Tuần 1 Tiết 1,2,3 Các phương châm hội thoại Chuyện người con gái Nam Xương I.Các phương châm hội thoại A.Lý thuyết B.Bài tập Bài 1: Các thành ngữ sau liên quan đến phương châm hội thoại nào Thành ngữ Phương châm hội thoại Ăn ngay, nói thật Nói phải củ cả cũng nghe Câm như hến Cú nói có, vọ nói không Nửa úp nửa mở Nói nước đôi Chẳng được miếng thịt miếng xôi Cũng được lời nói cho toi vừa lòng Nói có đầu có đũa Nói con cà con kê Lúng búng như ngậm hột thị Nói đồng quang sang đồng rậm Nói gần nói xa chẳng qua nói thật Biết thì thưa thớt, không biết dựa cột mà nghe Nói như dùi đục chấm mắm cáy Bài 2: Trong “TruyÖn KiÒu” cña NguyÔn Du, ®o¹n kÓ vÒ Thuý KiÒu bÞ ®¬a vµo lÇu xanh, Tõ H¶i mét bËc anh hïng c¸i thÕ – gÆp KiÒu n¬i nµy, song vÉn t©m sù: “ ThiÕp danh ®a ®Õn lÇu hång” Theo em Tõ H¶i cã “vi ph¹m” ph¬¬ng ch©m héi tho¹i nµo kh«ng? v× sao? II. ChuyÖn ngêi con g¸i Nam X¬ng (TrÝch “TruyÒn kú m¹n lôc” NguyÔn D÷) 1. Giới thiệu ngắn gọn về tác giả Nguyễn Dữ và tác phẩm “ Chuyện người con gái Nam Xương”. 2. Tóm tắt văn bản “ Chuyện người con gái Nam Xương . 3. Nêu giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm. 4. Cho biết nguyên nhân nào dẫn tới cái chết oan khuất của Vũ Nương 5. Ý nghĩa của các yếu tố kì ảo trong “ Chuyện người con gái Nam Xương”. 6. Phân tích giá trị biểu đạt của một số yếu tố miêu tả trong câu văn sau: “ Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh, mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió, khoc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồm xa đâu có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa” 7. Hình ảnh cái bóng có ý nghĩa gì trong cách kể chuyện? 8. Kết thúc truyện “ Chuyện người con gái Nam Xương ‘ Nguyễn Dữ viết : “ ...Vũ Nương ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng giữa dòng, theo sau đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ đầy sông, lúc ẩn, lúc hiện. Chàng vội gọi, nàng vẫn ở giữa dòng mà nói vọng vào: Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ. Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa.
Trang 1Tuần 5- Tiết 1,2,3 Cỏc phương chõm hội thoại Chuyện người con gỏi Nam Xương I.Cỏc phương chõm hội thoại
A.Lý thuyết
B.Bài tập
Bài 1: Cỏc thành ngữ sau liờn quan đến phương chõm hội thoại nào
-Ăn ngay, núi thật
-Núi phải củ cả cũng nghe
-Cõm như hến
-Cỳ núi cú, vọ núi khụng
- Nửa ỳp nửa mở
-Núi nước đụi
- Chẳng được miếng thịt miếng xụi
Cũng được lời núi cho toi vừa lũng
-Núi cú đầu cú đũa
- Núi con cà con kờ
-Lỳng bỳng như ngậm hột thị
-Núi đồng quang sang đồng rậm
- Núi gần núi xa chẳng qua núi thật
-Biết thỡ thưa thớt, khụng biết dựa cột mà nghe
- Núi như dựi đục chấm mắm cỏy
Bài 2:
Trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, đoạn kể về Thuý Kiều bị đa vào lầu xanh, Từ Hải - một bậc anh hùng cái thế – gặp Kiều nơi này, song vẫn tâm sự:
“ Thiếp danh đa đến lầu hồng”
Theo em Từ Hải có “vi phạm” phơng châm hội thoại nào không? vì sao?
II Chuyện ngời con gái Nam Xơng
(Trích “Truyền kỳ mạn lục” - Nguyễn Dữ)
1 Giới thiệu ngắn gọn về tỏc giả Nguyễn Dữ và tỏc phẩm “ Chuyện người con gỏi Nam Xương”.
2 Túm tắt văn bản “ Chuyện người con gỏi Nam Xương
3 Nờu giỏ trị hiện thực và giỏ trị nhõn đạo của tỏc phẩm.
4 Cho biết nguyờn nhõn nào dẫn tới cỏi chết oan khuất của Vũ Nương
5 í nghĩa của cỏc yếu tố kỡ ảo trong “ Chuyện người con gỏi Nam Xương”.
6 Phõn tớch giỏ trị biểu đạt của một số yếu tố miờu tả trong cõu văn sau: “ Nay đó bỡnh rơi trõm góy,
mõy tạnh, mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước giú, khoc tuyết bụng hoa rụng cuống, kờu xuõn cỏi
ộn lỡa đàn, nước thẳm buồm xa đõu cú thể lại lờn nỳi Vọng Phu kia nữa”
7 Hỡnh ảnh cỏi búng cú ý nghĩa gỡ trong cỏch kể chuyện?
8 Kết thỳc truyện “ Chuyện người con gỏi Nam Xương ‘ Nguyễn Dữ viết :
“ Vũ Nương ngồi trờn một chiếc kiệu hoa đứng giữa dũng, theo sau đến năm mươi chiếc xe cờ tỏn,
vừng lọng, rực rỡ đầy sụng, lỳc ẩn, lỳc hiện.
Chàng vội gọi, nàng vẫn ở giữa dũng mà núi vọng vào:
- Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đó thề sống chết cũng khụng bỏ Đa tạ tỡnh chàng, thiếp chẳng thể trở về nhõn gian được nữa.
Rồi trong chốc lỏt, búng nàng loang loỏng mờ dần rồi biến mất.”
Nờu cảm nhận của em về cỏch kết thỳc cõu chuyện trờn
Trang 2Câu 9: Nhận xét về cách kết thúc Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, có ý kiến cho
rằng: “Truyện kết thúc có hậu, thể hiện được ước mong của con người về sự công bằng trong cuộc đời”, song ý kiến khác lại khẳng định: “Tính bi kịch của truyện vẫn tiềm ẩn ở ngay trong cái kết lung linh kì ảo”
Hãy trình bày suy nghĩ của em về hai ý kiến trên
Câu 10: Suy nghĩ của em về vẻ đẹp và só phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến nam quyền
qua hình tượng nhân vật Vũ nương trong “ Chuyện người con gái Nam xương”
Trang 3Tuần 5- Tiết 1,2,3 Cỏc phương chõm hội thoại Chuyện người con gỏi Nam Xương
Chuyện ngời con gái Nam Xơng
(Trích “Truyền kỳ mạn lục” - Nguyễn Dữ)
A-Mục tiêu cần đạt
1 Kiến thức- Kỹ năng
-Ôn tập nâng cao VB Chuyện ngời con gái Nam xơng
- Rèn kỹ năng viết đoạn văn phân tích các tín hiệu nghệ thuật; kỹ năng phân tích bổ dọc, bổ ngang tác phẩm, phân tích nhân vật
2 Giáo dục
- Trân trọng và cảm thông với thân phận ngời phụ nữ phong kiến
- Biết rút ra bài học về hạnh phúc gia đình
B-Nội dung kiến thức
I Cỏc phương chõm hội thoại
1.
-Ăn ngay, núi thật - chất
-Núi phải củ cả cũng nghe- chất
Cỳ núi cú, vọ núi khụng- Quan hệ
- Nửa ỳp nửa mở - cỏch thức
-Núi nước đụi-cỏch thức
-Núi cú đầu cú đũa- cahcs thức
- Núi con cà con kờ ( cỏch thức)
-Lỳng bỳng như ngậm hột thị ( CT)
-Núi đũng quang sang đồng rậm ( CT)
- Núi gần núi xa chẳng qua núi thật ( CT)
-Biết thỡ thưa thớt, khụng biết dựa cột mà nghe ( Chất)
-Núi như dựi đục chấm mắm cỏy- Lịch sự
2.Từ Hải đã vi phạm phơng châm hội thoại về chất (0,5 điểm)
- Vì: Kiều đang sống ở lầu xanh – một nơi xấu xa Từ Hải lại gửi thiếp danh đến lầu hồng – chỉ nơi ở của ngời con gái đài các (0,5 điểm)
Song chính cách nói đó của Từ Hải ngời đọc mới ngỡ ngàng để rồi thấm thía hơn tình cảm nhân văn bình dị của một bậc anh hùng cái thế, luôn trân trọng nhân phẩm của Thuý Kiều, cảm thông với cuộc sống bị đầy đoạ của nàng ( 0,5 điểm)
Chuyện người con gỏi nam Xương
Cõu 1:
I Tác giả:
- Nguyễn Dữ (cha rõ năm sinh, năm mất), quê ở Hải Dơng.
- Nguyễn Dữ sống vào nửa đầu thế kỷ XVI, là thời kỳ Triều đình nhà Lê đã
bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến Lê, Mạc, Trịnh tranh giành quyền lực, gây ra những cuộc nội chiến kéo dài
- Ông học rộng, tài cao nhng chỉ làm quan một năm rồi cáo về, sống ẩn dật ở vùng núi Thanh Hoá Đó là cách phản kháng của nhiều tri thức tâm huyết đơng thời
II Tác phẩm:
Trang 41 Xuất xứ: “Chuyện ngời con gái Nam Xơng” là truyện thứ 16 trong số 20
truyện nằm trong tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyễn Dữ “Truyền kỳ mạn lục”.
Truyện có nguồn gốc từ một truyện cổ dân gian trong kho tàng cổ tích Việt Nam “Vợ chàng Trơng”
2 Thể loại: Truyện truyền kỳ mạn lục (ghi chép tản mạn những truyện kỳ
lạ vẫn đợc lu truyền) Viết bằng chữ Hán
3 Chủ đề: Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thơng tâm của Vũ
N-ơng, “Chuyện ngời con gái Nam Xơng” thể hiện niềm thơng cảm đối với số
phận oan nghiệt, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp truyền thống của những phụ nữ Việt Nam dới chế độ phong kiến
4 Tóm tắt: Vũ Thị Thiết (Vũ Nơng) là ngời phụ nữ nhan sắc, đức hạnh.
Chồng nàng là Trơng Sinh phải đi lính sau khi cới ít lâu Nàng ở nhà, một mình vừa nuôi con nhỏ vừa chăm sóc mẹ chồng đau ốm rồi làm ma chu đáo khi bà mất Trơng Sinh trở về, nghe lời con, nghi vợ thất tiết nên đánh đuổi đi Vũ
N-ơng uất ức gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn, đợc thần Rùa Linh Phi và các tiên nữ cứu Sau đó Trơng Sinh mới biết vợ bị oan ít lâu sau, Vũ Nơng gặp Phan Lang, ngời cùng làng chết đuối đợc Linh Phi cứu Khi Lang trở về, Vũ Nơng nhờ gửi chiếc hoa vàng nhắn chàng Trơng lập đàn giải oan cho nàng Trơng Sinh nghe theo, Vũ Nơng ẩn hiện giữa dòng, nói vọng vào bờ lời tạ từ rồi biến mất
5 Bố cục: 3 đoạn
- Đoạn 1:… của mình: Cuộc hôn nhân giữa Trơng Sinh và Vũ Nơng, sự xa
cách vì chiến tranh và phẩm hạnh của nàng trong thời gian xa cách
- Đoạn 2: … qua rồi: Nỗi oan khuất và cái chết bi thảm của Vũ Nơng.
- Đoạn 3: Còn lại: Cuộc gặp gỡ giữa Vũ Nơng và Phan Lang trong đội Linh
Phi Vũ Nơng đợc giải oan
III Giá trị nội dung của tác phẩm: (Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo
sâu sắc)
1 Giá trị hiện thực:
- Chuyện phản ánh hiện thực xã hội phong kiến bất công với chế độ nam quyền, chà đạp số phận ngời phụ nữ (Đại diện là nhân vật Trơng Sinh)
- Phản ánh số phận con ngời chủ yếu qua số phận phụ nữ: chịu nhiều oan khuất và bế tắc
- Phản ánh xã hội phong kiến với những cuộc chiến tranh phi nghĩa làm cho cuộc sống của ngời dân càng rơi vào bế tắc
2 Giá trị nhân đạo:
a Ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của ngời phụ nữ Việt Nam thông qua nhân vật Vũ Nơng
Tác giả đặt nhân vật Vũ Nơng vào những hoàn cảnh khác nhau để bộc lộ
đời sống và tính cách nhân vật
Ngay từ đầu, nàng đã đợc giới thiệu là “tính đã thuỳ mị, nết na, lại thêm t
dung tốt đẹp” Chàng Trơng cũng bởi mến cái dung hạnh ấy, nên mới xin với mẹ
trăm lạng vàng cới về
Trang 5Cảnh 1: Trong cuộc sống vợ chồng bình thờng, nàng luôn giữ gìn khuôn
phép nên dù chồng nàng đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức nhng gia đình ch
a từng phải bất hoà
Cảnh 2: Khi tiễn chồng đi, Vũ Nơng rót chén r ợu đầy, dặn dò chồng
những lời tình nghĩa đằm thắm Nàng “chẳng dám mong ” vinh hiển mà chỉ
cầu cho chồng “khi về mang theo đợc hai chữ bình yên, thế là đủ rồi” Vũ
N-ơng cũng thông cảm cho những nỗi gian lao, vất vả mà chồng sẽ phải chịu
đựng Và xúc động nhất là những lời tâm tình về nỗi nhớ nhung, trông chờ khắc khoải của mình khi xa chồng Những lời văn từng nhịp, từng nhịp biền ngẫu nh nhịp đập trái tim nàng - trái tim của ngời vợ trẻ khát khao yêu thơng
đang thổn thức lo âu cho chồng Những lời đso thấm vào lòng ngời, khiến ai ai cũng xúc động ứa hai hàng lệ
Cảnh 3: Rồi đến khi xa chồng, nàng càng chứng tỏ và bộc lộ nhiều phẩm
chất đáng quý Trớc hết, nàng là ng ời vợ hết mực chung thuỷ với chồng Nỗi buồn nhớ chồng vò võ, kéo dài qua năm tháng Mỗi khi thấy “bớm lợn đầy vờn” – cảnh vui mùa xuân hay “mây che kín núi” – cảnh buồn mùa đông, nàng lại chặn “nỗi buồn góc bể chân trời nhớ ngời đi xa Đồng thời, nàng là ng ời mẹ hiền, hết lòng nuôi dạy, chăm sóc, bù đắp cho đứa con trai nhỏ sự thiếu vắng tình cha Bằng chứng chính là chiếc bóng ở phần sau câu chuyện mà nàng vẫn bảo đó là cha
Đản Cuối cùng, Vũ Nơng còn bộc lộ đức tính hiếu thảo của ng ời con dâu, tận tình chăm sóc mẹ chồng già yếu, ốm đau Nàng lo chạy chữa thuốc thang cho
mẹ qua khỏi, thành tâm lễ bái thần phật, bởi yếu tố tâm linh đối với ngời xa là
rất quan trọng Nàng lúc nào cũng dịu dàng, “lấy lời ngọt ngào khôn khéo,
khuyên lơn” Lời trăng trối cuối cùng của bà mẹ chồng đã đánh giá cao công lao
của Vũ Nơng đối với gia đình: “Xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng nh con đã
chẳng phụ mẹ” Thông thờng, nhất là trong xã hội cũ, mối quan hệ mẹ chồng –
con dâu là mối quan hệ căng thẳng, phức tạp Nhng trớc ngời con dâu hết mực hiền thảo nh Vũ Nơng thì bà mẹ Trơng Sinh không thể không yêu mến Khi bà
mất, Vũ Nơng đã “hết lời thơng xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu nh đối với
cha mẹ đẻ mình” Có thể nói, cuộc đời Vũ Nơng tuy ngắn ngủi nhng nàng đã
làm tròn bổn phận của ng ời phụ nữ: một ngời vợ thuỷ chung, một ngời mẹ thơng con, một ngời dâu hiếu thảo ở bất kỳ một cơng vị nào, nàng cũng làm rất hoàn hảo
Cảnh 4: Khi bị chồng nghi oan, nàng đã tìm mọi cách để xoá bỏ ngờ vực
trong lòng Trơng Sinh
+ ở lời nói đầu tiên, nàng nói đến thân phận mình, tình nghĩa vợ chồng và khẳng định tấm lòng chung thuỷ trong trắng của mình Cầu xin chồng đừng nghi oan, nghĩa là nàng đã cố gắng hàn gắn, cứu vãn hạnh phúc gia đình
đang có nguy cơ tan vỡ
+ ở lời nói thứ hai trong tâm trạng “bất đắc dĩ”, Vũ Nơng bày tỏ nỗi thất
vọng khi không hiểu vì sao bị đối xử tàn nhẫn, bất công, không có quyền tự bảo vệ mình, thậm chí không có quyền đợc bảo vệ bởi những lời biện bạch, thanh minh của hàng xóm láng giềng Ngời phụ nữ của gia đình đã mất đi hạnh
phúc gia đình, “thú vui nghi gia nghi thất” Tình cảm đơn chiếc thuỷ chung nàng dành cho chồng đã bị phủ nhận không thơng tiếc Giờ đây “bình rơi
Trang 6trâm gãy, mây tạnh ma tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trớc gió, khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nớc thẳm buồn xa”, cả nỗi nhớ chờ
chồng mà hoá đá trớc đây cũng không còn Vậy thì cuộc đời còn gì ý nghĩa nữa đối với ngời vợ trẻ khao khát yêu thơng ấy?
+ Chẳng còn gì cả, chỉ có nỗi thất vọng tột cùng, đau đớn ê chề bởi cuộc hôn nhân đã không còn cách nào hàn gắn nổi, mà nàng thì phải chịu oan khuất tày trời Bị dồn đến bớc đờng cùng, sau mọi cố gắng không thành, Vũ
N-ơng chỉ còn biết m ợn dòng n ớc Hoàng Giang để rửa nỗi oan nhục Nàng đã tắm gội chay sạch mong dòng nớc mát làm dịu đi tức giận trong lòng, khiến nàng suy nghĩ tỉnh táo hơn để không hành động bồng bột Nhng nàng vẫn không thay
đổi quyết định ban đầu, bởi chẳng còn con đờng nào khác cho ngời phụ nữ bất hạnh này Lời than của nàng trớc trời cao sông thẳm là lời nguyện xin thần sông chứng giám cho nỗi oan khuất cũng nh đức hạnh của nàng Hành động trẫm mình là hành động quyết liệt cuối cùng, chất chứa nỗi tuyệt vọng đắng cay nh ng cũng đi theo sự chỉ đạo của lý trí
+ Đợc các tiên nữ cứu, nàng sống d ới thuỷ cung và đ ợc đối xử tình nghĩa Nàng hết sức cảm kích ơn cứu mạng của Linh Phi và các tiên nữ cung nớc Nhng nàng vẫn không nguôi nỗi nhớ cuộc sống trần thế – cuộc sống nghiệt ngã đã đẩy nàng đến cái chết Vũ Nơng vẫn là ng ời vợ yêu chồng, ng ời mẹ th ơng con, vẫn nặng lòng nhung nhớ quê h ơng, mộ phần cha mẹ, đồng thời vẫn khao khát đ ợc trả lại danh dự Bởi vậy mà nàng đã hiện về khi Trơng Sinh lập đàn giải oan Thế nhng “cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ”, Vũ Nơng không quay trở về trần gian nữa
Tóm lại: Vũ Nơng là một ng ời phụ nữ xinh đẹp, nết na, hiền thục lại đảm
đang, tháo vát, thờ kính mẹ chồng rất mực hiếu thảo, một dạ thuỷ chung với chồng, hết lòng vun đắp cho hạnh phúc gia đình Nàng là ngời phụ nữ hoàn hảo, lý t ởng của mọi gia đình, là khuôn vàng thớc ngọc của mọi ngời phụ nữ Ngời nh nàng xứng đáng đ ợc h ởng hạnh phúc trọn vẹn, vậy mà lại phải chết oan uổng, đau đớn
b Vì sao Vũ N ơng phải chết oan khuất? Từ đó em cảm nhận đ ợc điều gì
về thân phận ng ời phụ nữ d ới chế độ phong kiến?
Những duyên cớ khiến cho một ngời phụ nữ đức hạnh nh Vũ Nơng không thể sống mà phải chết một cách oan uổng:
- Nguyên nhân trực tiếp: do lời nói ngây thơ của bé Đản Đêm đêm, ngồi
buồn dới ngọn đèn khuya, Vũ Nơng thờng “trỏ bóng mình mà bảo là cha Đản” Vậy nên Đản mới ngộ nhận đó là cha mình, khi ngời cha thật chở về thì không chịu nhận và còn vô tình đa ra những thông tin khiến mẹ bị oan
- Nguyên nhân gián tiếp:
+ Do ng ời chồng đa nghi, hay ghen Ngay từ đầu, Trơng Sinh đã đợc giới
thiệu là ngời “đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức”, lại thêm “không có học”.
Đó chính là mầm mống của bi kịch sau này khi có biến cố xảy ra Biến cố đó là việc Tr ơng Sinh phải đi lính xa nhà, khi về mẹ đã mất Mang tâm trạng buồn khổ, chàng bế đứa con lên ba đi thăm mộ mẹ, đứa trẻ lại quấy khóc không chịu
nhận cha Lời nói ngây thơ của đứa trẻ làm đau lòng chàng: “Ô hay! Thế ra ông
cũng là cha tôi ? Ông lại biết nói, chứ không nh cha tôi trớc kia, chỉ nín thin thít”
Trang 7Trơng Sinh gạn hỏi đứa bé lại đ a thêm những thông tin gay cấn, đáng nghi: “Có
một ngời đàn ông đêm nào cũng đến” (hành động lén lút che mắt thiên hạ),
“mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đảng ngồi cũng ngồi” (hai ngời rất quấn quýt nhau),
“chẳng bao giờ bế Đản cả” (ngời này không muốn sự có mặt của đứa bé) Những lời nói thật thà của con đã làm thổi bùng lên ngọn lửa ghen tuông trong lòng Tr ơng Sinh
+ Do cách c xử hồ đồ, thái độ phũ phàng, thô bạo của Trơng Sinh Là kẻ
không có học, lại bị ghen tuông làm cho mờ mắt, Trơng Sinh không đủ bình tĩnh, sáng suốt để phân tích những điều phi lý trong lời nói con trẻ Con ngời
độc đoán ấy đã vội vàng kết luận, “đinh ninh là vợ h” Chàng bỏ ngoài tai tất cả những lời biện bạch, thanh minh, thậm chí là van xin của vợ Khi Vũ Nơng hỏi ai nói thì lại giấu không kể lời con Ngay cả những lời bênh vực của họ hàng, làng xóm cũng không thể cời bỏ oan khuất cho Vũ Nơng Trơng Sinh đã bỏ qua tất cả những cơ hội để cứu vãn tấn thảm kịch, chỉ biết la lên cho hả giận Trơng Sinh lúc ấy không còn nghĩ đến tình nghĩa vợ chồng, cũng chẳng quan tâm đến công lao to lớn của Vũ N ơng đối với gia đình, nhất là gia đình nhà chồng Từ
đây có thể thấy Tr ơng Sinh là con đẻ của chế độ nam quyền bất công, thiếu lòng tin và thiếu tình th ơng, ngay cả với ng ời thân yêu nhất
+ Do cuộc hôn nhân không bình đẳng, Vũ Nơng chỉ là “con nhà kẻ khó”,
còn Trơng Sinh là “con nhà hào phú” Thái độ tàn tệ, rẻ rúng của Trơng Sinh đối
với Vũ Nơng đã phần nào thể hiện quyền thế của ng ời giàu đối với ng ời nghèo trong một xã hội mà đồng tiền đã bắt đầu làm đen bạc thói đời
+ Do lễ giáo hà khắc, phụ nữ không có quyền đ ợc nói, không có quyền đ ợc
tự bảo vệ mình Trong lễ giáo ấy, chữ trinh là chữ quan trọng hàng đầu; ngời phụ nữ khi đã bị mang tiếng thất tiết với chồng thì sẽ bị cả xã hội hắt hủi, chỉ còn một con đ ờng chết để tự giải thoát
+ Do chiến tranh phong kiến gây nên cảnh sinh ly và cũng góp phần dẫn
đến cảnh tử biệt Nếu không có chiến tranh, Trơng Sinh không phải đi lính thì
Vũ Nơng đã không phải chịu nỗi oan tày trời dẫn đến cái chết thơng tâm nh vậy
Tóm lại: Bi kịch của Vũ Nơng là một lời tố cáo xã hội phong kiến xem trọng
quyền uy của kẻ giàu có và của ng ời đàn ông trong gia đình, đồng thời bày tỏ niềm cảm th ơng của tác giả đối với số phận oan nghiệt của ng ời phụ nữ Ngời phụ nữ đức hạnh ở đây không những không đợc bênh vực, trở che mà lại còn bị
đối xử một cách bất công, vô lý; chỉ vì lời nói thơ ngây của đứa trẻ và vì sự
hồ đồ, vũ phu của anh chồng hay ghen tuông mà đến nỗi phải kết liễu cuộc đời mình
IV Giá trị nghệ thuật:
1 Một số nét nghệ thuật đặc sắc của Chuyện ngời con gái Nam
X-ơng
- Xây dựng tình huống truyện độc đáo, đặc biệt là chi tiết chiếc bóng
Đây là sự khái quát hoá tấm lòng, sự ngộ nhận và sự hiểu lầm của từng nhân vật Hình ảnh này hoàn thiện thêm vẻ đẹp nhân cách của Vũ N ơng, đồng thời cũng thể hiện rõ nét hơn số phận bi kịch của Vũ N ơng nói riêng và ngời phụ nữ Việt Nam nói chung
Trang 8- Nghệ thuật dựng truyện Dẫn dắt tình huống truyện hợp lý Chi tiết chiếc
bóng là đầu mối câu chuyện lại chỉ xuất hiện một lần duy nhất ở cuối truyện, tạo sự bất ngờ, bàng hoàng cho ngời đọc và tăng tính bi kịch cho câu chuyện
- Có nhiều sự sáng tạo so với cốt truyện cổ tích "Vợ chàng Trơng" bằng cách
sắp xếp thêm bớt chi tiết một cách độc đáo
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Nhân vật đợc xây dựng qua lời nói và
hành động Các lời trần thuật và đối thoại của nhân vật sử dụng nhiều hình
ảnh ớc lệ nhng vẫn khắc hoạ đậm nét và chân thật nội tâm nhân vật
- Sử dụng yếu tố truyền kỳ (kỳ ảo) làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác
phẩm Yếu tố kỳ ảo, hoang đờng làm câu chuyện vừa thực vừa mơ, vừa có hậu
vừa không có hậu, làm hoàn chỉnh vẻ đẹp của Vũ Nơng
- Kết hợp các ph ơng thức biểu đạt: Tự sự + biểu cảm (trữ tình) làm nên một
áng văn xuôi tự sự còn sống mãi với thời gian
2 ý nghĩa của chi tiết kỳ ảo
* Các chi tiết kỳ ảo trong câu chuyện:
- Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa
- Phan Lang gặp nạn, lạc vào động rùa, gặp Linh Phi, đợc cứu giúp; gặp lại Vũ Nơng, đợc sứ giả của Linh Phi rẽ đờng nớc đa về dơng thế
- Vũ Nơng hiện về trong lễ giải oan trên bến Hoàng Giang giữa lung linh, huyền ảo rồi lại biến đi mất
* Cách đa các chi tiết kỳ ảo:
- Các yếu tố này đợc đ a vào xen kẽ với những yếu tố thực về địa danh, về thời điểm lịch sử, những chi tiết thực về trang phục của các mỹ nhân, về tình cảnh nhà Vũ Nơng không ngời chăm sóc sau khi nàng mất… Cách thức này làm cho thế giới kỳ ảo lung linh, mơ hồ trở nên gần với cuộc đời thực, làm tăng độ tin cậy, khiến ngời đọc không cảm thấy ngỡ ngàng
* ý nghĩa của các chi tiết kỳ ảo:
- Cách kết thúc này làm nên đặc tr ng của thể loại truyện truyền kỳ
- Làm hoàn chỉnh thêm nét đẹp vốn có của Vũ N ơng: nặng tình, nặng nghĩa, quan tâm đến chồng con, phần mộ tổ tiên, khao khát đợc phục hồi danh dự
- Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu cho câu chuyện
- Thể hiện về ớc mơ, về lẽ công bằng ở cõi đời của nhân dân ta
- Chi tiết kỳ ảo đồng thời cũng không làm mất đi tính bi kịch của câu chuyện Vũ Nơng trở về mà vẫn xa cách ở giữa dòng bởi nàng và chồng con vẫn
âm dơng chia lìa đôi ngả, hạnh phúc đã vĩnh viễn rời xa Tác giả đa ngời đọc vào giấc chiêm bao rồi lại kéo chúng ta sực tỉnh giấc mơ - giấc mơ về những ngời phụ nữ đức hạnh vẹn toàn Sơng khói giải oan tan đi, chỉ còn một sự thực cay đắng: nỗi oan của ngời phụ nữ không một đàn tràng nào giải nổi Sự ân hận muộn màng của ngời chồng, đàn cầu siêu của tôn giáo đều không cứu vãn
đợc ngời phụ nữ Đây là giấc mơ mà cũng là lời cảnh tỉnh của tác giả Nó để lại
d vị ngậm ngùi trong lòng ngời đọc và là bài học thấm thía về giữ gìn hạnh phúc gia đình
-> Yêu cầu trả lời ngắn gọn, giải thích rõ yêu cầu của đề bài; các ý có sự liên kết chặt chẽ; trình bày rõ ràng, mạch lạc
Trang 9Câu 7: Phân tích ý nghĩa của chi tiết cái bóng
- Về nghệ thuật : chi tiết cái bóng tạo lên cách thắt nút, mở nút hết sức bất ngờ, hấp dẫn:
+ Cái bóng là biểu hiện của tình yêu thương, lòng chung thuỷ, trở thành nguyên nhân trực tiếp của nỗi đau oan khuất, dẫn đến cái chết bi thảm của nhân vật (thắt nút)
+ Cái bóng làm nên sự hối hận của chàng Trương và giải oan cho Vũ Nương (mở nút)
- Về nội dung :
+ Chi tiết cái bóng làm cho cái chết Vũ Nương thêm oan ức và giá trị tố cáo xã hội phong kiến nam quyền đầy bất công với phụ nữ thêm sâu sắc
+ Phải chăng, qua chi tiết cái bóng, tác giả ngầm muốn nói trong xã hội phong kiến, thân phận người phụ nữ mong manh và rẻ rúng chẳng khác nào cái bóng trên tường
Câu 8: * Hình ảnh Vũ Nương trở về trong một không gian rực rỡ và tràn đầy ánh sáng như một sự đền bù xứng đáng cho người phụ nữ có phẩm chất tốt đẹp nhưng cuộc đời bất hạnh Nỗi oan của Vũ Nương đã được giải Đây là một kết thúc có hậu ta vẫn thường gặp trong truyện dân gian : Ở hiền gặp lành
- Cách kết thúc ấy đã làm hoàn thiện thêm vẻ đẹp ở nhân vật Vũ Nương
:+ Đối với chồng con: nàng là người phụ nữ độ lượng, vị tha, ân tình, nhân hậu
.+ Đối với Linh Phi: ngàng là người trọng tình, trọng nghĩa giữ trọn lời hứa
.- Câu truyện kết thúc có hậu song vẫn tiềm tàng tính bi kịch, Vũ Nương mãi mãi không thể trở về trần gian, cuộc sống giàu sang mà nàng có nơi làn mây cung nước chỉ là ảo ảnh, hạnh phúc thực sự sẽ không bao giờ đến với Vũ Nương Chọn cách kết thúc ấy làm giá trị tố cáo của truyện càng trở nên sâu sắc Chế độ nam quyền độc đoán đã không cho người phụ nữ quyền hưởng hạnh phúc Phải chăng với những người phụ nữ phong kiến hạnh phúc đối với họ là quá mong manh, hư không
- Hình ảnh Vũ Nương trở về trên kiệu hoa rực rỡ là hình ảnh đặc sắc nhất thể hiện đặc trưng của thể loại truyền kì làm truyện thêm sâu sắc, hấp dẫn
.Hình ảnh cuối truyện Vũ Nương hiện lên mờ ảo lúc ẩn lúc hiện nói với chồng vài lời rồi biến mất Nàng không thể trở lại nhân gian được nữa dù rất thương nhớ chồng con, dù Trương Sinh rất hối hận đau lòng đã nói lên một bài học : Phải có niềm tin với những người thân yêu, bởi nếu thiếu nó thì sẽ rất khó đắp xây hạnh phúc gia đinh, phải biết trân trọng nâng niu những gì mình đang có
Câu 9:
Nhận xét về cách kết thúc Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ có 2 ý kiến:
“Truyện kết thúc có hậu, thể hiện được ước mong của con người về sự công bằng trong cuộc đời”
“Tính bi kịch của truyện vẫn tiềm ẩn ở ngay trong cái kết lung linh kì ảo”
Cả hai ý kiến trên đều nói lên được ý nghĩa của cách kết thúc Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ Hai ý kiến trên không phải mâu thuẫn với nhau mà nó bổ sung cho nhau để nói lên đầy đủ
ý nghĩa sâu xa của cách kết thúc vừa có hậu vừa mang tính bi kịch sâu sắc của tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ (1,0 điểm)
-Ý kiến thứ nhất muốn đề cao kết thúc có hậu của tác phẩm, thể hiện mơ ước ngàn đời của nhân dân về
lẽ công bằng: Người tốt dù có trải qua bao oan khuất cuối cùng cũng được đền trả xứng đáng, cái thiện bao giờ cũng chiến thắng (1,5 điểm)
-Ý kiến thứ hai muốn đề cập tính bi kịch của tác phẩm.Vũ Nương trở về uy nghi, rực rỡ nhưng chỉ thấp thoáng lúc ẩn lúc hiện ở giữa dòng sông và sau lời tạ từ đầy ngậm ngùi rồi biến mất Nàng không trở lại trần gian thực ra đâu phải cái nghĩa với Linh Phi: “ Thiếp cám ơn đức Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ”, mà điều chủ yếu là nàng chẳng còn gì để trở về Đàn giải oan chỉ là một chút an ủi cho người bạc phận chứ không thể làm sống lại tình xưa Nỗi oan được giải, nhưng hạnh phúc thực sự đâu có thể tìm lại được nữa Sự dứt áo ra đi của Vũ Nương biểu hiện thái độ phủ định cõi trần thế với cái xã hội bất công đương thời, xã hội mà ở đó phụ nữ không thể có hạnh phúc Như vậy trong ý kiến nhận xét thứ hai muốn đề đến với sự phê phán và niềm thương cảm của tác giả tiềm ẩn trong cái kết lung linh kì ảo (1,5 điểm)
Câu 10:
(Tham kh¶o )
*PhÇn më bµi
Trang 10- Các tác phẩm văn học ra đời trớc thế kỉ XVI, hầu hết đều đề cập tới những vấn đề hết sức lớn lao, trọng đại của quốc gia, dân tộc: vấn đề đấu tranh chống ngoại xâm, ý thức tự cờng của dân tộc, ca ngợi quê hơng, đất nớc, không đề cập tới số phận, đời t của mỗi cá nhân
- Chuyện ngời con gái Nam Xơng của Nguyễn Dữ ra đời vào thế kỷ XVI lại
đề cập tới thân phận của con ngời cụ thể.Trong chế độ phong kiến, ngời phụ
nữ không có vị trí xứng đáng trong văn học Một nét mới mẻ mang tính tiến bộ
của Nguyễn Dữ đó là đa hình ảnh một ngời phụ nữ thờng dân vào trung tâm
tác phẩm của mình là tác giả đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt tới những tầng lớp "thấp cổ, bé họng" nhất trong XH, tầng lớp đáng đợc quan tâm, bênh vực nhất => Biểu hiện tinh thần nhân đạo
II.Hình ảnh ngời phụ nữ
* Tác phẩm đã xây dựng thành công hình ảnh ngời phụ nữ VN trong XHPK: có vẻ
đẹp hoàn hảo nhng lại chịu số phận bi đát, bất hạnh
Vũ Nơng đợc coi là hình tợng điển hình cho ngời phụ nữ đẹp trong văn
ch-ơng VN thế kỉ XVI
*Phần thân bài
1 / Vũ Nơng là ngời phụ nữ đẹp hoàn hảo.
a/ Là ngời phụ nữ có nhan sắc, có đức hạnh:
Mở đầu trang truyện, với thái độ trân trọng, mến yêu, ND đã giới thiệu Vũ Nơng
là ngời phụ nữ "thuỳ mị, nết na lại thêm t dung tốt đẹp" Mặc dù là con nhà
nghèo lấy chồng nhà giầu lại đa nghi, ít học nhng do hiền dịu, nết na, khéo c xử
nàng đã san bằng đợc khoảng cách về môn đăng hộ đối, một quan niệm nặng
nề của lễ giáo phong kiến và giữ đợc không khí trong gia đình luôn yên ấm,
hạnh phúc “ không từng để lúc nào vợ chồng phải thất hoà”
b/ Là ngời vợ hết lòng yêu thơng, chung thuỷ:
- Trong buổi tiễn đa: Nàng rót chén rợu đầy tiễn chồng bằng những lời lẽ dịu
dàng, tha thiết và cảm động:
"Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám đeo đợc ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ mong ngày về mang theo đợc hai chữ bình yên , thế là đủ
rồi" Ngời đọc xúc động trớc khao khát, ớc mơ bình dị của Vũ Nơng Đằng sau niềm khao khát, ớc mơ ấy là cả một tấm lòng yêu thơng chân thành, đằm thắm
vợt ra ngoài cả sự cám dỗ của vật chất tầm thờng và vinh hoa phú quý
- Khi Trơng Sinh ở ngoài chiến trận: Tình cảm của nàng luôn hớng cả về Trơng
Sinh Hình ảnh "Bớm lợn đầy vờn, mây che kín núi " là những hình ảnh thiên nhiên hữu tình và gợi lên sự trôi chảy của thời gian đã khiến cho "nỗi buồn góc
bể chân trời lại không thể nào xua đi đợc" Tất cả đã diễn tả tinh tế, chân thực
nỗi niềm nhớ nhung, mong mỏi kín đáo, âm thầm mà da diết.
- Đêm khuya, nàng dỗ con, trỏ bóng mình trên vách nói là cha Đản Việc làm ấy
của nàng đâu phải đơn thuần là nói với con, mà còn là nói với chính lòng
mình Nàng luôn tởng tợng trong căn nhà nhỏ bé của hai mẹ con lúc nào cũng có
hình bóng của Trơng Sinh, ý nghĩ ấy đã làm vơi bớt nỗi cô đơn, trống vắng
trong lòng.
Trong suốt ba năm Trơng Sinh đi vắng, nàng đã :"Tô son điểm phấn từng đã
nguôi lòng, ngõ liễu tờng hoa cha hề bén gót", một dạ thuỷ chung, chờ đợi.
c/ Là mẹ hiền đảm đang, ngời con dâu hiếu thảo:
Trong thời gian Trơng Sinh đi vắng: nàng đã một mình thay chồng phụng
d-ỡng mẹ chồng, nuôi dạy con thơ không một lời kêu ca, phàn nàn Khi mẹ ốm,
nàng thuốc thang và dùng lời lẽ ngọt ngào, khéo léo để động viên Khi mẹ mất,
nàng hết lời thơng xót và lo ma chay chu đáo Lời trăng trối của mẹ chồng trớc
lúc lâm chung "Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, con cháu đông
đàn, xanh kia ắt chẳng phụ con, cũng nh con đã chẳng phụ mẹ" đã minh
chứng cho tấm lòng hiếu thảo của nàng Rõ ràng, cách c xử của nàng với mẹ