1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Án Tiến Sĩ Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Tập Luyện Cờ Vua Tới Sự Phát Triển Các Thành Phần Của Năng Lực Trí Tuệ

208 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 208
Dung lượng 2,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCHVIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO TẠ HỮU MINH NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TẬP LUYỆN CỜ VUA TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CÁC THÀNH PHẦN CỦA NĂNG LỰC

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO

TẠ HỮU MINH

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TẬP LUYỆN CỜ VUA TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CÁC THÀNH PHẦN CỦA NĂNG LỰC

TRÍ TUỆ Ở HỌC SINH NĂNG KHIẾU CỜ VUA

LỨA TUỔI 8 – 9 THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO

TẠ HỮU MINH

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TẬP LUYỆN CỜ VUA TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CÁC THÀNH PHẦN CỦA NĂNG LỰC

TRÍ TUỆ Ở HỌC SINH NĂNG KHIẾU CỜ VUA

LỨA TUỔI 8 – 9 THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào

Tạ Hữu Minh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Trang bìa

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các bảng, biểu đồ

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Trí tuệ và phát triển năng lực trí tuệ 5

1.1.1 Những khái niệm liên quan đến năng lực trí tuệ 5

1.1.2 Định hướng về phát triển trí tuệ cho học sinh 11

1.1.3 Cấu trúc trí tuệ cá nhân 13

1.1.4 Sự phát triển trí tuệ cá nhân 15

1.1.5 Đặc điểm, vai trò của tập luyện Cờ Vua tới sự phát triển trí tuệ 18

1.1.6 Thành phần năng lực trí tuệ Cờ Vua 19

1.2 Đặc điểm hoạt động tập luyện và thi đấu Cờ Vua 21

1.2.1 Đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi 8 - 9 21

1.2.2 Đặc điểm tâm, sinh lý trong tập luyện và thi đấu Cờ Vua 25

1.2.3 Lượng vận động trong tập luyện và thi đấu Cờ Vua 31

1.2.4 Thể lực của vận động viên Cờ Vua 33

1.3 Những vấn đề về năng khiếu, năng khiếu Cờ Vua 34

1.3.1 Khái niệm năng khiếu 34

1.3.2 Dấu hiệu của năng khiếu 35

1.3.3 Năng khiếu Cờ Vua 35

1.4 Xu hướng phát triển, phương pháp giảng dạy và huấn luyện Cờ Vua 37

Trang 5

1.4.1 Xu hướng phát triển, huấn luyện Cờ Vua 37

1.4.2 Phương pháp giảng dạy, huấn luyện Cờ Vua 44

1.5 Một số phương pháp đánh giá năng lực trí tuệ của học sinh năng khiếu Cờ Vua 48

1.5.1 Phương pháp đánh giá qua các test tâm lý 48

1.5.2 Phương pháp đánh giá qua các test chuyên môn 49

1.5.3 Phương pháp kiểm tra y học 51

1.5.4 Phương pháp quan sát 51

1.6 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 52

1.6.1 Những công trình nghiên cứu trên thế giới 52

1.6.2 Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam 55

1.7 Kết luận chương 1 57

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 59

2.1 Đối tượng nghiên cứu 59

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 59

2.1.2 Khách thể nghiên cứu 59

2.2 Phương pháp nghiên cứu 59

2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 59

2.2.2 Phương pháp phỏng vấn 60

2.2.3 Phương pháp kiểm tra tâm lý 61

2.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm 66

2.2.5 Phương pháp toán học thống kê 69

2.3 Tổ chức nghiên cứu 70

2.3.1 Thời gian nghiên cứu 70

2.3.2 Địa điểm nghiên cứu 71

2.3.3 Phạm vi nghiên cứu 71

2.3.4 Cơ quan phối hợp nghiên cứu 72

Trang 6

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 73

3.1 Nghiên cứu đánh giá thực trạng các thành phần năng lực trí tuệ của học sinh năng khiếu Cờ Vua lứa tuổi 8 - 9 thành phố Hà Nội 73 3.1.1 Lựa chọn test đánh giá các thành phần của năng lực trí tuệ cho học sinh năng khiếu Cờ Vua lứa tuổi 8 - 9 thành phố Hà Nội 73 3.1.2 Thực trạng chương trình giảng dạy Cờ Vua cho học sinh năng khiếu Cờ Vua lứa tuổi 8 - 9 thành phố Hà Nội 87 3.1.3 Thực trạng thành phần năng lực trí tuệ của học sinh năng khiếu Cờ Vua lứa tuổi 8 - 9 thành phố Hà Nội 89 3.1.4 Bàn luận về lựa chọn test và thực trạng thành phần năng lực trí tuệ của học sinh năng khiếu Cờ Vua lứa tuổi 8 - 9 thành phố Hà Nội 96 3.2 Ảnh hưởng của tập luyện Cờ Vua tới sự phát triển các thành phần năng lực trí tuệ ở học sinh năng khiếu Cờ Vua lứa tuổi 8 - 9 thành phố Hà Nội 101 3.2.1 Lựa chọn nội dung giảng dạy Cờ Vua đối với học sinh năng khiếu Cờ Vua lứa tuổi 8 - 9 thành phố Hà Nội 101 3.2.2 Tổ chức giảng dạy Cờ Vua đối với học sinh năng khiếu Cờ Vua lứa tuổi

8 - 9 thành phố Hà Nội 103 3.2.3 Ảnh hưởng của tập luyện Cờ Vua tới sự phát triển các thành phần của năng lực trí tuệ ở học sinh năng khiếu Cờ Vua lứa tuổi 8 - 9 thành phố Hà Nội 104 3.2.4 Bàn luận về ảnh hưởng của tập luyện Cờ Vua tới sự phát triển các thành phần năng lực trí tuệ ở học sinh năng khiếu Cờ Vua lứa tuổi 8 - 9 thành phố

Hà Nội 122

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 129 Danh mục các công trình nghiên cứu đã công bố của tác giả có liên quan đến đề tài luận án

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 7

Bảng 1.1 Kết quả thử nghiệm về chức năng của hệ tuần hoàn 30

1.2 Chỉ tiêu khối lượng và cường độ trong môn Cờ Vua 32

3.1

Kết quả phỏng vấn xác định thành phần năng lực trí tuệ của học sinh năng khiếu Cờ Vua lứa tuổi 8 - 9 (n=30)

Sau trang 81

3.6

Hệ số Cronbach's Alpha của các test chuyên môn đánh giá thành phần năng lực trí tuệ của học sinh năng khiếu Cờ Vua lứa tuổi 8 - 9 thành phố Hà Nội (n= 30)

82

3.7 Kết quả tổng hợp phân tích Cronbach’s Alpha 83

Trang 8

Thể

loại Số

Nội dung

Trang

3.8 Kết quả kiểm định KMO and Bartlett's (n= 30) 84

3.9 Kết quả và phân tích ma trận nhân tố (Component

3.10 Kết quả kiểm định KMO and Bartlett's (n= 30) 85

3.11 Kết quả và phân tích ma trận nhân tố (Component

3.13 Kết quả kiểm tra các test tâm lý của học sinh năng

khiếu Cờ Vua lứa tuổi 8 - 9 thành phố Hà Nội (n= 180) 90

3.14

Kết quả kiểm tra các test chuyên môn của học sinh năng khiếu Cờ Vua lứa tuổi 8 - 9 thành phố Hà Nội (n= 180)

91

3.15 Giá trị phân phối chuẩn của dữ liệu thu được từ

các test tâm lý

Sau trang 92

3.16 Giá trị phân phối chuẩn của dữ liệu thu được từ

các test chuyên môn

Sau trang 92

3.18

Sự khác biệt theo giới tính về điểm trung bình khi kiểm tra các test chuyên môn của học sinh năng khiếu Cờ Vua lứa tuổi 8 - 9 thành phố Hà Nội

Sau trang 93

Trang 9

Sau trang 94

3.20

Sự khác biệt theo cơ sở đào tạo về điểm trung bình khi kiểm tra các test chuyên môn của học sinh năng khiếu Cờ Vua lứa tuổi 8 - 9 thành phố Hà Nội (n=180)

Sau trang 94

3.21

Kết quả phỏng vấn lựa chọn nội dung giảng dạy Cờ Vua cho học sinh năng khiếu Cờ Vua lứa tuổi 8 - 9 thành phố Hà Nội (n= 30)

102

3.22 Thay đổi trung bình các test chuyên môn trước và

sau 6 tháng giảng dạy môn Cờ Vua (n= 60) 105

3.23 Thay đổi trung bình các test chuyên môn trước và

sau 12 tháng giảng dạy Cờ Vua (n= 60) 107

3.24 Thay đổi các test chuyên môn giữa 6 tháng và 12

3.25 Thay đổi các test tâm lý trước và sau 6 tháng giảng

3.26 Thay đổi các test tâm lý trước và sau 12 tháng

3.27 Thay đổi các test tâm lý giữa 6 tháng và 12 tháng

3.28 Sự khác biệt theo giới tính về kết quả các test 117

Trang 10

118

3.30 Sự khác biệt theo giới tính về kết quả các test tâm

lý sau 06 tháng giảng dạy môn Cờ Vua (n= 60) 119

3.31 Sự khác biệt theo giới tính về kết quả các test tâm

lý sau 12 tháng giảng dạy môn Cờ Vua (n= 60) 120

Biểu

đồ

3.1 Mức độ thay đổi của các test chuyên môn sau 6

3.2 Thay đổi trung bình các test chuyên môn trước và

sau 12 tháng giảng dạy Cờ Vua (n= 60) 108

3.3 Mức độ thay đổi các test chuyên môn giữa 6 tháng

và 12 tháng giảng dạy Cờ Vua (n= 60) 110

3.4 Mức độ thay đổi các test tâm lý trước và sau 6

3.5 Mức độ thay đổi các test tâm lý trước và sau 12

3.6 Mức độ thay đổi các test tâm lý giữa 6 tháng và 12

Trang 11

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Trang 12

DANH MỤC CÁC ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG TRONG LUẬN ÁN

Trang 13

1

MỞ ĐẦU

Đất nước ta đang chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá, làm cho dân giàu, nước mạnh, xây dựng một xã hội công bằng và văn minh Theo quan điểm của Đảng, chiến lược phát triển đất nước phải là chiến lược dựa vào con người, phát huy tối đa tiềm năng trí tuệ, thể lực, ý chí đạo đức và bản lĩnh chính trị… của mỗi con người trong xã hội [47, tr 95] Đảng và Nhà nước ta đã đề ra những mục đích, nhiệm vụ cụ thể nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện, cân đối cho con người, chuẩn bị cho họ trong sự nghiệp lao động, sáng tạo xây dựng đất nước và bảo vệ tổ quốc Từ đó, góp phần xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, giáo dục trí tuệ, đạo đức, thể chất, thẩm mỹ, lao động trên nguyên tắc hướng tới sự phát triển con người toàn diện

Cờ Vua là môn thể thao phù hợp với đặc điểm thể chất và trí tuệ người Việt Nam Tuy phát triển khá muộn so với các môn thể thao khác nhưng Cờ Vua đã thu được những thành tích cao trên đấu trường khu vực, châu lục và thế giới như: Tại Seagames 23 ở Philippine (2005), Cờ Vua Việt Nam đã xuất sắc giành được 8/8 huy chương vàng Đã có nhiều nhà vô địch thế giới ở lứa tuổi trẻ như: Đại kiện tướng Quốc tế Lê Quang Liêm (TP Hồ Chí Minh), Nguyễn Ngọc Trường Sơn (Cần Thơ), Nguyễn Đức Hòa (Cần Thơ), Đào Thiên Hải (TP Hồ Chí Minh), Nguyễn Lê Cẩm Hiền đã đoạt được huy chương vàng Giải vô địch Cờ Vua thế giới hạng U8 nữ,… Cờ Vua Việt Nam hiện đang xếp thứ 41 trong bảng xếp hạng của FIDE tháng 2/2016; Những thành tích đó là tiền đề cho sự phát triển tiếp theo của nền TDTT Việt Nam nói chung và của Cờ Vua trong thế kỷ XXI nói riêng

Tập luyện Cờ Vua giúp phát triển trí tuệ, khả năng tư duy của con người, rèn luyện trí nhớ, hình thành và hoàn thiện những phẩm chất đạo đức cần thiết của con người mới xã hội chủ nghĩa như ý chí vươn lên, tính quyết đoán, kiên

Trang 14

2

trì, nhẫn nại, tập trung, tính kỷ luật trong tư duy, lòng cao thượng, danh dự, lòng dũng cảm, khả năng mạo hiểm Nhà sư phạm V Sukhomlinsky (Nga)

đã từng viết: “… Khó có thể hình dung quá trình hoàn thiện các khả năng trí

óc và trí nhớ của trẻ nếu thiếu Cờ… Cờ Vua cần phải đi vào cuộc sống ngay

từ bậc tiểu học như một trong những nhân tố văn hóa trí tuệ” [5, tr.2]

Cờ Vua là môn thể thao trí lực, lượng vận động tác động trực tiếp vào quá trình tư duy của người tập, từ đó phát triển các năng lực tâm lý nói chung, các thành phần của năng lực trí tuệ nói riêng của người tập

Trí tuệ được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau như: tâm lý học, sinh lý học, triết học, Theo quan điểm của tâm lý học: Trí tuệ là năng lực đặc thù của con người - đó là năng lực suy xét hoàn cảnh xung quanh, xa gần, thông qua thu thập thông tin từ bên ngoài tới, xử lý thông tin bằng phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa, nêu vấn đề, hiểu vấn đề, giải quyết vấn đề, thích nghi với hoàn cảnh, vượt qua hoàn cảnh, đúc kết, sáng tạo và vận dụng tri thức, quy luật, nâng dần phương thức sinh hoạt ngày càng hợp lý hơn, tạo nên các nền văn minh, văn hóa, truyền đạt cho nhau trong cộng đồng, cũng như trong thế hệ trẻ

và các thế hệ nối tiếp nhau, tiếp thu, duy trì, phát triển [23, tr.120]

Phát triển các thành phần năng lực trí tuệ cho học sinh năng khiếu Cờ Vua nói chung và cho học sinh tiểu học nói riêng là việc làm cần thiết Đánh giá ảnh hưởng của tập luyện Cờ Vua tới sự phát triển trí tuệ cho người tập, đặc biệt là học sinh tiểu học, lứa tuổi mà trí tuệ đang phát triển mạnh mẽ là vấn đề hết sức quan trọng và cần được quan tâm đúng mức

Lứa tuổi 8 - 9 là lứa tuổi trong giai đoạn học đường, đây là giai đoạn quan trọng cho sự phát triển trí tuệ của trẻ Trong môn Cờ Vua, đây là giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu, là giai đoạn quan trọng đặt nền móng cho sự thành công trong tương lai Đặc biệt, đối với môn Cờ Vua, là môn mà năng

Trang 15

3

lực trí tuệ chiếm ưu thế Do vậy, cần có những phương pháp phát hiện, bồi dưỡng đúng đắn để giúp các em phát triển năng khiếu thành tài năng thể thao Qua điều tra thực trạng công tác huấn luyện, đào tạo VĐV Cờ Vua hiện nay, đặc biệt là công tác phát hiện, bồi dưỡng học sinh năng khiếu Cờ Vua cho thấy: chưa có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực Cờ Vua ở những đối tượng, lứa tuổi khác nhau, chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá ảnh hưởng của tập luyện Cờ Vua đến sự phát triển của trẻ, đặc biệt là sự phát triển trí tuệ, vấn đề được xã hội ngày nay đặc biệt quan tâm Vì vậy, luận án xác định cần thiết phải nghiên cứu ảnh hưởng của tập luyện Cờ Vua đến sự phát triển trí tuệ của học sinh năng khiếu Cờ Vua lứa tuổi 8 - 9, lứa tuổi trí tuệ đang trong giai đoạn phát triển

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: "Nghiên cứu ảnh hưởng của tập luyện Cờ Vua tới sự phát triển các thành phần của năng lực trí tuệ ở học sinh năng khiếu Cờ Vua lứa tuổi 8 - 9 thành phố Hà Nội" Mục đích nghiên cứu

Qua nghiên cứu các cơ sở lý luận và thực tiễn, luận án tiến hành lựa chọn các chỉ số đánh giá các thành phần năng lực trí tuệ ở học sinh năng khiếu Cờ Vua lứa tuổi 8 - 9 thành phố Hà Nội Từ đó, xác định ảnh hưởng của tập luyện Cờ Vua tới sự phát triển trí tuệ của đối tượng nghiên cứu nhằm xác định Cờ Vua như một phương tiện để phát triển trí tuệ cho học sinh năng khiếu Cờ Vua lứa tuổi 8 - 9 nói riêng, học sinh tiểu học nói chung

Mục tiêu nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án đã giải quyết 2 mục tiêu nghiên cứu sau:

Mục tiêu 1: Nghiên cứu đánh giá thực trạng các thành phần năng lực trí

tuệ của học sinh năng khiếu Cờ Vua lứa tuổi 8- 9 thành phố Hà Nội

Lựa chọn các test đánh giá các thành phần năng lực trí tuệ của học sinh năng khiếu Cờ Vua lứa tuổi 8 - 9 thành phố Hà Nội

Trang 16

4

Đánh giá thực trạng thành phần năng lực trí tuệ của học sinh năng khiếu

Cờ Vua lứa tuổi 8 - 9 thành phố Hà Nội

Mục tiêu 2: Ảnh hưởng của tập luyện Cờ Vua tới sự phát triển các thành

phần của năng lực trí tuệ ở học sinh năng khiếu Cờ Vua lứa tuổi 8 - 9 thành phố

Giả thuyết khoa học

Sự phát triển trí tuệ cá nhân nói chung, trí tuệ của học sinh năng khiếu Cờ Vua lứa tuổi 8 - 9 nói riêng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: di truyền, giáo dục, môi trường sống, chế độ dinh dưỡng, Giả định rằng, tập luyện Cờ Vua một cách khoa học, phù hợp sẽ kích thích hứng thú học tập của các em, tạo cho các em khả năng tự học, sáng tạo, có tác dụng tích cực tới sự phát triển trí tuệ của học sinh năng khiếu Cờ Vua 8 – 9 tuổi Từ đó, luận án có thể xác định được

Cờ Vua như một phương tiện để phát triển trí tuệ cho học sinh

Trang 17

5

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Trí tuệ và phát triển năng lực trí tuệ

1.1.1 Những khái niệm liên quan đến năng lực trí tuệ

1.1.1.1 Khái niệm năng lực

Theo từ điển tiếng Việt: Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao [38, tr.639] Năng lực là khả năng đủ để làm việc gì [24, tr.466]

Theo từ điển Bách khoa, năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó Năng lực gắn liền với những phẩm chất trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ Năng lực có thể phát triển trên cơ sở năng khiếu, song không phải là bẩm sinh mà là kết quả phát triển của xã hội và của con người (đời sống xã hội, sự giáo dục và rèn luyện, hoạt động của cá nhân [50, tr.41]

Theo tâm lý học, năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lý độc đáo hay các phẩm chất tâm lý của cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định Qua các công trình nghiên cứu tổng hợp về các đặc điểm tâm lý khác nhau của năng lực con người cho phép phân loại chúng thành các năng lực chung và các năng lực riêng [11, tr.499], [51, tr.178]

Năng lực là một giá trị thực tiễn quý nhất của con người: giá trị tạo ra sự

sống, nhà kinh tế học người Anh Adam Smit (1723 - 1790) gọi là “năng lực có ích”, ông coi năng lực, tài năng của con người là một thứ vốn như các thứ vốn khác như đất đai, máy móc, nhà xưởng, Quá trình hình thành loài người là quá trình hình thành năng lực: trí tuệ, tư duy, sáng tạo… [23, tr.235]

Năng lực là quá trình dùng vốn liếng do các quá trình, trạng thái tâm lý của bản thân mang lại vào một công việc nào đấy để đạt một kết quả theo mục đích, động cơ đã đề ra

Trang 18

6

Năng lực là đặc điểm tâm lý của từng người chuyển tiềm năng, khả năng thành sức mạnh thực - tổ chức, sắp xếp các thành tố tâm lý tương ứng, tạo nên

“công cụ tâm lý” - sức từng người thực hiện một việc nào đấy [23, tr.240]

Từ những quan điểm đó, Trần Thị Thanh Thủy (2016) đưa ra định nghĩa: Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức kỹ năng và các thuộc tính tâm lý cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định [46, tr.7]

Trong lĩnh vực thể thao: Năng lực là đặc điểm tâm sinh lý riêng của cá nhân chi phối quá trình tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cũng như hiệu quả một hoạt động nhất định [56, tr.36]

Bản chất của thuộc tính năng lực của con người thể hiện ở chất lượng biểu hiện của một chức năng nào đó

Năng lực được thể hiện trong những hoạt động cụ thể Mỗi hoạt động đều có yêu cầu riêng, đòi hỏi con người thực hiện hoạt động ấy phải đáp ứng

và gần như toàn bộ các thuộc tính của cá nhân đều giúp con người thực hiện hoạt động ấy Thế nhưng không phải bất cứ thuộc tính nào của các nhân cũng phù hợp với yêu cầu của hoạt động đó Có năng lực hay không có năng lực chính là có sự phù hợp giữa một bên là yêu cầu của hoạt động và một bên là các thuộc tính cá nhân

Khi đề cập đến những thuộc tính cá nhân của năng lực thì bao gồm cả những đặc điểm tâm lý (như tư duy, trí tuệ, đặc điểm của trí nhớ…) và những đặc điểm giải phẫu, sinh lý (những đặc điểm của hệ thần kinh) Tuy nhiên, không phải toàn bộ những thuộc tính của cá nhân mà chỉ có những thuộc tính phù hợp yêu cầu hoạt động trực tiếp góp phần làm cho hoạt động đó đạt kết quả cao

Năng lực phát triển trên cơ sở năng khiếu (đặc điểm sinh lý và trước hết

hệ thần kinh trung ương của con người), song không phải là bẩm sinh, mà qua

Trang 19

7

kết quả phát triển của xã hội và con người (đời sống xã hội, giáo dục và rèn luyện, hoạt động của cá nhân)

Tóm lại, từ những khái niệm trên cho thấy:

Năng lực nảy sinh trên nền những khả năng, là một bậc phát triển cao hơn khả năng Năng lực có thể do bẩm sinh, di truyền, nhưng phần lớn các năng lực của con người có được là do giáo dục và rèn luyện mà có

Năng lực là tổng hợp những phẩm chất tâm lý (như tư duy, trí tuệ, đặc điểm của trí nhớ…) và những đặc điểm giải phẫu, sinh lý (những đặc điểm của hệ thần kinh) tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao Những phẩm chất này có quan hệ qua lại, kết hợp chặt chẽ với nhau

1.1.1.2 Khái niệm trí tuệ

Ít có lĩnh vực nào trong khoa học và trong sinh hoạt lại có nhiều tên gọi như lĩnh vực trí tuệ: trí tuệ, trí khôn, trí lực, trí thông minh Tuy vậy, để thuận lợi cho việc trao đổi nội dung khoa học của nó, cần có sự thống nhất về thuật ngữ Mặc dù, sự thống nhất này chỉ có tính tương đối

Trong tiếng Latinh, trí tuệ nghĩa là hiểu biết, thông tuệ Theo một số nhà khoa học và từ điển tiếng Việt giải thích: Trí tuệ là khả năng nhận thức lí tính đạt đến một trình độ nhất định (trí tuệ minh mẫn) [24, tr.729], [35, tr.40], [38, tr.999]

Hiện nay trong lĩnh vực tâm lý học, đã có nhiều định nghĩa khác nhau

về trí tuệ, thể hiện sự phong phú, đa dạng trong nghiên cứu trí tuệ Tuy nhiên, chưa có tiếng nói chung về sự thống nhất trong tâm lý học trí tuệ Có thể khái quát các định nghĩa về trí tuệ thành 3 nhóm chính: 1) Trí tuệ là khả năng học tập của cá nhân (B G.Ananhev); 2) Đồng nhất trí tuệ với năng lực tư duy trừu tượng của cá nhân (A.Binet, L.Terman, G.X.Cotxchuc…); 3) Trí tuệ là năng lực thích ứng của cá nhân với ngoại cảnh (W.Sterner, G.Piagie, D.Wechesler)

Trang 20

8

Các nhóm quan niệm này của các nhà khoa học không loại trừ nhau mà chỉ nhấn mạnh một mặt, một khía cạnh nào đó của trí tuệ chứ chưa bao quát được khái niệm trí tuệ cá nhân [31, tr.231], [35, tr.41 - 42]

Theo quan niệm thứ nhất, trí tuệ là đặc điểm tâm lý phức tạp của con người mà kết quả của công việc học tập và lao động phụ thuộc vào nó Mối quan hệ giữa học tập với trí tuệ có mối quan hệ nhân quả với nhau

Nhóm quan niệm thứ hai đã quy hẹp khái niệm trí tuệ vào các thành phần cốt lõi của nó là tư duy Theo nhóm quan điểm này thì năng lực trí tuệ chủ yếu là năng lực tư duy, nó phù hợp với đặc điểm hoạt động tâm lý (tư duy) của môn Cờ Vua

Nhóm quan niệm thứ ba coi trí tuệ là khả năng thích ứng cá nhân Trí tuệ

là khả năng xử lý thông tin, giải quyết vấn đề và nhanh chóng thích nghi với những tình huống mới nảy sinh

Theo từ điển tâm lý học, trí tuệ về cơ bản để chỉ các đặc điểm cá nhân liên quan đến lĩnh vực nhận thức, trước hết là tư duy, trí nhớ, tri giác, chú ý… Trí tuệ được hiểu là mức độ phát triển nhất định của hoạt động tư duy của nhân cách, đảm bảo khả năng đạt được các tri thức mới và sử dụng chúng có hiệu quả trong các hoạt động sống, là khả năng thực hiện quá trình nhận thức

và giải quyết vấn đề có hiệu quả Trí tuệ - là cấu trúc năng lực trí tuệ tương đối bền vững của cá nhân Trong một số quan điểm thì người ta đồng nhất trí tuệ với: Hệ thống các thao tác trí tuệ; Cách thức và chiến lược giải quyết vấn đề; Cách thức nhận thức… [11, tr.919]

Theo tâm lý học phương tây: Trí tuệ là sự thích nghi tâm sinh học với các hoàn cảnh hiện có của cuộc sống (W.Sterner, G.Piagie và những người khác) Các nhà tâm lý học người Pháp A Binet và T.Ximon đã đề xuất việc xác định mức độ tài năng trí tuệ nhờ các bài test chuyên biệt Theo họ, trí tuệ

là những khả năng thực hiện những bài tập thích hợp, khả năng tham gia một

Trang 21

9

cách có hiệu quả vào cuộc sống văn hóa, xã hội và khả năng thích ứng thành công Với mục đích hoàn thiện phương pháp chẩn đoán trí tuệ, các nghiên cứu khác nhau đã đưa ra cấu trúc trí tuệ Đồng thời các tác giả đã chia số lượng các “nhân tố trí tuệ” thành các yếu tố khác nhau Xuất phát từ phương pháp luận Mác - Lênin, tâm lý học Xô Viết công nhận sự phụ thuộc của các năng lực trí tuệ của con người vào các điều kiện kinh tế - xã hội trong cuộc sống của họ [11, tr.919]

Theo tâm lý học, trí tuệ là năng lực đặc thù của con người- đó là năng lực suy xét hoàn cảnh xung quanh, thông qua thu thập thông tin từ bên ngoài tới, xử lý thông tin bằng phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa, nêu vấn đề, hiểu vấn đề, giải quyết vấn đề, thích nghi với hoàn cảnh, vượt qua hoàn cảnh, đúc kết, sáng tạo và vận dụng tri thức, quy luật, nâng dần phương thức sinh hoạt ngày càng hợp lý hơn, tạo nên các nền văn minh, văn hóa, truyền đạt cho nhau trong cộng đồng, cũng như trong thế hệ trẻ và các thế hệ nối tiếp nhau tiếp thu, duy trì, phát triển Nói cách khác, trí tuệ ở con người là hiểu và suy nghĩ bằng tri thức giúp con người thích nghi với điều kiện ngoại cảnh tốt hơn [23]

“Trí tuệ” là năng lực suy xét, tìm ra và sử dụng sự suy xét giải quyết các vấn đề thực tiễn, năng lực này còn gọi là “thông tuệ”: thông minh, sáng suốt trong cuộc sống Có nghĩa là: “Trí tuệ”, “Thông tuệ”, “Thông minh”… là những từ ngữ có ý nghĩa tương đương với nhau [23, tr.174]

Tuy nhiên, để có cách hiểu bao quát vấn đề trí tuệ cần tính đến những đặc trưng của nó: 1) Trí tuệ là yếu tố tâm lí có tính độc lập tương đối với các yếu tố tâm lí khác của cá nhân 2) Trí tuệ có chức năng đáp ứng mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ thể với môi trường sống, tạo ra sự thích ứng tích cực của cá nhân 3) Trí tuệ được hình thành và biểu hiện trong hoạt động của chủ thể 4) Sự phát triển của trí tuệ chịu ảnh hưởng của yếu tố sinh học của cơ thể

và chịu sự chế ước của các yếu tố văn hoá - xã hội [35, tr.43]

Trang 22

10

Một định nghĩa được nhiều nhà tâm lý học tán thành và sử dụng trong những nghiên cứu của mình: trí tuệ là một cấu trúc động tương đối độc lập của các thuộc tính nhận thức của nhân cách, được hình thành và thể hiện trong hoạt động, do những điều kiện lịch sử - văn hóa quy định và chủ yếu đảm bảo cho sự tác động qua lại phù hợp với hiện thực xung quanh, cho sự cải tạo có mục đích hiện thực ấy [31, tr.231], [45, tr.78]

Khái niệm này đã bao hàm những đặc trưng cơ bản của trí tuệ:

Trí tuệ bao gồm các thành phần nhận thức và biểu hiện khả năng nhận thức được bản chất của vấn đề, sự vật hiện tượng

Trí tuệ được biểu hiện trong hoạt động và trước hết là: hoạt động sáng tạo

ra các công cụ mới, phương pháp mới cho phù hợp với hoàn cảnh mới

Trí tuệ chịu sự quy định của các điều kiện văn hóa, lịch sử cho nên trí tuệ đại diện cho một giai đoạn lịch sử nhất định, một thời kỳ phản ánh lịch sử nhất định

Trí tuệ đảm bảo cho sự thích ứng của con người với ngoại cảnh xung quanh [31, tr.231]

Chúng ta cũng cần phân biệt trí tuệ với trí thông minh Theo Nguyễn Khắc Viện (1991): Trí thông minh cũng là trí tuệ nhưng là sự phát triển nhất của trí tuệ, cốt lõi là tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo và năng lực tư duy trừu tượng “trí lực” - năng lực trí tuệ Như vậy có thể thấy khái niệm trí tuệ bao trùm hơn cả, các khái niệm khác là sự thể hiện của trí tuệ ở các mức độ, khía cạnh khác nhau [31, tr.231], [55]

Theo Kotov (1970) thì tư duy luôn liên hệ chặt chẽ với năng lực xử lý thông tin thu nhận từ các cơ quan cảm giác từ các hiện tượng xung quanh con người, hoặc liên hệ tới quá trình làm việc của trí nhớ, nghĩa là xử lý thông tin

đã tích lũy từ trước: Tư duy không phải là cái gì khác là yếu tố đầu tiên của sự liên tưởng, nó liên hệ tới trực quan bên ngoài, sau hết là những chuỗi xích liên

Trang 23

1.1.2 Định hướng về phát triển trí tuệ cho học sinh

Phát triển trí tuệ cho học sinh, đặc biệt là học sinh tiểu học luôn là vấn

đề được Đảng, Nhà nước, xã hội quan tâm Tại Hội nghị Trung ương 8 khóa

XI, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 29- NQ/TW ngày 4/11/2013 về việc

đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo… Trong đó có nêu: “Phát

triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” [2]

Ngày nay, đất nước ta đang hội nhập mạnh mẽ với thế giới về mọi mặt, trí tuệ là yếu tố hàng đầu thể hiện sự phát triển của một quốc gia Qua

đó, mỗi cá nhân đều ý thức được rằng giáo dục không chỉ là phúc lợi xã hội,

mà còn là đòn bẩy quan trọng để phát triển kinh tế, phát triển xã hội Đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho phát triển, chỉ có một chiến lược phát triển con người đúng đắn mới giúp nước ta thoát khỏi sự phụ thuộc mới về kinh tế

và công nghệ Tất cả do con người và vì hạnh phúc của con người, trong đó trí tuệ là nguồn tài nguyên lớn nhất của quốc gia Vì vậy, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài là vấn đề có tầm chiến lược, là yếu tố quyết định tương lai của đất nước Do vậy, giáo dục giữ vai trò cốt lõi đối với mỗi quốc gia

Theo quan điểm của các nhà tâm lý học, cho thấy: Sự phát triển về trí tuệ cá nhân tăng rất nhanh trong vòng 6 năm đầu và gần đạt mức trưởng thành

Trang 24

12

trong 12 năm đầu của cuộc đời Trong thời gian này 1/3 sự phát triển được thực hiện trong 6 năm đầu, đến 8 tuổi đạt 1/2 sự phát triển và đạt 3/4 mức trưởng thành ở tuổi 12 Như vậy, từ 12 tuổi trở xuống có tầm quan trọng quyết định đối với sự phát triển trí tuệ của cá nhân [35, tr.134]

Điều này cho thấy vai trò quan trọng của giáo dục nhà trường và gia đình đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ em trong giai đoạn học đường là rất quan trọng Do vậy, các nhà giáo dục, gia đình, xã hội cần quan tâm phát triển trí tuệ cho học sinh nhất là trong những giai đoạn phát triển của trẻ em

Để đất nước phát triển phải có nền giáo dục tốt, tạo cơ sở để phát triển trí tuệ cá nhân và cả dân tộc Được học hành và có năng lực học tập để phát triển năng lực trí tuệ, nâng nhận thức lên tầm lý tính là điều kiện quan trọng trong việc phát triển con người, phát triển xã hội đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, nâng trình độ văn minh lên tầm cao hơn Có trí tuệ con người mới làm chủ được bản thân, và từ đó tập hợp lại mới có sức mạnh, năng lực cạnh tranh, quyền lực mềm của dân tộc

Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng, đề cao và ưu tiên hàng đầu cho sự phát triển thế hệ trẻ, trong đó đặc biệt chú ý đầu tư phát triển tốt về thể chất và

tinh thần cho các em: “… nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài” là ưu tiên

hàng đầu Trong giai đoạn hiện nay, khi nước ta cùng các nước trên thế giới đang bước vào thời kỳ mới, thời kỳ của cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 (thời kỳ công nghệ 4.0), hơn lúc nào hết, trí tuệ là yêu cầu cần thiết và cấp bách để đất nước hòa nhập với sự phát triển của thế giới

Cờ Vua là một trong những môn thể thao có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển trí tuệ của trẻ em Chính vì vậy, tập luyện Cờ Vua sẽ góp phần quan trọng trong quá trình giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, tạo cho đất nước lớp người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, đáp ứng mọi yêu cầu của sự nghiệp đổi mới,

Trang 25

13

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhất là trong thời kỳ khoa học công

nghệ đang phát triển mạnh mẽ

1.1.3 Cấu trúc trí tuệ cá nhân

Trong tâm lý học hiện nay có nhiều mô hình về cấu trúc trí tuệ Tuy nhiên, tùy theo hệ quy chiếu có thể quy thành các nhóm khác nhau Dựa theo phương pháp tiếp cận, có thể tách ra các mô hình cấu trúc theo phương pháp phân tích nhân tố và các mô hình theo phương pháp phân tích đơn vị Theo số lượng các phần tử trong cấu trúc thì được chia thành 2 nhóm là cấu trúc hai thành phần và cấu trúc đa nhân tố Còn hướng tiếp cận phân tích đơn vị tạo ra

mô hình cấu trúc trí tuệ theo lý thuyết hoạt động và theo lý thuyết nhiều dạng trí tuệ Nhằm xác định cấu trúc năng lực trí tuệ phù hợp với vấn đề nghiên cứu,

đề tài tìm hiểu một số đặc điểm cấu trúc trí tuệ sau:

Cấu trúc trí tuệ hai thành phần có thể kể đến các mô hình của C Spearman: Ông cho rằng trí tuệ con người không phải là một khối duy nhất, nó bao gồm có một yếu tố chung gọi là nhân tố G (General) và năng khiếu riêng gọi

Nhận thức, tức là sự phát hiện, phát hiện lại hay nhận biết những đặc trưng phù hợp với tình huống

Trang 26

14

Trí nhớ là lưu giữ những gì đã biết

Tư duy hội tụ, là tư duy dẫn đến kết quả đúng để trả lời câu hỏi mà chỉ cần một đáp án đúng

Tư duy phân kỳ, là tư duy theo các hướng khác nhau hay tìm kiếm hàng loạt câu trả lời cho câu hỏi mà có thể có nhiều đáp án

Đánh giá, là đi đến quyết định về tính chính xác, sự đúng đắn hay phù hợp của thông tin được tạo ra bởi những thao tác trước đó

Theo R.Sternberg năng lực trí tuệ và năng lực tư duy không thể tách rời nhau, ông xây dựng 3 thành phần của trí tuệ đó là: Cấu trúc, kinh nghiệm và điều kiện Để đánh giá trí tuệ của một cá nhân cần xem xét kỹ năng xử lý thông tin của họ, kinh nghiệm của họ về những thông tin đó, ngữ cảnh trong

đó họ đang thực hiện các bài tập được giao

Theo phương pháp phân tích đơn vị, H Gardner đã xác định 3 kỹ thuật

mà cá nhân sử dụng trong thao tác trí tuệ [22], [34, tr.122 - 123], [35, tr.68]:

Thứ nhất, tối đa hóa những điểm mạnh trí tuệ có sẵn Ông xác định 7 loại trí tuệ cá nhân là: logic hay toán học, không gian hay trực quan, cơ thể, ngôn ngữ, âm nhạc, liên nhân cách và nội tâm Theo cách phân loại này, không có cá nhân nào bao gồm tất cả các loại hình trí tuệ, mà thay vào đó, mỗi người biểu hiện trí tuệ nội tâm để tập trung vào điểm mạnh và bỏ qua các điểm yếu của mình

Thứ hai là suy nghĩ sâu về lĩnh vực Thực tế cho phép người sáng tạo xem xét vấn đề một cách toàn cục với những cố gắng sáng tạo Tư duy sâu về vấn đề cho phép họ cởi mở trao đổi với lĩnh vực kiến thức, được cung cấp thông tin về chuyên ngành

Thứ ba, những người sáng tạo có thể phản ánh kinh nghiệm trong cách nhìn tích cực Tất cả họ đều gặp phải thử thách, thất bại trong phát triển nghề nghiệp Mỗi lần như vậy họ định hướng lại một cách đúng đắn hơn Cách

Trang 27

15

nhìn tích cực này tạo động lực thúc đẩy các nhà sáng tạo đi xa hơn bởi vì họ

có thể xây dựng câu truyện cuộc đời thành công hơn cho chính họ

Cấu trúc trí tuệ cá nhân và các công trình nghiên cứu về trí tuệ đã chứng minh: trẻ em trong các dân tộc khác nhau, trong nền văn hóa khác nhau thường có các kiểu tư duy khác nhau [35, tr.65]

Qua tổng hợp các mô hình cấu trúc trí tuệ cá nhân của các nhà khoa học cho thấy Trong quá trình học tập, tập luyện, Cờ Vua có những yếu tố tâm lý liên quan như: năng lực tư duy; trí nhớ; năng lực tập trung chú ý; khả năng phân tích, đánh giá, tổng hợp tình hình và đưa ra phương án giải quyết,…

1.1.4 Sự phát triển trí tuệ cá nhân

Theo Từ điển tâm lý học, phát triển trí tuệ là tổng thể những nhận thức,

kỹ năng và những hành động trí tuệ đã được hình thành; vận dụng một cách thành thạo những kiến thức, kỹ năng đó để lĩnh hội các kiến thức, kỹ năng mới Mức độ phát triển trí tuệ hiện tại là trạng thái của các khả năng nhận thức và sáng tạo của cá nhân Mức độ phát triển trí tuệ có thể được đánh giá thông qua quan sát tâm lý - giáo dục kéo dài hoặc qua các trắc nghiệm trí tuệ [11, tr.601]

Các giai đoạn của sự phát triển trí tuệ

Các nhà tâm lý học cho rằng mỗi giai đoạn phát triển trí tuệ có thể đạt được ở một độ tuổi nhất định Có nhiều quan điểm, căn cứ để đánh giá sự phát triển trí tuệ cá nhân Tuy nhiên, các nhà khoa học như: M Donalson [7]; Buckley [57],… đã đưa ra nhiều cơ sở lý luận và thực tiễn cho thấy nhịp độ phát triển trí tuệ của trẻ em qua các giai đoạn khác nhau

Các nhà tâm lý học Việt Nam đã có cùng quan điểm với J Piagie (1896 - 1980):

đã chia sự phát triển trí tuệ cá nhân thành các giai đoạn và được nhiều nhà

khoa học đồng tình, đó là [31, tr.232], [35, tr.83 - 90], [52, tr.231]:

Giai đoạn của cảm giác vận động: từ 0 đến 2 tuổi

Giai đoạn tiền thao tác: từ 2 đến 7 tuổi

Trang 28

16

Giai đoạn thao tác cụ thể: từ 7 đến 11 tuổi

Giai đoạn thao tác hình thức: từ 11 tuổi trở đi

Sự phát triển trí tuệ của học sinh thường được đo bằng các chỉ số sau [31, tr.233 - 134], [52, tr.230 - 231]:

Tốc độ của sự định hướng trí tuệ (sự nhanh trí, độ nhanh)

Tốc độ khái quát hóa

Tính sáng tạo của tư duy

Tính mềm dẻo của trí tuệ

Tính phê phán của trí tuệ

Tính sâu sắc của trí tuệ

Như vậy, những năm đầu đời (sơ sinh đến 12 tuổi) có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ em Đây cũng là giai đoạn học đường của trẻ, có nghĩa là vai trò của giáo dục có ảnh hưởng sâu sắc đối với sự phát triển trí tuệ của các em Nhằm tạo điều kiện phát triển trí tuệ cá nhân, cần thống nhất giữa việc trang bị và lĩnh hội kiến thức, giữa nội dung và phương pháp Qua đó, làm cho hệ thống tri thức ngày càng phong phú, phương pháp lĩnh hội tri thức hợp lý hơn, tạo điều kiện cho trí tuệ phát triển

Yếu tố tác động đến sự phát triển trí tuệ cá nhân

Yếu tố quyết định đến sự hình thành và phát triển trí tuệ cá nhân chính

là đời sống và hoạt động của cá nhân đó Nó được quy vào hai hướng chính là: Các quan niệm nhấn mạnh yếu tố di truyền trí tuệ, yếu tố tư chất bẩm sinh

và môi trường

Trong lý thuyết kiến tạo trí tuệ cá nhân, J Piagie quan niệm sự phát sinh, phát triển trí tuệ cá nhân chịu sự chi phối của các yếu tố: sự tăng trưởng của cơ thể; vai trò của sự tập luyện và kinh nghiệm thu được qua hoạt động với đối tượng; sự tác động và chuyển giao xã hội; tính chủ thể và sự phối hợp chung của các hành động cá nhân [35, tr.160]

Trang 29

17

Trong các yếu tố tác động đến sự phát triển trí tuệ, yếu tố dạy học luôn được các nhà khoa học quan tâm Dạy học được diễn ra với nhiều hình thức khác nhau, tuy nhiên vẫn chú trọng đến hình thức nhà trường với sự phát triển trí tuệ theo hai chiều hướng khác nhau [31, tr.235 - 237], [35, tr.182]:

Chiều thứ nhất: Dạy học có vai trò quyết định đến sự phát triển trí tuệ của học sinh, thể hiện:

Kiểu dạy học, phương thức dạy học quy định chiều hướng phát triển trí tuệ của người học Qua đó giúp phát triển mạnh về trí nhớ, tư duy người học

Kiểu dạy học cung cấp cho học sinh hệ thống tri thức, khái niệm khoa học, tạo tiền đề cho sự phát triển trí tuệ của học sinh

Các quá trình nhận thức của người học như: quan sát, trí nhớ, tư duy đều được hình thành trong hoạt động dạy học của giáo viên

Các thao tác trí tuệ cơ bản như: Phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát… cũng được hình thành trong dạy học

Chiều thứ hai: Trí tuệ nói riêng và các chức năng tâm lý khác nhau khi được hình thành và phát triển lại có ảnh hưởng đến quá trình dạy học Có ba nhóm quan điểm về vấn đề dạy học và sự phát triển trí tuệ cá nhân:

Thứ nhất: dạy học và sự phát triển trí tuệ độc lập nhau

Thứ hai: đồng nhất dạy học và sự phát triển trí tuệ

Thứ ba: dạy học đi trước sự phát triển và kéo theo sự phát triển

Như vậy, dạy học và sự phát triển trí tuệ có sự tác động qua lại chặt chẽ với nhau Sự phát triển trí tuệ vừa là kết quả, vừa là điều kiện của việc nắm vững tri thức của hoạt động học tập Do đó, tăng cường dạy học là tăng cường

sự phát triển trí tuệ cho học sinh, nhất là trong giai đoạn lứa tuổi tiểu học, lứa tuổi mà trí tuệ của các em phát triển mạnh nhất Giáo dục phải tạo điều kiện cho trẻ tích cực, chủ động giải quyết mọi vấn đề nảy sinh, thúc đẩy sự phát triển của trẻ ở mức cao hơn

Trang 30

18

Đối với trẻ 8 - 9, trí tuệ của các em phát triển trong mối tác động qua lại giữa nội dung tri thức thu nhận được với hình thức lao động trí óc và năng lực hoạt động trí tuệ độc lập Từ đó hình thành xu hướng học tập, thái độ trách nhiệm đối với học tập Do vậy, với lứa tuổi 8 - 9, trong quá trình giảng dạy cần phải sử dụng đa dạng các phương pháp linh hoạt, nội dung phù hợp

để đạt được hiệu quả cao trong giáo dục

1.1.5 Đặc điểm, vai trò của tập luyện Cờ Vua tới sự phát triển trí tuệ

Cờ Vua là một môn thể thao có đặc trưng là ít đòi hỏi cao về các tố chất thể lực, song lại có yêu cầu cao về sự bền bỉ, mưu trí, thông minh, óc sáng tạo

ở người chơi Cờ Vua là môn thể thao có tác dụng phát triển tư duy lôgic, luyện trí thông minh, giáo dục những phẩm chất tốt đẹp như tính tổ chức kỷ luật, kiên cường bình tĩnh, luyện mưu trí, óc sáng tạo, luyện cách nhìn xa trông rộng biết phân tích, tổng hợp tình hình một cách khách quan khoa học, rèn luyện cách làm việc có kế hoạch, tính quyết đoán và táo bạo trong xử lý tình huống [3, tr.17- 18], [13, tr.17]

Chơi Cờ Vua, chính là góp phần xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, thực hiện việc trao đổi văn hóa thể dục thể thao với các nước trên thế giới Chơi cờ là một môn giải trí tao nhã, tạo ra cảm giác sảng khoái của sự sáng tạo và mưu trí, bởi có

sự biến hóa kỳ diệu trong mỗi nước cờ, mỗi thế biến [3, tr.17], [13, tr.18]

Cờ Vua ngày càng đóng vai trò quan trọng trong xã hội hiện đại Theo các nhà nghiên cứu, thời kỳ cách mạng khoa học - kỹ thuật đòi hỏi lao động trí óc cao trong mọi lĩnh vực thì vấn đề phát triển khả năng phân tích của con người để xử lý và rút ra những điều cần thiết trong khối lượng thông tin đồ sộ

và tổng quát là điều có ý nghĩa đặc biệt Phần lớn các thế cờ xuất phát đều mang tính tình huống riêng biệt Nghĩa là, không thể tìm ra một lời giải duy nhất tuyệt đối đúng Do đó, người chơi luôn rơi vào tình huống thay đổi liên

Trang 31

Như vậy, trong xã hội hiện đại ngày nay, Cờ Vua được coi là một trong những phương tiện cùng các môn năng khiếu khác như nhạc, họa, có tác dụng ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển trí tuệ của trẻ Đặc biệt, đối với học sinh năng khiếu Cờ Vua, các em đã có sẵn tư chất trí tuệ tương đối phát triển Nếu có nội dung, phương pháp giảng dạy phù hợp, sẽ thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của các em một cách tối ưu

1.1.6 Thành phần năng lực trí tuệ Cờ Vua

Luận án đề cập đến năng lực trí tuệ của học sinh năng khiếu Cờ Vua, nghĩa là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng chuyên môn phù hợp với lứa tuổi và vận hành chúng hợp lý để giải quyết thành công những nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra trong các tình huống nảy sinh trong cuộc sống cũng như đối với môn Cờ Vua

Tổng hợp các quan điểm của các nhà khoa học về năng lực trí tuệ cho thấy: Năng lực trí tuệ là chỉ chất lượng biểu hiện về các thành phần của trí tuệ

để giải quyết vấn đề đạt hiệu quả cao Như vậy, khi đánh giá trí tuệ cũng như

sự phát triển của nó cần đánh giá đầy đủ các yếu tố trên

Đặc điểm hoạt động của môn Cờ Vua chủ yếu là hoạt động tâm lý mà chủ đạo là hoạt động tư duy, cách tiếp nhận và xử lý thông tin, giải quyết vấn

đề một cách hiệu quả Vậy, năng lực trí tuệ trong Cờ Vua là đặc điểm tâm lý riêng của cá nhân chi phối quá trình tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cũng

Trang 32

Trong môn Cờ Vua, trí tuệ được thực hiện nhằm phân tích, đánh giá, tính toán để đưa ra những phương án, từ đó quyết định lựa chọn một phương án hiệu quả nhất trong số những phương án đã đưa ra Trong quá trình tập luyện và thi đấu, tình huống cờ, tình huống thi đấu (hoàn cảnh có vấn đề) thúc đẩy VĐV phải tìm cách giải đáp Tình huống cờ có giá trị như động lực thúc đẩy VĐV trong việc lựa chọn các phương án các quyết định cần phải áp dụng tại thế cờ đó Chính vì nhận thức của mỗi VĐV khi nhìn nhận, đánh giá một thế cờ là khác nhau, nên sự quyết định của các VĐV tại một tình huống cờ cũng luôn khác nhau Như vậy, cũng có thể nói rằng năng lực trí tuệ của mỗi VĐV cũng khác nhau

Theo quan điểm của các của các chuyên gia Tâm lý Cờ Vua hàng đầu của Liên Xô (cũ) như: Dlôtnhic.B.A [6], [81], [82]; Extrin [17]; Alekhine [78]; V.Malkin [87]; B.P Yakovlev (2002) [89]; Filin.VP, Fomin H (1980) [90]; Yabladonsky.I.M., (1966) [91],… và các nhà khoa học nghiên cứu về

Cờ Vua ở Việt Nam như: Đàm Quốc Chính (1999) [3], Hà Minh Dịu (2015) [5], Đặng Văn Dũng (2006) [9], Nguyễn Hồng Dương (2008) [12] , Qua tổng hợp những quan điểm về năng lực trí tuệ, luận án nhận thấy thành phần

Trang 33

21

năng lực trí tuệ trong Cờ Vua gồm các yếu tố: Thông minh, tư duy, tập trung, trí nhớ, tốc độ thu nhận và xử lý thông tin

1.2 Đặc điểm hoạt động tập luyện và thi đấu Cờ Vua

1.2.1 Đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi 8 - 9

1.2.1.1 Đặc điểm tâm lý

Học sinh lứa tuổi 8 - 9, các em đã có thời gian học ở trGường tiểu học, điều kiện sống và hoạt động học tập của các em đã có sự thay đổi so với lứa những lứa tuổi trước đó Đây là những biến đổi quan trọng đối với sự phát triển của các em, do đó, tâm lý của trẻ cũng có những đặc điểm riêng như sau:

Trí tuệ của các em lứa tuổi 8 - 9 thuộc giai đoạn thao tác cụ thể Trong

giai đoạn này, các em có thể hiểu rằng, nếu không thêm vào và không lấy bớt

đi, số lượng vật không thay đổi Trẻ hình thành các thao tác trí tuệ: phân loại, phân hạng và hình thành các khái niệm bảo tồn… [35, tr.125] Nói cách khác, đây là giai đoạn đến trường của các em, do vậy đặc trưng của giai đoạn này là

sự phong phú và hướng ra bên ngoài, ra xã hội của các mối quan hệ Tư duy của các em khách quan hơn Trẻ đã bắt đầu học các tri thức khoa học, trong đó

có tri thức về hành động, hoạt động

Tri giác là quá trình nhận thức phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc

tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta

Tri giác của trẻ 8 - 9 tuổi vẫn mang tính không chủ định, còn mang tính

đại thể, ít đi vào chi tiết nên ít phân hóa Tri giác về không gian và thời gian của các em còn hạn chế Tuy nhiên, tri giác của các em được phát triển tốt nhờ quá trình học tập Các em đã biết tìm ra các dấu hiệu đặc trưng của đối tượng, biết phân biệt sắc thái của các chi tiết để đi đến phân tích, tổng hợp và tìm ra mối liên hệ giữa chúng [31, tr.118- 122]

Giáo viên, huấn luyện viên cần sử dụng các phương tiện trực quan phù hợp nhằm giúp phát triển cảm giác về không gian, thời gian cho các em như:

Trang 34

22

sử dụng bàn cờ treo trong quá trình tập luyện, đưa ra các bài tập cụ thể, không quá phức tạp, tạo hứng thú cho các em để tạo tiền đề cho sự phát triển tri giác

chủ định của các em

Tư duy là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất,

những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết

Đặc điểm nổi bật của tư duy lứa tuổi 8 - 9 là sự chuyển từ tính trực quan, cụ thể sang tính trừu tượng, khái quát Các em đã thoát khỏi tính chất trực tiếp của tri giác và mang dần tính trừu tượng, khái quát Có thể phân tích đối tượng mà không cần đến những hành động thực tiễn đối với đối tượng đó Tuy nhiên, trẻ vẫn khó khăn khi tiến hành tổng hợp Các em đã bắt đầu biết tiến hành so sánh nhưng vẫn chưa được hình thành đầy đủ

Tư duy của các em còn thể hiện ở khả năng phán đoán và suy luận Trẻ còn có thể chứng minh, lập luận cho phán đoán của mình Tuy nhiên, những đặc điểm tư duy của các em chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi nó là kết quả của trình độ dạy học ở trường tiểu học [31, tr.122 - 127]

Tư duy là yếu tố quan trọng đối với Cờ Vua, các em ở lứa tuổi này có thể phán đoán, suy luận và đưa ra phương án với những bài tập đơn giản như: phân tích, đánh giá các thế cờ từ 2 - 3 nước đi, phân tích đánh giá thế trận

Tưởng tượng là một quá trình nhận thức phản ánh những cái chưa

từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có

Tưởng tượng của học sinh lứa tuổi này được hình thành, phát triển trong hoạt động học tập và các hoạt động khác Tưởng tượng tái tạo được hoàn thiện gắn liền với những hình tượng đã được tri giác trước hoặc tạo ra những hình tượng phù hợp với điều mô tả, sơ đồ, hình vẽ,… Hình ảnh tưởng tượng của trẻ ngày càng trở lên phân biệt hơn Chi tiết thừa trong hình ảnh càng giảm và hình ảnh càng được gọt giũa hơn, tinh giản hơn Tưởng tượng

Trang 35

23

của các em ngày càng phát triển và phong phú hơn [31, tr.127] Trong quá trình giảng dạy, huấn luyện Cờ Vua, giáo viên, HLV không nên phân tích quá dài dòng, cần phân tích ngắn gọn, đầy đủ ý, dễ hiểu giúp các em nắm bắt những kiến thức cơ bản một cách nhanh chóng, hiệu quả

Trí nhớ là quá trình tâm lý phản ánh những kinh nghiệm đã có của cá

nhân dưới hình thức biểu tượng bằng cách ghi nhớ, giữ gìn và làm xuất hiện lại những điều mà con người đã trải qua

Trí nhớ trực quan- hình tượng được phát triển hơn trí nhớ từ ngữ- logic Các em có khả năng ghi nhớ tốt, đặc biệt là ghi nhớ máy móc Ngoài ra, tình cảm có ảnh hưởng lớn đến độ bền vững và độ nhanh của sự ghi nhớ Trẻ nhớ và nhớ lâu những gì làm cho các em có xúc cảm mạnh (ngạc nhiên, thích thú,…)

Dưới ảnh hưởng của hoạt động học tập, trí nhớ chủ định, trí nhớ ý nghĩa, trí nhớ từ ngữ - logic được xuất hiện, phát triển cùng với trí nhớ không chủ định, trí nhớ máy móc, trí nhớ trực quan - hình tượng, chúng giữ vai trò quan trọng trong hoạt động học tập của các em [31, tr.131]

Trong quá trình giảng dạy, tập luyện, giáo viên, HLV cần chú ý tạo cho các em có những cảm giác hứng thú để phát triển trí nhớ có chủ định, khả năng tư duy- logic, khả năng phân tích đánh giá

Chú ý là sự tập trung của ý thức vào một hay một nhóm sự vật, hiện

tượng, để định hướng hoạt động, đảm bảo điều kiện thần kinh - tâm lý cần thiết cho hoạt động tiến hành có hiệu quả

Trong lứa tuổi này, chú ý không chủ định được phát triển mạnh và chiếm ưu thế Chú ý của các em chưa bền vững, các em chỉ tập trung và duy trì sự chú ý trong khoảng 30 - 35 phút Sự chú ý của các em còn phụ thuộc vào nhịp độ học tập

Khối lượng chú ý của học sinh lứa tuổi này còn hẹp Vì thế trẻ không thể một lúc nhìn thấy mọi dấu hiệu của đối tượng Sự phân phối chú ý của trẻ diễn ra một cách khó khăn

Trang 36

24

Giáo viên, HLV cần có phương pháp phát triển chú ý có chủ định để dần dần các em bắt đầu có sự chủ động trong quá trình chú ý của mình Tính hưng phấn của trẻ cao, nên chú ý hay phân tán, chưa bền vững Do đó, giáo viên, HLV cần thay đổi, đổi mới thường xuyên về mặt nội dung, hình thức, phương pháp tập luyện để tạo hưng phấn cho trẻ, giúp các em chú ý trong quá trình tập luyện Trong tập luyện Cờ Vua đối với lứa tuổi này, những bài tập tính toán khó, phức tạp như: bài tập với những thế biến khó, nhiều phương án giải quyết,… là không phù hợp với các em

1.2.1.2 Đặc điểm sinh lý

Đặc điểm chung của sự phát triển sinh lý ở trẻ 8 - 9 tuổi hiện nay là hiện tượng phát triển sớm (acselerasia) Đó là hiện tượng tăng các kích thước

cơ thể, phát triển thể lực sớm, trưởng thành sớm về sinh dục

Đối với lứa tuổi 8 - 9, các quá trình thần kinh đã có sức mạnh và ổn định nhất định, các phản xạ có điều kiện tương đối bền vững, các loại ức chế bên trong thể hiện rõ rệt ở lứa tuổi này Sự điều hòa trao đổi đường ở cơ thể trẻ kém hoàn thiện hơn so với người lớn Tập luyện và thi đấu thể thao căng thẳng, hàm lượng đường huyết của trẻ giảm hơn so với người lớn [28, tr.452]

Nhìn chung, quá trình trao đổi chất của trẻ chưa hoàn thiện Do vậy, trẻ nhanh chóng mệt mỏi khi tham gia các hoạt động căng thẳng và kéo dài

Hệ tim mạch của trẻ thích nghi với sự tăng công suất hoạt động thể lực kém hơn người lớn Sau khi thực hiện các LVĐ nhỏ, cơ thể trẻ em hồi phục nhanh hơn người lớn, tuy nhiên sau những LVĐ lớn, cơ thể trẻ em lại hồi phục chậm hơn người lớn Do vậy, cần đưa ra LVĐ phù hợp đối với trẻ, tránh quá sức, gây ảnh hưởng đến quá trình hồi phục của trẻ [28, tr.454]

Hô hấp ở lứa tuổi này dần ổn định, tuy nhiên vẫn còn thở nhanh, không

ổn định, thở nông và có tỷ lệ thở ra - hít vào bằng nhau Dung tích sống của trẻ nhỏ, thông khí phổi tối đa cũng tăng dần theo lứa tuổi [28, tr.456]

Trang 37

25

Nhận xét: Đối với trẻ 8 - 9 tuổi, tính hưng phấn của hệ thần kinh cao,

quá trình ức chế còn yếu Do vậy, trẻ chưa kiểm soát được hành vi của mình, chưa chủ động giải quyết được các vấn đề nảy sinh trong học tập cũng như trong tập luyện Cùng với sự phát triển các hệ cơ quan trong cơ thể chưa hoàn thiện Nên, trẻ nhanh chóng xuất hiện mệt mỏi trong những hoạt động căng thẳng, các hoạt động thể lực kéo dài, các bài tập phức tạp với nhiều phương

án khác nhau (Cờ Vua) Mặt khác, đối với Cờ Vua thì quá trình tập trung suy nghĩ, tính toán căng thẳng sẽ tạo cho trẻ mệt mỏi Giáo viên, HLV cần phải dựa vào đặc điểm tâm sinh lý cơ bản của lứa tuổi để đưa ra những nội dung, phương pháp, phương tiện tập luyện phù hợp với các em, tạo cho các em có cảm giác hưng phấn Qua đó, phát triển tối ưu các năng lực của các em, đặc biệt là năng lực trí tuệ

1.2.2 Đặc điểm tâm, sinh lý trong tập luyện và thi đấu Cờ Vua

1.2.2.1 Đặc điểm tâm lý

Cờ Vua là một môn thể thao trí lực, LVĐ trong Cờ Vua chủ yếu là LVĐ tâm lý, tác động trực tiếp vào quá trình tư duy của người tập Trong quá trình học, tập luyện Cờ Vua, năng lực tư duy và trực giác được phát triển, trí nhớ linh hoạt hơn, bền vững hơn và dung lượng ghi nhớ lớn hơn Năng lực tập trung chú ý được phát triển và hoàn thiện Cờ Vua giúp đẩy mạnh việc phân tích, tổng hợp, dự đoán để lựa chọn quyết định, góp phần tạo nên ý chí, tính quyết đoán và độ ổn định về cảm xúc

Tập luyện và thi đấu Cờ Vua, không đòi hỏi hoạt động cơ bắp mạnh nhưng với sự căng thẳng về cảm xúc thần kinh cao độ có thể ảnh hưởng không tốt đến tình trạng sức khỏe Bản thân những căng thẳng cảm xúc đó chính là điều kiện cần thiết cho quá trình tư duy sáng tạo của VĐV Cờ Vua Không có khả năng duy trì và chịu đựng những căng thẳng cảm xúc ở mức độ cao là một trong những nguyên nhân làm giảm năng lực thi đấu của VĐV - nghĩa là làm mất đi trạng thái sung sức thể thao của VĐV Cờ Vua [13, tr.36]

Trang 38

việc thực hiện cũng như trong các phản xạ ở đây có sự căng thẳng lớn về cảm xúc và ý chí để điều khiển các năng lực cần thiết trong môn thể thao chuyên sâu nhằm giải quyết tốt nhiệm vụ tập luyện

Bước 2: Không có sai sót trong việc thực hiện các bài tập Bắt đầu điều

khiển được chi tiết hành động trong khi thực hiện bài tập Giảm sự căng thẳng

về cảm xúc và ý chí

Bước 3: Thiết lập sự thích nghi của cơ thể đối với LVĐ tâm lý

Lượng vận động tâm lý trong Cờ Vua nằm trong mối quan hệ biện chứng với sức bền tâm lý Sức bền tâm lý của VĐV Cờ Vua là khả năng của

hệ thống tâm thế của VĐV có thể chịu được LVĐ cao trong tập luyện và thi đấu, duy trì được sự cân bằng cần thiết trong hệ thống đó

Mức độ căng thẳng tâm lý trong hoạt động tập luyện và thi đấu của VĐV Cờ Vua được xác định bằng:

Mức cảm xúc của VĐV: Trạng thái này có rất nhiều nguyên nhân bên trong cũng như bên ngoài như: Trình độ chuyên môn của VĐV, trình độ của đối phương, mục đích tập luyện và thi đấu

Đặc tính kỹ thuật, chiến thuật của các bài tập, tính chất hoạt động của

cơ quan phân tích, mức độ tư duy chiến thuật, đặc điểm của sự tập trung chú

ý, khả năng tính toán,

Độ lớn của nỗ lực ý chí của vận động viên

Căng thẳng tâm lý cao được biểu hiện trong các cuộc thi đấu quan trọng

Trang 39

27

Đặc điểm nữa của môn Cờ Vua, đó là các trở ngại tâm lý trong quá trình hoạt động thi đấu Cờ Vua Những trở ngại tâm lý này làm hạn chế năng lực tư duy, tập trung suy nghĩ của VĐV Cờ Vua, cản trở việc đạt thành tích thể thao cao và cao nhất của VĐV Cờ Vua trong quá trình thi đấu

Những trở ngại trong quá trình thi đấu là những yếu tố tác động lên VĐV trong thời gian thi đấu, ngăn cản tập trung suy nghĩ nước đi, đôi khi còn đưa VĐV ra khỏi trạng thái bình thường, như thái độ của đối thủ, những cảm xúc không liên quan trực tiếp tới ván đấu, sự không thành công trong các ván đấu trước, sai lầm mắc trong ván đang chơi, những điều phải bận tâm trong cuộc sống hàng ngày Các thông tin gắn với các sự kiện này luôn được não

xử lý, lưu giữ (ngoài chủ định) của VĐV, đôi khi các thông tin này ngẫu nhiên thâm nhập vào thần kinh đang xử lý các thông tin thuần túy phục vụ ván đấu của VĐV Cờ Vua Hơn nữa, những mệt mỏi về thể chất cũng dẫn tới mệt mỏi thần kinh, tâm lý Kết quả có thể phá vỡ việc tư duy nước đi của VĐV và là nguyên nhân của các sai lầm mắc phải trong thi đấu

P.Ia.Ganperin đưa ra quy luật nhận thức, đây là cơ sở tâm lý mang tính

phương pháp luận trong công tác giảng dạy- huấn luyện Cờ Vua [13, tr.40]

Sự phát triển của quá trình nhận thức diễn ra theo hình xoáy trôn ốc Quá trình này là một chuỗi lôgic gồm 5 giai đoạn, đó là:

Giai đoạn 1: Tác động mang tính vật lý cụ thể cần được thực hiện một

cách đúng đắn Việc thực hiện đúng (qua sự thể hiện của người học) được đảm bảo bởi sự cân nhắc kỹ lưỡng việc phân tích cấu trúc lôgic của tác động

và những điểm trọng tâm của tác động đó Trong những trường hợp đơn giản,

sự đúng đắn đó là rõ ràng Song, trong những trường hợp phức tạp cần phải

có sự phân tích chuyên biệt Ở giai đoạn này việc để tồn tại các sai lầm dù nhỏ thì sau này khó mà sửa được

Giai đoạn 2: Cũng như ở giai đoạn trên, cần phải thận trọng mô tả một

cách chính xác bằng lời Đặc biệt là sự mô tả bằng lời không chính xác đối

Trang 40

28

với một tác động này hay tác động khác sẽ ảnh hưởng đến độ chuẩn xác của tác động được hình thành trong trí não và điều đó làm giảm đi tốc độ hình thành chung của nó

Giai đoạn 3: Trộn lẫn tác động được thực hiện thực tế bằng tác động có

hình ảnh với lời nói Để lưu giữ được hình ảnh, theo quy luật cần sử dụng các điều kiện tác động trực quan hoặc những cách tương đương thay thế Thực chất của giai đoạn này là ở chỗ đình chỉ tác động được thực hiện về phương diện vật lý và bắt đầu xây dựng mối liên hệ hình ảnh và ngôn ngữ Trong một vài trường hợp, giai đoạn này cần phải tiến hành thông qua một giai đoạn trung gian nhỏ, mà ở đó cần loại bỏ những điều kiện trực quan và yêu cầu

"lưu giữ" chúng trong hình ảnh theo cách riêng

Giai đoạn 4: Thể hiện tác động bằng lời với sự giảm dần vai trò của

hình ảnh Về thực chất, ở đây bắt đầu bằng sự hạn chế và sau đó dừng hẳn những tác động hình tượng và chuyển sang thuần tuý bằng ngôn ngữ

Giai đoạn 5: Giai đoạn "loại bỏ" việc nói ra thành lời, đầu tiên nó được

giảm dần như nói thầm một mình sau đó trở thành không cần Hành động đã hoàn toàn được tự động hoá và được thực hiện thầm trong trí não

Các giai đoạn hình thành khả năng như trên trong Cờ Vua được thực hiện dễ dàng và lôgic để phát triển chính xác phong cách chơi của VĐV

Các chỉ số tâm lý đặc trưng cho năng lực hoạt động Cờ Vua bao gồm: Loại hình thần kinh phù hợp, phẩm chất đạo đức tốt; mức độ bền vững, linh hoạt của quá trình tâm lý; có trí nhớ tốt; năng lực tư duy của VĐV tốt; có nỗ lực ý chí cao, khắc khục khó khăn trở ngại bên trong cũng như bên ngoài để thực hiện tốt nhất nhiệm vụ tập luyện và thi đấu [3], [13]

1.2.2.2 Đặc điểm sinh lý

Đặc điểm sinh lý của VĐV Cờ Vua luôn thu hút sự quan tâm lớn của các nhà khoa học Cờ Vua, bởi lẽ thiếu giá trị này sẽ rất khó khăn trong chuẩn hoá LVĐ trong thi đấu và dự báo thành tích của VĐV Cờ Vua

Ngày đăng: 21/02/2021, 10:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w