1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Sáng kiến kinh nghiệm về phương pháp thảo luận nhóm

28 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 204,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây việc dạy và học nhằm phát triển năng lực cho họcsinh là vấn đề trọng tâm mà tất cả các bậc học của ngành giáo dục đều rất quan tâm.Chính vì lẽ đó, muốn phát triển

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

I Lý do chọn đề tài

Môn Ngữ văn là một trong những môn học quan trọng của bậc Trung học phổthông Ở môn học này được chia làm ba phần: Phần tiếng Việt, phần văn học và phầnlàm văn Trong đó, phần văn học chiếm số tiết nhiều hơn so với hai phần còn lại Quamôn Ngữ văn các em sẽ phát triển năng lực của mình và các em biết vận dụng những

gì đã học vào cuộc sống thực tiễn

Trong những năm gần đây việc dạy và học nhằm phát triển năng lực cho họcsinh là vấn đề trọng tâm mà tất cả các bậc học của ngành giáo dục đều rất quan tâm.Chính vì lẽ đó, muốn phát triển năng lực học sinh có hiệu quả qua mỗi bài học đòi hỏingười thầy phải vận dụng nhiều phương pháp trong bài giảng của mình sao cho phùhợp và hiệu quả Thực tế đã cho thấy rằng có rất nhiều phương pháp dạy học để pháthuy năng lực của học sinh Một trong số những phương pháp đó phải kể đến phươngpháp thảo luận nhóm Phương pháp thảo luận nhóm không chỉ tạo hứng thú cho ngườihọc mà nó còn phát huy năng lực của người học rất tốt

Sở dĩ khẳng định rằng:″phương pháp thảo luận nhóm không chỉ tạo hứng thúcho người học mà nó còn phát huy năng lực của người học rất tốt” là bởi lẽ phươngpháp này sẽ lấy người học làm trung tâm Người thầy không phải là người truyền đạttri thức mà thầy sẽ định hướng, chỉ dẫn để các em khám phá tri thức Học sinh sẽ chủđộng, tích cực, tự giác hơn trong quá trình học tập Với phương pháp này, các em cóđiều kiện bộc lộ những suy nghĩ để từ đó đưa ra quan điểm, ý kiến của mình Qua đó,cũng thấy được sự sáng tạo của các em trong việc khám phá, tiếp thu tri thức Mặtkhác cũng giúp cho tiết học trở nên sôi nổi hơn, học sinh sẽ hào hứng và đón chờnhững tiết học sau Vì vậy, môn Ngữ văn cũng giống như các môn học khác, cũng tìmđến phương pháp thảo luận nhóm Khi vận dụng phương pháp này vào giảng dạy mônngữ văn thì giáo viên chỉ hi vọng là sẽ phát huy năng lực của các em qua mỗi giờ họcvăn Học sinh phát huy được năng lực của mình có nghĩa là phương pháp này đã gópphần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn Trung học phổ thông nói riêng vàcũng là nâng cao chất lượng giáo dục nước nhà nói chụng

Trang 2

Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm vào giảng dạy không phải là bây giờmới có mà phương pháp này đã có từ lâu và được vận dụng nhiều vào giảng dạy.Tuynhiên, không phải cứ vận dụng phương pháp thảo luận nhóm vào giảng dạy là có thểmang lại hiệu quả… Mà vận dụng như thế nào cho phù hợp với đối tượng học sinh đểphát huy được năng lực học sinh mới là vấn đề quan trọng mà tôi luôn quan tâm.

Chính vì lẽ đó mà tôi chọn đề tài: “Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm nhằm phát huy năng lực của học sinh dân tộc thiểu số trong dạy học môn Ngữ văn Trung học phổ thông” để nghiên cứu

II Đối tượng nghiên cứu

Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm nhằm phát huy năng lực của học sinhdân tộc thiểu số trong dạy học môn Ngữ văn Trung học phổ thông

III Phạm vi nghiên cứu

Dạy học môn Ngữ văn khối Trung học phổ thông của trường Phổ thông dân tộcnội trú huyện Sa Thầy

IV Nhiệm vụ nghiên cứu

1 Xác định cơ sở khoa học và thực tiễn của công tác dạy – học ở trường phổ thông

2 Đánh giá thực trạng của công tác dạy – học ở trường Phổ thông dân tộc nội trúhuyện Sa Thầy

3 Đề xuất và lí giải việc sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy – học ởtrường Phổ thông dân tộc nội trú huyện Sa Thầy trong giai đoạn hiện nay

V Phương pháp nghiên cứu

1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:

- Nghiên cứu các Văn bản pháp lý về chương trình giáo dục phổ thông như: Sáchgiáo khoa; Hướng dẫn chuẩn kiến thức kỹ năng môn Ngữ văn Trung học phổ thông;Hướng dẫn giảm tải …

- Nghiên cứu các Văn bản Hướng dẫn các kỹ thuật dạy học tích cực

2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Trang 3

- Trao đổi với đồng nghiệp trong và ngoài nhà trường để tìm hiểu những hạn chế,tìm ra nguyên nhân và giải pháp tối ưu trong điều kiện thực tế, nhằm phát huy tính tíchcực của học sinh trong quá trình thực hiện bài học.

- Căn cứ vào trình độ tiếp thu của học sinh mà đưa ra phương pháp dạy – họcphù hợp

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Cơ sở lí luận

1 Tìm hiểu về phương pháp thảo luận nhóm

1.1 Khái niệm về phương pháp thảo luận nhóm

Có nhiều tác giả ở nước ta đã định nghĩa về phương pháp thảo luận nhóm Vớitác giả Nguyễn Văn Cường thì ông định nghĩa như sau: “Dạy học nhóm là một hìnhthức xã hội của dạy học, trong đó học sinh của lớp học được chia thành các nhóm nhỏtrong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tậptrên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó đượctrình bày và đánh giá trước toàn lớp.” [1, 98] Theo tác giả Phan Trọng Ngọ cũng cho

rằng:“Thảo luận nhóm là phương pháp trong đó nhóm lớn (lớp học) được chia thành

những nhóm nhỏ để tất cả các thành viên trong lớp đều được làm việc và thảo luận vềmột chủ đề cụ thể và đưa ra ý kiến chung của nhóm mình về vấn đề đó.” [6, 223].Cũng giống với các quan điểm của các tác giả nêu trên thì tác giả Nguyễn Trọng Sửu

trong công trình “Dạy học nhóm – phương pháp dạy học tích cực” viết: “Dạy học

nhóm là một hình thức của xã hội học tập, trong đó học sinh của một lớp được chiathành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian nhất định, mỗi nhóm tự lực hoàn thành cácnhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc, kết quả làm việc của nhómsau đó được trình bày và đánh giá trước lớp.”[7, 21]

Căn cứ vào các định nghĩa về phương pháp thảo luận nhóm của các tác giả đãnêu ở trên thì chúng ta có thể hiểu phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp dạyhọc tích cực Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, lớp sẽ chia ra làm nhiều nhóm nhỏ.Sau đó giáo viên giao nhiệm vụ cho các nhóm Trong một khoảng thời gian nhất định,các thành viên trong nhóm sẽ hợp tác, trao đổi để đưa ra ý kiến chung nhất của nhóm

1.2 Các bước tiến hành thảo luận nhóm

Trang 4

Có 4 bước tiến hành thảo luận nhóm:

Bước 1: Sau khi chia nhóm, giáo viên giới thiệu nội dung và cung cấp thông tin,

định hướng cho việc thảo luận và đề ra nhiệm vụ cụ thể cho các nhóm

Bước 2: Thảo luận nhóm: từng nhóm ngồi từng cụm với nhau để dễ dàng trao

đổi ý kiến, giáo viên dễ dàng quan sát, động viên hoặc gợi ý nếu cần trong khi cảnhóm đang thảo luận Nhóm trưởng có nhiệm vụ thu thập các ý kiến trong nhóm đểbáo cáo trước lớp

Bước 3: Thảo luận lớp: các nhóm báo cáo trước lớp, nếu cần các nhóm có thể

thảo luận với nhau để đi đến kết luận

Bước 4: Giáo viên tổng kết và khái quát kết quả bài học.

1.3 Ưu điểm, nhược điểm của dạy học theo phương pháp thảo luận nhóm 1.3.1 Ưu điểm

Phương pháp thảo luận nhóm sẽ kích thích học sinh khám phá, hăng say học

tập.Từ đó học sinh không còn thụ động mà trở nên chủ động hơn trong học tập

Giúp cho học sinh phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề theo nhóm, có tinh thầnhợp tác, đoàn kết cao

Thảo luận nhóm giúp học sinh rèn luyện ngôn ngữ thông qua quá trình trao đổi,trình bày ý kiến

Học sinh không chỉ hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình học tập mà còn tự đánh giá,

tự điều chỉnh vốn tri thức của bản thân bằng phương pháp tự học và khám phá thêmnhững tri thức liên quan từ thực tiễn

Khi thảo luận nhóm dưới sự giám sát của thầy cô giáo, giúp học sinh hạn chế rấtnhiều những thói quen xấu như nói chuyện riêng, thiếu tập trung, đùa giỡn…

Đa số học sinh đều dùng phương pháp suy luận và tư duy để giải quyết vấn đề

Vì vậy những tri thức khoa học mà các em thu thập được sẽ khắc sâu và dễ nhớ

1.3.2 Nhược điểm

Vì thời gian học tập ở trên lớp theo quy định là (45 phút/ tiết), nên giáo viên sửdụng không khéo sẽ không cung cấp hết nội dung bài học vì phương pháp này rất mấtthời gian

Trang 5

Do phải tập hợp học sinh thành những nhóm, giáo viên không nói rõ cách chuẩn

bị nhóm trước thì lớp học sẽ rối loạn hoặc mất trật tự, bị lãng phí nhiều thời gian Nếu trình độ học sinh trong nhóm không đều nhau thì những học sinh giỏi, khá

sẽ lấn lướt những học sinh trung bình, yếu Các em trung bình, yếu sẽ không có nhữngđiều kiện nói lên ý kiến riêng của mình Từ đấy, các em sẽ mặc cảm, bất mãn, lơ là vàkhông chú ý vào buổi thảo luận

Số lượng học sinh trong lớp quá đông (mỗi lớp khoảng 45 HS) cũng gây nhữngkhó khăn cho việc vận dụng thảo luận nhóm vào việc dạy và học

2 Tìm hiểu khái quát về Năng lực

2.1 Khái niệm năng lực

Theo như từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên(NXB Đà Nẵng 1998)

có giải thích: Năng lực là:

“ Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt độngnào đó Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loạihoạt động nào đó với chất lượng cao”

Tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng pháttriển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành năm 2014 thì “Năng

lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng

hợp nhiều yếu tố(phẩm chất của người lao động, kiến thức và kỹ năng) được thể hiệnthông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó Nănglực bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có,

đó là các năng lực chung, cốt lõi” Định hướng chương trình giáo dục phổ thông sau

năm 2015 đã xác định một số năng lực những năng lực cốt lõi mà học sinh Việt Namcần phải có như:

– Năng lực làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm:

+ Năng lực tự học;

+ Năng lực giải quyết vấn đề;

Trang 6

+ Năng lực quản lí bản thân.

– Năng lực xã hội, bao gồm:

+ Năng lực giao tiếp;

+ Năng lực hợp tác

– Năng lực công cụ, bao gồm:

+ Năng lực tính toán;

+ Năng lực sử dụng ngôn ngữ;

+ Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin

Như vậy có thể hiểu một cách ngắn gọn năng lực là khả năng vận dụng tất

cả những yếu tố chủ quan(mà bản thân có sẵn hoặc được hình thành qua học tập) đểgiải quyết các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống

2.2 Các năng lực mà môn học Ngữ văn hướng đến

2.2.1 Năng lực giải quyết vấn đê

Thực tế đã cho thấy rằng: Có nhiều ý kiến, nhiều quan niệm và định nghĩa khácnhau về năng lực giải quyết vấn đề Thế nhưng, các ý kiến và quan niệm đều thốngnhất cho rằng năng lực giải quyết vấn đề là một năng lực chung, thể hiện khả năngcủa mỗi người trong việc nhận thức, khám phá được những tình huống có vấn đề tronghọc tập và cuộc sống mà không có định hướng trước về kết quả, và tìm các giải pháp

để giải quyết những vấn đề đặt ra trong tình huống đó, qua đó thể hiện khả năng tưduy, hợp tác trong việc lựa chọn và quyết định giải pháp tối ưu

Cũng giống như các môn học khác môn học Ngữ văn, năng lực này cũng cầnđược hướng đến khi triển khai các nội dung dạy học của bộ môn, do tính ứng dụngthực tiễn và quy trình hình thành năng lực có thể gắn với các bối cảnh học tập (tiếpnhận và tạo lập văn bản) của môn học, khi nảy sinh những tình huống có vấn đề Vớimột số nội dung dạy học trong môn Ngữ văn như: xây dựng kế hoạch cho một hoạtđộng tập thể, tiếp nhận một thể loại văn học mới, viết một kiểu loại văn bản, lí giải cáchiện tượng đời sống được thể hiện qua văn bản, thể hiện quan điểm của cá nhân khiđánh giá các hiện tượng văn học,… Quá trình học tập các nội dung trên là quá trìnhgiải quyết vấn đề theo quy trình đã xác định Quá trình giải quyết vấn đề trong môn

Trang 7

Ngữ văn có thể được vận dụng trong một tình huống dạy học cụ thể hoặc trong mộtchủ đề dạy học.

2.2.2 Năng lực sáng tạo

Năng lực sáng tạo được hiểu như thế nào? Thì ở đây có thể hiểu năng lực sángtạo là sự thể hiện khả năng của học sinh trong việc suy nghĩ và tìm tòi, phát hiệnnhững ý tưởng mới nảy sinh trong học tập và cuộc sống, từ đó đề xuất được các giảipháp mới một cách thiết thực, hiệu quả để thực hiện ý tưởng Trong việc đề xuất vàthực hiện ý tưởng, học sinh bộc lộ óc tò mò, niềm say mê tìm hiểu khám phá

Hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh cũng là một mục tiêu màmôn học Ngữ văn hướng tới Năng lực này được thể hiện trong việc xác định các tìnhhuống và những ý tưởng, đặc biệt những ý tưởng được gửi gắm trong các văn bản vănhọc, trong việc tìm hiểu, xem xét các sự vật, hiện tượng từ những góc nhìn khác nhau,trong cách trình bày quá trình suy nghĩ và cảm xúc của học sinh trước một vẻ đẹp, mộtgiá trị của cuộc sống Năng lực suy nghĩ sáng tạo bộc lộ thái độ đam mê và khát khaođược tìm hiểu của học sinh, không suy nghĩ theo lối mòn, theo công thức Trong cácgiờ đọc hiểu văn bản, một trong những yêu cầu cao là học sinh, với tư cách là ngườiđọc, phải trở thành người đồng sáng tạo với tác phẩm (khi có được những cách cảmnhận riêng, độc đáo về nhân vật, về hình ảnh, ngôn từ của tác phẩm; có cách trình bày,diễn đạt giàu sắc thái cá nhân trước một vấn đề,…)

2.2.3 Năng lực hợp tác

Học hợp tác là hình thức học sinh làm việc cùng nhau trong nhóm nhỏ để hoànthành công việc chung và các thành viên trong nhóm có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau,giúp đỡ nhau để giải quyết các vấn đề khó khăn của nhau Khi làm việc cùng nhau,học sinh học cách làm việc chung, cho và nhận sự giúp đỡ, lắng nghe người khác, hoàgiải bất đồng và giải quyết vấn đề theo hướng dân chủ Đây là hình thức học tập giúphọc sinh ở mọi cấp học phát triển cả về quan hệ xã hội lẫn thành tích học tập

Năng lực hợp tác được hiểu là khả năng tương tác của cá nhân với cá nhân và tậpthể trong học tập và cuộc sống Năng lực hợp tác cho thấy khả năng làm việc hiệu quảcủa cá nhân trong mối quan hệ với tập thể, trong mối quan hệ tương trợ lẫn nhau đểcùng hướng tới một mục đích chung Đây là một năng lực rất cần thiết trong xã hội

Trang 8

hiện đại, khi chúng ta đang sống trong một môi trường, một không gian rộng mở củaquá trình hội nhập.

Trong môn học Ngữ văn, năng lực hợp tác thể hiện ở việc học sinh cùng chia sẻ,phối hợp với nhau trong các hoạt động học tập qua việc thực hiện các nhiệm vụ họctập diễn ra trong giờ học Thông qua các hoạt động nhóm, cặp, học sinh thể hiệnnhững suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về những vấn đề đặt ra, đồng thời lắng nghenhững ý kiến trao đổi thảo luận của nhóm để tự điều chỉnh cá nhân mình Đây lànhững yếu tố rất quan trọng góp phần hình thành nhân cách của người học sinh trongbối cảnh mới

2.2.4 Năng lực tự quản bản thân

Năng lực này thể hiện ở khả năng của mỗi con người trong việc kiểm soát cảmxúc, hành vi của bản thân trong các tình huống của cuộc sống, ở việc biết lập kế hoạch

và làm việc theo kế hoạch, ở khả năng nhận ra và tự điều chỉnh hành vi của cá nhântrong các bối cảnh khác nhau Khả năng tự quản bản thân giúp mỗi người luôn chủđộng và có trách nhiệm đối với những suy nghĩ, việc làm của mình, sống có kỉ luật,biết tôn trọng người khác và tôn trọng chính bản thân mình

Cũng như các môn học khác, môn Ngữ văn cũng cần hướng đến việc rèn luyện

và phát triển ở học sinh năng lực tự quản bản thân Trong các bài học, học sinh cầnbiết xác định các kế hoạch hành động cho cá nhân và chủ động điều chỉnh kế hoạch đểđạt được mục tiêu đặt ra, nhận biết những tác động của ngoại cảnh đến việc tiếp thukiến thức và rèn luyện kĩ năng của cá nhân để khai thác, phát huy những yếu tố tíchcực, hạn chế những yếu tố tiêu cực, từ đó xác định được các hành vi đúng đắn, cầnthiết trong những tình huống của cuộc sống

2.2.5 Năng lực giao tiếp tiếng Việt

Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe, nhằm đạtđược một mục đích nào đó Việc trao đổi thông tin được thực hiện bằng nhiều phươngtiện Tuy nhiên, phương tiện sử dụng quan trọng nhất trong giao tiếp là ngôn ngữ.Năng lực giao tiếp do đó được hiểu là khả năng sử dụng các quy tắc của hệ thống ngônngữ để chuyển tải, trao đổi thông tin về các phương diện của đời sống xã hội, trongtừng bối cảnh/ngữ cảnh cụ thể, nhằm đạt đến một mục đích nhất định trong việc thiết

Trang 9

lập mối quan hệ giữa những con người với nhau trong xã hội Năng lực giao tiếp baogồm các thành tố: sự hiểu biết và khả năng sử dụng ngôn ngữ, sự hiểu biết về các trithức của đời sống xã hội, sự vận dụng phù hợp những hiểu biết trên vào các tình huốngphù hợp để đạt được mục đích.

Trong môn học Ngữ văn, việc hình thành và phát triển cho học sinh năng lựcgiao tiếp ngôn ngữ là một mục tiêu quan trọng, cũng là mục tiêu thế mạnh mang tínhđặc thù của môn học Thông qua những bài học về sử dụng tiếng Việt, học sinh đượchiểu về các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ và cách sử dụng phù hợp, hiệu quả trongcác tình huống giao tiếp cụ thể, học sinh được luyện tập những tình huống hội thoạitheo nghi thức và không nghi thức, các phương châm hội thoại, từng bước làm chủtiếng Việt trong các hoạt động giao tiếp Các bài đọc hiểu văn bản cũng tạo môitrường, bối cảnh để học sinh được giao tiếp cùng tác giả và môi trường sống xungquanh, được hiểu và nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt văn hóa, văn học Đây cũng

là mục tiêu chi phối trong việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là dạy học theoquan điểm giao tiếp, coi trọng khả năng thực hành, vận dụng những kiến thức tiếngViệt trong những bối cảnh giao tiếp đa dạng của cuộc sống

Năng lực giao tiếp trong các nội dung dạy học tiếng Việt được thể hiện ở 4 kĩ

năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết và khả năng ứng dụng các kiến thức và kĩ năng ấy

vào các tình huống giao tiếp khác nhau trong cuộc sống

2.2.6 Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mi

Năng lực cảm thụ thẩm mĩ thể hiện khả năng của mỗi cá nhân trong việc nhận rađược các giá trị thẩm mĩ của sự vật, hiện tượng, con người và cuộc sống, thông quanhững cảm nhận, rung động trước cái đẹp và cái thiện, từ đó biết hướng những suynghĩ, hành vi của mình theo cái đẹp, cái thiện Như vậy, năng lực cảm thụ (hay nănglực trí tuệ xúc cảm) thường dùng với hàm nghĩa nói về các chỉ số cảm xúc của mỗi cánhân Chỉ số này mô tả khả năng tự nhận thức để xác định, đánh giá và điều tiết cảmxúc của chính mỗi người, của người khác, của các nhóm cảm xúc

Năng lực cảm thụ thẩm mĩ là năng lực đặc thù của môn học Ngữ văn, gắn với tưduy hình tượng trong việc tiếp nhận văn bản văn học Quá trình tiếp xúc với tác phẩmvăn chương là quá trình người đọc bước vào thế giới hình tượng của tác phẩm và thế

Trang 10

giới tâm hồn của tác giả từ chính cánh cửa tâm hồn của mình Năng lực cảm xúc, nhưtrên đã nói, được thể hiện ở nhiều khía cạnh; trong quá trình người học tiếp nhận tácphẩm văn chương năng lực cảm xúc được thể hiện ở những phương diện sau:

– Cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học, biết rung động trước những hình ảnh,hình tượng được khơi gợi trong tác phẩm về thiên nhiên, con người, cuộc sống quangôn ngữ nghệ thuật

– Nhận ra được những giá trị thẩm mĩ được thể hiện trong tác phẩm văn học: cáiđẹp, cái xấu, cái hài, cái bi, cái cao cả, cái thấp hèn,….từ đó cảm nhận được những giátrị tư tưởng và cảm hứng nghệ thuật của nhà văn được thể hiện qua tác phẩm

– Cảm hiểu được những giá trị của bản thân qua việc cảm hiểu tác phẩm vănhọc; hình thành và nâng cao nhận thức và xúc cảm thẩm mĩ của cá nhân; biết cảmnhận và rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, cuộc sống; có những hành

vi đẹp đối với bản thân và các mối quan hệ xã hội; hình thành thế giới quan thẩm mĩcho bản thân qua việc tiếp nhận tác phẩm văn chương

Từ việc tiếp xúc với các văn bản văn học, học sinh sẽ biết rung động trước cáiđẹp, biết sống và hành động vì cái đẹp, nhận ra cái xấu và phê phán những hình tượng,biểu hiện không đẹp trong cuộc sống, biết đam mê và mơ ước cho cuộc sống tốt đẹphơn

Như vậy, quá trình dạy học Ngữ văn đồng thời giúp học sinh hình thành và pháttriển các năng lực đáp ứng với yêu cầu phát triển của xã hội, thông qua việc rèn luyện

và phát triển các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói Trong quá trình hướng dẫn học sinh tiếpxúc với văn bản, môn Ngữ văn còn giúp học sinh từng bước hình thành và nâng cao

các năng lực học tập của môn học, cụ thể là năng lực tiếp nhận văn bản (gồm kĩ năng nghe và đọc) và năng lực tạo lập văn bản (gồm kĩ năng nói và viết).

` II Cơ sở thực tiễn

1 Thực trạng về việc dạy – học môn Ngữ văn ở trường Phổ thông dân tộc nội trú huyện Sa Thầy

1.1 Thuận lợi

Học sinh của trường Phổ thông dân tộc nội trú chủ yếu là học sinh dân tộc thiểu

số, đa số học sinh rất ngoan, hiền, chăm chỉ, tự giác, có ý thức tổ chức trong học tập

Trang 11

Các em biết đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ nhau trong học tập Vì thế mà khi giáo viên vậndụng các phương pháp dạy học tích cực vào bài giảng, vào tiết học thì các em đã có sựtương tác, thích ứng nhanh, giúp cho công tác giảng dạy trở nên thuận lợi hơn.

Về phía đồng nghiệp thì luôn quan tâm, góp ý, giúp đỡ nhau trong công tác giảngdạy

Về phía Ban giám hiệu thì luôn quan tâm, chỉ đạo sát sao, đặc biệt Ban giámhiệu rất quan tâm, chú trọng đến các phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huynăng lực của học sinh trong công tác giảng dạy

Về cơ sở vật chất như: Lớp học, bàn ghế, phương tiện dạy học đảm bảo chocông tác giảng dạy

1.2 Khó khăn

Bên cạnh những thuận lợi thì trong công tác giảng dạy môn Ngữ văn tại trườngPhổ Thông Dân Nộc Nội Trú SaThầy huyện Sa Thầy, tôi cũng gặp không ít những khókhăn

Là một giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn tại trường Phổ Thông DânTộc NộiTrú Sa Thầy, trường nằm trên địa bàn Thị trấn Sa Thầy, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum.Ngôi trường mà ở đó học sinh chủ yếu là người dân tộc thiểu số như Jarai, Hlăng,Rơngao, Thái… Khi mới tuyển đầu vào thì chất lượng của các em còn rất thấp Các

em viết chính tả còn sai rất nhiều Có rất nhiều học sinh khi giáo viên trong giờ học,yêu cầu học sinh đọc một bài thơ, hay một đoạn của tác phẩm truyện…thì các em phát

âm sai, đọc thừa dấu, thiếu dấu Cả lớp biết rằng em học sinh đó đọc sai thì cười ồ lên.Thế nhưng khi gọi đến lượt mình thì các em đó đọc cũng không đúng Điều đáng buồnhơn là nhiều em học sinh không hiểu nghĩa của từ Chẳng hạn như cách đây bốn nămtôi có dạy một em học sinh tên là A Giả, em này hát rất hay, em đi thi giọng hát hayhọc sinh của tỉnh, em đã đoạt giải ba Thậm chí em còn sáng tác bài hát Có lần emsáng tác bài hát mang tên″Cao nguyên xanh”, trong bài hát đó có từ″ thông xanh”- một

từ mà nghĩa rất dễ hiểu Nhưng em lại không hiểu nghĩa của từ đó, khi em hỏi, tôi vôcùng ngỡ ngàng Chưa kể đến đặt câu, ngắt câu, diễn đạt của các em còn rất yếu.Điều đó cũng rất dễ hiểu bởi tiếng Việt gần như là ngoại ngữ của các em, mặc dù các

em đã được học từ khi các em vừa học vỡ lòng Vì thế mà để hiểu, cảm thụ cái hay, cái

Trang 12

đẹp và biết vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống thực tiễn không phải làđiều dễ dàng đối với các em Ngoài ra như đã nói ở trên, trong một lớp, một trường cónhiều dân tộc khác nhau, ở các địa phương khác nhau chính vì vậy, để các em hiểunhau, hòa đồng, đoàn kết phải mất một thời gian khá dài Hơn nữa các em học sinhthiểu số rất nhút nhát, không chủ động và tự ti, vì thế cũng gây khó khăn cho giáo viênkhi vận dụng các phương pháp dạy học tích cực để phát huy năng lực của các em Lực học của các em học sinh thiểu số vốn đã yếu hơn so với các em học sinhngười kinh Cùng với đó là điều kiện kinh tế gia đình của các em còn khó khăn chonên các em không có tiền để mua sách tham khảo, mua các phương tiện để phục vụ tốtcho việc học Nguồn tài liệu về môn ngữ văn trong thư viện trường còn hạn chế Vìvậy, nếu như giáo viên trong quá trình tổ chức thảo luận đưa ra những câu hỏi khó, cótính vấn đề thì hầu như các em không biết giải quyết vấn đề đó như thế nào Như vậycũng sẽ gây khó khăn cho giáo viên khi tổ chức thảo luận nhóm và không thể phát huyhết năng lực của học sinh.

Một khó khăn nữa cũng phải kể đến đó là: Phương tiện dạy học như máy chiếucủa trường còn hạn chế Trường có hai máy chiếu( một máy chiếu ở phòng nguồn thìhoạt động bình thường, còn một máy đặt ở phòng số 7 đã có dấu hiệu hư hỏng) Tóm lại có nhiều khó khăn mà tôi nhận thấy trong quá trình giảng dạy môn Ngữvăn để phát huy năng lực của các em học sinh Đó là lực học của các em còn hạn chế,nhút nhát, tự ti , thiếu chủ động, điều kiện gia đình các em đa số khó khăn Một trường

có nhiều dân tộc, phương tiện phục vụ giảng dạy cho giáo viên cũng như nguồn tàiliệu tham khảo cho học sinh còn hạn chế

III Giải pháp để giải quyết vấn đề

Căn cứ vào cơ sở lý luận về việc tìm hiểu phương pháp pháp thảo luận nhóm vàtìm hiểu khái quát về năng lực mà người học hướng tới.Đồng thời căn cứ vào thựctrạng của việc dạy và học môn ngữ văn ở Trường- nơi tôi đang công tác Khi vận dụngphương pháp thảo luận nhóm vào giảng dạy với mục đích nhằm phát triển năng lực

của người học, tôi vẫn tuân theo các nguyên tắc của phương pháp này Tuy nhiên tôi

điều chỉnh cho phù hợp với đối tượng học sinh( học sinh dân tộc thiểu số) như sau:

1 Các nguyên tắc khi tổ chức thảo luận

Trang 13

1.1 Nguyên tắc thứ nhất: Chọn phần thảo luận

Đây là phần quan trọng của người thầy Khi thiết kế bài giảng thầy phải nghiêncứu thật kỹ bài giảng Sau đó mới thiết kế bài giảng cho phù hợp với đối tượng họcsinh Phải đảm bảo thời gian và đầy đủ kiến thức của bài học Ở tiết học hôm đó dụng

ý của giáo viên là bài giảng có sử dụng phương pháp thảo luận nhóm Vậy thì giáoviên phải xác định chọn phần nào trong bài học để thảo luận Theo như kinh nghiệmcủa tôi thì đối với học sinh (dân tộc thiểu số) chỉ cần sau một tiết học giáo viên hướngdẫn học sinh tìm hiểu bài để học sinh nắm rõ, chắc trọng tâm của bài học, từ đó rút ra

bài học vận dụng vào thực tế thì đã là một thành công lớn rồi Vì vậy, tôi thường bám

sát trọng tâm bài học để đưa ra vấn đề thảo luận Ví dụ ở bài Tổng quan văn học Việt

Nam (Ngữ văn 10, tập 1) ở tiết thứ nhất tôi chọn phần “Quá trình phát triển của Vănhọc viết Việt Nam” là vấn đề thảo luận Lớp sẽ được chia làm bốn nhóm, hai nhómgiải quyết một vấn đề Nhóm 1,2 vấn đề thảo luận sẽ là:Văn học Việt Nam vận động,phát triển như thế nào ở thời kì Văn học trung đại? Nhóm 3,4 vấn đề thảo luận là: Vănhọc Việt Nam vận động, phát triển như thế nào ở thời kì Văn học hiện đại? Với phầnthảo luận như vậy học sinh sẽ khai thác, tìm tòi trong sách giáo khoa và những gì hiểubiết được để cùng nhau giải quyết vấn đề Hay như khi dạy bài “Thao tác lập luậnphân tích”( Ngữ văn 11, tập 1), vấn đề đưa ra thảo luận đó là cách phân tích.Hoặc làkhi học tới tác phẩm “Đàn ghi ta của Lor- ca” thì vấn đề thảo luận là vẻ đẹp của hìnhtượng Lor- ca…

Như vậy chọn phần thảo luận là phần quan trọng đầu tiên khi vận dụng phươngpháp thảo luận nhóm vào bài giảng

1.2 Nguyên tắc thứ hai: về câu hỏi thảo luận

Tùy theo bài giảng giáo viên chọn phần nào để thảo luận, từ đó sẽ thiết kế câu

hỏi cho phù hợp với đối tượng học sinh

* Thiết kế câu hỏi từ mức độ nhận biết, đến thông hiểu rồi đến vận dụng

Đối với những bài giảng mà mục tiêu của giáo viên là chọn phần thảo luận

nhằm làm rõ nội dung bài học thì giáo viên sẽ thiết kế câu hỏi từ mức độ nhận biết, đến thông hiểu rồi đến vận dụng Chẳng hạn như bài thơ Nhàn của tác giả Nguyễn

Bỉnh Khiêm có tám câu thơ Giáo viên chia lớp thành bốn nhóm và mỗi nhóm thảo luận hai câu thơ Nhóm một thảo luận hai câu thơ đầu Giáo viên sẽ đặt câu hỏi như

Trang 14

sau:″ Em hãy chỉ ra nghệ thuật được sử dụng ở hai câu thơ đề? Nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật đó? Qua câu thơ trên cho ta hiểu cuộc sống và tâm trạng của tác giả như thế nào? Từ đó, em học được gì ở tác giả?” Như vậy câu hỏi thảo luận này có đủ

ba mức độ: nhận biết″ Em hãy chỉ ra nghệ thuật được sử dụng ở hai câu thơ đề?; Thông hiểu là″ Nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật đó?”; vận dụng là ″ Từ đó em học được gì ở tác giả?”

Với cách thiết kế câu hỏi thảo luận nhóm theo mức độ kiến thức, tôi nhận thấy buổi thảo luận diễn ra thành công hơn Trong buổi thảo luận đó học sinh nào trong nhóm cũng tích cực làm việc, kể cả những em có học lực yếu sẽ tìm ra được những kiến thức nhận biết Như vậy các em thấy tự tin hơn và tích cực tương tác với các thành viên khác trong nhóm Buổi thảo luận sẽ diễn ra sôi nổi, hiệu quả, phát huy nănglực của các em học sinh

* Thiết kế câu hỏi phải có tính vấn đê

Thiết kế những câu hỏi có tính vấn đề Vậy thế nào là câu hỏi có tính vấn đề? Là câu hỏi chứa đựng mâu thuẫn (giữa cái đã biết và cái chưa biết) tạo nên tình huống có vấn đề, đồng thời kích thích được tính tích cực, chủ động và phát huy tư duy sáng tạo trong hoạt động cảm thụ văn học của học sinh

Ví dụ: (1)

a) Theo em, tại sao Nam Cao lại để kết thúc mở ở cuối tác phẩm Chí Phèo”? b) So với những tác phẩm cùng viết về đề tài người phụ nữ như Tự tình của Hồ Xuân Hương, Thương vợ của Trần Tế Xương thì Truyện Kiều của Nguyễn Du có gì mới mẻ?

c) Tiếng Việt là loại hình ngôn ngữ đơn lập, vì sao lại có thể khẳng định như vậy?

Mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết trong ví dụ 1 là: “ cái đã biết” ở ví

dụ 1.a là kết thúc tác phẩm Chí Phèo và ở 1.b là viết về người phụ nữ với những phẩm

chất cao đẹp, 1.c là tiếng Việt là loại hình ngôn ngữ đơn lập “Cái chưa biết” là (1.a)

nguyên nhân nào tác giả lại kết thúc tác phẩm như vậy, về điều mới mẻ ở truyện Kiều”(1.b), ở 1(c) là chỉ ra các đặc điểm của loại hình ngôn ngữ đơn lập Như vậy dựa vàođiều đã biết, học sinh làm cơ sở để tìm tòi, khám phá cái chưa biết

Ngày đăng: 18/02/2021, 20:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w