VẬN DỤNG NHỮNG QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC HIỆN SINH VÀO PHÂN TÍCH TÁC PHẨM “ TƯỚNG VỀ HƯU” CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN HUY THIỆP.. Theo như nhà nghiên cứu Trần Thái Đỉnh, trong cuốn Triết học hiện s
Trang 1VẬN DỤNG NHỮNG QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC HIỆN SINH VÀO PHÂN TÍCH TÁC PHẨM “ TƯỚNG VỀ HƯU” CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN HUY THIỆP.
Như chúng ta đã biết triết học hiện sinh đã từng gây náo loạn lục địa già châu
Âu, nó lan rộng ra khắp mọi vùng lãnh thổ với nhịp điệu mãnh liệt, mạnh mẽ Đây là một học thuyết có tầm ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng của nhân loại ở thế kỉ XX Vậy thì triết học hiện sinh quan tâm đến điều gì? Triết học hiện sinh là triết học về con người Triết hiện sinh là triết dạy ta suy nghĩ về thân phận con người Theo như nhà nghiên cứu Trần Thái Đỉnh, trong cuốn Triết học hiện sinh tác giả cho rằng: “ Chủ ý của các nhà hiện sinh là vạch cho chúng ta thấy vẻ buồn nôn của con người tầm thường, hòng thức tỉnh con người trỗi dậy, từ bỏ cách sống của sự vật để khai mạc một đời sống nhân vị cao cả của con người tự do” Triết học hiện sinh chủ chương kích khởi con người cá nhân đấu tranh, vươn lên, sống sao có ý nghĩa với vô vàn màu sắc, mọi cung bậc cảm xúc Nó được thể hiện qua các phạm trù cơ bản: “Buồn nôn, phi lý, ưu tư, tự quyết, vươn lên, độc đáo” Nói tóm lại triết học hiện sinh là triết học chỉ quan tâm và chú trọng đến con người: “ con người cá nhân”
Hai cuộc chiến tranh thế giới tàn khốc, cũng như là sự bất lực của con người trước sự phản bội của của khoa học và sự bế tắc về tư tưởng của hệ tư tưởng phương
Tây ở thế kỷ XIX - đó là mảnh đất màu mỡ, đầy phù sa đã nảy nở chủ nghĩa hiện sinh Và chủ nghĩa hiện sinh với tư cách là một khuynh hướng phi duy lý tiêu biểu
-là sự phản ứng của con người trước hoàn cảnh tàn khốc, bi ai của cuộc chiến tranh; -là
sự cứu rỗi về tâm linh đối với thân phận con người bị bỏ quên trong một xã hội đầy duy lý Thuật ngữ “ chủ nghĩa hiện sinh” được nhà triết học người Pháp Grabiel
Macel khởi xướng vào những năm 1940 Từ đó chủ nghĩa hiện sinh phát triển mạnh ở
phương Tây và lan rộng sang các nước châu Á trong đó có Việt Nam
Chủ nghĩa hiện sinh đã du nhập vào vào Việt Nam và vẫy gọi lần đầu tiên
vào năm 1959-1960 và lần vẫy gọi thứ 2 là năm 1986 Ở Việt Nam không có một nhà hiện sinh nào mà chỉ là mang sắc thái và dấu ấn hiện sinh mà thôi Các tác giả và các tác phẩm của họ mang dấu ấn hiện sinh phải kể đến nhà văn Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Tạ Duy Anh, Nguyễn Ngọc Tư, Hồ Anh Thái, Nguyễn Huy Thiệp
Về tác giả Nguyễn Huy Thiệp – ông sinh năm 1950, quê huyện Thanh Trì,
thành phố Hà Nội, sinh ra trên mảnh đất Thái Nguyên – nơi có những vườn chè xanh ngát Tác giả xuất hiện khá muộn trên văn đàn Việt Nam với vài truyện ngắn đăng trên Báo Văn nghệ năm 1986 Năm 1996, Tiểu Long Nữ được coi là "tiểu thuyết đầu tay" - cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông được chính thức xuất bản bởi Nhà xuất bản Công an nhân dân Những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp in dấu ấn khá đậm nét về nông thôn và những người lao động Sở trường của ông là truyện ngắn, mảng đề tài đa dạng gồm lịch sử và văn học, hơi hướng huyền thoại và cổ tích, xã hội Việt Nam đương đại, xã hội làng quê và những người lao động Ngoài ra ông còn viết kịch, thơ
và tiểu luận phê bình đăng trên nhiều báo, tạp chí trong nước Có thể nói ông là nhà văn có nhiều đóng góp cho nền văn học nước nhà Đọc truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp bạn đọc sẽ thấy “ám ảnh hiện sinh” trong rất nhiều tác phẩm
Trang 2truyện của ông Một trong số những truyện ngắn hay, ấn tượng, ám ảnh hiện sinh của Nguyễn Huy Thiệp phải kể tới truyện ngắn Tướng về hưu sáng tác năm 1987 đã được dàn dựng thành phim
Vậy thì, một câu hỏi đặt ra đó là đó là: Quan điểm của triết hiện sinh được thể hiện như thế nào qua truyện ngắn Tướng về hưu?
Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn luôn khám phá, suy tư về con người Nhân vật – con người được hiện lên trong các sáng tác của ông với những mặt tốt, xấu, thật, giả, trắng, đen lẫn lộn; nhân vật có suy nghĩ, hành động, có nội tâm vô cùng bí ẩn
Trước tiên theo quan điểm của triết hiện sinh thì triết học hiện sinh quan tâm đến những con người cô đơn, lạc loài Ta nhìn thấy trong tác phẩm là kiểu nhân
vật cô đơn, lạc lõng, không có chỗ đứng trong xã hội Nhân vật Thuần – một vị tướng
về hưu luôn cảm thấy cô đơn, lạc lõng, khác biệt với mọi người khi về hưu sống cùng con cháu Ông luôn day dứt bởi tâm trạng này.” Sao tôi cứ mãi lạc loài” Theo như lời
kể của người con trai ông Thuấn thì ông là một người cha, một vị tướng mẫu mực, ông là niềm tự hào của gia đình và dòng họ: "Tuy thế, ở trong gia đình, cha tôi bao giờ cũng là hình ảnh của niềm vinh dự, tự hào Cả ở trong họ, trong làng, tên tuổi cha tôi cũng được mọi người ngưỡng vọng” Là một con người mẫu mực thanh cao là thế Ông sống hết mình vì tổ quốc Ông cùng chia ngọt, sẻ bùi, vào sinh ra tử cùng đồng đội Chính đôi bàn tay của ông đã chôn biết bao nhiêu đồng đội của mình Một con người dũng cảm, kiên cường là thế! Vậy mà, khi về hưu sống cùng con cháu, ông luôn mong ước được sống những tháng ngày còn lại vui vẻ, hạnh phúc bên con cháu Thế nhưng, ông lại cảm thấy nơi này không có chỗ của mình Hàng ngày ông Cơ và
cô Lài thì chăm lo việc nhà Cậu con trai của ông thì bận rộn ở Viện nghiên cứu Cô Thủy - con dâu của ông thì bận rộn với công việc ở bệnh viện Hai đứa cháu gái thì bận việc học hành Người vợ duy nhất của ông hơn ông mấy tuổi thì lẩm cẩm không biết gì Ông không biết chia sẻ cùng ai? Ông thấy cuộc sống sao mà xa lạ quá, cô đơn quá! Nỗi xa lạ, cô đơn không phải ở một nơi nào khác mà ngay với chính những người thân, ruột thịt của mình Một khối cô đơn khổng lồ đè nặng lên tâm hồn của một vị tướng một thời oanh liệt, lẫy lừng Nhân vật luôn với tâm trạng day dứt khôn nguôi Ông không tìm thấy sự ấm áp, sự hạnh phúc của mình bên con cháu Ông chỉ thực sự cảm thấy vui vẻ, trẻ trung khi ông hành trình trở về gặp đồng đội và lần cuối cùng ông đã ra đi Sự ra đi này là mãi mãi, ông không bao giờ trở về nữa Thế nhưng chúng ta cảm nhận được ông không còn cảm thấy cô đơn như khi sống cùng con cháu
Mà có lẽ ông cảm thấy vui hơn, cuộc sống có ích hơn khi ông ra đi Như vậy sự cô đơn trong tâm hồn của một vị tướng già qua ngòi bút của tác giả Nguyễn Huy Thiệp phải chăng đó là sự cô đơn của nhiều người trong xã hội hiện đại ngày nay? Đồng thời kiểu nhân vật cô đơn lạc loài đã minh chứng cho dấu vết hiện sinh trong tác phẩm của ông Nguyễn Huy Thiệp đã quan tâm, phản ánh, đi sâu khám phá tâm hồn con người: “ cô đơn, lạc loài, không có chỗ đứng” cũng là vấn đề mà quan điểm của triết học hiện sinh quan tâm
Qua tác phẩm Tướng về hưu ta còn nhận thấy những suy tư, ưu tư của ông
về con người thực dụng, xã hội thực dụng Mà Tướng về hưu là bức tranh thu nhỏ
Trang 3một phần của một xã hội thực dụng Tác phẩm có đủ hạng người: Đó là con người thực dụng như ông Bổng, như cô Thủy – người con dâu của ông Thuần Ngày đám tang của chị dâu Ông Bổng không đau xót, tiếc thương cho cái chết của chị dâu mình
Mà ông vẫn còn tâm trạng để tiếc cho cho cái quan tài được làm bằng gỗ tốt Khi người thợ mộc làm áo quan cho người chết, ông Bổng nói: “ Ông Bổng bảo: "Mất mẹ
bộ xa lông Ai lại đi đóng quan tài bằng gỗ dổi bao giờ? Bao giờ bốc mộ, cho chú bộ
ván" Ta thấy thật bi hài qua lời nói của nhân vật Sự trục lợi của nhân vật Thủy Thủy
là một người phụ nữ đảm đang, công việc nhà từ việc lớn đến việc nhỏ đều do cô chỉ đạo Tuy nhiên, có một điều mà ở người phụ nữ này khiến cho bố chồng phải suy nghĩ
đó là sự hám lợi, sự thực dụng đáng sợ của Thủy Thủy bất chấp sự tàn bạo để có được nhiều tiền được thể hiện rất rõ qua đoạn văn:” Vợ tôi làm việc ở bệnh viện sản, công việc là nạo phá thai Hàng ngày các rau thai nhi bỏ đi, Thủy cho vào phích đá đem về Ông Cơ nấu lên cho chó, cho lợn Thực ra điều này tôi biết nhưng cũng bỏ qua, chẳng quan trọng gì Cha tôi dắt tôi xuống bếp, chỉ vào nồi cám, trong đó có các mẩu thai nhi bé xíu Tôi lặng đi Cha tôi khóc Ông cầm phích đá ném vào đàn chó béc giê: "Khốn nạn! Tao không cần sự giàu có này” Đàn chó sủa vang Ông bỏ lên nhà Vợ tôi di vào nói với ông Cơ: "Sao không cho vào máy xát? Sao để ông biết?!' ông Cơ bảo: “Cháu quên, cháu xin lỗi mợ".” Câu chuyện chỉ với hai nhân vật có lối sống thực dụng thôi mà mà chúng ta đã nhận thấy một ẩn ý sâu xa của nhà văn Nhà văn đã phản ánh hiện thực rằng xã hội hiện đại ngày nay càng hiện đại bao nhiêu, càng giàu có đủ đầy bao nhiêu thì con người ta càng sống thực dụng bấy nhiêu Xã hội hiện đại tồn tại biết bao cá nhân sống vì tiền, vì hám lợi mà quên đi tình nghĩa, sống vô cảm, sống chỉ để tồn tại Như vậy, những suy ngẩm, ưu tư về lối sống thực dụng của nhân vật qua tác phẩm cũng là minh chứng dấu vết hiện sinh thứ hai mà nhà văn đề cập tới
Tác phẩm Tướng về hưu còn là sự suy tư về cái tốt, cái xấu; cái thật, cái giả; trắng đen lẫn lộn trong mỗi con người được nhà văn thể hiện rất rõ Tác giả cho
rằng mỗi cá nhân đều ẩn chứa hai mặt đối lập qua nhân vật ông Bổng Ông Bổng òa lên khóc khi chị dâu bảo mình là “người”: Ông Bổng sang thăm Ông nói: “Bà ấy cứ xoay ngang, xoay dọc trên giường như thế này là gay go lắm đấy!” Lại hỏi: “Chị ơi, chị có nhận ra em không?” Mẹ tôi bảo: " Có" Lại hỏi: "Thế em là ai?" Mẹ tôi bảo:
"Là người" Ông Bổng khóc òa lên: "Thế là chị thương em nhất Cả làng cả họ gọi em
là đồ chó Vợ em gọi em là đồ đểu Thằng Tuân gọi em là đồ khốn nạn Chỉ có chị gọi
em là người" Lần đầu tiên, cái ông chú đánh xe bò, lỗ mãng, táo tợn, làm đủ mọi điều phi nhân bất nghĩa hóa thành đứa trẻ ngay trước mắt tôi Như vậy, ta thấy rằng ông Bổng có lúc trong mắt người khác ông là kẻ không ra gì, ông chỉ biết đi vay tiền, đánh bài, nói năng lỗ mãng Nhưng cũng có lúc ông lại hiền hòa, thánh thiện như một đứa trẻ con Nói về cái tốt cái xấu qua nhân vật ông Bổng, để chúng ta nhìn nhận rằng mỗi cá nhân tồn tại trong mình hai mặt đối lập Cá nhân đó khi thì tốt, khi thì xấu, khi thì phải, khi thì sai… Để từ đó tác giả mong muốn mỗi người hãy nhìn nhận, đánh giá đúng hơn về con người
Trang 4Cuối cùng ta còn nhận thấy trong tác phẩm Nhà văn còn suy tư, ưu tư, trăn trở về cái chết Qua nhân vật con trai của của vị tướng về hưu là nhân vật Thuấn Khi
mẹ chết anh có suy nghĩ về cái chết:” Đêm ấy, tôi thức canh quan tài mẹ tôi, ngẫm nghĩ lan man đủ điều Cái chết sẽ đến với mỗi chúng ta, chẳng trừ ai cả Ngoài sân, ông Bổng với mấy bác đô tùy ngồi đánh tam cúc àn tiền Khi nào kết tốt đen, ông Bổng lại chạy vào vái quan tài mẹ tôi: Lạy chị, chị phù hộ cho em để em vét thật nhẵn túi chúng nó" Cái Mi, cái Vi cũng thức với tôi Cái Mi hỏi: Sao chết đi qua đò cũng phẫi trả tiền? Sao lại cho tiền vào miệng bà? Cái Vi bảo: Đấy có phải ngậm miệng ăn tiền không bố Tôi khóc: Các con không hiểu đâu Bố cũng không hiểu, đấy là mê tín Cái Vi bảo: Con hiểu đấy Đời người cần không biết bao nhiêu là tiền Chết cũng cần Tôi thấy cô đơn quá Các con tôi cũng cô đơn Cả đám đánh bạc, cả cha tôi nữa."… Nhân vật trăn trở, suy nghĩ về cái chết, cái chết sẽ đến với mỗi chúng ta Không một
ai là sống mãi Cái chết cứ ám ảnh nhân vật Thuấn Sự ám ảnh về cái chết của nhân vật cũng là sự ám ảnh về cái chết trong lòng nhà văn Nguyễn Huy Thiệp Tác giả ý muốn nói rằng: “Cái chết không trừ một ai Dù chúng ta khi sống giàu sang, hay nghèo hèn thì cuối cùng cũng phải chết Không ai có thể dám khẳng định là: tôi không bao giờ chết Mỗi chúng ta sống, từng ngày trôi qua là chúng ta đang hướng về cái chết Như vậy suy nghĩ, ưu tư về cái chết cũng là sự trăn trở của nhà văn tài năng này Ưu tư về cái chết cũng là quan điểm triết học hiện sinh quan tâm đến số phận con người
Tóm lại Truyện ngắn Tướng về hưu của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp là một tác phẩm hay và có giá trị của nhà văn cũng như nền văn học nước nhà Qua tác phẩm bạn đọc thấy được quan điểm của triết hiện sinh được thể hiện khá rõ qua việc nhà văn đã đi sâu khám phá con người – con người cá nhân Những con người cô đơn lạc lõng, con người thực dụng, con người ưu tư Đó là sự táo bạo của một nhà văn dám
nhìn thẳng vào tất cả các mặt tối, mặt sáng của con người Để từ đó nhà văn kích khởi mỗi cá nhân chúng ta phải biết vươn lên để sống sao cho có ý nghĩa nhất.
Cùng với những tác phẩm khác của Nguyễn Huy Thiệp, một lần nữa chúng ta có thể khẳng định rằng:”ông là một nhà văn tài năng và có nhiều đóng góp to lớn cho nền văn học nước nhà.”