1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Tư tưởng giáo dục, Triết học, Giáo dục Việt Nam, Dewey, John

59 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 843,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng nghiên cứu về triết lý giáo dục của J.Dewey có bài viết của tác giả Nguyễn Vũ Hảo với tiêu đề “Triết lý giáo dục của John Dewey hướng đến phát triển con người và những điểm gợi mở c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN

KHOA TRIẾT HỌC

==========

ĐỖ THỊ HÒA

TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA J DEWEY

TRONG TÁC PHẨM “KINH NGHIỆM VÀ GIÁO DỤC”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH TRIẾT HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Khóa: QH-2015-X

Hà Nội – 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN

KHOA TRIẾT HỌC

==========

ĐỖ THỊ HÒA

TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA J DEWEY

TRONG TÁC PHẨM “KINH NGHIỆM VÀ GIÁO DỤC”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bài khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn PSG.TS Nguyễn Thị Thanh Huyền đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo em trong suốt thời gian thực hiện khóa luận Em cũng xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy

cô trong Khoa Triết học đã truyền dạy cho em những kiến thức bổ ích trong suốt

4 năm học, góp phần giúp em thực hiện tốt đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

Xin trân trọng cảm ơn!

Sinh viên

Đỗ Thị Hòa

Trang 4

1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA J.DEWEY VÀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÁC PHẨM “KINH NGHIỆM VÀ GIÁO DỤC” 7

1.1 Điều kiện và tiền đề tư tưởng ra đời tư tưởng giáo dục của J Dewey 7

1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa nước Mỹ thế kỷ XX 7

1.1.2 Tiền đề tư tưởng của tư tưởng giáo dục của J.Dewey 11

1.2 Khái quát về cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục” của J.Dewey 17

1.2.1 Về cuộc đời và sự nghiệp của J Dewey 17

1.2.2 Khái quát chung về tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục” 20

Tiểu kết chương 1 23

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CƠ BẢN TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA JOHN DEWEY TRONG TÁC PHẨM “KINH NGHIỆM VÀ GIÁO DỤC” 24

2.1 Nền giáo dục cổ truyền và nền giáo dục tiến bộ 24

2.2 Kinh nghiệm là nền tảng của nền giáo dục tiến bộ 28

2.3 Tổ chức nội dung giáo dục và vai trò của người thầy 35

2.4 Đánh giá giá trị, hạn chế và giá trị tham khảo của tư tưởng giáo dục của J.Dewey đối với giáo dục Việt Nam 39

2.4.1 Những giá trị 39

2.4.2 Những hạn chế 42

2.4.3 Những giá trị tham khảo cho nền giáo dục Việt Nam hiện nay 43

C KẾT LUẬN 52

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

Trang 5

nó định hướng vào việc hình thành và triển khai những tiềm năng thể chất, trí tuệ và tinh thần của xã hội Đồng thời giáo dục cũng có vai trò quyết định trong việc đào tạo những công dân tương lai của đất nước

Ở mỗi thời đại, giáo dục luôn có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của

xã hội Trong giai đoạn hiện nay hơn bao giờ hết giáo dục và đào tạo càng có ý nghĩa quyết định không chỉ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội mà cả đối với công cuộc bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước Mục đích của giáo dục là vì

sự phát triển cá nhân, và sự tiến bộ của xã hội, ở đâu có con người thì ở đó đều cần có sự quản lí, tổ chức, giáo dục con người Vấn đề đặt ra ở đây là việc giáo dục con người không thể hoàn toàn tiến hành theo kinh nghiệm chủ nghĩa hay là những lời kêu gọi chung chung, mà nó vừa là khoa học vừa là nghệ thuật Do đó việc nghiên cứu vấn đề giáo dục sẽ giúp cho các cấp quản lý từ trung ương đến địa phương có sơ sở để định ra đường lối, chính sách để phát triển giáo dục phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa của quốc gia, dân tộc

Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng phát triển giáo dục bởi giáo dục đóng vai trò quyết định trong đào tạo nguồn lực con người cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Thời gian qua, nền giáo dục nước ta

đã có những bước phát triển, bước đầu đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho công cuộc xây dựng đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc

tế và kinh tế tri thức Tuy nhiên có thể nhận thấy rõ, hệ thống giáo dục của nước

ta còn nhiều bất cập Bất cập về chất lượng đào tạo, về nội dung, phương pháp giảng dạy, về đào tạo nghề và đào tạo đại học… Đặc biệt, hệ đại học trong những năm gần đây đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn còn yếu kém so với yêu cầu Nội dung và phương pháp giảng dạy chậm được đổi mới Sinh viên học một cách thụ động, do đó khi ra trường khó kiếm công ăn việc làm, phải dựa vào mối

Trang 6

3

quan hệ thân quen hay vào một khả năng khác để có một việc làm, sau đó từng bước tự đào tạo hay tự thích nghi với yêu cầu của công việc Đổi mới, phát triển giáo dục, đào tạo phù hợp và đáp ứng nhu cầu của quá trình hội nhập quốc tế là một yêu cầu cấp bách hiện nay Muốn thực hiện được điều đó cần có một triết lý giáo dục phù hợp và điều đó đòi hỏi chúng ta cần nghiên cứu, tiếp thu các quan điểm giáo dục tiến bộ trên thế giới

John Dewey là một trong những triết gia hàng đầu ở thế kỷ XX và là nhà tâm lý học, nhà giáo dục có nhiều ảnh hưởng và tiếng nói đáng tin cậy của nền dân chủ Mỹ Ông đưa ra lý thuyết giáo dục hiện đại, phê phán lại nền giáo dục

cổ truyền trước đó Triết lý giáo dục của ông hiện nay vẫn có ảnh hưởng không nhỏ đến giáo dục ở Mỹ - một trong những nền giáo dục phát triển hàng đầu trên thế giới Do vậy, việc nghiên cứu, tiếp thu một cách có chọn lọc những triết lý giáo dục của ông là cần thiết cho một nền giáo dục hiện đại ở Việt Nam

Với những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Tư tưởng giáo dục của John Dewey trong tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục” làm đề tài cho khóa luận

của mình

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Nghiên cứu về tư tưởng triết học giáo dục là chủ đề lôi cuốn sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Ở Việt Nam, theo sự hiểu biết của tôi, đã có các công trình nghiên cứu sau đây về tư tưởng triết học nói chung và tư tưởng giáo dục nói riêng của J Dewey:

Trước hết là cuốn Lịch sử triết học xuất bản năm 1992, do GS.TS Nguyễn

Hữu Vui làm chủ biên Các tác giả đã nghiên cứu có hệ thống về các trào lưu triết học cũng như các triết gia lớn của triết học phương Tây Tuy nhiên, do mục đích của mình, cuốn sách chưa trình bày cụ thể và chi tiết về từng trào lưu, mà mới dừng lại ở việc tóm tắt và khái quát về các học thuyết phương Tây hiện đại

Tiếp theo là cuốn Lịch sử triết học phương Tây và Triết học Mỹ do Bùi

Đăng Duy và Nguyễn Tiến Dũng đồng tác giả (Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2006) nói đến tư tưởng giáo dục của John Dewey – một phương tiện

Trang 7

Nghiên cứu trực tiếp về tư tưởng giáo dục của J Dewey có thể kể đến các công trình sau:

Luận văn thạc sĩ của Thân Thị Hạnh với tiêu đề: Triết lý giáo dục của John Dewey trong “Dân chủ và giáo dục”, đã trình bày tương đối bao quát và đầy đủ

về triết lí giáo dục của John Dewey trong tác phẩm “Dân chủ và giáo dục” Trong luận văn này tác giả đã phân tích những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến sự hình thành triết lý giáo dục của Dewey, luận giải những nội dung cơ bản của triết lý giáo dục đó được thể hiện trong tác phẩm “Dân chủ và giáo dục” và đưa

ra một số giá trị và hạn chế của triết lý giáo dục của Dewey trong bối cảnh cải cách giáo dục Việt Nam hiện nay

Ngoài ra còn có các bài báo như: “Triết lý giáo dục của John Dewey với giáo dục và dạy học ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Ái Học đăng trên Báo Văn hóa Nghệ An (ngày 12 tháng 12 năm 2014), tác giả đã trình bày quan niệm của John Dewey về triết học và về công việc của triết học Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh đến triết lý giáo dục của J.Dewey và việc vận dụng triết lý giáo dục đó vào nền giáo dục Việt Nam Cũng nghiên cứu về triết lý giáo dục của J.Dewey có

bài viết của tác giả Nguyễn Vũ Hảo với tiêu đề “Triết lý giáo dục của John Dewey hướng đến phát triển con người và những điểm gợi mở cho nền giáo dục

ở Việt Nam hiện nay” được in trên Tạp chí Nghiên cứu con người số 1, từ trang

28 đến trang 38, năm 2015 Trong bài viết tác giả đã phân tích về các quan điểm của mô hình giáo dục truyền thống, sau đó tác giả phân tích rõ những mục tiêu

và phương pháp của giáo dục rồi cuối cùng tác giả đưa ra những điểm gợi mở cho nền giáo dục Việt Nam hiện nay Bài viết “Giáo dục là cuộc sống – Triết lý

Trang 8

5

giáo dục của John Dewey” của tác giả Nguyễn Thị Lan Hương đã tình bày khái quát ngắn gọn những triết lý giáo dục của J.Dewey Qua đó tác giả cũng hy vọng rằng Việt Nam sẽ áp dụng được những điểm tích cực từ tư tưởng triết học của J.Dewey để phát huy hơn nữa tính dân chủ trong trường học ở Việt Nam

Bài viết về “Triết lý giáo dục của John Dewey trong tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục” của Quách Hoàng Công, Hà Lê Dũng được in trên Tạp chí

khoa học và công nghệ, Trường đại học Khoa học Huế, tập 1 số 2 năm 2014 Trong bài viết này tác giả đã tập trung luận giải một số triết lý giáo dục của

J.Dewey qua việc khảo sát tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục”

Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về John Dewey và triết lý giáo dục của ông, tuy nhiên nghiên cứu trực tiếp về quan niệm giáo dục của John

Dewey trong tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục” thì còn khá khiêm tốn và

mới chỉ dừng ở các bài báo Chính vì vậy việc tiếp tục nghiên cứu tư tưởng giáo

dục của J.Dewey trong tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục” sẽ bổ sung thêm

một công trình nghiên cứu chuyên sâu về triết lý giáo dục của ông, đồng thời qua đó chúng ta có thể rút ra những giá trị tham khảo đối với phát triển nền giáo dục Việt Nam hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Khóa luận phân tích làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng

giáo dục của J.Dewey qua tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục”, từ đó đưa ra đánh giá về giá trị, hạn chế và những giá trị tham khảo đối với giáo dục ở Việt Nam hiện nay

Nhiệm vụ:

Để thực hiện mục đích trên, khóa luận có các nhiệm vụ sau:

- Trình bày điều kiện, tiền đề tư tưởng cho sự ra đời tư tưởng giáo dục của J Dewey trong tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục”

- Phân tích làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng giáo dục của J Dewey trong tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục”

Trang 9

6

- Đưa ra một số đánh giá về những giá trị và hạn chế trong tư tưởng triết học giáo dục của Dewey và giá trị tham khảo của tư tưởng giáo dục J Dewey đối với nền giáo dục Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Bài khóa luận tập trung nghiên cứu tư tưởng giáo

dục của John Dewey trong tác phẩm Kinh nghiệm và giáo dục

Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu những nội dung

chủ yếu của tư tưởng giáo dục của J.Dewey trong tác phẩm Kinh nghiệm và giáo dục

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lí luận

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực Đồng thời kế thừa có chọn lọc

những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được công bố

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng

và Chủ nghĩa duy vật lịch sử và sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: phương pháp thống nhất logic và lịch sử, phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, khái quát hóa,…

6 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu

Khóa luận góp phần làm rõ một số quan niệm về triết học giáo dục của

John Dewey trong tác phẩm Kinh nghiệm và giáo dục Ngoài ra, kết quả của đề

tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên học tập và những ai quan tâm nghiên cứu về lĩnh vực này

7 Kết cấu

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận bao gồm 2 chương, 6 tiết

Trang 10

7

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA J.DEWEY VÀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÁC PHẨM “KINH

NGHIỆM VÀ GIÁO DỤC”

1.1 Điều kiện và tiền đề tư tưởng ra đời tư tưởng giáo dục của J Dewey

1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa nước Mỹ thế kỷ XX

Cuối thế kỷ XIX, các nước tư bản chủ nghĩa chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, đặc biệt nước Mỹ đã trải qua những thay đổi to lớn Lúc này Mỹ đang phát triển và trưởng thành, những biến đổi về tình hình kinh tế đã kéo theo nhiều

sự thay đổi trên các lĩnh vực chính trị,văn hóa, xã hội và khoa học

Sau cuộc nội chiến (1861 – 1865), chủ nghĩa tư bản Mỹ phát triển một cách vượt bậc Nước Mỹ do đặc điểm lịch sử nên không gặp phải sự cản trở của thế lực phong kiến đã phát triển khá thuận lợi Mỹ là nước sớm chú trọng đến sự phát triển khoa học công nghệ nên sớm đầu tư cho việc phát minh khoa học công nghệ, điều đó cho phép Mỹ có thể áp dụng kĩ thuật tiến tiến nên năng suất lao động khá cao

Những điều kiện thuận lợi trên đã cho phép nền kinh tế Mỹ phát triển có tính đột phá và đạt những thành tựu to lớn Thời kỳ này còn được gọi là thời kỳ tiến bộ trong lịch sử phát triển nước Mỹ Mỹ trở thành cường quốc công nghiệp hàng đầu thế giới ngay ngưỡng cửa của thế kỷ XX vì sự bùng nổ của giới doanh nghiệp tư nhân tại miền bắc và làn sóng di dân mới đến của hàng triệu công nhân và nông dân từ châu Âu Ngành công nghiệp trở thành đầu tàu lôi kéo sự đi lên của các ngành khác với quá trình tập trung hóa cao độ và sự hình thành các tập đoàn công nghiệp và các công ty tập trung Nông nghiệp với sự áp dụng các thành tựu của khoa học công nghệ và được sự hỗ trợ của chính phủ cho đầu ra các sản phẩm, kết hợp với dự án hợp tác nghiên cứu với các trường đại học, các viện nghiên cứu đã cho ra đời những nông sản phẩm chất lượng tốt và có khả năng nuôi trồng cao, khiến nông nghiệp không chỉ phục vụ được nhu cầu của đại

đa số người dân trong nước mà còn có thể xuất khẩu Trong bối cảnh vận dụng

Trang 11

8

học thuyết kinh tế tự do của Adams Smith (1730-1790), nhà nước không can thiệp vào các hoạt động kinh tế mà để nền kinh tế tự điều tiết theo quan hệ cung – cầu và “bàn tay vô hình” của thị trường với niềm tin, nếu chính phủ khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân phát triển, hầu hết các tầng lớp cư dân khác sẽ được hưởng lợi từ sự phát triển đó Hàng loại các tập đoàn tài chính, ngân hàng lớn lần lượt ra đời Từ năm 1865 đến năm 1894, Mỹ từ nước đứng thứ tư trên thế giới đã vươn lên hàng đầu về sản xuất công nghiệp

Tuy nhiên, đó là mặt hiệu quả của nền kinh tế, song cùng những phát triển

là kéo theo những mâu thuẫn trong nội tại của nó như hiện tượng các ngành công nghiệp lần lượt rơi vào tay một số nhà tư bản kếch sù, liên minh với nhau thành những Tơrớt – một hình thức độc quyền cao và phổ biến ở Mỹ

Sự phát triển của nền kinh tế trong thời kỳ này cũng đã tác động không nhỏ tới đời sống chính trị Đảng Cộng hòa chiếm được lòng tin của dân chúng, có được sự ủng hộ quan trọng về chính trị trong suốt thời gian cầm quyền Tuy nhiên, người dân vẫn tiếp tục mong muốn về một chính quyền dân chủ hơn, hạn chế các tập đoàn công nghiệp và kiểm soát tư bản độc quyền, giảm tệ nạn ở các thành phố và thừa nhận các tiêu chuẩn đạo đức của tầng lớp trung lưu Từ những mong muốn của người dân, mô hình dân chủ ở các tiểu bang dần chuyển sang hình thức dân chủ trực tiếp Người dân trực tiếp bầu thượng nghĩ sĩ, thay cho việc thượng nghị sĩ được cơ quan lập pháp bang lựa chọn Thời kỳ này, cũng là thời kỳ phụ nữ được trao quyền bầu cử, là kết quả tích cực cho quá trình đấu tranh giải phóng phụ nữ kéo dài hàng thập niên ở Mỹ

Tuy nhiên, nền kinh tế tăng trưởng một cách mạnh mẽ đã bắt đầu có dấu hiệu sa sút từ những năm 1920 Ngay sau đó, nước Mỹ phồn vinh và thịnh vượng trong hơn một thế kỷ từ thời lập quốc đã bị thử thách nghiêm trọng trong cuộc Đại suy thoái kinh tế (Great Depression) từ 1929 – 1933 Cuộc suy thoái gần như đã phá hoại hoàn toàn nền kinh tế Mỹ non trẻ Hàng loạt thế lực tài chính hùng mạnh sụp đổ, lạm phát tiền tệ, các ngân hàng vỡ nợ, các tập đoàn công nghiệp liên tục phá sản, nông sản được sản xuất với số lượng lớn nhưng không tìm kiếm được đầu ra dần trở nên rẻ mạt, trong khi các hàng hóa khác trở

Trang 12

hy vọng giờ đây trở thành miền đất đầy âu lo và tuyệt vọng Cuộc bầu cử tổng thống năm 1932 với sự thắng lợi của ứng viên Đảng Dân chủ Franklin Roosevelt (1882 – 1945) một lần nữa khẳng định niềm tin của người dân Mỹ với những tín điều về dân chủ Quá trình thực hiện kinh tế mới (New Deal) của tổng thống Roosevelt với bản chất từ bỏ chủ nghĩa tư bản phi điều tiết, trở lại kiểm soát hệ thống kinh tế của đất nước với việc đưa ra hàng loạt cải cách luật pháp bang và liên bang, tạo việc làm cho thanh niên qua các dự án công cộng, hỗ trợ các doanh nghiệp, cắt giảm sản lượng và trợ cấp cho nông nghiệp….Việc can thiệp vào thị trường của chính phủ Mỹ đã dần đưa kinh tế Mỹ trở về quỹ đạo vốn có, xây dựng một liên minh chính trị vững chắc và thu hút sự quan tâm của người dân đối với chính phủ Kết quả là, cuộc suy thoái chính thức kết thúc năm 1941 khi nước Mỹ có ý định tham chiến vào Thế chiến lần thứ hai

Đây cũng là thời kỳ chứng kiến bước chuyển mình của Mỹ từ một nước với nền cộng hòa non trẻ sang một nước đế quốc với xu hướng mở rộng tầm ảnh hưởng ra khu vực Thái Bình Dương và khu vực Mỹ - La tinh với hàng loạt những quyết sách như mua lại Alaska từ Nga (1867), kiểm soát Puerto Rico, Guam, Cuba và quần đảo Philippines (sau khi thắng Tây Ban Nha năm 1898), sát nhập quốc đảo Hawaii (1893), xây dựng kênh đào Panama (1914) nhằm đáp ứng những toan tính về vị trí địa lý… Đồng thời Mỹ cũng dần từ bỏ thế đứng trung lập hay còn gọi là chủ nghĩa biệt lập Mỹ trong ngoại giao thời Chiến tranh thế giới thứ nhất để chính thức bước vào Chiến tranh thế giới thứ hai sau sự kiện Trân Châu Cảng Đây cũng là giai đoạn chủ nghĩa tư bản trên toàn thế giới phát triển như vũ bão dù chịu sự tác động không nhỏ của suy thoái kinh tế, các thế lực Châu Âu và Nhật Bản cùng cạnh tranh nhằm tranh giành quyền ảnh hưởng

Trang 13

1950 của thế kỷ XX, thời kỳ nở rộ phong trào đòi quyền công dân cho phụ nữ và người Mỹ gốc Phi ở các bang miền Nam Quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Tây với những miền đất của người da đỏ trong những năm cuối thế kỷ XIX và di chứng của quá trình sử dụng lao động nô lệ da đen ở các bang phía Nam đã gây nên những xung đột không đáng có giữa cư dân bản địa và những người khai hoang

Trong khi đó, tự do tín ngưỡng và tôn giáo vẫn được đảm bảo từ thời lập quốc Giáo dục công những năm cuối thế ký XIX đã được triển khai rộng khắp

và miễn phí Hệ thống giáo dục được xây dựng đảm bảo tiêu chí phổ cập, toàn diện, chuyên nghiệp và phi tập trung hóa

Về triết học, chủ nghĩa Hegel mới bùng phát trên đất Mỹ với mục tiêu khôi phục triết học Hegel nhằm giải quyết vấn đề cũng như thách thức chính trị - xã hội nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa Điều này đã có ảnh hưởng không nhỏ tới nền học thuật nước Mỹ trong những năm 1860 Một thời gian sau, dòng triết học này đã bị triết học thực dụng phê phán và thay thế J.Dewey bắt đầu là một người theo triết học Hegel nhưng đã sớm chuyển sang chủ nghĩa thực dụng Triết học thực dụng ra đời trong những năm 1871 đến 1874 tại câu lạc bộ Siêu hình, thuộc đại học Havard do Charles Sanders Peirce (1839 – 1914) và một số thành viên khác sáng lập Sau này được William James (1842 – 1910)

Trang 14

11

phát triển John Dewey (1859 – 1952) được biết đến là người đã nêu cao ngọn

cờ thực dụng trên hầu hết những khía cạnh của cuộc sống

Khoa học kỹ thuật cũng có bước phát triển toàn diện, trong đó có ảnh hưởng lớn nhất đối với khoa học Mỹ phải kể đến là Thuyết Tiến hóa của Darwin

mà chính chủ nghĩa thực dụng đã lấy lý thuyết này làm căn cứ khoa học

Như vậy, trước sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế và khoa học tự nhiên, cũng đòi hỏi khoa học nhân văn phải thay đổi theo Chính bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ấy đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự ra đời triết học của J.Dewey nói chung và sự phát triển những suy tư về giáo dục của ông nói riêng

1.1.2 Tiền đề tư tưởng của tư tưởng giáo dục của J.Dewey

Ngoài những điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa nước Mỹ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tư tưởng giáo dục của J.Dewey còn ra đời trên cơ sở kế thừa tư tưởng giáo dục của các triết gia trong lịch sử, trong đó trực tiếp là tư tưởng triết học của Wilhelm von Humboldt và hai bậc tiền bối trong chủ nghĩa thực dụng đó là Charles Sander Peirce và William James Khóa luận sẽ đi sâu trình bày sự ảnh hưởng của các triết gia trên đối với tư tưởng giáo dục của J Dewey

* Sự ảnh hưởng của Wilhelm von Humboldt đối với tư tưởng giáo dục của J.Dewey

Wilhelm von Humboldt (1767 - 1835) là một trong những đại biểu của thời đại Khai sáng Đức Là người sáng lập ra Đại học Humboldt (Berlin, Đức) Wilhelm von Humboldt thường được biết đến với tư cách là một nhà giáo dục, người khởi xướng tư tưởng cải cách giáo dục dưới thời nước Đức bị quân đội Napoleon chiếm đóng Hiện nay, những nghiên cứu về Humboldt đều coi ông là người đặt nền móng cho nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại, chú giải học và triết học ngôn ngữ Những tác phẩm chính của Humboldt đã được dịch sang tiếng Anh bao gồm: Học thuyết và giáo dục con người (Theory of Human Education) (1789), Các bài luận về Mỹ học I (Essays in Aethetiics I: On Goethe‟s Herrmann und Dorothea) (1799), Nhiệm vụ và Phạm vi của Chỉnh thể (The spheres and Duties of Government) (1854)…

Trang 15

12

Có thể nói, mô hình đại học Humboldt có một ý nghĩa rất quan trọng đến

hệ thống giáo dục đại học thế giới ngày nay Theo mô hình này đại học không chỉ là trung tâm đào tạo nhân tài, mà còn là trung tâm khoa học và văn hóa, với

tự do học thuật được coi là quan trọng nhất

Với Humboldt giáo dục là một tiến trình và kết quả của việc đào luyện cá nhân từ bên trong Humboldt đã ra sức đề xướng sự tự do học thuật và phác thảo một cấu trúc hoàn toàn mới mẻ cho toàn bộ nền giáo dục Cấu trúc này đã phát huy tác dụng và còn đầy đủ tính thời sự cho đến ngày nay Đó chính là công lao lịch sử của Humboldt Cụ thể là việc thiết kế nội dung cho hệ thống giảng dạy: chia làm ba cấp học: tiểu học, trung học và đại học với sự phân biệt rõ rệt ranh giới và tính chất của mỗi cấp Trong đó đại học có chức năng nghiên cứu và đào tạo trí thức dứt khoát không được phép là trường phổ thông cấp 4 Ông nhấn mạnh đại học phải chia làm hai bộ phận rõ rệt: nghiên cứu và giảng dạy tri thức trong tính phổ quát của nó và hình thành một cộng đồng khoa học giữa thầy và trò vì tri thức chỉ có thể có được thông qua tìm tòi, trao đổi, đối thoại Một điểm khác nữa trong lý tưởng giáo dục của Humboldt là quan niệm cho rằng còn người là sinh vật nỗ lực học tập và làm việc suốt đời vì thế việc đào luyện (bildung) con người là một tiến trình không kết thúc và không thể dừng lại giữa đường

Lý tưởng giáo dục của Humboldt xoay quanh từ “bildung” – một từ tiếng Đức mang rất nhiều hàm ý, thường được dịch ra tiếng Anh đơn giản là

“education”, trong khi thực tế nó gần gũi hơn với từ “formation” hay “paideia” trong tiếng Hi Lạp có nghĩa là giáo dục con người, giáo dục nhân tính cho mỗi

cá nhân để cá nhân có thể tham gia vào quá trình cùng chung sống với các thành viên khác trong xã hội Trong lý luận giáo dục của mình, ngược lại với quan điểm của Heghel về nhiệm vụ giáo dục công dân của nhà nước, Humboldt phê phán mọi nỗ lực của nhà nước và xã hội muốn gò ép cá nhân theo những định hướng và mục đích của riêng mình Theo Humboldt, nhiệm vụ chính của nhà nước là đảm bảo an ninh và tích cực hỗ trợ nhưng không can thiệp quá sâu vào giáo dục Theo ông, không những phải đảm bảo giáo dục miễn phí cho mọi công

Trang 16

13

dân, nhà nước còn phải bảo vệ quyền lợi được giáo dục của trẻ em, chống lại những ép buộc vô lý nhằm hạn chế việc học hành của trẻ em từ phụ huynh theo tinh thần khai sáng của triết học giáo dục do Rousseau khởi xướng

Trong những nỗ lực cải cách giáo dục của mình, với mong muốn tạo sức mạnh tinh thần cho người Đức, Humboldt đã đề xuất thành lập và trao quyền tự chủ tài chính cho bộ giáo dục và các trường đại học ở Đức Tuy nhiên, đề xuất của ông đã không được thực thi Cống hiến lớn nhất của ông là thành lập Đại học Berlin sau này mang tên ông Mô hình trường đại học Humboldt được xây dựng theo mô hình giảng dạy kết hợp nghiên cứu, trường đại học phải thiết lập chương trình giáo dục tổng quát, trường đại học phải dạy mọi loại khoa học, không đơn thuần tập trung vào dạy nghề Trường đại học phải hình thành một loại cộng đồng khoa học và các quan hệ giữa thầy và trò, trong đó sinh viên tham gia vào quá trình học tập đồng thời tự nghiên cứu riêng theo hướng dẫn và

hỗ trợ của giảng viên

Như vậy, việc chú trọng hướng giáo dục đến nghiên cứu khoa học

và khẳng định trong giáo dục đại học, giảng viên và sinh viên có quyền tự do nghiên cứu, tự do giảng dạy và tự do học hỏi và tìm hiểu mà không bị kiểm duyệt, đàn áp, hay chi phối bởi các thế lực chính trị và kinh tế Những lý tưởng giáo dục của Humboldt đã gợi mở cho J Dewey xây dựng tư tưởng giáo dục của mình mà vẫn còn giá trị cho đến ngày nay

* Sự ảnh hưởng của Charles Sanders Peirce đối với tư tưởng giáo dục của J Dewey

Charles Sanders Peirce (1839 – 1914) là nhà triết học, toán học và tự nhiên học, ông sinh ra trong một gia đình tri thức Cha ông là nhà toán học tên tuổi tại đại học Harvard Trong suốt thời gian hơn năm mươi năm tâm huyết với công việc nghiên cứu khoa học và giảng dạy, Peirce đã có nhiều cống hiến quan trọng trên nhiều lĩnh vực không chỉ riêng triết học, logic học mà còn các ngành khoa học tự nhiên như toán học, vật lý học và lịch sử khoa học Với lý luận

“hoài nghi – niềm tin” được trình bày trong hai tác phẩm Củng cố niềm tin (The fixation of belief) (1877) và Làm thế nào để tư tưởng trở nên sáng tỏ (How to

Trang 17

14

make our ideas clear) (1878), ông được coi là người đặt viên gạch đầu tiên cho

chủ nghĩa thực dụng, trong đó bao gồm nội dung như lý thuyết về mục đích của chủ nghĩa thực dụng, lý thuyết về ký hiệu, lý thuyết về ý nghĩa, và lý thuyết về niềm tin Chính những lý thuyết ấy ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng giáo dục của J Dewey

Do chịu sự tác động của quan niệm tiến hóa của chủ nghĩa Darwin xã hội thịnh hành trong những năm cuối thế kỷ XIX, Peirce đưa ra lý luận hoài nghi – niềm tin (doubt – belief) nhằm nhấn mạnh tác dụng của hành động đối với sự sinh tồn của con người Về bản chất, lý luận này của ông là quá trình phát triển của nhận thức con người từ trạng thái băn khoăn khi đối mặt với những tình huống mới lạ của cuộc sống đến trạng thái rõ ràng, nhận thức toàn diện bản chất của sự vật Từ đó, con người có thể đưa ra những hành động cụ thể phù hợp với hoàn cảnh đã được nhận thức Peirce gọi trạng thái nhận thức rõ ràng đó là

“niềm tin” Theo nghĩa rộng hơn, niềm tin là tri thức cuối cùng mà con người đạt được về bản chất sự vật Từ cách suy nghĩ như trên, Peirce cho rằng con người cần có những phương pháp hợp lý để củng cố niềm tin hay đạt tới tri thức đúng đắn Ông phân loại các phương pháp đó gồm phương pháp quyền uy, phương pháp cưỡng ép, phương pháp tiên nghiệm và phương pháp khoa học

Trong các phương pháp trên thì theo ông chỉ có phương pháp khoa học là phương pháp tốt nhất để xác định niềm tin vì nó có thể kiểm nghiệm được trong thực nghiệm và cho rằng, tiêu chuẩn cơ bản để xác định niềm tin chính là lấy hiệu quả thực tế làm cơ sở

Phương pháp khoa học của Peirce gồm 3 bước như sau: giả thuyết (abduction), suy luận (deduction) và quy nạp (induction) Giả thuyết là bước đầu tiên, được ông định nghĩa là “quá trình hình thành các giả thuyết giải thích” Bước giả thuyết chủ yếu dựa trên quan sát các dữ kiện thực tế nhằm xác định những gì chúng ta cho là đúng dựa trên nguyên tắc chung nhất định Bước thứ hai là suy luận Ta tiến hành bước này dựa trên những giả thuyết từ bước thứ nhất, từ đó đoán ra các tình huống có thể xảy ra mà bản thân ta phải đối mặt trong tương lai Bước cuối cùng của quá trình này là quy nạp Bước này được sử

Trang 18

15

dụng nhằm đánh giá các dự đoán về độ tin cậy và giá trị của các giả thuyết được tạo ra qua giả thuyết và suy luận, từ đó tiến hành các thử nghiệm và kiểm chứng cần thiết để đạt tới tri thức khách quan, khoa học

Chính lý thuyết này đã có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của J Dewey khi xây dựng lý thuyết về bản chất, phương pháp của giáo dục Bên cạnh đó, chính

lý thuyết chân lý cũng ảnh hưởng đến J Dewey trong việc xác định mục tiêu giáo dục Từ quan điểm của Peirce cho rằng chân lý là quan niệm lấy hiệu quả thực tế để xác định niềm tin của mọi người, là quan niệm giúp con người thành công hay nói cách khác là thành công là tiêu chuẩn của chân lý, từ đó J Dewey

đi đến xác định mục tiêu của giáo dục là: tạo điều kiện phát triển cho mọi người

là như nhau, ai cũng có quyền tự do như nhau trong việc thực hiện và theo đuổi mục tiêu của mình để đến được sự thành công

* Sự ảnh hưởng của William James đối với tư tưởng giáo dục của J Dewey

W James (1842 – 1910) là nhà tâm lý học, triết học tiền bối của chủ nghĩa thực dụng, người được coi là đã phát triển và hệ thống hóa chủ nghĩa thực dụng lên một bước mới James sinh ra trong một gia đình khá giả ở New Yorks Sự nghiệp của ông bắt đầu ở thời kỳ thứ nhất của thời đại hoàng kim của triết học

Mỹ với việc tiếp cận triết học từ tâm lý học Những tác phẩm của ông có thể kể

đến như Những nguyên tắc của tâm lý học (Principles of Psychology) (1867), Các loại kinh nghiệm tôn giáo (The Varieties of Religious Experience) (1902), Chủ nghĩa thực dụng tên gọi mới của một phương pháp tư duy cũ (Pragmatism:

A new name for some Olds Ways of Thingking) (1907)….Trong đó tác phẩm

Nguyên tắc tâm lý học gây nhiều ảnh hưởng tới J Dewey Sự ảnh hưởng lớn

nhất trong triết học của James đối với tư tưởng giáo dục của J Dewey chủ yếu là thuyết tâm lý học, lý luận dòng ý thức và chủ nghĩa thực dụng James

James đã giải thích ý thức tâm lý của con người là một cơ năng của cơ thể sống thích nghi với môi trường chứ không phải sự thực tâm lý là do tri giác hay quan niệm cô lập hợp thành

Trang 19

16

Lý luận dòng ý thức là một trong những phương diện trọng tâm trong tâm

lý học của James “Dòng ý thức” (The stream of consciousness) đồng nghĩa với khái niệm “kinh nghiệm thuần túy” và “dòng cuộc sống” (the stream of life) Theo James thì ông gọi dòng cuộc sống là kinh nghiệm thuần túy, chính dòng cuộc sống này là chất liệu, vật chất cung cấp cho chúng ta sau này phạm trù phản tư và tính khái niệm của nó Qua đó, ta có thể nhận thấy, kinh nghiệm, theo James không chỉ là khoa học, là văn hóa hay các đối tượng vật lý trong thế giới

sự vật khách quan, nó là hoạt động suy nghĩ, tư tưởng, cảm xúc, tâm thức của cá nhân Do đó ta không thể cắt nghĩa mà chỉ có thể cảm nhận kinh nghiệm Khi trình bày cách hiểu cụ thể về “dòng ý thức” ông đưa ra một số đặc trưng sau:

Bên cạnh đó những tư tưởng về phương pháp của chủ nghĩa thực dụng là

đề cao vai trò của phương pháp khoa học của James hay tư tưởng về chân lý cũng có những tác động nhất định trong việc hình thành tư tưởng giáo dục của ông

Như vậy, tư tưởng giáo dục của J.Dewey không chỉ ra đời từ yêu cầu trực tiếp của thực tiễn xã hội Mỹ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, mà còn là sự tiếp

Trang 20

17

tục kế thừa và phát triển tư tưởng giáo dục của các triết gia đi trước Những tư tưởng giáo dục của J.Dewey còn được kết tinh từ chính thực tiễn giảng dạy và nghiên cứu về giáo dục của ông tại nhiều quốc gia trên thế giới

1.2 Khái quát về cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục” của J.Dewey

1.2.1 Về cuộc đời và sự nghiệp của J Dewey

John Dewey sinh ngày 20/10/1859, mất 1/6/1952 tại Burlington, Vermont Ông là triết gia, nhà tâm lý học, nhà giáo dục người Mỹ John Dewey sinh ra trong một gia đình có 4 người con, có bố là thợ máy, sau đó tham gia quân đội Bố ông được biết là người chia sẻ niềm đam mê văn học Anh với các con cháu mình Sau chiến tranh, cha ông trở thành chủ của một cửa hàng thuốc

lá có doanh thu tốt, đủ để giúp gia đình ông có một cuộc sống thoải mái và ổn định về mặt tài chính

Thời niên thiếu, John Dewey theo học các trường công ở Burlington và là một học sinh xuất sắc Mới 15 tuổi, ông đã đăng ký vào Đại học Vermont – nơi

mà ông đặc biệt thích học ngành triết học dưới sự giám hộ của H.A.P Torrey Năm 1879, Dewey tốt nghiệp Đại học Vermont với vị trí thứ 2 trong lớp

Mùa thu ngay sau khi tốt nghiệp, ông được anh họ mời giảng dạy ở một chủng viện thuộc Oil City, Pennsylvania Hai năm sau, Dewey mất việc khi anh

họ ông từ chức hiệu trưởng của chủng viện này

Dewey trở lại Vermont và bắt đầu giảng dạy cho một trường tư thục ở đây Những lúc rảnh rỗi, ông đọc các luận thuyết triết học và thảo luận về chúng với người thầy cũ là Torrey

Khi niềm đam mê của ông với triết học tăng lên, ông quyết định nghỉ dạy

để học triết học và tâm lý học ở Đại học Johns Hopkins George Sylvester Morris và G Stanley Hall là 2 trong số những giáo viên có ảnh hưởng đến Dewey nhiều nhất

Sau khi nhận bằng tiến sĩ từ Johns Hoplins vào năm 1884, Dewey trở thành trợ lý giáo sư ở Đại học Michigan Ở Michigan, ông gặp và kết hôn với Harriet Alice Chipman Họ có 7 người con, trong đó có một người là con nuôi

Trang 21

Năm 1888, ông và gia đình rời Michigan Ông trở thành giáo sư triết học

ở Đại học Minnesota Tuy nhiên, một năm sau, ông lại quay trở về Đại học Michigan và dạy ở đó trong 5 năm tiếp theo

Năm 1894, ông được bổ nhiệm làm trưởng khoa triết học, Đại học Chicago Ông làm việc ở Đại học Chicago cho tới năm 1904, đồng thời làm giám đốc của Trường Giáo dục trong 2 năm

Dewey rời Chicago vào năm 1904 để trở thành giáo sư triết học ở Đại học Columbia – nơi mà ông làm việc trong 26 năm sau đó rồi về hưu

Ông thường tìm cách truyền bá ý tưởng của mình tới một cử tọa rộng lớn hơn và đã viết hàng loạt bài báo và nhiều cuốn sách đặc sắc Sự quan tâm đến giáo dục của Dewey bắt đầu vào những năm ông giảng dạy tại Michigan Ông nhận thấy hầu hết các trường học đều đi theo những đường hướng được thiết định bởi những truyền thống cũ kỹ và không biết điều chỉnh theo những khám phá mới nhất của tâm lý học trẻ em và theo những nhu cầu của một trật tự xã hội dân chủ đang thay đổi Việc tìm kiếm một triết lý giáo dục để có thể sửa chữa những khiếm khuyết ấy trở thành mối bận tâm chính đối với Dewey và là một chiều kích mới thêm vào tư duy của ông

Các tác phẩm gây ảnh hưởng nhất của ông là những tác phẩm bàn về giáo dục, dân chủ, đạo đức học, tôn giáo và nghệ thuật

Tác phẩm biểu hiện tập trung tư tưởng của J Dewey là Lôgic học: Lý thuyết thẩm tra (Logic: The Theory of Inquinry, 1938), tác phẩm được nhiều người ưa chuộng nhất là Tái cấu trúc triết học (Reconstruction in Philosophy, 1920), tác phẩm gây được ảnh hưởng nhất là Trường học và xã hội (The shool

and society, 1899) Ngoài ra, ông còn viết nhiều tác phẩm quan trọng khác như:

Chúng ta tư duy như thế nào (How we think, 1910), Dân chủ và giáo dục

Trang 22

19

(Demonracy and Education, 1916), Nhân tính và ứng xử (Human Nature and Conduct, 1922), Kinh nghiệm và giáo dục (Experience and Education, 1938),…

Trong những tác phẩm này, J Dewey đều chủ trương xây dựng một nền

giáo dục dân chủ gắn lý luận với thực tiễn, đặc biệt trong tác phẩm Dân chủ và giáo dục (Demonracy and Education, 1916) và tác phẩm Kinh nghiệm và giáo dục (Experience and Education, 1938) Đã nhiều năm trôi qua nhưng những tư

tưởng về giáo dục của J.Dewey vẫn tiếp tục được các nền giáo dục hiện đại trên thế giới học hỏi

Trong các tác phẩm của J Dewey tư tưởng triết học chính trị - xã hội là cơ

sở để luận giải rõ hơn quá trình hình thành và diễn biến tư tưởng của J Dewey

về dân chủ nói chung và dân chủ trong giáo dục nói riêng

Triết học chính trị - xã hội của J Dewey được xây dựng trên nền tảng sự kết hợp các phạm trù như cá nhân, tự do, kiểm soát xã hội và hiệu quả xã hội, bên cạnh đó cũng là sự thể hiện cách tiếp cận thực nghiệm của triết gia này dựa trên phương pháp thẩm tra vào nghiên cứu các vấn đề chính trị - xã hội thực tiễn

J Dewey sống trong thời đại của Chủ nghĩa tư bản Mỹ phát triển với nền kinh tế chiếm vị trí to lớn trên thế giới Lúc này giai cấp tư sản Mỹ đã xây dựng một nền chính trị tự do, dân chủ trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản Tình hình châu Âu và Mỹ từ giữa thế kỷ XIX đã có nhiều đổi mới và đang chuyển mình mạnh mẽ Với yêu cầu phát triển về văn hóa xã hội đã đòi hỏi một sự phản ánh mới trong phương thức tư duy, trong triết học Và đặc biệt nó đặt ra yêu cầu phải xây dựng một triết lý giáo dục mới để định hình cho nền giáo dục Mỹ, tạo điều kiện cho nước Mỹ phát triển

Từ yêu cầu thực tiễn được đặt ra như vậy ở J Dewey đã hình thành và phát triển tư tưởng của mình Khi bắt đầu xây dựng sự nghiệp triết học dần dần thúc đẩy ông nghiên cứu về giáo dục Ông nhận thấy hầu hết các trường học ở

Mỹ khi đó đều đi theo con đường giáo dục truyền thống không còn phù hợp với một xã hội đang biến đổi dần dần Việc tìm kiếm một triết lý giáo dục mới trở thành mối bận tâm của J Dewey, kích thích sự suy tư của ông về vấn đề này Khi giảng dạy triết học và làm trưởng khoa ở Đại học Chicago ông đã đề xuất

Trang 23

20

những tư tưởng cơ bản của thuyết công cụ làm nền tảng cho triết lý về giáo dục

và đã bắt đầu hình dung ra mô hình trường học phù hợp Từ những kinh nghiệm

có được khi giảng dạy và sự nghiên cứu nghiêm túc của bản thân, tác phẩm Kinh nghiệm và giáo dục (Experience and Education) ra đời, nó là sự chuẩn bị lâu dài

của ông khi tư tưởng về giáo dục đã ở giai đoạn chín muồi

J.Dewey chính là nhà thực dụng có ảnh hưởng lớn nhất đối với sự phát triển của nền giáo dục Mỹ Tên tuổi J.Dewey trở thành thần tượng của nhiều thế

hệ trí thức Về khía cạnh giáo dục, J.Dewey là người đã phát triển một lý thuyết triết học đề cao tính đồng kết giữa lý thuyết và thực hành Bản thân ông cũng đã thực nghiệm lý thuyết này trong sự nghiệp giáo dục của mình Lý luận giáo dục của ông nhằm tạo ra một bước đột phá trong giáo dục, phê phán mạnh mẽ nền giáo dục truyền thống, tạo một bước ngoặt trong phong trào canh tân giáo dục ở

Mỹ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Ông xứng đáng được xem là “cha đẻ” của phong trào tân giáo dục với học thuyết về giáo dục đồ sộ của mình Mô hình giáo dục thực nghiệm của ông đưa ra đã ảnh hưởng và được sự ủng hộ của rất nhiều nước trên thế giới và đến nay nó vẫn ảnh hưởng Mặc dù vẫn bị phê bình, đôi khi còn bị chỉ trích nặng nề, nhưng với những nỗ lực đóng góp thực hiện ý tưởng của mình và hoài bão canh tân giáo dục, J.Dewey xứng đáng được công nhận là một trong những nhân vật kiệt xuất của nền giáo dục và triết học Mỹ

1.2.2 Khái quát chung về tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục” 1

John Dewey bắt đầu ý tưởng về giáo dục dựa trên kinh nghiệm (experiential education) vào năm 1896 khi ông mở University Laboratory School ( Trường thực nghiệm) tại University of Chicago (Đại học Chicago), University Laboratory School này về sau trở thành Dewey School Dewey School là nơi Dewey hình thành nền tảng cho triết lý giáo dục của ông Sau đó ông đến làm việc tại Columbia University và tiếp tục phát triển triết lý giáo dục của mình Quyển “Experience and Education” được viết 20 năm sau quyển

“Democracy and Education”, là nơi Dewey cô đọng các tư tưởng cùa mình về

1

Tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục” được tác giả Phạm Anh Tuấn dịch từ nguyên bản tiếng Anh: Experience and Education: The 60th Anniversary Edition của tác giả John Dewey Bản tiếng Việt được xuất bản dựa theo sự thỏa thuận với Kappa Delta Pi

Trang 24

21

giáo dục, sau những phản hồi từ thực tế và từ những phê bình của nhiều nhà tư

tưởng khác “Kinh nghiệm và giáo dục” của J.Dewey là một cuốn sách mỏng

được xuất bản năm 1938 dựa trên một bài nói chuyện do ông thực hiện cùng năm đó theo lời mời của Hội Kappa Delta Pi Tác phẩm gồm 116 trang2, được chia thành tám chương, cung cấp cho các nhà giáo dục một triết lý giáo dục mang tính tích cực

Trong ba chương đầu tiên lần lượt với các tiêu đề: “Nền giáo dục cổ truyền đối lập với nền giáo dục tiến bộ”; “Sự cần thiết phải có một triết học kinh nghiệm” và “Những tiêu chí của kinh nghiệm”, J.Dewey đã chỉ ra những hạn chế của nền giáo dục cổ truyền và đề ra một quan niệm mang tính lý thuyết để giải quyết các vấn đề đó Trong các chương 4,5,6,7, J.Dewey đã vận dụng lý thuyết đó vào một nhóm các vấn đề của giáo dục được sắp xếp thành bốn đầu đề của chương: “Kiểm soát xã hội”, “Bản chất của tự do”, “Ý nghĩa của mục đích”,

và “Sự tổ chức nội dung một cách tiến bộ” Chương cuối cùng là “Kinh nghiệm

là phương tiện và mục tiêu của giáo dục” chỉ gồm ngắn gọn 3 đoạn và chưa đến

4 trang giấy Cuốn sách đánh giá những thực tiễn của cả trường học cổ truyền lẫn trường học tiến bộ và chỉ ra những khuyết điểm của mỗi trường học ấy Nhưng tuyệt nhiên cuốn sách không mang tính tranh luận Trong khi xem xét những vấn đề giáo dục ở thời điểm ông, J.Dewey đã giải thích một triết học của kinh nghiệm và những gợi ý do phương pháp khoa học mang lại cho lĩnh vực giáo dục

Kinh nghiệm và giáo dục là một phân tích sáng suốt sâu sắc của J.Dewey

về cả nền giáo dục “cổ điển” lẫn nền giáo dục “tiến bộ” Dĩ nhiên ở đây J.Dewey muốn ám chỉ những trường học tiến bộ ra đời trong những năm 1920 để chống lại nhà trường cổ truyền hình thức chủ nghĩa Ở thời điểm đó do chịu sự ảnh hưởng của cải cách hầu hết các trường học tiến bộ đều thuộc sở hữu tư nhân do một giai cấp trung lưu có đầu óc khoáng đạt xây dựng để phục vụ lợi ích của họ

Trong cuốn Kinh nghiệm và giáo dục, J.Dewey đã nhắc tới tầm quan trọng của

việc học sinh “nghiên cứu gốc rễ của chúng trong quá khứ” để hiểu được những

2

Nguyên bản trong tiếng Anh

Trang 25

22

vấn đề của đời sống hiện tại Nếu nhà trường cổ truyền trông cậy vào những chủ

đề hoặc di sản văn minh để xây dựng nội dung cho nó, thì nhà trường “mới” lại

đề cao tính năng động, sáng tạo, chủ động và sự hứng thú của người học và những vấn đề mang tính thời sự Dewey chỉ ra cả hai tư tưởng giáo dục này đều không toàn diện Traditional education (giáo dục truyền thống) chỉ chú tâm đến nội dung dạy và áp đặt cứng nhắc, không quan tâm đến khả năng cũng như sự hứng thú của người học vì vậy mà người học phải nhớ rất nhiều những kĩ năng

và kiến thức có sẵn khiến người học trở nên bị động bị bó hẹp trong khuôn khổ giới hạn nhất định Khác với nền giáo dục cổ truyền, những nguyên lý của Progressive education (giáo dục tiến bộ) bao giờ cũng đề cao tính cá nhân và khả năng của người học, với nền giáo dục này thì kinh nghiệm và kiến thức luôn phải đi song song cùng với nhau

Ông mô tả và minh họa cụ thể quá trình học tập diễn ra như thế nào, khái niệm tự do, hoạt động, kỷ luật, sự kiểm soát xã hội, và nội dung được tổ chức sẵn được ông giải thích trong kinh nghiệm có tính giáo dục xét như là một quá trình bao hàm cả tính liên tục và sự tương tác Dewey cho rằng sẽ là không đúng nếu một lĩnh vực quan trọng như giáo dục lại thiếu một lý thuyết đằng sau làm

cơ sở cho nó Và hướng giải quyết của Dewey là experiential education (giáo dục dựa trên kinh nghiệm) Dewey đi sâu vào phân tích những tính chất của kinh nghiệm và xây dựng nên lý thuyết về giáo dục dựa trên kinh nghiệm Vào mỗi giai

đoạn mà nền giáo dục có những quan điểm không kiên định thì Kinh nghiệm và giáo dục là một cuốn sách kinh điển, uy tín của tác phẩm được khẳng định qua thử thách

thời gian và cho đến ngày nay cuốn sách vẫn còn rất nhiều giá trị để vận dụng vào thực tiễn

Trang 26

23

Tiểu kết chương 1

J Dewey đã dành trọn cuộc đời dài gần một thế kỷ của mình cho sự nghiệp xây dựng một nền giáo dục dân chủ, vì sự tiến bộ của người học, vì lợi ích to lớn của con người, vì sự phát huy tài năng, trí tuệ, đạo đức nơi mỗi cá nhân con người, nhằm xây dựng cộng đồng xã hội thực sự tốt đẹp Tuy nhiên, triết lý giáo dục, tư tưởng dân chủ giáo dục của ông không phải được ủng hộ hoàn toàn trên đất Mỹ, các trường phái đối lập vẫn chỉ trích Mặc dầu vậy, những thành quả lao động của ông luôn là một di sản vô giá, đặc biệt với những người muốn xây dựng trường học theo ý tưởng của ông

Một tư tưởng không thể nảy sinh từ mảnh đất trống mà nó luôn là sản phẩm của một thời đại, xuất phát từ những hiện trạng, những biến cố của thời đại ấy và phản ánh diện mạo của thời đại và tiếp nối tư tưởng của những người

đi trước Tư tưởng giáo dục của J Dewey trong tác phẩm Kinh nghiệm và giáo dục cũng không ngoại lệ Ngày đó, một nước Mỹ đang sục sôi với công cuộc

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và kéo theo đó là những thay đổi to lớn trong xã hội Vậy mà, nhà trường Mỹ vẫn như kẻ đi dạo vẫn bình thản với tất cả mọi sự và hệ quả tất yếu là nhà trường mỗi ngày càng trở nên lạc hậu so với xã hội bên ngoài Nhà trường nước Mỹ vẫn tiếp tục duy trì lối dạy học nhồi nhét, áp đặt còn trẻ em thì ghi nhớ một cách thụ động Chính vì vậy, việc đưa ra một triết

lý giáo dục mới phù hợp với hoàn cảnh nước Mỹ bấy giờ là điều vô cùng cần thiết

Trang 27

24

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CƠ BẢN TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA JOHN DEWEY TRONG TÁC PHẨM “KINH NGHIỆM VÀ

GIÁO DỤC”

2.1 Nền giáo dục cổ truyền và nền giáo dục tiến bộ

Theo J.Dewey thì “lịch sử của giáo dục là lịch sử của những lí luận đối lập” [7, tr.32] Ông cũng cho rằng “lịch sử của lý luận giáo dục được thấy rõ nét ở dự đối lập giữa quan niệm coi giáo dục là sự phát triển từ bên trong và quan niệm coi giáo dục là sự đào tạo từ bên ngoài; giữa quan niệm coi giáo dục được dựa trên những khả năng thiên phú tự nhiên và quan niệm coi giáo dục là một quá trình chiến thắng thiên hướng tự nhiên và thay thế nó bằng những thói quen được hình thành do tác động bên ngoài”[7, tr.32-33] Ở thực tiễn nước Mỹ tồn tại hai quan điểm đối nghịch nhau trong giáo dục là quan điểm của những người theo nền giáo dục cổ truyền và của những người theo nền giáo dục tiến bộ Qua việc ông phân tích thực tiễn giáo dục nước Mĩ lúc bấy giờ thì nhà trường là một kiểu định chế được phân biệt rõ rệt với những định chế xã hội khác nhau Tức là nhà trường cổ truyền sẽ xây dựng một “mẫu hình tổ chức” có thời khóa biểu, có một chương trình học, cách phân loại học sinh, chuyện thi cử và lên lớp, rồi những nguyên tắc trật tự riêng, Vì vậy mà “mục tiêu chính của nền giáo dục

cổ truyền là xchuẩn bị trẻ em cho những trách nhiệm tương lai” [7, tr.34]

Hạn chế của triết học truyền thống là chỗ dựa vào nhị nguyên luận triết học, tách rời nhà trường và xã hội, tách rời người học và người dạy, tách rời kinh nghiệm và tự nhiên, tinh thần và vật chất, tìm đến giải pháp đối lập thành hai khuynh hướng trong triết học Kiểu giáo dục truyền thống, về bản chất, nó là sự

áp đặt từ bên ngoài, áp đặt những chuẩn mực, nội dung và phương pháp của người lớn cho những đứa trẻ chỉ mới đang trưởng thành Điều đó tạo ra một hố ngăn cách lớn giữa sản phẩm của người lớn với kinh nghiệm và năng lực của trẻ

em Điều này khiến nội dung, phương pháp học mà nhà trường đòi hỏi tất cả đều trở nên xa lạ với những khả năng mà đứa trẻ hiện có Nó khiến cho trẻ em trở nên thụ động trong việc học tập Do đó, giáo dục là bản thân quá trình sống của

Trang 28

ấy thì học sinh phải học rất nhiều kiến thức và những kĩ năng được định sẵn Bởi

vì đối tượng cũng như các tiêu chuẩn về hành vi đúng đắn được lưu truyền từ quá khứ vì vậy thái độ của học sinh phải là thái độ ngoan ngoãn, tiếp thu thụ động và vâng lời Sách, đặc biệt là sách giáo khoa, là đại diện chính của truyền thuyết và sự khôn ngoan của quá khứ, trong khi giáo viên giống như là một cơ quan mà học sinh được đưa vào kết nối hiệu quả với vật liệu Giáo viên là tác nhân thông qua đó kiến thức và các kỹ năng được truyền đạt và các quy tắc ứng xử: được thi hành Chính vì vậy, nội dung của chương trình học phải phản ánh đúng năng lực của học sinh và sự phát triển của loài người Tức là, chương trình học phải ngày một hiện đại lên cùng với sự phát triển của loài người

J.Dewey đã phải thốt lên rằng “ngay cả những giáo viên tốt bụng cũng áp dụng những thủ thuật che đậy sự áp đặt cốt sao giảm nhẹ những đặc điểm thô bạo hiển nhiên” [7, tr.35] Chương trình học cổ truyền rõ ràng đã dẫn đến sự tổ chức theo lối nhà binh cứng nhắc và một thứ kỷ luật bỏ qua những năng lực và hứng thú nằm trong bản tính của trẻ em và điều này vô hình chung đã cướp đi sự sáng tạo và niềm say mê học hỏi của trẻ em ngày từ đầu J.Dewey chỉ ra quan niệm giáo dục nền tảng của nền giáo dục cổ truyền “đều bao hàm việc truyền dạy quá khứ” [7, tr.33], là chuẩn bị cho trẻ em những trách nhiệm ở tương lai, là việc dạy nhồi nhét, là việc học thụ động không xuất phát từ hứng thú của học sinh Nhiệm vụ của học sinh trong trường học cổ truyền chỉ là làm theo và học những chương trình đã được nhà giáo dục dựng sẵn, ông đã so sánh nhiệm vụ đó

“giống như nhiệm vụ của sáu trăm kỵ binh: tấn công và chết”[7, tr.36] Hệ quả tất yếu là những đứa trẻ được đào tạo theo chương trình đó chỉ giống như “con vẹt” hoặc là những “chiếc tủ kính nguy nga đầy ắp những thứ đồ đẹp đẽ nhưng chẳng có ích gì” Người học bị biến thành những kẻ không có và không dám tư duy độc lập và tinh thần sáng tạo tri thức mới Lối giáo dục cổ truyền ấy đã gây

Trang 29

26

ra nơi thế hệ trẻ đặc tính thụ động, tự ti, tôn thờ thần tượng và không có tư duy phê phán, làm cho trẻ mất đi tính tư duy sáng tạo và tính cách độc lập Vì thế,

trong Kinh nghiệm và giáo dục, J.Dewey chủ trương nhà trường phải là địa điểm

diễn ra “cuộc sống thực” của thầy và trò, đồng thời là nơi thầy và trò cùng nhau khám phá tri thức của thế giới xung quanh mình Đó mới chính là mục tiêu đích thực mà J.Dewey hướng tới

Khi một nền giáo dục cũ mắc quá nhiều khuyết điểm đến mức không còn giữ được vai trò lịch sử của mình nữa, thì sự xuất hiện của một nền giáo dục tân canh có thể được hiểu là “kết quả của sự bất mãn đó” [7,tr.35] Nhưng chính tại nơi nền giáo dục truyền thống gặp phải khó khăn thì J.Dewey lại nhận thấy những ưu điểm của nền giáo dục mới

Một là, theo J.Dewey nền giáo tiến bộ bao giờ cũng đề cao tính cá nhân hơn là nền giáo dục cổ truyền Điều này được thấy rõ khi ông phân tích những mặt đối lập như “đối lập với sự áp đặt từ bên trên là sự bộc lộ và vun bồi tính cá nhân; đối lập với kỷ luật bên ngoài là hoạt động tự do; đối lập với học dựa vào sách giáo khoa và người thầy là học tự mình trải nghiệm”

Hai là, trong nền giáo dục tiến bộ, kinh nghiệm và kiến thức gắn liền với nhau Thể hiện trong mối quan hệ mật thiết và tất yếu trong quá trình trải nghiệm có thực giữa người học và giáo dục Việc giáo dục tiến bộ thực hiện trên nền tảng của trải nghiệm cá nhân lại cho chúng ta nhiều mối quan hệ đa dạng và mật thiết giữa người học và người dạy hơn là trong nhà trường cổ truyền không bao giờ có được Tuy nền giáo dục cũ đã áp đặt cho trẻ em tri thức, phương pháp

và các nguyên tắc ứng xử của người lớn, song không phải vì thế mà suy ra rằng tri thức và kỹ năng của người lớn không có ý nghĩa giá trị chỉ dẫn kinh nghiệm của trẻ Trái lại, nếu đặt giáo dục trên nền tảng của sự trải nghiệm cá nhân lại có nghĩa là người trưởng thành và người chưa trưởng thành có nhiều mối tiếp xúc

đa dạng và mật thiết hơn mà nhà trường cổ truyền chưa bao giờ có được và do

đó nghĩa là trẻ em phải chịu nhiều sự chỉ dẫn hơn từ người khác chứ không phải

là bớt đi

Ngày đăng: 09/02/2021, 21:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w