TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1) TK ôn vào 10, dạy THÊM văn 9 (1)
Trang 1TÀI LIỆU ÔN VĂN 9, LUYỆN THI VÀO 10 CUỐN CHIẾU THEO TỪNG TÁC PHẨM
Mời quý thầy cô tham gia nhóm: Tài liệu ôn HSG ngữ văn 6.7.8.9 để tải tài liệu cho tiện a Lấy trọn bộ vui lòng liên hệ qua zalo hoăc mesenger 0988 126 458
(Trọn bộ: bộ đề chia theo từng văn bản, chủ đề 620trang, TL ôn 550 trang kèm bộ đề đọc hiểu ngoài CT 90 đề 150 trang)
(Đề đọc hiểu ngoài chương trình tham khảo trang 81-91 nhé thầy cô 90 đề 150 trang)
PHẦN 1: ÔN KIẾN THỨC CHUYÊN ĐỀ THƠ HIỆN ĐẠI
ÔN TẬP VĂN BẢN: ĐỒNG CHÍ( Chính Hữu)
Nhà thơ Chính Hữu tâm sự về bài thơ “Đồng chí”
MỘT VÀI KỈ NIỆM NHỎ VỀ BÀI THƠ "ĐỔNG CHÍ"
Vào cuối năm 1947, tôi tham gia chiến dịch Việt Bắc Địch nhảy dù ở Việt Bắc và hànhquân từ Bắc Kạn đến Thái Nguyên.Chúng tôi phục kích từng chăng đánh, truy kíchbinh đoàn Beaufré.Khi đó tôi là chính trị viên đại đội.Phải nói là chiến dịch vô cùnggian khố.Bản thân tôi cũng chỉ phong phanh trên người một bộ áo cánh, đầu không mũ,chân không giày Đêm ngủ nhiều khi phải rải lá khô để nằm, không có chăn màn, ănuống rất kham khổ vì đang trên đường hành quân truy kích địch Tôi cũng phái cótrách nhiệm chăm sóc anh em thương binh và chôn cất một số tử sĩ Sau trận đó, tôi
ốm, phải nằm lại
điều trị; đơn vị cử một đồng chí ở lại săn sóc tôi Trong khiốm, nằm ở nhà sàn heo hút,tôi làm bài thơ Đồng chí
Bài thơ Đồng chí được làm sau bài thơ Ngày về.Tôi thấy lúc này làm thơ cao xa quá là
vô trách nhiệm với những người cùng chiến đấu và hi sinh với mình.Trong bài thơĐồng chí, tôi muốn nhấn mạnh đến tình đồng đội.Suốt cả cuộc chiến đấu chỉ có một
chiếnđấulàtìnhđồngchí,tìnhđồngđội.Đồngchíở đây là tình đồng đội, không có đồng độitôi không thể nào làm tròn được trách nhiệm, không có đồng đội tôi cũng đã chết lâurồi.Bài Đồng chí là lời tâm sự viết ra để tặng đồng đội, tặng người bạn nông dân củamình.Bài thơ viết có đối tượng.Tôi hiểu và quýmếnngườiđồngđộicủatôinêntiếngnóithơcagiảndịvàchânthật.TuynhiênĐồngchí khôngphải là bài thơ nôm na Trước Cách mạng, tôi có làm một ít thơ.Trong thơ, tôi cố gắng
để nói cái cần nói, không nói dài, nói thừa.Tôi mong có được sự hàm súc, cô đọng củalời thơ, và hình ảnh thơ phải mang tính tạo hình.Tôi là lính của Trung đoàn Thù đô.Tôivào bộ đội ngày 19 - 12 -1946 Bước vào cuộc kháng chiến, tuổi trẻnhiều lúc bốc mensay Bài Ngày về phán ánh một mặt khía cạnh của tâm trạng tôi và bài Đồng chí cũngphản ánh một mặt của tình cảm tôi.Bài thơ được làm nhanh.Tôi làm để tặng bạn.Tôi
Trang 2không phải là nông dân và quê hương tôi cũng không phải trong cảnh "nước mặn đồngchua” hoặc đất cằn cỗi sỏi đá.Cái tôi trong bài thơ có những chi tiết không phải là tôi
mà là của bạn, nhưng về cơ bản thì là của tôi.Tất cả những hình ảnh gian khổ của đờilính thiếu ăn, thiếu mặc, sốt rét, bệnh tật bạn và tôi đều cùng trải qua.Trong nhữnghoàn cảnh đó, chúng tôi là một, gắn bó trong tình đồng đội.Viết về bộ đội nhưng thơtôi thiên vềkhaithácđờisốngnộitâm,tìnhcảm,ítcónhữngchuyệnđùngđoàng, chiếnđấu.Tôi làm bài Đồng chí cũng là tình cảm chân tình tự nhiên không có sự gò ép, gắnggượng nào và nó cũng nằm trong tư duy thơ ca quen thuộc của tôi.Bài thơ có nhữnghình ảnh cô đúc như đầu súng trăng treo Tôi thấy có bạn phân tích hình ảnh đầu súng
là tượng trưng cho người chiến sĩ đang bảo vệ quê hương và vầng trăng tượng trưngcho quê hương thanh bình Tôi không nghĩ thế khi viết, còn hình tượng thơ có thể gợicho người đọc nghĩ thế là tùy ở các bạn.Vấn đề đối vối tôi đơn giản hơn Trong chiếndịch nhiều đêm có trăng.Đi phục kích giặc trong đêm trước mắt tôi chỉ có ba nhân vật:khẩu súng, vầng trăng và người bạn chiến đấu Ba nhân vật quyện với nhau tạo ra hìnhảnh "đầu súng trăng treo" Lúc đầu tôi viết là "đầu súng mảnh trăng treo" sau đó bớt đimột chữ "Đầu súng trăng treo", ngoài hình ảnh bốn chữ này còn có nhịp điệu như nhịplắc của một cái gì lơ lửng chông chênh trong sự bát ngát Nó nói lên một cái gì lơ lửng
ở rất xa chứ không phải là buộc chặt, suốt đêm vầng trăng ở bầu trời cao xuống thấpdần và có lúc như treo lơ lửng trên đầu mũi súng Những đêm phục kích chờ giặc, vầngtrăng đối với chúng tôi như một người bạn ; rừng hoang sương muối là một khung cảnhthật Rừng mùa đông ở Việt Bắc rất lạnh, nhất là vào những đêm có sương muối.Sươngmuối làm buốt tê da như những mũi kimchâm và đến lúc nào đó bàn chân tê cứng đếnmất cảm giác Tất cả những gian khố của đời lính trong giai đoạn này thật khó kế hếtnhưngchúng tôi vẫn vượt lên được nhờ ở sự gắn bó, tiếp sức của tình đồng đội trongquần ngũ Cho đến hôm nay, mỗi khi nghĩ đến tình đồng đội năm xưa, lòng tôi vẫn còn
xúc động, bồi hồi.(Nhà văn nói về tác phẩm, NXB Văn học, Hà Nội,1994)
- Chính Hữu làm thơ từ năm 1947, thành công chủ yếu về đề tài người lính
và chiến tranh, đặc biệt là những tình cảm cao đẹp của người lính, như tìnhđồng chí, đồng đội, tình quê hương, sự gắn bó giữa tiền tuyến và hậuphương… Thơ Chính Hữu giản dị và chân thực, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ
và hình ảnh chọn lọc, hàm súc
- Tác phẩm chính : Đầu súng trăng treo ( 1966), Thơ Chính Hữu ( 1977), Tuyền tập Chính Hữu 1988).
Trang 3- Ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệthuật năm 2000.
- Bài thơ được in trong tập Đầu súng trăng treo ( 1966)
b, Phương thức biểu đat: Tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm (biểu
cảm là chủ yếu)
c, Bố cục của văn bản.
+ Phần 1: 7 câu đầu: Những cơ sở hình thành tình đồng chí, đồng đội
+ Phần 2: 10 câu tiếp: Những biểu niện của tình đồng chí đồng đội
+ Phần 3: 3 câu cuối: Sức mạnh và vẻ đẹp của tình đồng chí đồng đội
d, Thể thơ: Tự do
e) Nghệ thuật
- Bài thơ viết theo thể thơ tự do
- Ngôn ngữ thơ mộc mạc giản dị, chi tiết chân thực
- Hình ảnh gợi cảm và cô đúc, giàu ý nghĩa biểu tượng
- Hình ảnh thơ mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc
Trang 4- Đồng chí còn là cách xưng hô của những người cùng trong một đoàn thể cách mạng, của những người lính, ngời công nhân, người cán bộ từ sau cáchmạng
-> Vì vậy, đồng chí là biểu tượng của tình cảm cách mạng và thể hiện sâu sắc tình đồng đội
Định hướng GVtiếp cận bài thơ
Cơ sở hình thành nên tình đồng chí (Đồng chí là cùng gia cấp, cùng lí tưởng) –
Trước hết, tình đông chí bắt nguồn sâu xa từ sự tương đồng về hoàn cảnh xuất thân nghèokhó:
Quê hương anh nước mặn đồng chuaLàng tôi nghèo đất cày lên sỏi đáHai câu thơ giới thiệu về quê hương của những người lính Anh và tôi đều là những người línhxuất thân từ nông dân, có lẽ vì thế mà mối quan tâm hàng đầu của họ là đất đai, giới thiệu vềmình là giới thiệu về đồng đất quê mình Nước mặn đồng chua là vùng ven biển, đất khó làmăn; đất cày lên sỏi đá là vùng đồi núi trung du, đất khó canh tác Họ đều chung cái nghèo, đó
là cơ sở đồng cảm giai cấp của những người lính Chính điều đó khiến họ từ mọi phương trời
xa lạ tập hợp lại trong hàng ngũ quân đội cách mạng và trở nên thân quen với nhau
– Tình đồng chí còn được nảy sinh từ sự cùng chung lí tưởng, sát cánh chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc: Súng bên súng, đầu sát bên đầu Hình ảnh thơ có sự sóng đôi, gợi nên
tình gắn bó của những người chung một đội ngũ, chung lí tưởng cao cả
– Tình đồng chí, đồng đội đã nảy nở và ngày càng gắn bó trong cuộc sống, chiến đấu biếtbao gian khổ của người lính: Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ Câu thơ đầy ắp kỉ niệm và
ấm áp tình thân hữu – tình tri kỉ Những hình ảnh thơ ở đây vừa cụ thể, sinh động, vừa mang ýnghĩa khái quát gợi liên tưởng sâu xa
– Từ sự sóng đôi của “anh” và “tôi” trong từng dòng thơ đến sự gần gũi “anh với tôi” trongmột dòng thơ và đến thành một đôi nhưng “đôi người xa lạ” rồi mới thành “đôi tri kỉ” – đôibạn trí cốt, hiểu nhau sâu sắc và cao hơn nữa là “Đồng chí!” Từ rời rạc, riêng rẻ, dần nhậpthành chung, thành một, khăng khít, keo sơn, khó tách rời Câu thơ thứ bảy chỉ gồm hai chữ
“Đồng chí” và dấu chấm than tạo một nốt nhấn, như một tiếng gọi thiết tha, xúc động vừa nhưmột phát hiện, một kết luận, vừa như một bản lề gắn kết hai đoạn thơ, làm nổi rõ một tất yếu:cùng hoàn cảnh xuất thân, cùng lí tưởng thì trở thành đồng chí của nhau và mở ra ý tiếp –
Trang 5đồng chí còn như thế nào nữa Những biểu hiện cao đẹp của tình đồng chí (Đồng chí là thấuhiểu nhau, là đồng cam cộng khổ)
– Đồng chí, đó là sự cảm thông sâu xa những hoàn cảnh, tâm tư, nỗi niềm sâu kín của nhau:
Ruộng nương anh gửi bạn thân càyGian nhà không mặc kệ gió lung layGiếng nước gốc đa nhớ người ra lính
Ba câu thơ chỉ nói về “anh”, về bạn bởi vì họ cùng chung hoàn cảnh, chung nỗi niềm, đó cũng
là tình tri kỉ, hiểu bạn như hiểu mình Người lính ra đi chiến đấu để lại những gì quý giá, thânthiết nhất nơi làng quê (ruộng nương, gian nhà) “Mặc kệ” là quyết ra đi, mang dáng dấptrượng phu, nhưng vẫn nặng lòng gắn bó với quê hương Hình ảnh “gian nhà không” đầy gợicảm, vừa gợi cái nghèo nàn, xơ xác, vừa gợi cái trống trải trong lòng người ở lại khi ngườiđàn ông ra trận Để cả cơ nghiệp của mình hoang trống để ra đi, đó là một sự hi sinh Hiểu rõlòng nhau và hiểu cả nỗi niềm của người thân của nhau nơi hậu phương là tình tri kỉ “Giếngnước gốc đa nhớ người ra lính” là một cách nói tế nhị và giàu sức gợi, vừa là nhân hóa vừa làhoán dụ Câu thơ nói về quê hương nhớ người lính mà thực ra là người lính nhớ nhà Nỗi nhớhai chiều nên càng da diết Chỉ nói ai khác nhớ, đó cũng là cách tự vượt lên mình, nén tìnhriêng vì sự nghiệp chung
– Gắn bó với nhau trong đời thường, người lính càng gắn bó với nhau trong chiến đấu.Chia sẻ mọi tâm tư nỗi niềm để cùng chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời ngườilính với biết bao gian khổ: Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồhôi Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thươngnhau tay nắm lấy bàn tay Những người lính cùng chịu bệnh tật – những cơn sốt rét rừng ghêgớm, cùng thiếu, cùng rách Đây là hoàn cảnh chung của bộ đội ta những năm đầu cuộc khángchiến chống Pháp Họ nhìn thấu và thương nhau từ những chi tiết nhỏ của đời sống Nhữngcặp câu thơ sóng đôi, đối xứng nhau (từng cặp hoặc trong từng câu) góp phần diễn tả sự sẻchia, giống nhau trong mọi cảnh ngộ của người lính Chữ “anh” và chữ “tôi” đến đây lại cùngxuất hiện, để cùng gánh vác, sẻ chia,không ai giành lấy cho mình sự ưu ái hơn Tình đồng chícho họ sức mạnh để vượt lên buốt giá – “miệng cười buốt giá” và ấm áp giữa buốt giá:
“Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”, nắm lấy bàn tay nhau để ấm đôi bàn chân, để vượt lêngian khó Những bàn tay như biết nói Họ gắn bó với nhau để có thêm sức mạnh, niềm tin,hướng tới lí tưởng cao đẹp Và đó là tình gắn bó sâu dày suốt trường kì kháng chiến Biểuhiện cao đẹp nhất của tình đồng chí (Đồng chí là cùng chung chiến hào) Nhiệm vụ chủ yếucủa người lính là đánh giặc, vì vậy tình đồng chí cao đẹp nhất là tình gắn bó thiêng liêng nơituyến đầu chống giặc, nơi sự sống và cái chết kề nhau trong tích tắc
Tình đồng chí đã được tôi luyện trong thử thách gian lao và đây là thử thách lớn nhất
Đêm nay rừng hoang sương muốiĐứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Trang 6Đầu súng trăng treo
Ba câu thơ như dựng lên bức tượng đài sừng sững về tình đồng chí – trong hoàn cảnh khắcnghiệt, đêm, rừng hoang, sương muối, những người lính “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới” –tạo nên tư thế “thành đồng vách sắt” trước quân thù, làm mờ đi cái gian khổ, ác liệt của cuộcchiến đấu Hình ảnh họ tượng hình lại trong chi tiết bất ngờ, độc đáo: “Đầu súng trăng treo”.Câu thơ không trực tiếp nói về những người đồng chí mà vẫn hiển hiện tình đồng chí Rấtthực mà cũng rất lãng mạn Trăng trôi trên nền trời, nhìn lên, trăng như treo đầu ngọn súng.Hình ảnh này có nguồn gốc thực tế Trăng trôi trên nền trời, đến thời điểm nào đó, nhìn trănglên, trăng như treo trên đầu ngọn súng Nhịp 2/2 gợi sự sóng đôi và như gợi sự bát ngát, lơlửng chứ không cột chặt Súng và trăng cũng là một cặp đồng chí, tô đậm vẻ đẹp của cặp đồngchí kia Tình đồng chí khiến người lính vẫn bình thản và lãng mạn bên thềm cuộc chiến đấu,khiến học thấy cuộc đời vẫn đẹp đẽ, thơ mộng ngay giữa nguy hiểm, gian lao, khiến họ có sức
manh trong tư thế, có sự đằm thắm trong tâm hồn tình cảm
Hình ảnh thơ ở đây giàu sức khái quát , gợi nhiều liên tưởng Súng: hình ảnh của chiến tranh,khói lửa; trăng: hình ảnh của thiên nhiên trong mát, cuộc sống thanh bình Sự hòa hợp giữasúng và trăng toát lên vẻ đẹp tâm hồn người lính và tính đồng chí của họ, vừa nói lên ý nghĩacao đẹp của cuộc sống chiến đấu Người lính cầm súng là đẻ bảo vệ độc lập, tự do, hòa bình,hạnh phúc Súng và trăng, thực và mộng, cứng rắn và dịu hiền , chiến sĩ và thi sĩ, chất chiếnđấu và chất trữ tình,…Đó là các mặt bổ sung cho nhau của cuộc đời người lính cách mạng Xahơn, có thể xem đó là biểu tượng của thơ ca kháng chiến, nền thơ kết hợp chất hiện thực vàcảm hứng lãng mạn Hình ảnh người lính cách mạng trong bài thơ: Qua bài thơ về tình đồngchí hiện lên vẻ đẹp bình dị mà cao cả của người lính cách mạng, anh vệ quốc quân năm xưa
Bài thơ này là bức chân dung đẹp về người lính cụ Hồ
– Đó là những người lính xuất thân từ nông dân, ra đi từ những miền quê nghèo khó trên khắpmọi miền đất nước Họ đã gác lại những gì quý giá, thân thiết nhất nơi làng quê để ra đi chiến
đấu nhưng vẫn nặng lòng gắn bó với làng quê thân yêu
– Họ đã trải qua những gian lao, thiếu thốn tột cùng, những cơn sót run người, trang phụcphong phanh giữa mùa đông buốt giá (áo rách, quần vá, chân không giày) Những gian lao,
thiếu thốn càng làm sáng lên nụ cười của họ (miệng cười buốt giá)
– Đẹp nhất ở họ là tình đồng chí, đồng đội keo sơn, thắm thiết Tình đồng chí sưởi ấm lòngngười chiến sĩ, tiếp cho họ sức mạnh, vượt lên tất cả, chiến đấu và chiến thắng Hình ảnhngười lính và tình đồng chí của họ kết tinh và tỏa sáng trong đoạn cuối bài thơ Tình đồng chíxuất phát từ tình yêu nước và là cội nguồn của chiến thắng, kết tinh những tình cảm xã hội caođẹp, làm nên vẻ đẹp tâm hồn người chiến sĩ Đó cũng là truyền thống cao đẹp của quân đội ta
Cảm nhận bài thơ Đồng chí từ nhiều góc nhìn
Ý kiến của Nguyễn Đức Quyền (…) Câu thơ hai chữ Đồng chí Gần như đứng giữa bài thơ,riết cái thân bài thơ thành một cái lưng ong, nửa trên là một mảng quy nạp (như thế này làđồng chí), nửa dưới là một diễn dịch (đồng chí còn là như thế này nữa) một kết cấu chính luậncho một bài thơ trữ tình lạ Chủ đề dồng chí lại hiện lên trong từng cấu truc ngôn ngữ, nghĩa làtrong từng tế bào thơ Tôi với anh khi thì xếp dọc: Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng
Trang 7tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Khi thì xếp ngang: Tôi với anh đôi người xa lạ Khi thì điệp điệp(nét thẳng của ý chí và nét cong của tình cảm): Súng bên súng, đầu sát bên đầu Để đến đêmrét trùm chung một cái chăn thì nhập lại thành đồng chí Và cái chăn đắp lại thì tâm sự mở ra.
Họ soi vào nhau, anh hiểu tôi, tôi hiểu đến nỗi lòng sâu kín của anh: Ruộng nương anh gửibạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay (…) Họ hiểu nhau đến chiều sâu như thế là
để dựa vào nhau mà đi đến chiều cao này: Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bênnhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo Chung nhau một cái chăn là một cái chăn là một cặpđồng chí, nắm cả bàn tay và ấm cả đôi bàn chân là một cặp đòng chí Đêm nay, rừng hoangsương muối “Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới” là một cặp đồng chí Và lãng mạn thay, súng
và trăng cũng là một cặp đồng chí: Đầu súng trăng treo Cặp đồng chí này nói về cặp đồng chíkia, nói được cái cụ thể và gợi đến cái vô cùng Súng và trăng, cứng rắn và hiền dịu, súng vàtrăng, chiến sĩ và thi sĩ; súng và trăng là biểu hiện cao cả của tình đồng chí: (Nguyễn Đức
Quyền, Báo Văn nghệ số 30/1134 ngày 27/7/1985)
Ý kiến của Vũ Nho “Những dòng thơ cuối cùng cũng như một tượng đài sừng sững chotình cảm đồng chí thiêng liêng Trên nền hùng vĩ thiên nhiên, cánh rừng trải rộng, bầutrời lồng lộng, người chiến sĩ đứng với khẩu súng và vầng trăng Đây là những hình ảnhthực trong những đêm phục kích giặc của tác giả, nhưng chính tầm cao tư tưởng và lítưởng chiến đấu của quân đội cách mạng đã tạo cho hình ảnh có một vẻ đẹp khái quát,tượng trưng” (Vũ Nho, Để cảm hiểu và thưởng thức những bài thơ ở lớp 8 và lớp 9,1991) Đề tài đồng chí là một nỗi ám ảnh với hồn thơ Chính Hữu Trong bài “Giá từngthước đất”, Chính Hữu đã viết: Năm mươi sáu ngày đêm bom ầm pháo dội Ta mới hiểuthế nào là đồng đội Đồng đội ta là hớp nước uống chung Nắm cơm bẻ nửa Là chia nhaumột trưa nắng, một chiều mưa Chia khắp anh em một mẩu tin nhà Chia nhau đứngtrong chiến hào chật hẹp Chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết
III.Tìm hiểu văn bản
Hình ảnh anh bộ đội thời kháng chiến chống Pháptrong bài thơ “Đồng chí” của ChínhHữu.
Dàn ý đại
cương
Dàn ý chi tiết
1.Mở bài:
- Giới thiệu vài
nét -Chính Hữu là nhà thơ quân đội hoạt động trong hai cuộc kháng
về nhà thơ Chính chiến chống Pháp Thơ ông hầu như chỉ viết về người lính và chiến
Trang 8Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Ngôn ngữ thơ giản dị như lời ăn tiếng nói hằng ngày của người dânquê Tác giả tuy không chỉ đích danh, bản quán nơi cư ngụ từng người,song ta bắt gặp thành ngữ quen thuộc “nước mặn đồng chua” và “đấtcày lên sỏi đá” thể hiện rõ nhất nguồn gốc xuất thân của những ngườilính Họ đến từ mọi miền Tổ quốc, từ những vùng đồng bằng châu thổquanh năm ngập lụt đến vùng đồi núi trung du khô cằn sỏi đá Quêhương xa cách nhau, mỗi người mỗi nơi nhưng giống nhau ở cái nghèo,
sự lam lũ, khó nhọc của người dân quê Việt Nam Chính sự đồng cảnh
ấy đã khiến họ xích lại gần nhau, để từ những người xa lạ, họ tập hợplại trong hàng ngũ cách mạng và trở thành quen biết, thân thiết vớinhau:
Súng bên súng, đầu sát bên đầu
Những hình ảnh thơ rất thực nhưng cũng đầy sức gợi Câu thơ “Súngbên súng, đầu sát bên đầu” là câu thơ giàu ý nghĩa Điệp từ “bên” cùngnghệ thuật sóng đôi có tác dụng khẳng định sự gắn bó khăng khít giữanhững người lính Họ cùng chung nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc
“súng bên sung”, cùng chung lí tưởng, suy nghĩ “đầu sát bên đầu” Dùgian khổ đến đâu, dù nguy hiểm, sóng gió đến nhường nào, các anh vẫntrung thành với con đường của mình đã chọn Đọc câu thơ, ta khôngnhận ra “anh” và “tôi” nữa màhọ
đã trở thành “những anh”, “những tôi” nhòa đi sau những khẩusúng,những máiđầu
->Thì ra cuộc kháng chiến chống Pháp đã trở thành cuộc “gặp gỡ” củabao người yêu nước Mới đây thôi, họ đã “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”làm cuộc cách mạng tháng Tám thành công Giờ đây họ lại sát cánhbênnhau thề “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” Chính lí tưởng chungcủa thời đại đã gắn kết họ với nhau trong hàng ngũ quân đội cáchmạng.-Ở nơi chiến trường đầy khói bom thuốc súng, người chiến sĩ phảichống chọi với cái rét:
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.
Cái rét ở rừng già Việt Bắc đã nhiều lần vào trong thơ bộ đội chốngPháp vì đó là một thực tế ai cũng nếm trải trong những năm chinh chiếnấy:
Trang 9( Tố Hữu – “Lên Tây Bắc”)
-Nhưng câu thơ của Chính Hữu nói đến cái rét gợi cho người đọc mộtcảm giác ấm cúng của tình đồng đội, nghĩa đồng bào Cái hay của nhàthơ là đã biết đem “đêm rét chung chăn” vào bài thơ, sưởi ấm mối tìnhđồng chí lên thành mức độ tri kỉ Những người lính đến với nhau nhẹnhàng, bình dị, vừa có cái chung của lí tưởng lớn, vừa có cái riêng củamột đôi bạn ý hợp tâm đầu Và cứ giản dị như thế, những con ngườicùng chung gian khó ấy trở thành đồng chí của nhau:
Đồng chí!
-Câu thơ chỉ có hai tiếng và kết thúc bằng dấu chấm than tạo một nốtnhấn, vang lên như một sự phát hiện, lời khẳng định Đồng thời nhưmột chiếc bản lề khép mở sự lí giải cội nguồn của tình đồng chí ở sáucâu thơ trước với những biểu hiện, sức mạnh của tình đồng chí trongnhững câu thơ tiếp theo của bài thơ
=> Nếu coi bài thơ như một cơ thể sống thì hai tiếng “Đồng chí” nhưmột trái tim hồng nuôi sống cả bài thơ Nó có sức vang dội và ngân ngamãi trong lòng người đọc
=> Tám mươi năm nô lệ nay mới được gọi nhau là đồng chí sungsướng và kiêu hãnh biết bao! Từ nay tình cảm gì cũng phải nâng lênthành tình đồng chí, phải đo bằng tình đồng chí Tình cảm cao đẹp này
đã trở thành nguồn cảm hứng lớn nhất, dồi dào nhất của thơ ca khángchiến chống Pháp và chống Mỹ sau này
=> Chính Hữu đã có lời nhận xét: “Những năm đầu cách mạng từ
“đồng chí” mang ý nghĩa thiêng liêng và máu thịt vô cùng Nơi khókhăn, cuộc sống của người này trở nên cần thiết với người kia Mộtngười có thể thay thế cho gia đình, cho cha mẹ, vợ con đối với mộtngười khác Hơn nữa, họ còn bảo vệ nhau trước mũi súng của kẻ thù,cùng nhau đi qua cái chết, chống lại cái chết, cùng nhau thực hiện một
lí tưởng cách mạng Đó là ý nghĩa thiêng liêng của tình đồng chí bấygiờ”
-Những người lính, những đồng chí ấy ra đi chiến đấu với tinh thần tựnguyện:
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính
-Từ bao đời nay, ai cũng biết rằng ruộng nương và nhà cửa là nhữngtài sản quý giá nhất đối với người nông dân vì họ phải tốn
biết bao mồ hôi nước mắt mới có được Cho nên họ vô cùng gắn bósâu nặng, gìn giữ, trân trọng với những thứ của cải ấy.Vậy mà họlạidễdàng gạtbỏlạisaulưng,lênđườngtheotiếnggọicủaquê
Trang 10“mặc kệ” không phải hiểu theo nghĩa phó mặc mà trong ngôn ngữ giản
dị của người lính là “Cứ chờ đó, cách mạng thành công mọi chuyện sẽlàm lại sau” Đó mới chính là ngôn ngữ, là ý tưởng mà họ muốn thểhiện trong hành động “dứt áo” ra đi củamình
-Vì thế quê hương luôn khiến họ trào dâng nỗi nhớ:
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.
-Đã bao lần ta bắt gặp hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình trong cadao xưa nhưng vẫn thật mới mẻ trong thơ Chính Hữu Biện pháp nghệthuật hoán dụ “Giếng nước gốc đa” gợi ta nhớ tới nơi hò hẹn củanhững người dân quê, nhắc đến những kỉ niệm một thời gắn bó trênmảnh đất quê hương Song hai hình ảnh này còn được nhân hóa Nói
“Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” hay chính là tấm lòng củangười ra đi không nguôi nhớ về quê hương “Giếng nước gốc đá” cồncào đến chừng nào! Đời sống tình cảm của họ với làng quê da diết vôcùng Bao tình cảm sâu nặng như đều dồn tụ trong tiếng “nhớ” giản dịấy!
=>Song, góc nhớ thương đó không làm cho các anh mềm lòng, mất đi ýchí cứu nước mà nó thôi thúc, động viên người lính nông dân bền ganvững chí, cầm chắc tay súng lập công Bởi lẽ nước nhà sớm độc lập thìcác anh mới sớm được trở về với quê hương, xóm làng…
-Đọc bài thơ, chúng ta còn cảm phục người lính nông dân ở tinh thầnvượt khó, vượt khổ:
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày
-Địa bàn chiến đấu của người lính thời kì lúc bấy giờ ở nơi rừng thiêngnước độc, chướng khí âm u nên hầu như người lính nàocũng bị mắccăn bệnh sốt rét ác tính Căn bệnh quái ác này làm cho họ tóc rụng daxanh, gầy còm yếu ớt, thậm chí tử vong nữa Ai đã từng nói: “Đánhtrận tử vọng ít, sót rét tử vongnhiều”
-Nhưng đó không phải là gian khổ duy nhất mà người lính phải trảiqua Họ còn phải chịu đựng cái lạnh giá, trong khi quân phục lại
Trang 11Ý nghĩa của cái
=> Từ một dân tộc nô lệ với gậy tầm vong giáo mác, chúng ta vùng lênchọi lại xe tăng đại bác của kẻ thù Trong cuộc chiến đấu một mất mộtcòn này, anh bộ đội là người trực tiếp chịu đựng biết bao gian khổ Hơnnửa thế kỉ trôi qua, đọc lại những vần thơ của Chính Hữu mấy ai màkhông cầm được nước mắt, mấy ai không thán phục sức chịu đựng phithường của các anh
-Viết về hiện thực cuộc sống của người lính nông dân, Chính Hữukhôngphảiđịnhkểkhổđểlàmbàithơtrởnênbithảm,lòngngười bi quan mà
chỉ để ngợi ca người lính: họ biết đồng cam cộng khổ: Thương nhau
tay nắm lấy bàn tay.
Câu thơ giản dị, nhẹ nhàng, đậm chất lính Hai tiếng “Thương nhau”đặt lên đầu câu khiến cho nhịp thơ như lắng lại “Thương” chứ khôngphải là “yêu” Trong “Thương” không chỉ có tình yêu mà còn có cả sựcảm thông, xót xa cho nhau Chính trong tâm thế đó, người lính tìmđến nhau trong cái nắm tay tình nghĩa
+ Đó là cái nắm tay thân mật, thắm thiết, siết chặt tình đồng chí keosơn, truyền cho nhau hơi ấm để giúp đồng đội vượt qua cái giá lạnh nơinúi rừng cũng là cái nắm tay truyền ý chí chiến đấu, truyền ngọn lửatình cách mạng Cái bắt tay âm thầm lặng lẽ không ồn ào, không cầnlời nói hoa mĩ, họ trao nhau hơi ấm từ lòng bàn tay, hơi ấm từ trái tim,
vì họ đã hiểu rõ lòng nhau, vì họ “thương nhau” Hơi ấm lan tỏa cả haingười, làm hai người nở một nụ cười, dù là “buốt giá”
+ Đây là ngọn nguồn tạo nên sức mạnh bất diệt của người lính ViệtNam trong kháng chiến Những người nông dân vốn chỉ lo “côi cút làmăn” ( Nguyễn Đình Chiểu), quanh năm gắn bó với ruộng đồng, contrâu…N hưng tình yêu quê hương lên tiếng giục giã họ cất bước lênđường Những gian khổ là nhiều, những hi sinh là không ít, nhưng tìnhyêu Tổ quốc và tình đồng chí thiêng liêng cao đẹp đã tiếp thêm sứcmạnh để người lính vượt qua những khó khăn thử thách đó, đểhọ vữngtay súng, hoàn thành nhiệm vụ bảo vệTổ
-Ba câu thơ ngắn là sự kết tinh tình đồng chí Giữa nơi chiến trườngkhốc liệt, thiên nhiên khắc nghiệt ( “rừng hoang”, “sương muối”) hìnhảnh những người lính kề vai nhau ngời sáng đẹp biết bao! Họ truyềncho nhau hơi ấm sức mạnh và niềm tin để thực hiện nhiệm vụ giữ gìn
Trang 12-Hình ảnh người lính tỏa sáng trong câu thơ kết bất ngờ, độc đáo: “Đầusúng trăng treo” Trăng như treo trên đầu súng gợi ra vẻ đẹp hư ảo, gần
mà xa, thực mà mộng, một không gian bát ngát bao la có cái gì cứ bôngbênh khó tả Họ đã vượt lên gian khổ, vượt lên thiếu thốn, hiểm nguy
để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của trăng, của thiên nhiên đất trời ban tặng.Ánh trăng lúc này như người bạn tri âm tri kỉ đối với người lính Vầngtrăng trên bầu trời như xuống thấp, soi sáng đôi bạn, muốn ngợi ca, soi
rõ tình đồng đội thiêng liêng cao cả của họ Chỉ một nét vẽ khéo léo,một sự tưởng tượng hết sức diệu kì, Chính Hữu đã xóa đi bao ám ảnhcủa rừng hoa sương muối, của cái chết, của trận đánh sắp bắt đầu, nânghình ảnh người lính cao hơn, sáng hơn, và ngàn lần đẹp hơn
=> Hóa ra cuộc đời người lính nông dân mộc mạc, chân chất kia, tâmhồn cũng rất lãng mạn bay bổng biết bao! Họ không chỉ biết siết còsúng mà còn biết làm thơ nữa! Tâm hồn chiến sĩ hòa quyện với tâmhồn thi si đã tạo nên nét đẹp độc đáo của người lính nông dân
-Hình ảnh “Đầu súng trăng treo” còn mang ý nghĩa tượng trưng “Súng”
là biểu tưởng cho sắt thép, lửa đạn chiến tranh, khiến cho nhân loại cămgiận lên án Còn “trăng” biểu tượng cho hòa bình, hạnh phúc – ước mơngàn đời con người muốn vươn tới
=> Chính Hữu đã liên kết hai hình ảnh đối lập trong một câu thơ đểdiễn tả một ý tưởng sâu sắc: người chiến sĩ của chúng ta quyết tâm cầmchắc cây súng chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình Để cho
em thơ ngủ ngon, để cho nhân dân hạnh phúc, yên bình, để vầng trăng
kia sáng mãi, các anh chỉ có cách duy nhất: cầm súng Với cây súng
các anh đã trở thành linh hồn của đất nước, của không gian và thờigian Với cây súng các anh đã thêu dệt nên những bản tình ca khôngthể nào quên trong những năm tháng không thể nào quên của dân tộc
=>“Đầu súng trăng treo” là một trong những hình ảnh thơ đẹp nhất viết
về người chiến sĩ trong thời kì chống Pháp: gian khổmà anhdũng, hiện thực mà thơmộng Chủ đề của bài thơ được nâng cao và lắngsâutrong lòng người đọc cũng là nhờ hình ảnh thơ tuyệt đẹp
này Và Chính Hữu cũng đã lấy hình ảnh thơ này làm tựa đề cho tập thơgồm hai mươi tư bài của mình
Thể thơ tự do, ngôn ngữ giản dị mộc mạc, bút pháp hiện thực, khôngmột chút tô vẽ đắp điểm, không bình luận, thuyết minh
-Bài thơ thiên về khai thác đời sống nội tâm tình cảm của người lính
Vẻ đẹp của “Đồng chí” là vẻ đẹp đời sống tâm hồn người lính mà nơiphát ra vầng sáng lung linh nhất là mối tình đồng đội, đồng chí hòaquyện vào tình giai cấp
-Hình ảnh “Đầu súng trăng treo” ở cuối bài nâng vẻ đẹp người línhlên đến đỉnh cao khái quát, trong đó có sự hài hòa giữa hiện thực vàlãng mạn, đồng thời mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc
Trang 13III.ĐỌC HIỂU
BÀI TẬP 1: Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi
Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau Súng bên súng đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ
Đồng chí!
Câu 1: Em hãy nêu tóm tắt nội dung của đoạn trích trên?
Trả lời:
Đoạn trích trên thể nói tới cơ sở hình thành tình đồng chí:
+ Chung cảnh ngộ, hoàn cảnh xuất thân nghèo khó
+ Cùng chung hoàn cảnh, lý tưởng chiến đấu
+ Hình thành trên sự sẻ chia, đồng cảm mọi gian lao, mọi niềm vui nỗi buồn
Câu 2: Em hãy nêu một thành ngữ có trong đoạn thơ trên Giải thích nghĩa của thành ngữ
đó
Trả lời:
Thành ngữ được sử dụng trong đoạn thơ trên:
“Nước mặn đồng chua”: vùng đất nghèo ven biển nhiễm phèn, nhiễm mặn khó làm ăn
“Đất cày lên sỏi đá”: nơi đồi núi, trung du, đất đá bị ong hóa, khó canh tác
→ Hai thành ngữ này để nhằm chỉ ra sự tương đồng về cảnh ngộ, xuất thân nghèo khó là
cơ sở hình thành tình đồng chí
Câu 3: Nêu cấu trúc câu thơ sóng đôi được sử dụng trong đoạn thơ trên và nêu tác dụng
của cấu trúc đó trong việc thể hiện nội dung đoạn thơ
Trang 14Trả lời:
Hai câu thơ đối ứng nhau về ý:
Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Sự đối ứng “quê hương anh - làng tôi”; “nước mặn đồng chua” – đất cày lên sỏi đá”khắc họa được sự nghèo khó về xuất thân, cảnh ngộ, đó là cơ sở hình thành tình đồng
chí, tạo nên sự nhịp nhàng đồng điệu giữa những người lính
Súng bên súng, đầu sát bên đầu
Câu thơ đối xứng nhau ngay trong từng vế câu, làm nổi bật hoàn cảnh chiến đấu khắcnghiệt nhưng những người lính vẫn sát cánh bên nhau, cùng nhau chiến đấu, cùng nhauđối diện với hiểm nguy
Câu 4: Có bạn viết: “Chỉ với 7 câu văn đã cho người đọc thấy được sự tương đồng và gắn
bó của những người lính trong cuộc kháng chiến chống Mĩ”
Câu văn trên bạn viết sai ở đâu, hãy sửa lại cho đúng và chuyển câu trên thành câu bịđộng
Trả lời:
Sửa câu: “Chỉ với bảy câu thơ người đọc thấy được sự tương đồng và gắn bó của người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp”.
Câu 5: Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ “Súng bên súng, đầu sát bên
đầu”, nêu tác dụng của biện pháp đó
+ Thể hiện sự chung sức, cùng nhau đoàn kết, chiến đấu
Câu 6: Từ “tri kỉ” trong bài có ý nghĩa gì? Em hãy chép chính xác một câu thơ trong bài
em đã học cũng sử dụng từ tri kỉ, ghi rõ tên tác giả tác phẩm.So sánh hai từ tri kỉ đó
Trang 15Trả lời:
Từ “tri kỉ” có nghĩa: thấu hiểu mình, hiểu bạn như hiểu bản thân mình
Câu thơ trong bài Ánh trăng của Nguyễn Duy có chứa từ tri kỉ:
“Vầng trăng thành tri kỉ”
Từ tri kỉ trong bài đồng chí diễn tả sự thấu hiểu giữa 2 người lính cùng chiến tuyến, cùng
lý tưởng chiến đấu, cùng hoàn cảnh chiến đấu
Từ tri kỉ trong bài Ánh trăng diễn tả sự đồng điệu thấu hiểu của trăng với con người, củacon người với chính quá khứ của mình
Tri kỉ trong bài "Đồng chí" tuy hai nhưng một
BÀI TẬP 2.
Cho câu thơ: “Quê hương anh nước mặn đồng chua”
a) Chép tiếp 5 câu thơ tiếp theo Cho biết đoạn thơ nằm trong bài thơ nào? Của ai?Hoàn cảnh sáng tác
b) Câu thơ “Súng bên súng đầu sát bên đầu” sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? Tácdụng?
c) Đoạn thơ gợi cho em nhớ tới bài thơ nào cũng viết về tình đồng chí, đồng độicủa người lính trong chương trình Ngữ văn 9 Chép lại câu thơ thể hiện cử chỉ thân thiện
và tình cảm của những người lính cách mạng Cho biết tên tác giả, tác phẩm
d) Viết đoạn văn khoảng 12 dòng theo cách diễn dịch Phân tích đoạn thơ trên đểthấy được cơ sở bền chặt hình thành tình đồng chí
Trang 16Nghệ thuật hoán dụ “súng”, “đầu”: “súng” biểu tượng cho nhiệm vụ chiến đấu.
“Đầu” biểu tượng cho lí tưởng
Tả thực tư thế chiến đấu của người linh khi có giặc, tượng trưng chung hành động
và lí tưởng của người lính
Tác dụng: Chính Hữu sử dụng biện pháp nghệ thuật điệp ngữ, hoán dụ trong câuthơ “Súng bên súng đầu sát bên đầu” cho ta thấy sự đoàn kết, gắn bó keo sơn của tìnhđồng đội, sự gắn kế trọn vẹn cả về lí trí, lẫn lí tưởng và mục đích cao cả: chiến đấu giànhđộc lập tự do cho Tổ quốc
c) Câu thơ thể hiện cử chỉ thân thiện và tình cảm của người lính cách mạng:
“Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”
Thuộc tác phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” – Phạm Tiến Duật
d)
Yêu cầu về hình thức: Đoạn văn có độ dài khoảng 12 dòng theo lối diễn dịch, qui
nạp, hay tổng phân hợp, có một câu ghép
Yêu cầu về nội dung: Cần làm nổi bật nội dụng sau:
- Sự gắn bó của những con người từ những vùng quê nghèo khổ khác nhau: xa tri kỉ
lạ Họ cùng chung lí tưởng, mục đích chiến đấu
- Chú ý vào các từ ngữ hình ảnh giàu sức gợi: chung chăn, tri kỉ, súng bên súng,đầu sát bên đầu
Đoạn văn tham khảo:
Đoạn thơ trên trích trong văn bản “Đồng chí” – Chính Hữu sáng tác năm 1946 đãrất thành công trong việc thể hiện được cơ sở bền chặt hình thành tình đồng chí Mở đầu
là hai câu thơ:“Quê hương anh nước mặn đồng chua, Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”.Nghệ thuật đối xứng “nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá” giúp ta hình dung ranhững người lính đều là con em của những người nông dân từ các miền quê nghèo khó,hội tụ về đây trong đội ngũ chiến đấu “Anh với tôi đôi người xa lạ, Tự phương trời chẳnghẹn quen nhau” Từ “đôi” chỉ hai người, hai đối tượng chẳng thể tách rời nhau, thể hiện
sự đoàn kết, gắn bó keo sơn kết hợp với từ “xa lạ” làm cho ý xa lạ được nhấn mạnh hơn
Từ phương trời tuy chẳng hẹn quen nhau nhưng họ là những người cùng chung lí tưởng,nhiệm vụ, trong trái tim của họ nảy nở lên những ý chí quyết tâm chiến đấu bảo vệ Tổ
Trang 17quốc Tình đồng chí – tình cảm ấy không chỉ là cùng cảnh ngộ mà còn là sự gắn kết trọnvẹn cả về lí trí lẫn lí tưởng và mục đích cao cả: chiến đấu giành độc lập tự do cho Tổquốc “Súng bên súng đầu sát bên đầu, Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ” Chính Hữu
sử dụng biện pháp nghệ thuật điệp từ qua từ “súng”, “đầu”, “bên” và nghệ thuật hoán dụ
“súng, đầu” đã thể hiện điều đó.Từ “chung” ở đây bao hàm nhiều nghĩa: chung cảnh ngộ,chung giai cấp, chung chí hướng, chung một khát vọng, …“Tri kỉ” cho thấy họ là nhữngđôi bạn thân thiết, luôn sát cánh bên nhau không thể tách rời Tóm lại, những người línhtuy xuất thân từ những vùng quê nghèo khó nhưng
họvẫn chung mục đích, chung một lí tưởng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc
BÀI TẬP 3:
Quê hương anh nước mặn, đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
Anh với tôi hai người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau, Súng bên súng, đầu sát bên đầu, Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.
2 Câu thứ sáu trong đoạn thơ trên có từ tri kỉ Một bài thơ đã học trong chương trình Ngữ văn lớp 9 cũng có câu thơ dùng từ tri kỉ Đó là câu thơ nào ? Thuộc bài thơ nào ?
Về ý nghĩa và cách dùng từ tri kỉ trong hai câu thơ đó có điểm gì giống nhau, khác nhau
?
3 Xét về cấu tạo và mục đích nói, câu thơ "Đồng chí!" lần lượt thuộc các kiểu câu gì?
câu thơ này có gì đặc biệt? Nêu ngắn gọn tác dụng của việc sử dụng kiểu câu đó trong văn cảnh?
4 Câu thứ bảy trong đoạn thơ trên là một câu đặc biệt Hãy viết đoạn văn khoảng 10câu phân tích nét đặc sắc của câu thơ đó
Trang 18Gợi ý :
1 Trong đoạn thơ có từ bị chép sai là hai, phải chép lại là đôi :Anh với tôi đôi
người xa lạ.
Chép sai như vậy sẽ ảnh hưởng đến giá trị biểu cảm của câu thơ :Hai là từ chỉ
số lượng còn đôi là danh từ chỉ đơn vị Từ hai chỉ sư riêng biệt, từ đôi chỉ sự không
tách rời Như vậy, phải chăng trong xa lạ dã có cơ sở của sự thân quen ? Điều đó tạo nền móng cho chuyển biến tình cảm của họ
2 Câu thơ trong bài Ánh trăng của Nguyễn Du có từ tri kỉ :
hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ
Từ tri kỉ trong hai câu thơ cùng có nghĩa chỉ đôi bạn thân thiết, hiểu nhau.
Nhưng trong mỗi trường hợp cụ thể, nét nghĩa có khác : ở câu thơ của Chính
Hữu, tri kỉ chỉ tình bạn giữa người với người Còn ở câu thơ của Nguyễn Duy, tri kỉ
lại chỉ tình bạn giữa trăng với người
3 Tác dụng:
– Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu, là bản lề khép mở ý thơ…
Về nội dung: Giúp thể hiện ý đồ nghệ thuật của nhà thơ: biểu hiện sự cô đặc,dồn thụ sức nặng tư tưởng, cảm xúc của tác giả…)
4 Viết đoạn văn :
* Về nội dung, cần chỉ ra được :
- Câu thơ chỉ có hai tiếng và dẩu chấm than, là nốt nhấn, là lời khẳng định
- Gắn kết hai đoạn của bài thơ, tổng kết phần trên và mở ra hướng cảm xúccho phần sau : cội nguồn của tình đồng chí và những biểu hiện, sức mạnh của tìnhđồng chí
* Về hình thức : không quy định cụ thể, nên có thể tự lựa chọn cấu trúc đoạncho phù hợp
Đoạn văn tham khảo:
Bài thơ ” Đồng chí” của Chính Hữu ca ngợi tình cảm cao đẹp của những người lính
anh bộ đội cụ Hồ trong đó tính hàm xúc của bài thơ được đặc biệt thể hiện ở dòng
thơ thứ 7 trong bài thơ ” Đồng chí”, dòng thơ chỉ có một từ kết hợp với dấu chấm
Trang 19than, đứng riêng thành một dòng thơ và có ý nghĩa biểu cảm lớn, nhấn mạnh tình
cảm mới mẻ thiêng liêng – tình đồng chí Đây là tình cảm kết tinh từ mọi cảm xúc,
là cao độ của tình bạn, tình người, có nghĩa được bắt nguồn từ những tình cảm mang
tính truyền thống, đồng thời là sự gắn kết của bài thơ, nó là bản lề khẳng định khép
lại cơ sở hình thành tình đồng chí của sáu câu thơ trước, còn với những câu thơ phía
sau là sự mở rộng, sự triển khai biểu hiện cụ thể của tình đồng chí, với ý nghĩa đặc
biệt như vậy nên dòng thơ thứ 7 đã được lấy làm nhan đề cho bài thơ “Đồng chí”
của Chính Hữu
BÀI TẬP 4:
Cho đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi :
(…) Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi.
Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay (…)
1, Đoạn thơ trên trích từ tác phẩm nào? Của ai? Từ Đồng chí nghĩa là gì? Theo em, vì sao tác giả lại đặt tên bài thơ của mình là Đồng chí?
2, Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: “Giếng nướcgốc đa nhớ người ra lính”
3, Nêu những khó khăn mà người lính phải trải qua
4, Qua đoạn thơ trên, em có suy nghĩ gì về sức mạnh của tình đồng đội, đồng chí
Trang 205, Dựa vào đoạn thơ trên, hãy viết một đoạn văn (khoảng 10 câu) theo cách lập luận tổnghợp – phân tích – tổng hợp trong đó có sử dụng phép thế và một phủ định để làm rõ sự
đồng cảm, sẻ chia giữa những người đồng đội (Gạch dưới câu phủ định và những từ ngữ dùng làm phép thế).
Gợi ý:
1,
-Trích từ tác phẩm “Đồng chí” của Chính Hữu
- Đồng chí : người có cùng chí hướng, lí tưởng Người cùng ở trong một đoàn thể chính trị
hay một tổ chức cách mạng thường gọi nhau là “đồng chí” Từ sau Cách mạng tháng Tám
1945, “đồng chí” trở thành từ xưng hô quen thuộc trong các cơ quan, đoàn thể, đơn vị bộđội
Bài thơ được đặt tên “Đồng chí” nhằm nhấn mạnh sức mạnh và vẻ đẹp tinh thần củangười lính cách mạng – những người có cùng chung cảnh ngộ, lí tưởng chiến đấu, gắn bókeo sơn trong chiến đấu gian khổ thời chống Pháp Tình đồng chí vừa là tình chiến đấu,vừa là tình thân Cả hai đều là máu thịt, hữu cơ, nó là sinh mạng con người cầm súng Nócòn là lời nhắn gửi, lời kí thác của nhà thơ với người, với mình, nó là tiếng gọi sâu thẳm,thiêng liêng, nó là vật báu phải giữ gìn trân trọng
2, Hoán dụ kết hợp nhân hóa cho ta thấy nỗi nhớ 2 chiều: quê hương, hậu phương nhớngười lính và người lính cũng 1 lòng gắn bó yêu mến quê hương
3, Những khó khăn, thiếu thốn của người lính:
- Áo anh: rách vai
- Quần tôi: vài mảnh vá
- Chân: không giày
=> Bằng bút pháp tả thực + liệt kê, nhà thơ đã làm nổi bật lên những khó khăn, thiếu thốn
về quân trang, quân dụng của những người lính
4, Yêu cầu
Trang 21• Hình thức: từ 5-7 dòng, đảm bảo đủ 3 phần chính của đoạn văn.
• Nội dung
Đồng chí, đồng đội là cùng nhau chia sẻ khó khăn, thiếu thốn:
-“Anh với tôi”-“từng cơn ớn lạnh, sốt run người ”
-“miệng cười buốt giá”-“thương nhau tay nắm lấy bàn tay”
=> Sức mạnh của tình đồng đội, đồng chí giúp người lính hoàn thành nhiệm vụ, vượt quamọi khó khăn để hướng về tương lai tốt đẹp
5, Tình đồng chí cao đẹp đã mang lại sự đồng cảm, chia sẻ sâu sắc giữa những người đồngđội (1) Tuy xuất thân từ những làng quê cụ thể khác nhau nhưng những người chiến sĩ ấy
đã có cùng một cảnh ngộ (2) Họ đã phải từ giã ruộng nương, làng mạc để bước chân vàoquân ngũ (3) Họ để lại sau lưng những người thân với cuộc sống khó khăn, vất vả, vớinhững tình cảm nhớ thương tha thiết (4) Bước chân vào cuộc chiến đấu trong giai đoạnđầu gian khổ, những người lính không có cả những trang phục bình thường, quen thuộccủa một người bộ đội (5) Áo thì rách vai, quần thì có vài mảnh vá, chân thì không giày(6) Nhưng tinh thần của họ vẫn lạc quan : miệng cười buốt giá (7) Họ lại yêu thương,đoàn kết, gắn bó nhau trong hoàn cảnh thiếu thốn ấy : “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”(8) Tình đồng chí như một ngọn lửa nồng đã sưởi ấm tâm hồn, cuộc sống của nhữngngười vệ quốc quân Việt Nam (9) Chính tình đồng chí cao đẹp đó đã mang lại sức mạnh
và làm nên chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Pháp (10)
(1) : Tổng hợp → nêu nội dung chính của cả đoạn
Các câu từ câu (2) → câu (9) : Phân tích → nêu những biểu hiện của tình đồng chí:đồng cảm, sẻ chia
Câu (10) : Tổng hợp → tổng kết và nâng cao, khẳng định giá trị của tình đồng chí
BT5:
Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi phía dưới:
Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Trang 22Đầu súng trăng treo
Câu 1: Trong câu thơ “Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”, vì sao Chính Hữu lại dùng từ
“chờ” mà không dùng từ “đợi”?
Câu 2: Hình ảnh “đầu súng trăng treo” cho thấy cảm xúc gì được thể hiện trong bài thơ?
Qua đó em hiểu thêm gì về tâm hồn của những người lính trong kháng chiến chốngPháp?
Câu 3: Viết đoạn văn cảm nhận về vẻ đẹp của ba câu thơ cuối trong bài có sử dụng câu
+ Trong hoàn cảnh khó khăn nguy hiểm tình đồng đội thực sự thiêng liêng, cao đẹp
- Tâm thế chủ động, sẵn sàng “chờ giặc tới” thật hào hùng:
+ Những người lính sát cánh bên nhau vững chãi làm mờ đi khó khăn, nguy hiểmtrực chờ phía trước của cuộc kháng chiến gian khổ
→ Ca ngợi tình đồng chí, sức mạnh đồng đội giúp người lính vượt lên khắc nghiệt về thờitiết và nỗi nguy hiểm trên trận tuyến
Câu 2:
Hình ảnh “đầu súng trăng treo” là hình ảnh độc đáo, bất ngờ, cũng chính là điểm nhấn củatoàn bài thơ
+ Hình ảnh thực và lãng mạn
+ Súng là hình ảnh đại diện cho chiến tranh, khói lửa
+ Trăng là hình ảnh của thiên nhiên trong mát, thanh bình
Trang 23- Sự hòa hợp giữa trăng với súng tạo nên vẻ đẹp tâm hồn của người lính và đồng đội ,nói lên ý nghĩa cao cả của cuộc chiến tranh vệ quốc.
→ Câu thơ như nhãn tự của toàn bài thơ, vừa mang tính hiện thực, vừa mang sắc thái lãngmạn, là một biểu tượng cao đẹp của tình đồng chí
Câu 3:
- Yêu cầu về hình thức: một đoạn văn theo lối viết nào cũng được, có câu cảm thán
- Yêu cầu về nội dung: Đảm bảo nội dung sau:
+ Bức tranh đẹp về tình đồng chí
+ Biểu tượng đẹp về cuộc đời người chiến sĩ
Đoạn văn tham khảo:
Ba câu thơ trên được trích trong văn bản “ Đồng chí” của tác giả Chính Hữu đã rấtthành công trong việc miêu tả biểu tượng đẹp về cuộc đời người chiến sĩ, về tình đồng chí.Hai người lính luôn kề vai sát cánh bên nhau, sưởi ấm lòng nhau, xua đi cái rét ở chiếntranh Việt Bắc dù thời tiết có khắc nghiệt đến đâu họ luôn trong tư thế sẵn sàng chờ giặctới Trong đêm phục kích, vầng trăng trên đầu trở thành người làm chứng cho tình đồngchí trong các anh Trong lúc chờ giặc tới, trong không khí căng thẳng của giờ phút xuấtkích sắp đến họ vẫn tràn đầy một tâm hồn lãng mạn, họ đã nhận ra “ đầu súng trăng treo”.Câu thơ vừa có nghĩa tả thực, vừa giàu nghĩa tượng trưng: súng và trăng vốn là hai sự vậtrất xa nhau nhưng trong con mắt người chiến sĩ chúng lại rất gần nhau Súng và trăng làgần và xa, là thực và mộng, là chiến tranh và hòa bình là chiến sĩ và thi sĩ Hình ảnh thơkhép laị đã trở thành một biểu tượng đẹp của người chiến sĩ cách mạng với sự đan cài:cuộc sống chiến đấu của họ dù khó khăn, gian khổ nhưng trong họ tràn đầy sự lãng mạn.Hình tượng đó trở thành nền thơ ca cách mạng Việt Nam- cảm hứng hiện thực- lãng mạn
Ôi, yêu biết mấy những người lính cụ Hồ!
* TÌM HIÊU, PHÂN TÍCH VĂN BẢN ĐỒNG CHÍ (BÀI 2)
a) Cơ sở thứ nhất: Cùng chung hoàn cảnh xuất thân
-Những chiến sĩ xuất thân từ những người nông dân lao động Từ cuộcđời thật họ bước thẳng vào trong trang thơ và tỏa sáng một vẻ đẹp mới,
vẻ đẹp của tình đồng chí, đồng đội Ngay từ những câu thơ mở đầu,
nhà thơ lí giải cơ sở hình thành tình đồng chí thắm thiết, sâu nặng của
“anh” và “tôi”, của người lính và ngườilính:
Trang 24câu
thơ
đầu)
“Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày nên sỏi đá”
+ Thủ pháp đối được sử dụng chặt chẽ ở hai câu thơ đầu, gợi lên sự đăng đối,tương đồng trong cảnh ngộ của người lính Từ những miền quê khác nhau,
họ đã đến với nhau trong một tình cảm thật mới mẻ
+ Giọng thơ thủ thỉ, tâm tình như lời kể chuyện, tâm sự của hai người đồng đội nhớ lại kỉ niệm về những ngày đầu tiên gặp gỡ
+ Mượn thành ngữ “nước mặn đồng chua” để nói về những vùng đồng
chiêm, nước trũng, ngập mặn ven biển, khó làm ăn Cái đói, cái nghèo như manh nha từ trong những làn nước
+ HÌnh ảnh “đất cày lên sỏi đá” để gợi về những vùng trung du, miền núi, đất
đá bị ong hóa, bạc màu, khó canh tác Cái đói, cái nghèo như ăn sâu vào trong lòng đất
=>“Quê hương anh”- “làng tôi” tuy có khác nhau về địa giới, người miền xuôi, kẻ miền ngược thì cũng đều khó làm làm ăn, canh tác, đều chung cái nghèo, cái khổ Đó chính là dở sở đồng cảm giai cấp của
những người lính.
=>Anh bộ đội cụ Hồ là những người có nguồn gốc xuất thân từ nông dân Chính sự tương đồng về cảnh ngộ, sựu đồng cảm về giai cấp là sợi dây tình cảm đã nối họ lại với nhau, từ đây họ đã trở thành những người đồng chí, đồng đội với nha
b, Cở sở thứ hai: Cùng chung lí tưởng, nhiệm vụ và lòng yêu nước.
-Họ là những người nông dân áo vải, ra đi từ miền quê nghèo, lam lũ của mọi miền Tổ quốc và gặp gỡ nhau ở tình yêu đất nước lớn lao
“Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau
Súng bên súng, đầu sát bên đầu”
- Những con người chưa từng quen biết, đến từ những phương trời xa lạ đã gặp nhau ở một điểm chung: cùng chung nhịp đập trái tim, cùng chung một lòng yêu nước và cùng chung lí tưởng cách mạng Những cái chung đó đã thôi thúc họ lên đường nhập ngũ
Trang 25
ết, trầm lắng thể hiện sự gắn bó của họ trong nhiệm vụ và lí tưởng chiến đấu+ “Súng bên súng” là cách nói giàu hình tượng để diễn tả về những người lính cùng chung lí tưởng, nhiệm vụ chiến đấu Họ ra đi để chiến đấu và giải phóng cho quê hương, dân tộc, đất nước; đồng thời giải phóng cho chính số phận của họ
+ “Đầu sát bên đầu” là cách nói hoán dụ, tượng trưng cho ý chí, quyết tâm chiến đấu của những người lính trong cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc
+ Điệp từ “Súng, bên, đầu” khiến cho câu thơ trở nên chắc khỏe, nhấn mạnh
sự gắn kết, cùng chung lí tưởng, nhiệm vụ của những người lính
- Nếu như ở cơ sở thứ nhất “anh-tôi” đứng trên từng dòng thơ như một kiểu xưng danh khi gặp gỡ, vẫn còn xa lạ, thì ở cơ sở thứ hai “anh” với “tôi” trongcùng một dòng thơ, thật gần gũi.Từ những người xa lạ họ đã hoàn toàn trở nên gắn kết
=> Chính lí tưởng và mục đích chiến đấu là điểm chung lớn nhất, là cơ
sở để họ gắn kết với nhau, trở thành đồng chí, đồng đội của nhau.
c, Cơ sở thứ ba: Cùng trải qua những khó khăn, thiếu thốn
- Bằng một hình ảnh thật cụ thể, giản dị mà giàu sức gợi, tác giả đã miêu tả
rõ nét tình cảm của những người lính:
“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”
+ “Đêm rét chung chăn” có nghĩa là chung cái khắc nghiệt, gian khổ của cuộc đời người lính; là chung hơi ấm để vượt qua giá lạnh nơi núi rừng Đó
là một hình ảnh đẹp, chân thực và đầy ắp những kỉ niệm
+ Đắp chung chăn đã trở thành biểu tượng của tình đồng chí Nó đã khiến những con người “xa lạ” sát lại gần bên nhau, truyền cho nhau hơi ấm và trở thành “tri kỉ”
+ Cả bài thơ chỉ có duy nhất một chữ “chung” nhưng đã bao hàm được ý nghĩa sâu sắc và khái quát của toàn bài: chung cảnh ngộ, chung giai cấp, chung chí hướng, chung khát vọng giải phóng dân tộc
- Tác giả đã rất khéo léo trong việc lựa chon từ ngữ, khi sử dụng từ “đôi” ở
Trang 26câu thơ trên:
+ Chính Hữu không sử dụng từ “hai” mà sử dụng từ “đôi” vì “đôi” cũng có nghĩa là hai, nhưng đôi còn thể hiện sự gắn kết không thể tách rời
+ Từ “đôi người xa lạ” họ đã trở thành “đôi tri kỉ”, thành đôi bạn tâm tình thân thiết, hiểu bạn như hiểu mình
- Khép lại đoạn thơ, là một câu thơ có một vị trí rất đặc biệt, được cấu tạo bởi hai từ: “Đồng chí!”
+ Nó vang lên như một phát hiện, một lời khẳng định, một lời định nghĩa chotình đồng chí
+ Thể hiện cảm xúc dồn nén, được thốt ra như một cao trào của cảm xúc, trở thành tiếng gọi thiết tha của tình đồng chí, đồng đội
+ Gợi sự thiêng liêng, sâu lắng cảu tình đồng chí
+ Dòng thơ đặc biệt ấy còn như một bản lề gắn kết Nó nâng cao ý thơ đoạn trước và mở ra ý thơ đoạn sau Và dấu chấm cảm đi kèm hai tiếng ấy bỗng như chất chứa bao trìu mến, yêu thương
=> Đoạn thơ đã đi sâu khám phá, lí giải cơ sở của tình đồng chí Đồng thời, tác giả đã cho thấy sự biến đổi kì diệu từ những người nông dân hoàn toàn xa lạ trở thành những người đồng chí, đồng đội sống chết có nhau.
a, Biểu hiện thứ nhất: Họ thấu hiểu những tâm tư, nỗi lòng của nhau:
“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”
*Trước hết, họ thấu hiểu cảnh ngộ, mối bận lòng của nhau về chốn quê nhà:
- Đó là một hoàn cảnh còn nhiều khó khăn: Neo người, thiếu sức lao động Các anh ra đi đnáh giặc để lại nơi hậu phương bộn bề công việc đồng áng, phải nhờ người thân giúp đỡ
- Cuộc sống gia đình các anh vốn đã nghèo khó, nay càng thêm thiếu thốn:
Trang 27tiếp) + Hình ảnh “gian nhà không”, diễn tả được cái nghèo về mặt vật chất trong
gia đình các anh
+ Đồng thời, diễn ra sự thiếu vắng các anh – người trụ cột trong gia đình
*Tiếp theo, họ thấu hiểu lí tưởng và ý chí lên đường để giải phóng cho quê hương, dân tộc
- “Ruộng nương”, “căn nhà” là những tài sản quý giá, gần gũi, gắn bó, vậy
mà họ lại bỏ lại nơi hậu phương, hi sinh hạnh phúc riêng tư vì lợi ích chung,
vì độc lập tự do của toàn dân tộc
-Tác giả đã sử dụng những từ ngữ rất giản dị, mộc mạc nhưng giàu sức gợi:+ Từ “mặc kệ” chỉ thái độ dứt khoát, quyết tâm của người lính Mặc kệ những gì quý giá nhất, thân thiết nhất để ra đi vì nghĩa lớn
+ Đồng thời, thể hiện thái độ sẵn sang hi sinh một cách thầm lặng của các anh vì đất nước
* Họ thấu hiểu nỗi nhớ quê nhà luôn đau đáu, thường trực trong tâm hồn người lính
- Họ ra đi để lại một trời thương nhớ Nhớ nhà, nhớ quê và trên hết là nỗi nhớ người thân Những người lính đã dùng lí trí để chế ngự tình cảm, nhưng càng chế ngự thì nỗi nhớ nhung càng trở nên da diết
- Hình ảnh “giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” vừa được sử dụng như một hình ảnh ẩn dụ, vừa được sử dụng như một phép nhân hóa diễn tả một cách tự nhiên và tinh tế tâm hồn người lính
- “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” hay chính là tấm lòng của người ra lính luôn canh cánh nỗi nhớ quê hương và do đó họ như đã tạo cho “giếng nước gốc đa” một tâm hồn
=> Hình tượng người lính thời kì đầu của kháng chiến chống Pháp đã hiện lên tràn đầy khí thế và ý chí kiên cường, quyết ra đi bảo vệ độc lập,
tự do của Tổ quốc
b, Biểu hiện thứ hai: Đồng cam, cộng khổ trong cuộc đời quân ngũ
Chính Hữu là người từng trực tiếp tham gia chiến dịch Việt Bắc thu đông năm 1947 Hơn ai khác, ông thấu hiểu những thiếu thốn và gian khổ của cuộc đời người lính Bảy dòng thơ tiếp, ông đã dành để nói về những gian khổ của các anh bộ đội trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp:
Trang 28“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày”
- Bằng bút pháp miêu tả hết sức chân thực, hình ảnh thơ chọn lọc, nhà thơ đã vẽ lên bức tranh hiện thực sống động về người lính với sự đồng cảm sâu sắc Trước hết, là những cơn sốt rét rừng:
+ Tác giả sử dụng bút pháp tả thực để tái hiện sự khắc nghiệt của từng cơn sốt rét rừng đang tàn phá cơ thể những người lính
+ Trong những cơn sốt rét ấy, sự lo lắng, quan tâm giữa những người lính đã trở thành điểm tựa vững trắc để họ vượt qua những gian khổ, khó khăn
- Cuộc đời quân ngũ đầy thiếu thốn, gian khổ:
+ Sử dụng thủ pháp liệt kê để miêu tả một cách chính xác những thiếu thốn của người lính: “áo rách vai, quần vài mảnh vá, chân không giày” Đó là những chi tiết rất thật, được chắt lọc từ thực tế cuộc sống người lính
+ Những khó khăn gian khổ như được tô đậm khi tác giả đặt sự thiếu thốn bên cạnh sự khắc nghiệt của núi rừng: Sự buốt giá của những đêm rừng hoang sương muối
-> Đây là hình ảnh chân thực về những anh bộ đội thời kì đầu kháng chiến Đầy những gian nan, thiếu thốn nhưng các anh vẫn xé rừng mà
đi, đạp núi mà tiến.
- Song họ vẫn giữ được tinh thần lạc quan cách mạng: Hình ảnh “miệng cườibuốt giá” cho thấy thái độ lạc quan, coi thường thử thách để vượt lên khó khăn và hoàn thành nhiệm vụ
- Tác giả đã tạo dựng những hình ảnh sóng đôi, đối xứng nhau để diễn tả sự gắn kết, đồng cảm giữa những người lính
=> Cái hay của câu thơ là nói về cảnh ngộ của người này nhưng lại thấy được sâu sắc tấm lòng yêu thương của người kia Tình thương đó lặng lẽ
mà thấm sâu vô hạn.
Trang 29c, Biểu hiện thứ ba: Luôn sẵn sang chia sẻ, yêu thương, gắn bó.
Tất cả những cảm xúc thiêng liêng được dồn nén trong hìn ảnh thơ rất thực, rất cảm động, chứa đựng biết bao ý nghĩa:
“Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”
- Những cái bắt tay chắt chứa bao yêu thương trìu mến Rõ ràng, tác giả đã lấy sự thiếu thốn đến vô cùng về vật chất để tô đậm sự giàu sang vô cùng về tinh thần
- Những cái bắt là lời động viên chân thành, để những người lính cùng nhau vượt qua những khó khăn, thiếu thốn
- Những cái bắt tay của sự cảm thông, mang hơi ấm để truyền cho nhau thêmsức mạnh
- Đó còn là lời hứa lập công, của ý chí quyết tâm chiến đấu và chiến thắng quân thù
=> Có lẽ không ngôn từ nào có thể diễn tả cho hết tình đồng chí thiêng liêng ấy Chính những tình cảm, tình đoàn kết gắn bó đã nâng đỡ bước chân người lính và sưởi ấm tâm hồn họ trên mọi nẻo đường chiến đấu.
* Được xây dựng trên nền thời gian và không gian vô cùng đặc biệt:
“Đêm nay rừng hoang sương muối”
- Thời gian: Một đêm phục kích giặc
- Không gian: Căng thẳng, trong một khu rừng hoang vắng lặng và phủ đầy sương muối
* Trên nền hiện thực khắc nghiệt ấy, những người lính xuất hiện trong tâm thế
“Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”
- Hình ảnh “đứng cạnh bên nhau” cho thấy tinh thần đoàn kết, luôn sát cánh bên nhau trong mọi hoàn cảnh
- Hình ảnh “chờ giặc tới” cho thấy tư thế chủ động, hiên ngang, sẵn sang chiến đấu của người lính
* Kết thúc bài thơ là một hình ảnh rất độc đáo, là điểm sáng của một bức tranh về tình đồng chí, rất thực và cũng rất lãng mạn:
- Chất hiện thực: Gợi những đêm hành quân, phục kích chờ giặc,.nhìn rừ xa,
Trang 30vầng trăng như hạ thấp ngang trời Trong tầm ngắm, người lính đã phát hiện
ra một điều hú vị và bất ngờ: trăng lơ lửng như treo đầu mũi súng
- Chất lãng mạn: Giữa không gian căng thẳng, khắc nghiệt đang sẵn sàng giết giặc mà lại “treo” một vầng trăng lung linh Chữ “treo” ở đâyrất thơ mộng, nối liền mặt đất với bầu trời
- Hình ảnh “đầu súng trăng treo” rất giàu ý nghĩa:
+ Súng là biểu tượng cho cuộc chiến đấu, trăng là biểu tượng cho non nước thanh bình, súng và trăng cùng đặt trên một bình diện đã gợi cho người đọc bao liên tưởng phong phú: chiến tranh và hòa bình; hiện thực và ảo mộng; khắc nghiệt và lãng mạn; chất chiến sĩ – vẻ đẹp tâm hồn thi sĩ …
+ Gợi lên vẻ đẹp của tình đồng chí, giúp tâm hồn người chiến sĩ bay lên giữalúc cam go khốc liệt
+ Gợi vẻ đẹp của tâm hồn người lính: Trong chiến tranh ác liệt, họ vẫn rất yêu đời và luôn hướng về một tương lai tươi sáng
=> Hình ảnh này xứng đáng trở thanh biểu tượng của thơ ca kháng chiến: một nền thơ có sự kết hợp giữa chất liệu hiện thực và cảm hứng lãng mạn
IV.LUYỆN TẬP NÂNG CAO DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
VỀ BÀI THƠ “ĐỒNG CHÍ”…
BÀI THAM KHẢO1
( Theo thầy Nguyễn Công Đức – GV trường THCS Quảng An – Hà Nội )
Nói đến thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp không thể không nói đến Đồng chí(1948) của Chính Hữu Bài thơ mang vẻ đẹp của tình đồng đội, đồng chí giản dị, mộcmạc mà sâu sắc của những người lính cách mạng trong những tháng ngày kháng chiếngian lao
Nhà thơ Chính Hữu đã từng nói về tác phẩm của mình:
" Trong bài thơ Đồng chí, tôi muốn nhấn mạnh đến tình đồng đội.Suốt cả cuộc chiếnđấu, chỉ có một chỗ dựa dường như là duy nhất để tồn tại, để chiến đấu là tình đồng chí,tình đồng đội.Đồng chí ở đây là tình đồng đội.Không có đồng đội, tôi không thể nàohoàn thành được trách nhiệm, không có đồng đội, có thể nói, tôi cũng chết lâu rồi.BàiĐồng chí là lời tâm sự viết ra để tặng đồng đội, tặng người bạn nông dân của mình."Thật vậy, không gian trữ tình trong Đồng chí giá buốt mà không lạnh lẽo Hơi ấm toả ratừtìnhngười,từtìnhtrikỉ,kềvaisátcánhbênnhaucủanhữngcon ngườichunglítưởng, chungchí hướng Đứng trong hàng ngũcách mạng, chiến đấu cho độc lập, tự do của Tổ quốc,người lính vượt lên trên mọi gian khó bằng sự sẻ chia, đồng tâm hiệp lực Họ sống
Trang 31Những người đồng đội ấy thường là những người "nông dân mặc áo lính" Điểmgiống nhau về cảnh ngộ xuất thân giúp họ có thể dễ dàng gần gũi, đồng cảm vớinhau:
Quê hương anh nước mặn, đồng chua Làng
tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau,
"Anh và tôi" từ những vùng quê khác nhau, chỉ giống nhau cái nghèo khó của đất đai,đồng ruộng Anh từ miền quê ven biển: "nước mặn đồng chua" Tôi từ vùng đất cao "càylên sỏi đá" Hai người xa lạ, từ hai phương trời xa lạ trở thành tri kỉ:
Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm
rét chung chăn thành đôi tri kỉ
Những người "nông dân mặc áo lính" ấy gặp nhau trong cuộc chiến đấu vì chính cuộcsống của họ, cùng đứng trong hàng ngũ những "người lính cụ Hồ" Sự nghiệp chungcủa dân tộc đã xoá bỏ mọi khoảng cách xa lạ về không gian nơi sinh sống của mỗingười ""Súng bên súng" là chung chiến đấu, "đầu sát bên đầu" thì chung rất nhiều:không chỉ là gần nhau về không gian mà còn chung nhau ý nghĩ, lí tưởng" (Trần Đình
Sử - Đọc văn học văn, Sđd) Đến khi đắp chung chăn trong đêm giá rét thì họ đã thực
sự là anh em một nhà Nhà thơ Tố Hữu cũng từng viết: "Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắpcùng" để thể hiện tình kháng chiến gắn bó, bền chặt Để nói về sự gần gũi, sẻ chia, vềcái thân tình ấm áp không gì hơn là hình ảnh đắp chăn chung Như thế, tình đồng chí đãbắt nguồn từ cơ sở một tình tri kỉ sâu sắc, từ những cái chung giữa "anh" và "tôi"
Câu thơ thứ bảy chỉ gồm hai tiếng: "Đồng chí" Nếu không kể nhan đề thì đây là lầnduy nhất hai tiếng "đồng chí" xuất hiện trong bài thơ, làm thành riêng một câu thơ.Câunày có ý nghĩa quan trọng trong bố cục của toàn bài.Nó đánh dấu một mốc mới trongmạch cảm xúc và bao hàm những ý nghĩa sâu xa.Sáu câu thơ đầu là tình đồng đội tri kỉ,đến đây được nâng lên thành tình đồng chí thiêng liêng Đồng chí nghĩa là không chỉ có
sự gắn bó thân tình mà còn là cùng chung chí hướng cao cả Những người đồng chí chiến sĩ hoà mình trong mối giao cảm lớn lao của cả dân tộc Gọi nhau là đồng chí thìnghĩa là đồng thời với tư cách họ là những con người cụ thể, là những cá thể, họ còn có
-tư cách quân nhân, -tư cách của "một cây" trong sự giao kết của "rừng cây", nghĩa làtừng người không chỉ là riêng mình Hai tiếng đồng chí vừa giản dị, thân mật lại vừacao quý, lớn lao là vì thế
o phần tiếp theo của bài thơ, với những chi tiết, hình ảnh cụ thể tác giả đã thể hiện tìnhcảm sâu sắc của những người đồng chí Trước hết, họ cùng chung một nỗi nhớ quêhương:
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian
nhà không, mặc kệ gió lung lay Giếng nước
gốc đa nhớ người ra lính.
Trang 32Trong nỗi nhớ quê hương ấy có nỗi nhớ ruộng nương, nhớ ngôi nhà, nhớ giếng nước,gốc đa Nhưng ruộng nương cũng như nhớ tay ai cày xới, ngôi nhà nhớ người trong lúcgió lung lay, và giếng nước, gốc đa cũng đang thầm nhớ người ra đi Nỗi nhớ ở đây lànỗi
nhớ hai chiều Nói "giếng nước, gốc đa nhớ người ra lính" cũng là thổ lộ nỗi nhớ cồncào về giếng nước, gốc đa.Tình quê hương luôn thường trực, đậm sâu trong nhữngngười đồng chí, cũng là sự đồng cảm của những người đồng đội Người lính hiện racứng cỏi, dứt khoát lên đường theo tiếng gọi non sông song tình quê hương trong mỗingười không khi nào phai nhạt Và bên cạnh hình bóng quê hương, điểm tựa vững chắccho người lính, là đồng đội:
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt
run người vừng trán ướt mồ hôi áo anh
rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá Chân
không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
Kể sao xiết những gian khổ mà người lính phải trải qua trong chiến đấu Nói về cáigian khổ của người lính trong kháng chiến chống Pháp, ta nhớ đến cái rét xé thịt da
trong bài Lên Cấm Sơn của Thôi Hữu:
Cuộc đời gió bụi pha sương máu Đợt
rét bao lần xé thịt da Khuôn mặt đã
lên màu tậtbệnh
Đâu còn tươi nữa những ngày hoa!
Lòng tôi xao xuyến tình thươngxót
Muốn viết bài thơ thấm lệnhòa
Nhớ đến cái ác nghiệt của bệnh sốt rét trong Tây Tiến của Quang Dũng:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm.
Ta cũng có thể thấy cái buốt giá của núi rừng Việt Bắc, cái ớn lạnh toát mồ hôi củabệnh sốt rét trong những câu thơ của Chính Hữu Nhưng nếu như Thôi Hữu viết về cáirét xé thịt da để khắc hoạ những con người chấp nhận hi sinh, "Đem thân xơ xác giữsơn hà", QuangDũngnóiđếnsốtrétđểtô đậmvẻđẹp bitrángcủanhữngngườichiếnsĩthìChínhHữu nói về cái rét, cái ác nghiệt của sốt rét là để nói về tình đồng đội, đồng chítronggian khổ, là sự thấu hiểu, cảm thông giữa những người lính Trong bất cứ sự giankhổ nào cũng thấy họ sát cánh bên nhau, san sẻ cho nhau: "Anh với tôi biết ", "áoanh - Quần tôi ", "taynắm lấy bàn tay" Cái "Miệng cười buốt giá" kialà cái cườitrong gian khổ để vượt lên gian khổ, cười trong buốt giá để lòng ấm lên, cũng là cáicười đầy cảm thông giữa những người đồng đội Giá buốt mà không lạnh lẽo cũng là
Trang 33Bài thơ kết bằng hình tượng những người đồng chí trong thời điểm thực tại, khi họđang làm nhiệm vụ chiến đấu:
Đêm nay rừng hoang sươngmuối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăngtreo.
Có thể xem đây là một trong những hình ảnh thơ đẹp nhất về người lính trong thơ cakháng chiến.Ba câu thơ phác ra một bức tranh vừa mang chất chân thực của bút pháphiện thực, vừa thấm đẫm cái bay bổng của bút pháp lãng mạn.Trên sắc xám lạnh củanền cảnh đêm rừng hoang sương muối, hiện lên hình ảnh người lính - khẩu súng - vầngtrăng Dướicáinhìncủangườitrongcuộc,ngườitrựctiếp đangcầmsúng,trongmộtsựkếthợpbất ngờ, đầu súng và vầng trăng như không còn khoảng cách xa về không gian, đểthành: "Đầu súng trăng treo." Sự quan sát là hiện thực, còn sự liên tưởng trong miêu tả
là lãng mạn Hình ảnh súng tượng trưng cho hành động chiến đấu, tinh thần quyết chiến
vì đất nước Trăng tượng trưng cho cái đẹp yên bình, thơ mộng.Hình ảnh "đầu súngtrăng treo" mang ý nghĩa khái quát về tư thế chủ động, tự tin trong chiến đấu, tâm hồnphong phú của người lính.Nói rộng ra, hai hình ảnh tương phản sóng đôi với nhau tạonên biểu tượng về tinh thần, ý chí sắt đá mà bay bổng, trữ tình của dântộc Việt Nam.Những người lính là đồng đội, đồng chí, cả dân tộc là đồng chí Người nghệ sĩ cũng trởthành đồng chí, nên Hồng Nguyên và Chính Hữu đồng cảm với nhau trước nhữngngười áo vải:
Lũ chúng tôi Bọn người tứ xứ
Gặp nhau hồi chưa biết chữ
Quen nhau từ buổi "một hai" Súng bắn chưaquen,
Quân sự mươibài,
Lòng vẫn cười vui kháng chiến Lột
sắt đườngtàu,
Rèn thêm dao kiếm, áo vải
chân không, Đi lùng
giặcđánh.
Chung nhau cảnh ngộ, chung nhau lí tưởng, chung nhau cái rét, cái khổ, nhữngngười lính - những người đồng chí sống, chiến đấu vì sự nghiệp chung của dân tộc.Bài thơ “Đồng chí” đã thể hiện rất rõ vẻ đẹp của những con người sống và chiến đấucho hạnh phúc, tự do
BÀI THAM KHẢO 2 PHÂN TÍCH BÀI THƠ "ĐỒNG CHÍ"
Trang 34“Rất đẹp hình anh lúc nắng chiềuBóng dài trên đỉnh dốc cheo leoNúi không đè nổi vai vươn tới
Lá ngụy trang reo với gió đèo”
Thật đẹp làm sao hình ảnh người chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam trong thơ Tố Hữu!Chẳng biết tự bao giờ, hình ảnh người lính trên đường ra trận trong những năm đầu củacuộc kháng chiến chống Pháp đã để lại trong lòng bạn đọc một dấu ấn khó phai mờ Cũngviết về người lính kháng chiến thời chống Pháp nhưng bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữulại thể hiện vẻ đẹp ở khía cạnh khác Đó là mối tình đồng chí đồng đội được hình thành vàphát triển trong điều kiện chiến đấu vô cùng thiếu thốn gian khổ để tạo nên phẩm chất dẹp
đẽ, một trong những nguòn sức mạnh của quân đội ta
Thật vậy, bài thơ “Đồng chí” không phải là bài thơ hay nhất nhưng nó lại là bài thơ đượcnhiều người biết đến nhất, thậm chí nhắc đến Chính Hữu người ta nghĩ ngay đến “Đồngchí” Bài thơ đã được phổ nhạc nhưng dù là thơ hay nhạc mãi mãi tình đồng chí keo sơn
gắn bó vẫn sống mãi trong lòng mọi người
Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu được sáng tác theo thể thơ tự do, chỉ có 20 dòng nhưng
đã tập trung thể hiện vẻ đẹp và sức mạnh của tình đồng chí, đồng đội thật sâu sắc Mở đầu
bài thơ tác giả viết :
“Quê hương anh nước mặn đồng chuaLàng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”
Thành ngữ “Nước mặn đồng chua” và hình ảnh gợi tả “Đất cày lên sỏi đá” đã mang đếnsức khái quát cao Tác giả giới thiệu với chúng ta hoàn cảnh xuất thân của những ngườichiến sĩ trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp Họ là những người sinh
ra và lớn lên từ những làng quê nghèo đói “ nước mặn đồng chua ”, “đất cày lên sỏi đá ”
Họ thật sự là những người nông dân “Mới hôm qua còn tì tay lên cán cuốc ”, đang chốngchọi lại với thời tiết khắc nghiệt của vùng quê chua phèn sỏi đá để khoát lên mình màu áo
xanh chiến sĩ bảo vệ quê hương đất nước thân yêu
Mỗi người một vùng quê, những người tứ xứ này trước ngày vào bộ đội họ chưa hề quen
biết nhau
“Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”
Trang 35Những người từ mọi phương trời tập hợp lại trong hàng ngủ quân đội cách mạng và chínhnhờ cơ sở của sự đồng cảm giai cấp, cùng chung cảnh ngộ cho nên họ đã dễ dàng thânquen với nhau Nhà thơ Hồng Nguyên trong bài thơ “ Nhớ ” của mình cũng thể hiện tình
cảm này
“Lũ chúng tôi bọn người tứ xứGặp nhau hòi chưa biết chữQuen nhau từ buổi một haiSúng bắn chưa quen quân sự mươi bàiLòng vẫn cười vui kháng chiến ”
Những người xa lạ gặp nhau thân quen nhau tạo nên tình đồng chí trước hết phải nói tìnhđồng chí được nảy sinh từ sự cùng chung nhiệm vụ sát cánh bên nhau trong chiến đấu
“Súng bên súng đầu sát bên đầuĐêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”
Súng bên súng là cách nói hàm súc, hình tượng Cùng chung lí tưởng chiến đấu Anh cùngtôi cùng ra trận đánh giặc để bảo vệ đất nước quê hương, vì độc lập tự do và sống còn củadân tộc “Đầu sát bên đầu ” là hình ảnh diễn tả ý hợp tâm đầu của đôi bạn tâm giao Có thểnói hai hình ảnh thơ đã cụ thể hóa sự hòa nhập của những người chiến sĩ cùng chung lítưởng chiến đấu bảo vệ tổ quốc Súng và đầu, ý chí và tình cảm là sự gắn bó keo sơn thắmthiết của những con người cùng chung lí tưởng Câu thơ “ Đêm rét chung chăn thành đôitri kỉ ” là câu thơ hay và cảm động đầy ắp kỉ niệm của một thời gian khổ Đã là đôi tri kỉphải hiểu nhau thông cảm cho nhau, chia sẻ ngọt bùi cho nhau Phải là người bạn chí cốtbên nhau Để có được mối tình tri kỉ này hẳn nhiên họ phải cùng chung hoàn cảnh xuấtthân, cùng chung lí tưởng chiến đấu Câu thơ được biểu hiện bằng một hình ảnh cụ thể,
giản dị mà hết sức gợi cảm
“Đồng chí!” Câu thơ chỉ gồm hai tiếng như ghép lại tình ý sáu câu thơ đầu của bài thời,đồng thời tạo ra một tiếng vang ngân như một nốt nhấn nổi bật trong bản đàn, là sự kết tinhmọi cảm xúc, mọi tình cảm Tình đồng chí là cao độ của tình bạn tình người Câu thơ thứbảy trở thành bản lề gắn kết giữa hai dòng cảm xúc: một bên là cơ sở hình thành tình đồngchí và một bên là những biểu hiện thiêng liêng của tình cảm đẹp ấy Biểu hiện đầu tiên của
tình đồng đội thắm thiết chính là ở học có sự thấu hiểu nhau sâu sắc:
“Ruông nương anh gởi bạn thân càyGian nhà không mặt kệ gió lung lay
Trang 36Giếng nước gốc đa nhớ người trai làng ra lính”
Ba câu thơ đưa ta trở lại hoàn cảnh riêng, từng cảnh ngộ riêng của những người lính vốn lànông dân đó Gơi bạn thân cày mảnh ruộng của mình Nhớ tới gian nhà trống không “ giólung lay ” Sẵn sàng gởi lại những gì quí giá thân thiết của cuộc sống người nông dân nơilàng quê để ra đi vì nghĩa lớn Hai chữ “mặc kệ ” đã nói được một cách dứt khoát mạnh mẽcủa những người lính ra trận Họ dứt khoát nhưng không vô tình, trong lòng họ vẫn nặng
tình với quê hương thân yêu Nhà thơ Nguyễn Đình Thi có viết :
“Người ra đi đầu không ngoảnh lạiSau lưng thềm nắng lá rơi đầy”
“Giếng nước gốc đa ” hình ảnh quê hương thân thiết được tác giả diễn tả một cách kín đáogián tiếp qua mô típ quen thuộc về làng quê của ca dao “ Cây đa giếng nước sân đình ”.Nghệ thuật hoán dụ và nhân hóa đã bộc lộ nỗi niềm nhớ nhung của kẻ hậu phương đốingười ra trận Bút pháp nhân hóa nỗi nhớ cũng gây thêm ấn tượng mạnh mẽ
Mối tình đồng chí keo sơn gắn bó với nhau, không chỉ cảm thông những tâm tư nỗi lòngcủa nhau mà đó còn là sự cùng nhau chia sẻ những gian lao thiếu thốn cuộc đời người lính
“Áo anh rách vaiQuần tôi có vài mảnh váMiệng cười buốt giáChân không giày”
Bằng những hình ảnh thơ chân thực và xúc động, gợi tả, gợi hình Tác giả đã làm sống dậycuộc sống gian khổ thiếu thốn trong cuộc chiến đấu của người lính thời chống Pháp Đó lànhững gian khổ tột cùng của người lính, những cơn sốt run người vừng trán ứơt mồ hôi,những trang phục phong phanh giữa mùa đông giá rét Những gian lao thiếu thốn ấy cànglàm nổi bật sự cao đẹp của anh bộ đội cụ Hồ Trong gian khổ vẫn nổi bật lên nụ cười củangười lính “Miệng cười buốt giá ” thật đáng yêu làm sao Hình ảnh người lính thật đáng
trân trọng mỗi khi ta đọc những câu thơ nói về cuộc sống kham khổ của họ
“Áo vải chân không
Đi lùng giặc đánh”
Chúng ta mới cảm thấy khâm phục và tự hào biết bao
Vậy sức mạnh nào để giúp cho người lính vượt qua được mọi gian khổ thiếu thốn ấy ? Có
phải chăng đó là tình đồng chí dồng đội “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay ”
Trang 37Thật giản dị và xúc động của sự biểu hiện tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng ở hữngngười lính Đó là nguồn sức mạnh cho họ chiến thắng Tình đồng chí còn được thử thách
cao nhất là trong chiến đấu, trong sự sống chết nơi chiến hào
Bài thơ kết lại bằng ba câu thơ mang ý nghĩa hình tượng lớn, là biểu tượng đẹp nhất của
tình đồng chí:
“Đêm nay rừng hoang sương muốiĐứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo”
Có thể nói đoạn cuối của bài thơ là một bức tranh đẹp của tình đồng chí, là một biểu tượngđẹp về cuộc đời người chiến sĩ Trong cảnh “Rừng hoang sương muối ” những người chiến
sĩ phục kích chờ giặc đứng bên nhau, Sức mạnh của tình đồng đội đã giúp họ vượt lên tất
cả những khắc nghiệt của thời tiết và mọi gian khổ thiếu thốn Tình đồng chí đã sưởi ấmlòng họ giữa cảnh rừng hoang giá rét Trong cái đêm phục kích ấy có vầng trăng như treotrên đầu súng Một hình ảnh thơ rất đặc sắc chỉ có bốn tiếng thôi nhưng dã gây cho ngườiđọc một bất ngờ thú vị Hình ảnh ấy mang ý nghĩa biểu tượng Súng và trăng là gần và xa,thực tại và mơ mộng, chất chiến đấu và chất trữ tình, chiến sĩ và thi sĩ Súng còn là biểutượng của cuộc chiến đấu vì độc lập tự do Trăng là biểu tượng của non nước thanh bìnhcùng đặt trên một bình diện “đầu súng trăng treo ” Ý thơ đã đem đến cho chúng ta một
liên tưởng về tâm hồn người lính rất đẹp
Trong ác liệt chiến tranh vẫn yêu đời và luôn luôn hướng về một ngày mai hòa bình yênvui Có thể nói đó là các mặt bổ sung cho nhau, hài hòa với nhau của cuộc đời người línhcách mạng Câu thơ mang một ý nghĩa cao đẹp trong cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc của
anh bộ đội cụ Hồ
Bài thơ Đồng chí của Chính Hữu rất hàm súc, mộc mạc, chân thực và có sức gợi tả kháiquát cao, đã khắc họa được một trong những phẩm chất đẹp của anh bộ đội cụ Hồ Đớ làmối tình đồng chí đồng đội gắn bó keo sơn, gian khổ có nhau, sóg chết có nhau Bài thơ cóthực có hư tạo nên vẻ đẹp hài hòa, gây cho người đọc những suy tư sâu sắc, những xúcđộng sâu lắng Có thể nói bài thơ Đồng chí là một tượng đài chiến sĩ tráng lệ, mộc mạc,
bình dị cao cả và thiêng liêng
Khi làm bài thơ Đồng chí, Chính Hữu từng bộc bạch: "Tôi làm bài thơ Đồng Chí, đó là lời tâm sự viết ra để tặng đồng đội" Bài thơ là kết quả của những kỉ trải nghiệm thực tế và cảm xúc sâu sắc mạnh mẽ, thiết tha của nhà thơ với đồng chí, đồng đội của mình trong
Trang 38cuộc kháng chiến đầy gian khổ.
Có những tình cảm thật đẹp trong kháng chiến, nó không chỉ là tình thân gia đình, tình yêu
mà còn là tình đồng chí Đó là tình cảm của những người có xuất thân giống nhau, ngày đêm cùng nhau chiến đấu:
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Hai câu đầu với cấu trúc sóng đôi cùng cách xưng hô “anh - tôi” thân mật gần gũi đã thể hiện sự tương đồng về hoàn cảnh của những người lính Có lẽ cả hai nhân vật “anh” và
“tôi” đều là những người nông dân quen cầm cuốc ra đồng vất vả khó nhọc và quê hương các anh đều là những vùng quê nghèo khó Người ở vùng chiêm trũng, “nước mặn đồng chua”, người thì ở nơi khô cằn toàn “sỏi đá” khó có thể trồng trọt Những khi họ theo tiếnggọi của tổ quốc, khoác súng lên vai, họ thành người lính dũng cảm, kiên cường, họ từ những người không quen mặt biết tên mà trở thành “đồng chí”:
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau
Sự gặp gỡ tình cờ như một mối duyên hình thành bởi lí tưởng cao đẹp, mục đích bảo vệ tổ quốc của hai người lính Họ cùng chung hoàn cảnh, lí tưởng và cả nhiệm vụ chiến đấu:
“Súng bên súng đầu sát bên đầu” Hai hình ảnh “súng” và “đầu” là hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng cao đẹp “Súng” tượng trưng cho nhiệm vụ chiến đấu, “đầu” tượng trưng cho
lí tưởng Trong câu thơ ấy, hình ảnh sóng đôi được lặp lại hai lần nhằm nhấn mạnh thứ tìnhcảm thiêng liêng gắn bó trong chiến đấu gian khổ của những người đồng chí Từ việc thể hiện tình cảm giữa những người lính trong nhiệm vụ quan trọng, tác giả đã thể hiện thứ tình cảm gắn bó thân thiết qua cuộc sống sinh hoạt, nhỏ nhặt: “đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ" Đây là một hình ảnh thật trong cuộc sống gian lao của những người lính, họ phải chịu đói, chịu rét Nhất là những cơn sốt rét ở núi rừng Việt Bắc, họ là người biết rõ nhất Nhưng trong những khó khăn ấy tình đồng chí nảy nở sinh sôi và gắn kết với nhau một cách bền chặt từ những người “xa lạ” trở thành “tri kỉ” Những câu thơ hết sức giản dị chân thành được đúc kết từ trải nghiệm thời chiến loạn đã tái hiện lại không gian và thời gian mang những người lính lại gần nhau hơn Họ là “đồng chí” một từ rất thiêng liêng Từ
“đồng chí” được tách riêng thành một câu thơ kết hợp với dấu chấm cảm tạo sự hàm súc cho câu thơ Những người lính có xuất thân như nhau, cùng chung lí tưởng bảo vệ tổ quốc
đã trở thành “tri kỉ" trong hoàn cảnh khắc nghiệt đến thế, trở thành một khối gắn bó mật thiết
Những người lính từ quen biết mà trở thành “tri kỉ” bởi họ thấu hiểu hoàn cảnh tâm tư và nỗi lòng của nhau:
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính
Trang 39Họ, những người nông dân, những chiến sĩ đã hy sinh tình cảm riêng tư để ra đi vì tổ quốc,
vì đất nước Chôn sâu trong lòng những trăn trở, những băn khoăn day dứt với quê hương xóm làng Đối với chúng ta thì nhà, ruộng vườn của cải đóng vai trò rất quan trọng nhưng những người lính lại có một quan niệm khác biệt: “ruộng nương” thì gửi “bạn thân cày”,
“gian nhà không” thì kệ “gió lung lay” “Anh” lên đường ra mặt trận để lại sau lưng tất cả mọi thứ cả vật chất lẫn tình thương Trong câu thơ có từ "mặc kệ” tưởng chừng những người lính vô tâm không nghĩ nhưng thật ra đó là sự dứt khoát và quyết tâm mạnh mẽ đang
đè nén những thứ tình cảm cá nhân của những chàng trai có lí tưởng, có mục đích lớn lao
Dù sự dứt khoát quyết tâm có mạnh mẽ đến đâu thì trong sâu thẳm những chiến sĩ vẫn còn nặng lòng với quê hương, với xóm nước: “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” hay ngược lại “người ra lính” đang nhớ quê hương Hình ảnh nhân hóa kết hợp hoán dụ “giếng nước”, “gốc đa” hiện lên rất đỗi thân thuộc gần gũi đã góp phần thể hiện tình yêu với quê hương đất nước của những người chiến sĩ Đó quả là sự hy sinh quá lớn lao, nó cần được thấu hiểu và sẻ chia, dường như nỗi lòng của “anh” cũng là tâm sự bấy lâu của “tôi” Anh
và tôi cũng nhau dốc bầu tâm sự để vơi nỗi lòng Chính tình yêu quê hương, nỗi nhớ làng xóm thân thuộc đã tiếp thêm một nguồn sức mạnh cho tình đồng chí
Không chỉ là thấu hiểu mà những người lính còn đồng cam khổ, vượt qua gian nan:
“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ướt mồ
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá, chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay
Những người lính trải qua bao khó khăn gian khổ, không ai chưa từng trải qua cảm giác bị sốt rét ở núi rừng Việt Bắc sâu thẳm, càng đắp thêm chăn càng lạnh, lại không có đầy đủ thuốc men y tế Và thường xuyên trong cảnh thiếu thốn manh áo vào tiết trời đông lạnh giá
“áo rách vai” Vào cái thời kháng chiến mà những anh vệ quốc quân còn được gọi là “vệ Nâu” “vệ túm”, nhưng chính họ lại là người kiên cường chiến đấu trên mọi mặt trận để bảo
vệ tổ quốc khỏi giặc ngoại xâm
Trong hoàn cảnh đầy khó khăn như vậy nhưng những người lính vẫn luôn lạc quan, với niềm tin tưởng, vẫn luôn nở nụ cười “miệng cười buốt giá” như mang đến hơi ấm của tình người, tình đồng chí Họ cười họ nắm lấy tay nhau cùng nhau cố gắng: "thương nhau tay nắm lấy bàn tay” Những cái nắm tay là sự kết nối bền chặt giữa những cơ thể, trái tim và cảm xúc Họ truyền cho nhau sự ấm áp và ý chí quật cường, cùng nhau tiến về phía trước, tiến đến nơi bom đạn, khói lửa giăng mịt mù
Kết thúc bài thơ, tác giả mở ra một bức tranh đẹp về tình đồng chí đồng đội:
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Trang 40Đầu súng trăng treo.
Trong cảnh đêm khuya thanh vắng của núi rừng sâu hút, những màn sương lạnh lẽo giăng đầy cỏ cây, hoa lá, vương trên áo của người lính, các anh đứng cạnh bên nhau, lặng lẽ chờ địch, không một tiếng nói nhưng bên trong đó là sự đoàn kết, đồng lòng, cùng nhau chủ động làm nhiệm vụ không màng nguy hiểm, bất chấp sự khắc nhiệt của thời tiết Nhưng bacâu thơ với hình ảnh đối lập giữa sự khắc nghiệt và nên thơ bởi có ánh trăng trong câu thơ:
"đầu súng trăng treo” Câu thơ như điểm nhấn làm sáng cả bài thơ Động từ “treo” giữa haichủ thể “đầu súng” và “trăng” đã tạo ra mối quan hệ giữa mặt đất và bầu trời gợi cho độc giả những liên tưởng thú vị “Súng” biểu tượng cho chiến tranh, chiến đầu” còn “trăng” biểu tượng cho ánh sáng, cái đẹp của trần thế, Như vậy hai hình ảnh hư và thực hài hòa tạo
ra một vẻ đẹp trong chiến đấu: đó là tình đồng chí Dường như cái đẹp trong đêm núi rừng tạo cho họ động lực chiến đấu
Bài thơ Đồng chí của Chính Hữu với chủ đề về tình đồng chí được triển khai xuyên suốt tác phẩm, đồng thời cũng làm hiện lên hình ảnh người chiến sĩ trong thời kì đầu kháng chiến chống Pháp của dân tộc Với lối thơ hàm súc, tác giả để lại những cảm xúc khó phai trong lòng người đọc
Đề 1 :Phân tích bài thơ Đồng chí của nhà thơ Chính Hữu( BÀI PT3)
1 Mở bài :
- Chính Hữu là nhà thơ quân đội, thành công chủ yếu về đề tài người lính và chiến tranh.Thơ Chính Hữu giản dị và chân thực, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ và hình ảnh chọn lọc,hàm súc
- Bài thơ Đồng chí được sáng tác đầu năm 1948 sau khi tác giả đã cùng đồng đội tham giachiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc ( thu đông 1947) Bài thơ ca ngợi tình đồng chí, đồngđội thắm thiết, sâu nặng của những người lính Cách mạng.Đồng thời còn làm hiện lên hìnhảnh chân thực, giản dị mà cao đẹp của anh bộ đội Cụ Hồ thời kì đầu cuộc kháng chiếnchống Pháp
2 Thân bài
* Luận điểm 1: Cơ sở hình thành tình đồng chí( 7 câu thơ đầu)
a, Cơ sở thứ nhất: Cùng chung hoàn cảnh xuất thân