập trung nhiều ở Đông Nam Bộ Ngoài

ra, còn có ở duyên hải Nam Trung Bộ

+ Đất phù sa của sông Cửu Long tập trung nhiều ở ven sông Tiền và sông Hậu.+ Đất phù sa của đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ nằm rải rác ven biển.+ Đất phèn, đất mặn chiếm diện tích lớn ở đồng bằng sông Cửu Long Ngoài

ra, còn có ở vùng cửa sông ven biển ở duyên hải Nam Trung Bộ

+ Đất cát ven biển : phân bố dọc bờ biển, nhiều nhất ở duyên hải Nam TrungBộ

- Những kiến thức phải huy động từ vốn tri thức đã có :

+ Đất (thổ nhưỡng) ở miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ cũng như đất ở cácmiền tự nhiên khác của nước ta rất đa đạng, với nhiều loại khác nhau.+ Đất feralit nâu đỏ trên đá ba dan : tập trung ở các cao nguyên Tây Nguyênkhoảng trên 1,3 triệu ha Đất này được hình thành trên cơ sở phong hoá đá

ba dan, có tầng dày, khá phì nhiêu

+ Đất xám bạc màu trên phù sa cổ, tập trung nhiều ở Đông Nam Bộ trên900.000 ha

+ Đất phù sa của sông Cửu Long là loại đất tốt, có thành phần cơ giới nặng,

từ đất thịt đến sét, phần lớn diện tích được bồi tụ phù sa vào mùa lũ

Trang 14

+ Đất phù sa của đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ, được hình thành bởi

sự bồi tụ của phù sa sông và biển, đất có thành phần cơ giới từ cát pha đếnthịt nhẹ, đất chua, nghèo mùn và dinh dưỡng

+ Đất phèn có đặc tính chua ; đất mặn có loại mặn ít, mặn nhiều,

+ Đất cát ven biển nghèo mùn và chất dinh dưỡng

- Kết hợp cả hai nguồn kiến thức, có :

a) Đất (thổ nhưỡng) ở miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ cũng như đất ở cácmiền tự nhiên khác của nước ta rất đa đạng, với nhiều loại khác nhau (đấtferalit, đất phù sa, )

b) Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ có các loại đất sau :

- Đất feralit

+ Đất feralit nâu đỏ trên đá ba dan : tập trung ở các cao nguyên Tây Nguyên(khoảng trên 1,3 triệu ha) và Đông Nam Bộ Đất này được hình thành trên

cơ sở phong hoá đá ba dan, có tầng dày, khá phì nhiêu

+ Đất feralit trên các loại đá khác : chiếm diện tích lớn và phân bố rộng rãi ởvùng núi Trường Sơn Nam và Đông Nam Bộ

+ Ngoài ra, ở các vùng núi, độ cao trên 500 - 600 m đến 1600 - 1700 m cóđất mùn vàng đỏ trên núi, độ cao trên 1600 - 1700 m có đất mùn alit núicao, diện tích không lớn

+ Đất phù sa của đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ, được hình thành bởi

sự bồi tụ của phù sa sông và biển, đất có thành phần cơ giới từ cát pha đếnthịt nhẹ, đất chua, nghèo mùn và dinh dưỡng

- Đất phèn, đất mặn chiếm diện tích lớn ở đồng bằng sông Cửu Long Ngoài

ra, còn có ở vùng cửa sông ven biển ở duyên hải Nam Trung Bộ Đất phèn

có đặc tính chua ; đất mặn có loại mặn ít, có loại mặn nhiều,

Trang 15

- Đất cát ven biển : phân bố dọc bờ biển, nhiều nhất ở duyên hải Nam Trung

Bộ ; đất nghèo mùn và chất dinh dưỡng

- Các yêu cầu làm việc với Atlát Địa lí Việt Nam rất đa dạng Trong phạm vi

ôn luyện thi HS giỏi quốc gia môn Địa lí THPT, cần lưu ý tập trung vàocác chủ điểm sau :

+ Trình bày vị trí địa lí của quốc gia, miền, vùng, tỉnh, trung tâm côngnghiệp/thành phố lớn, và nêu ý nghĩa (vị trí toán học, vị trí địa lí tựnhiên, vị trí địa lí kinh tế)

+ Trình bày và giải thích về đặc điểm chung của tự nhiên Việt Nam (địa hìnhnhiều đồi núi, tác động đến cảnh quan tự nhiên và sự phát triển KT - XH ;đặc điểm của Biển Đông, ảnh hưởng đến thiên nhiên nước ta ; thiên nhiênnhiệt đới ẩm gió mùa (khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, địa hình xâm thực - bồi

tụ, thuỷ văn của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, đất feralit, hệ sinh thái rừngnhiệt đới ẩm gió mùa) ; thiên nhiên có sự phân hoá đa dạng theo yếu tố vàtheo vùng (sự phân hóa địa hình, khí hậu - thuỷ văn, thổ nhưỡng - sinh vật,cảnh quan thiên nhiên)

+ Trình bày và giải thích một yếu tố, thành phần địa lí tự nhiên, dân cư - xã hội(địa chất, khoáng sản, địa hình, khí hậu, nhiệt độ và lượng mưa, sông ngòi,đất, thực vật và động vật, dân cư, dân tộc, đô thị hoá)

+ Trình bày và giải thích về sự đa dạng của tài nguyên, một số thiên tai chủyếu (sự đa dạng của tài nguyên thiên nhiên, một số thiên tai chủ yếu ).+ Trình bày và giải thích về một miền tự nhiên, so sánh các miền tự nhiên(trình bày và giải thích về một miền tự nhiên, một khu tự nhiên, một đaicao tự nhiên ; trình bày và giải thích đặc điểm tự nhiên dọc theo lát cắt địahình đã được xác định ; so sánh hai miền tự nhiên, hai khu vực tự nhiên,hai tuyến tự nhiên dọc theo lát cắt ; trình bày và giải thích về mộtngành/phân ngành kinh tế của cả nước/vùng kinh tế, địa phương tỉnh).+ Trình bày và giải thích về một trung tâm công nghiệp, một vùng nôngnghiệp, vùng công nghiệp So sánh các trung tâm, các vùng

+ Trình bày và giải thích về một vùng kinh tế/vùng kinh tế trọng điểm (nguồnlực, tình hình phát triển kinh tế và phân bố, sự phân hóa nội vùng, các mốiliên hệ liên vùng) So sánh các vùng kinh tế

Trang 16

+ Trình bày và giải thích về vấn đề phát triển kinh tế, an ninh, quốc phòng ởBiển Đông và các đảo, quần đảo.

+ Trình bày và giải thích về địa lí tỉnh (thành phố) (vị trí địa lí, phạm vi lãnhthổ và phân chia hành chính ; đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên ;

đặc điểm dân cư và lao động ; đặc điểm kinh tế - xã hội ; địa lí một số

ngành kinh tế chính)

- Để khai thác các kiến thức địa lí theo những chủ điểm trên, cần lưu ý kĩthuật sử dụng các trang của Atlát Địa lí Việt Nam

+ Sử dụng trang mở đầu của Atlát Địa lí Việt Nam :

Đối với trang này, HS cần hiểu được ý nghĩa, cấu trúc, đặc điểm của Atlat ;nắm chắc kí hiệu chung ở trang mở đầu

+ Sử dụng các trang bản đồ của Atlat Địa lí Việt Nam :

Làm việc với các trang của Atlát, HS phải xác định được vị trí địa lí, giớihạn của lãnh thổ, vùng kinh tế ; nêu đặc điểm của các đối tượng địa lí (đất,khí hậu, nguồn nước, khoáng sản, dân cư, dân tộc) ; trình bày sự phân bốcác đối tượng địa lí, như : khoáng sản, đất đai, địa hình, dân cư, trung tâmcông nghiệp, mạng lưới giao thông, đô thị, ; giải thích sự phân bố các đốitượng địa lí ; phân tích mối quan hệ giữa các đối tượng địa lí, phân tích mốiquan hệ giữa các yếu tố tự nhiên với nhau (khí hậu và sông ngòi, đất vàsinh vật, cấu trúc địa chất và địa hình, ), giữa các yếu tố tự nhiên và kinh

tế, dân cư và kinh tế, kinh tế và kinh tế, tự nhiên - dân cư và kinh tế, ;đánh giá các nguồn lực phát triển ngành và vùng kinh tế ; trình bày tiềmnăng, hiện trạng và hướng phát triển của một ngành, lãnh thổ ; phân tíchmối quan hệ giữa các ngành và các lãnh thổ kinh tế với nhau ; so sánh cácvùng kinh tế về các mặt ; trình bày tổng hợp các đặc điểm của một lãnhthổ

Trong rất nhiều trường hợp, HS phải chồng xếp các trang bản đồ Atlát đểtrình bày về một lãnh thổ địa lí cụ thể Ví dụ, đề thi HS giỏi quốc gia năm

2000 yêu cầu dựa vào Atlát địa lí để viết một báo cáo ngắn đánh giá điềukiện tự nhiên đối với việc phát triển kinh tế tỉnh Nghệ An Để làm được câunày, HS phải sử dụng các trang bản đồ hành chính, hình thể, địa chất vàkhoáng sản, khí hậu, đất, thực vật và động vật, các miền tự nhiên (miềnTây Bắc và Bắc Trung Bộ) Trong mỗi trang, tập trung vào lãnh thổ Nghệ

An Việc làm đó gọi là chồng xếp bản đồ

Trang 17

- Thông thường khi phân tích, hoặc đánh giá một đối tượng địa lí, HS cần lưu

ý sử dụng một dàn bài có được từ vốn tri thức địa lí của bản thân vào việcđọc các trang Atlát Một cách chung nhất, có thể dựa vào một số dàn bàisau :

+ Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ của vùng kinh tế - xã hội

 Những nơi (vùng, tỉnh, biển ) tiếp giáp với vùng nghiên cứu

đá : Nguyên sinh (Pt), Cổ sinh (Pz), Trung sinh (Mz), Tân sinh (Kz)

 Đặc điểm về cấu trúc kiến tạo (các đới kiến tạo, các tầng cấu tạo theo niênđại)

+ Khoáng sản

 Kim loại (trữ lượng, chất lượng, phân bố)

 Phi kim loại (trữ lượng, chất lượng, phân bố)

+ Địa hình

 Những đặc điểm chính của địa hình (tỉ lệ diện tích các loại địa hình và sựphân bố của chúng ; hướng nghiêng của địa hình, hướng chủ yếu của địahình (đông, tây, nam, bắc), các bậc địa hình (chia theo độ cao tuyệt đối),tính chất cơ bản của địa hình

 Một số mối quan hệ giữa địa hình với các nhân tố khác : địa hình với vậnđộng kiến tạo, địa hình với nham thạch, địa hình với kiến trúc địa chất (uốnnếp, đứt gãy ), địa hình với khí hậu

 Các khu vực địa hình (khu vực núi : sự phân bố, diện tích, đặc điểm chung,

sự phân chia thành các khu vực nhỏ hơn ; khu vực đồi : sự phân bố, diệntích, đặc điểm chung, các tiểu khu, vùng ; khu vực đồng bằng : sự phân bố,diện tích, tính chất, các tiểu khu (nếu có)

 Ảnh hưởng của địa hình tới phân bố dân cư và phát triển kinh tế - xã hội

Trang 18

+ Khí hậu

 Các nét đặc trưng về khí hậu : bức xạ mặt trời, số giờ nắng (trong năm,ngày dài nhất, ngắn nhất), bức xạ tổng cộng (đơn vị : kcal/cm2/năm), cânbằng bức xạ (đơn vị : kcal/cm2/năm), độ cao Mặt Trời và ngày tháng MặtTrời qua thiên đỉnh

 Xác định kiểu khí hậu với những đặc trưng cơ bản (kiểu khí hậu như : khíhậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh và ít mưa, mùa hạ nóng và mưanhiều ; hoặc khí hậu á xích đạo, nóng quanh năm, mùa mưa kéo dài, mùakhô ngắn nhưng sâu sắc ; những chỉ số khí hậu, thời tiết cơ bản như : nhiệt

độ trung bình năm, tổng nhiệt độ, biên độ nhiệt, cơ chế hoàn lưu các mùa,

số đợt frông lạnh, số lần có hội tụ nhiệt đới, tháng nóng nhất, tháng lạnhnhất, lượng mưa trung bình năm, phân bố lượng mưa theo thời gian vàkhông gian, tính chất mưa

 Tính chất theo mùa của khí hậu (sự khác biệt giữa các mùa)

 Ảnh hưởng của khí hậu tới sản xuất (đặc biệt là sản xuất nông nghiệp) vàđời sống (tác động tích cực, tác động tiêu cực)

 Các miền hoặc khu vực khí hậu

+ Thủy văn

 Mạng lưới sông ngòi

 Đặc điểm chính của sông ngòi : mật độ dòng chảy, tính chất sông ngòi (hìnhdạng, ghềnh thác, độ uốn khúc, hướng dòng chảy, độ dốc lòng sông ), chế

độ nước, môđun lưu lượng (lít/s/km2), hàm lượng phù sa

 Các sông lớn trên lãnh thổ (nơi bắt nguồn, nơi chảy qua, hướng chảy, chiềudài, các phụ lưu, chi lưu, diện tích lưu vực, độ dốc lòng sông, nham gốcchảy qua, chế độ nước, hàm lượng phù sa)

 Giá trị kinh tế (giao thông, thủy lợi, đánh cá, công nghiệp ) Các vấn đềkhai thác, cải tạo, bảo vệ sông ngòi

Ngày đăng: 05/11/2013, 23:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w