Và để chứng minh cho sức mạnh của độc lập chủ quyền và chân lý của sự tồn tại độc lập của dân tộc Đại Việt, Nguyễn Trãi đã đưa ra những dẫn chứng hùng hồn, thuyết phục: "Lưu Cung th[r]
Trang 1BÀI VIẾT SỐ 6 (Làm tại lớp) Thời gian: 90 phút
Đề bài
Phần I: Đọc hiểu (3,0 điểm)
Đọc và trả lời các câu hỏi sau:
(1) Trương Hán Siêu (? – 1354), tự là Thăng Phủ, quê ở thôn Phúc Am, xã Ninh Thành, nay
thuộc thị xã Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Các vua Trần rất kính trọng Trương Hán Siêu, thường gọi ông là “thầy” Là người tài đức vẹn toàn nên khi qua đời, ông được thờ ở Văn Miếu Tác phẩm của Trương Hán Siêu có: Bạch Đằng giang phú, Dục Thuý sơn Linh Tế tháp kí (Bài kí ở tháp Linh Tế trên núi Dục Thuý), Khai Nghiêm tự bi kí (Bài kí trên bia chùa Khai Nghiêm) và Cúc hoa bách vịnh,… Thơ văn Trương Hán Siêu thể hiện tình cảm yêu nước, ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm đối với xã tắc của một người đề cao Nho học.
(2) Phú sông Bạch Đằng là loại phú cổ thể: mượn hình thức đối đáp chủ – khách để thể hiện nội dung, vận văn và tản văn xen nhau, kết thúc bằng một bài thơ Loại phú cổ thể (có trước đời Đường) được làm theo lối văn biền ngẫu hoặc lối văn xuôi có vần, khác với phú Đường luật (có
từ đời Đường) có vần, có đối, có luật bằng trắc chặt chẽ.
(3) Bài Phú sông Bạch Đằng thể hiện niềm hoài niệm về chiến công của các anh hùng dân tộc, nêu cao vai trò của yếu tố con người với tinh thần ngoan cường, bất khuất trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.
( Học tốt Ngữ văn 10 nâng cao,Tập 2,NXBĐHQG, 2006)
1 Nêu ý chính của văn bản ?
2 Xác định phương thức biểu đạt của văn bản ?
3 Sông Bạch Đằng thuộc tỉnh Ninh Bình hay Quảng Ninh ?
Phần II: Làm văn (7,0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau:
Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khá.c
Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,
Song hào kiệt đời nào chẳng có.
(Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)
Trang 2Hướng dẫn chấm Phần I: Đọc hiểu
1 Ý chính của văn bản:
- Khái quát về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác của Trương Hán Siêu ;
- Giới thiệu thể loại phú và đặc điểm bài Phú sông Bạch Đằng ;
- Ý nghĩa nội dung bài Phú sông Bạch Đằng
2 Phương thức biểu đạt của văn bản là thuyết minh
3 Sông Bạch Đằng thuộc tỉnh Quảng Ninh
Phần II: Làm văn
a Mở bài
- Nguyễn Trãi là một vị anh hùng dân tộc, một nhà văn hóa kiệt xuất, nhân vật toàn tài số một của lịch sử Việt Nam thời phong kiến Ông cùng Lê Lợi đưa cuộc kháng chiến mười năm chống quân Minh giành thắng lợi Mùa xuân năm 1428, Nguyễn Trãi thay Lê Lợi viết Bình Ngô đại cáo – một áng Thiên cổ hùng văn tuyên cáo về nần độc lập dân tộc
- Đoạn trích thuộc phần đầu của bài cáo, là đoạn trích có vị trí quan trọng, có ý nghĩa như một lời tuyên bố hùng hồn về chủ quyền độc lập, qua đó thể hiện sâu sắc lòng yêu nước của tác giả
b Thân bài
* Nguyên lí chính nghĩa
- Nguyên lí nhân nghĩa mà Nguyễn Trãi nêu ở đây là một tiền đề có nguồn gốc từ phạm trù nhân
nghĩa của Nho giáo: Khổng Tứ nói tới chữ “nhân”, Mạnh Tử nói tới chữ “nghĩa” Nhân nghĩa
là mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người trên cơ sở tình thương và đạo lí; “nhân
nghĩa” là “yên dân trừ bạo”, là tiêu trừ tham tàn bạo ngược, bảo vệ cuộc sống yên ổn của dân
Là một trí thức Nho giáo, “nhân nghĩa” của Nguyễn Trãi cũng bao hàm lẽ đó Tuy nhiên
Nguyễn Trãi đã chắt lọc cái hạt nhân cơ bản, tích cực:
- Trong đoạn trích, Nguyễn Trãi đã xác định mục đích, nội dung của việc làm nhân nghĩa: chủ
yếu để yên dân, trước nhất là trừ bạo: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo
trừ bạo.
+ Nguyễn Trãi đã đem đến một nội dung mới cho tư tưởng nhân nghĩa, lấy ra từ thực tiễn dân tộc
để dưa vào tiền đề: nhân nghĩa phải gắn liền với chống xâm lược
+ Chống xâm lược để an dân, tức thực hiện nhân nghĩa, có như vậy mới bóc trần luận điệu nhân nghĩa xảo trá cùa địch, mới phân định rạch ròi ta là chính nghĩa, giặc xâm lược là phi
nghĩa: “Nước mày nhân việc nhà Hồ trái đạo, mượn cái tiếng thương dân đánh kẻ có tội, thật ra
là việc bạo tàn, lấn cướp đất nước ta, bóc lột nhân dân ta Nhân nghĩa mà như thế ư?”
(Thư gửi Phương Chính).
- Dân ta chiến đấu chống xâm lược là thực hiện nhân nghĩa, phù hợp với nguyên lí chính nghĩa
* Chân lí khách quan về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của đất nước Đại Việt
- Cơ sở chắc chắn từ thực tiễn lịch sử: Như nước Đại Việt ta từ trước, Song hào kiệt đời nào
cũng có.
+ Nguyễn Trãi đã đưa ra những yếu tố căn bản để xác định độc lập, chủ quyền của dân tộc: cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán, nền văn hiến lâu đời và thêm nữa là lịch sử riêng, chế
độ riêng với hào kiệt đời nào cũng có
+ Trong quan niệm về dân tộc, Nguyễn Trãi đã ý thức được văn hiến, truyền thống lịch sử là yếu
tố cơ bản nhất, là hạt nhân để xác định dân tộc
Trang 3+ Để tăng sức thuyết phục cho bài cáo, tác giả đã sử dụng hàng loạt các từ ngữ thể hiện tính chất
hiển nhiên của chủ quyền độc lập dân tộc của nước ta: từ trước, vốn xưng, đã lâu, đã chia, cũng
khác, bao đời, xưng đế,…
+ Bằng phép đối, so sánh tác giả đặt Đại Việt ngang hàng với Trung Quốc về mọi mặt: về trình
độ chính trị, tổ chức, chế độ, quản lí quốc gia (Triệu, Đinh, Lí, Trần ngang hàng với Hán, Đường, Tống Nguyên)
+ Thực tế đã khẳng định nước Đại Việt là một quốc gia có truyền thống văn hiến lâu đời, có bờ cõi riêng và chủ quyền độc lập hẳn hoi chứ không phải là một quận huyện, hay là một nước chư hầu của phong kiến phương Bắc như trong suy nghĩ và quan niệm của Trung Hoa Và để chứng minh cho sức mạnh của độc lập chủ quyền và chân lý của sự tồn tại độc lập của dân tộc Đại Việt,
Nguyễn Trãi đã đưa ra những dẫn chứng hùng hồn, thuyết phục: "Lưu Cung tham công nên thất
bại, Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong, Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô, Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã Việc xưa xem xét, Chứng cớ còn ghi."
- Trong bài Nam quốc sơn hà, Lý Thường Kiệt đã khẳng định sức mạnh của chính nghĩa: lũ bạo giặc (nghịch lỗ) làm trái đạo lí nhân nghĩa, phạm vào sách trời (thiên thư) tức là đi ngược lại chân lí khách quan, thì nhất định chúng sẽ chuốc lấy bại vong (thủ bại thư) Còn ở Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đưa ra những dẫn chúng cụ thể hơn, hùng hồn hơn, có sức thuyết phục lớn hơn Tướng giặc kẻ bị giết, người bị bắt Không phải thất bại giống nhau, mà tên thì thất bại, tên thì tiêu vong, tên bị bắt sống, tên bị giết tươi (nguyên văn: bại: thua, vong: mất, cầm: bắt sông, ế: chết) Cũng không thể bỏ qua việc gọi xách mé tên vua Nam Hán là Lưu Cung Cũng là cách gọi xứng đáng dành cho một tên xâm lược
c Kết bài
- Đoạn văn mở đầu bài Bình Ngô đại cáo không dài, tuy vậy, nó vẫn là điểm tựa, là nền móng lí luận cho toàn bài
- Đoạn văn có sức khái quát cao, giàu chứng cớ lích sử, tràn đầy cảm xúc tự hào Lời văn là sự nghiêm khắc răn dạy, nhưng ẩn sâu thấm thía tư tưởng nhân nghĩa cốt lõi của đạo làm người