đó là tư tưởng triết học giáo dục đại học của Wilhelm Von Humboldt, nhà cải cách giáo dục người Đức, người sáng lập ra đại học Berlin - “bà mẹ” của các đại học hiện đại.. Việc hiểu về tư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA TRIẾT HỌC -
Đinh Thị Mỹ Linh
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
CỦA WILHELM VON HUMBOLDT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH TRIẾT HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Khóa học: QH-2016-X
HÀ NỘI, 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA TRIẾT HỌC -
Đinh Thị Mỹ Linh
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CỦA
WILHELM VON HUMBOLDT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khoá luận này là kết quả nghiên cứu của tôi dưới dự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Vũ Hảo
Tôi cũng xin cam đoan, đề tài này không trùng với bất cứ đề tài khoá luận nào đã được công bố ở Việt Nam
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của đề tài
Người cam đoan
Đinh Thị Mỹ Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Khóa luận này là kết quả của sự dạy dỗ tận tình, sự góp ý chân thành của tất cả các thầy giáo, cô giáo; và sự nỗ lực phấn đấu của bản thân tôi trong suốt thời gian học tập và tu dưỡng tại Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội
Qua đây, cho phép tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo trong khoa Triết học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn nói riêng cũng như tất cả các thầy giáo, cô giáo đã truyền đạt cho chúng tôi kho tang kiến thức vô cùng quý báu trong suốt quá trình học tập tại Trường Đặc biệt, tôi xin bày tỏ long biết ơn sâu sắc đến GS.TS Nguyễn
Vũ Hảo – người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, người thân, bạn bè – những người đã luôn ở bên cạnh giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đinh Thị Mỹ Linh
Trang 51
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CỦA WILHELM VON HUMBOLDT 9
1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội 9
1.2 Wilhelm Von Humboldt: Cuộc đời và tác phẩm 10
1.2.1 Vài nét về tiểu sử của Wilhelm Von Humboldt 10
1.2.2 Các tác phẩm của Wilhelm Von Humboldt 14
1.3 Những tiền đề ra đời triết học giáo dục đại học của Wilhelm Von Humboldt 17
1.3.1 Tư tưởng chính trị của John Locke 17
1.3.2 Tư tưởng giáo dục của J.J Rousseau 25
1.3.3 Tư tưởng nhân học của Immanuel Kant 27
1.3.4 Tư tưởng giáo dục của Johann Heinrich Pestalozzi 28
CHƯƠNG 2: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN, GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CỦA WILHELM VON HUMBOLDT 31
2.1 Những nền tảng cho tư tưởng triết học giáo dục đại học khai phóng của Wilhelm Von Humboldt 33
2.1.1 Tư tưởng nhân học của Humboldt 33
2.1.2 Tư tưởng của Humboldt về vai trò của nhà nước trong giáo dục đại học 34
2.2 Quan niệm về tự do và khoa học trong tư tưởng triết học giáo dục đại học của Humboldt 38
2.3 Quan niệm về chân lý và giáo dục trong triết học giáo dục đại học của Humboldt 40
Trang 62
2.4 Những giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học giáo dục đại học
của Wilhelm Von Humboldt 42
2.4.1 Những giá trị 42
2.4.2 Những hạn chế 43
KẾT LUẬN 44
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 73
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài khoá luận
Đại học, từ trước đến nay, đều được hiểu như một nơi để đào tạo
ra những chuyên gia lành nghề trong một lĩnh vực hoạt động nào đó Hằng năm, nền kinh tế quốc dân đòi hỏi phải có một số lượng chuyên gia nhất định
để thay thế cho những người nghỉ việc vì nhiều lý do, vậy nên nếu những vị trí công việc đó bị bỏ trống đó không được bổ sung thì đời sống xã hội có nguy cơ sẽ bị tê liệt Do đó, xã hội và nhà nước luôn cần đến một hệ thống đào tạo chuyên gia - hệ thống giáo dục đại học Đó là lý do cơ bản đầu tiên để thấy rằng, giáo dục đại học đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc
Việt Nam là một đất nước có truyền thống “Tôn sư trọng đạo”, lịch sử
đã chứng minh rất rõ điều này thông qua rất nhiều những câu thành ngữ, tục ngữ và rõ ràng nhất là sự kiện triều đại nhà Lý cho lập Quốc Tử Giám vào năm 1706, nơi được coi như trường đại học quốc lập đầu tiên tại nước ta Văn bia tiến sĩ đầu tiên được dựng năm 1484 bởi Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung dưới sự uỷ thác của vua Lê Thánh Tông có thảo câu sau “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” là một chứng cứ rõ ràng rằng dân tộc ta đã xác định
sự phồn thịnh của một quốc gia là ở những con người được đào tạo, vừa có đức, vừa có tài Giáo dục ở bậc cao từ xưa đã được ông cha ta quan tâm và đến tận bây giờ vẫn luôn là đề tài mà cả xã hội và các học giả coi trọng và bàn bạc Tuy nhiên, khác với sự phát triển như các nước trên thế giới về phương diện khoa học, công nghệ, kĩ thuật thì Việt Nam ta vẫn còn là một nước, “nhìn thẳng nói thật”, là một nước nghèo, mặc dù nước ta có một nền học vấn bậc cao từ cách đây gần nghìn năm, vị trí địa lý thuận lợi - là nơi giao nhau của các lục địa và đại dương lớn, có nguồn tài nguyên dồi dào và phong phú Nhìn sang một số đất nước trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, ta thành thật thấy Việt Nam ta còn rất nghèo và lạc hậu Vậy đâu
là nguyên nhân cho điều này? Phải chăng, sự chậm tiến trong công nghệ, khoa
Trang 84
học, kỹ thuật nằm ở việc chúng ta đã thiếu đi những trường đại học đào tạo giỏi? Hay chăng là thiếu mất một sự định hướng tư tưởng triết học giáo dục tại bậc đại học?
Các trường đại học trên khắp thế giới, khắp các quốc gia không phải từ lúc thành lập đến tận bây giờ luôn ổn định về mặt tư tưởng triết học giáo dục,
tư tưởng triết học giáo dục luôn có sự vận động và biến đổi sao cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử và hoàn cảnh quốc gia dân tộc Tuy nhiên, từ khoảng đầu thế kỉ XIX tới bây giờ, có một tư tưởng triết học giáo dục chiếm được “sự
ưa chuộng” của nhiều đại học trên khắp thế giới và đặc biệt ở các nước phát triển như Mỹ, Anh, Austrailia, Canada, đó là tư tưởng triết học giáo dục đại học của Wilhelm Von Humboldt, nhà cải cách giáo dục người Đức, người sáng lập ra đại học Berlin - “bà mẹ” của các đại học hiện đại
Việc hiểu về tư tưởng triết học giáo dục của Wilhelm có thể giúp định hướng giáo dục đại học Việt Nam, nhằm phát triển “cái nôi” đào tạo nhân lực chất lượng cao, chuyên gia của nước nhà Vì vậy, tôi quyết định lựa chọn chủ
đề “Tư tưởng triết học giáo dục đại học của Wilhelm Von Humboldt” là đề tài
nghiên cứu khoá luận của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Hiện nay, nghiên cứu về triết học giáo dục và đào tạo tại Việt Nam đã được rất nhiều học giả bỏ công sức nghiên cứu, đặc biệt là vấn đề đào tạo đại học Trong số đó, nhiều học giả cũng bày tỏ nhiều quan điểm đến triết học giáo dục “hợp thời” với giáo dục của Việt Nam Các học giả tại Việt Nam và người Việt đang sống và giảng dạy, công tác tại nước ngoài cũng có nhiều công trình về những triết học giáo dục của các nhà cải cách giáo dục nổi tiếng trên thế giới như John Locke, J.J Rousseau, Pesstalozi, Robert Owen, Fukuzawa Yukichi, John Dewey, Thái Nguyên Bồi, Maria Montessori, Tuy nhiên, khi nhắc tới nghiên cứu về nhà cải cách giáo dục đại tài của nước Đức
là Wilhelm Von Humboldt thì còn khá hạn chế Năm 2010, Nhà xuất bản Tri thức cho ra mắt cuốn “Festchrift - Kỷ yếu Đại học Humboldt 200 năm (1810-
Trang 95
2010) Kinh nghiệm Việt Nam và thế giới”, tổng hợp các bài viết của các học giả Việt Nam và nước ngoài về nhà cải cách Wilhelm Von Humboldt và những kinh nghiệm giáo dục đại học tại Việt Nam và thế giới Đây có thể coi
là cuốn sách tiếng Việt đầu tiên và đầy đủ nhất tính đến thời điểm hiện tại năm 2020, tức là sau mười năm kể từ lúc cuốn sách được ra mắt độc giả có nội dung đầy đủ nhất về Wilhelm Von Humboldt Cuốn sách là tập hợp các bài viết của các học giả có danh tiếng của Viêt Nam cũng như nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục đào tạo bậc đại học và cao học về những mô hình đại học thành công nhờ áp dụng đúng tinh thần của tư tưởng triết học giáo dục đại học của Wilhelm Von Humboldt và bên cạnh đó là sự sáng tạo sao cho việc
áp dụng đó không trở nên máy móc, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh riêng của từng quốc gia khu vực và nhờ đó đem lại những kết quả tích cực
Bên cạnh đó là những bài viết chuyên môn của các học giả Bùi Văn Nam Sơn với “Lý tưởng giáo dục của Humboldt: Mô hình hay huyền thoại” “Tinh thần đại học của Wilhelm Von Humboldt”, Nguyễn Vũ Hảo với “Triết lý giáo dục khai phóng của Wilhelm Von Humboldt và giá trị gợi mở cho việc đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay”, Nguyễn Văn Hiệu với “Wilhelm Von Humboldt cũng đã bén rễ ở Việt Nam”
Các bài viết của học giả Bùi Văn Nam Sơn thường nặng về những lý luận mang tính hàn lâm, và có cái nhìn tổng quan về tư tưởng triết học giáo dục nói chung của Humboldt những lại không đánh giá sâu và đưa ra những biện pháp cụ thể nếu muốn áp dụng tư tưởng của Humboldt vào việc đào tạo đại học ở Việt Nam thì phải thực hiện như thế nào Với vốn hiểu biết sâu rộng trong triết học nói chung và triết học Đức nói riêng, những bài viết của học giả Bùi Văn Nam Sơn có một sự so sánh rất rõ ràng tư tưởng triết học giáo dục của Humboldt với các trường phái triết học cùng thời Tuy nhiên, tính thực tế của tư tưởng triết học giáo dục đại học Humboldt đối với hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam lại chỉ được chỉ ra bởi bài viết của học giả Nguyễn Vũ Hảo – người đã có hơn ba mươi năm công tác trong lĩnh vực giáo
Trang 10tế giáo dục đại học Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của đề tài khoá luận:
Khoá luận được thực hiện với mục đích phân tích làm rõ những nội dung
cơ bản của tư tưởng triết học giáo dục của Wilhelm Von Humboldt, từ đó đưa
ra những giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học giáo dục đại học của Wilhelm Von Humboldt nói chung và việc áp dụng chúng vào việc phát triển
hệ thống giáo dục đại học tại Việt Nam nói riêng
Nhiệm vụ của đề tài khoá luận:
Để thực hiện mục đích trên, khoá luận có các nhiệm vụ sau:
1 Phân tích bối cảnh và những tiền đề ra đời triết học giáo dục đại học của Wilhelm Von Humboldt
2 Phân tích làm rõ những nội dung cơ bản trong triết học giáo dục đại học của Wilhelm Von Humboldt
3 Làm rõ các giá trị, hạn chế của triết học giáo dục đại học của Wilhelm Von Humboldt đối với giáo dục đại học Việt Nam hiện nay
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Trang 117
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là “Tư tưởng triết học giáo dục đại
học của Wilhelm Von Humboldt”
Phạm vi nghiên cứu: Đa phần là các tác phẩm của Wilhelm Von
Humboldt: phần bàn về vai trò của nhà nước trong “Giới hạn hành động của nhà nước” (“Limits of Action State”), quan điểm về con người trong
“Bàn về ngôn ngữ - Sự đa dạng của cấu trúc ngôn ngữ của con người và ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển tinh thần của nhân loại” (“On language - The Diversity of Human language structure and its influence on the mental development of mankind”), hay “Tinh thần và cơ cấu tổ chức của các thể chế khoa học cao ở Berlin” (“On the spirit and the organizational framework of intellectual institutions in Berlin”)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận:
Khoá luận được thực hiện trên cơ sở lý luận những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận dụng phương pháp luận của việc nghiên cứu lịch sử triết học vào nghiên cứu tư tưởng triết học giáo dục đại học của Wilhelm von Humboldt
Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài khoá luận, tác giả vận dụng tổng hợp phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và những phương pháp: logic - lịch sử, phân tích và tổng hợp, quan điểm lịch sử cụ thể và quan điểm thực tiễn trong việc đặt và giải quyết vấn đề liên quan đến đề tài
6 Đóng góp của nghiên cứu
Hiện nay, nghiên cứu về triết học giáo dục và đào tạo tại Việt Nam đã được rất nhiều học giả quan tâm, đặc biệt là vấn đề đào tạo đại học Trong số
đó, nhiều học giả cũng bày tỏ nhiều quan điểm đến triết học giáo dục “hợp thời” với giáo dục của Việt Nam Các học giả tại Việt Nam nói chung và
Trang 128
người Việt đang sống và giảng dạy, công tác tại nước ngoài cũng có nhiều
công trình về những triết học giáo dục của các nhà cải cách giáo dục nổi tiếng
trên thế giới như John Locke, J.J Rousseau, Pesstalozzi, Robert Owen,
Fukuzawa Yukichi, John Dewey, Thái Nguyên Bồi, Maria Montessori, Tuy
nhiên, khi nhắc tới nghiên cứu về nhà cải cách giáo dục đại tài của nước Đức
là Wilhelm Von Humboldt thì còn khá hạn chế
Chính vì vậy, khoá luận này còn có mục đích cung cấp thêm tư liệu cho
các nghiên cứu sau này về tư tưởng triết học giáo dục đại học của Wilhelm
Von Humboldt một cách khách quan nhất
7 Kết cấu của nghiên cứu
Phù hợp với mục đích, nhiệm vụ và logic nghiên cứu, khoá luận gồm:
Lời mở đầu, 2 chương, 7 tiết, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
Trang 139
CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CỦA WILHELM VON HUMBOLDT
1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội
Cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19, dưới sự tiến công của các đạo quân Cách mạng Pháp, các quốc gia phong kiến chuyên chế châu Âu lần lượt sụp đổ nhanh chóng và bắt buộc phải thực hiện những cuộc cải tổ theo hướng xã hội công dân “Sức mạnh của những nguyên lý này (Cách mạng 1789) là lớn, chúng được công nhận và truyền bá rộng rãi đến nỗi, nhà nước nào không chấp nhận chúng thì hoặc tiêu vong hoặc bị áp đặt phải chấp nhận” như nhà cải cách Hardenberg nhận định Phổ cũng không thoát khỏi định mệnh đó Ngày 14 tháng 10 năm 1806, chỉ trong một ngày, quân đội Phổ đã bị sụp đổ trước sức mạnh của quân đội Napoleon tại thành phố Jena và Auerstedt Sau hoà ước Tilsit 1807, Phổ mất đi nửa nước ở phía bờ Tây sông Eble, trong đó
có thành phố Halle; triều đình phải chạy trốn đến Memel gần Konigsberg của miền Đông Phổ; phần còn lại phần lớn nằm dưới quyền kiểm soát hành chính của quân đội chiếm đóng, một tình hình cực kì bi đát, Vương quốc 900 năm (Holy Roman Empire) chấm dứt định mệnh trong chốc lát Quadriga (Cỗ xe
tứ mã) trên Cổng Brandenburg, biểu tượng của Berlin, cũng bị quân đội Napoleon gỡ mang về Paris (cho đến khi Phổ thắng Pháp 1870 mới được trả
về chỗ cũ) [3; tr 55]
Một sự nhục nhã không thể nói hết cho vương quyền và cho dân tộc
“Tôi đã nghiền nát nền quân chủ Phổ”, Napoleon tự hào Người hùng cũng
đã thực hiện khẩu hiệu của Voltaire: “écrasexz l’ifâme”, “nghiền nát sự sỉ nhục” từ chế độ phong kiến chuyên chính, sự kìm hãm và bất lực đang đè nặng lên xã hội Đức
Xã hội Đức lúc đó rất lạc hậu Cuộc cách mạng công nghiệp Anh đã diễn
ra từ thế kỉ XVIII với nền sản xuất công nghiệp và động cơ hơi nước được áp dụng rộng rãi trong sản xuất và giao thông Trong khi đó, Đức vẫn là một đất
Trang 1410
nước nặng về nông nghiệp với 85% dân số sống ở nông thôn Nước Đức cũng
là bãi chiến trường triền miên trước đó với những tàn phá nặng nề, chiến tranh
Ba mươi năm (1618-1648), chiến tranh Schlesien (1740-1745), chiến tranh bảy năm (1756-1763), bị chia cắt thành vô số các vương quốc nhỏ độc lập, bởi hàng rào thuế quan dày đặc “ngăn sông cấm chợ” khắc nghiệt Mù chữ trong dân số là phổ biến, dân số đang bùng nổ, tăng từ 24,8 năm 1816 đến 35,6 triệu năm 1850, và đến 1900 lên tới 56,3 triệu Napoleon ra lệnh đóng cửa Đại học Halle và Jena; Halle cũng không còn thuộc Phổ nữa Do những cuộc chiến tranh chinh phục của Napoleon, số đại học châu Âu giảm từ 143 năm 1789 xuống chỉ còn 83 năm 1815, phù hợp với ý đồ của Napoleon muốn thiết lập ngôi bá chủ cho nền đại học đế quốc Pháp, hay nói cách khác chế độ thực dân văn hoá
Tình hình này đã làm cho ý tưởng các nhà cải cách Phổ thành lập đại học Berlin chín muồi Cải cách giáo dục là khâu cuối cùng cho cuộc Đại Cải cách Phổ, nhằm vực dậy một đất nước đã rệu rã từ nền móng Sự thành lập Đại học Berlin nằm trong chương định mệnh chính trị của Phổ, và của tinh thần Đức
Và công việc này được giao cho Wilhelm Von Humboldt - một nhân tài của nước Đức
Humboldt viết thư cho Thủ tướng Hardenberg để kêu gọi ủng hộ ông:
“Khi đất nước không may rơi vào tình cảnh rất khác xưa, thì càng cần thiết phải thu hút sự chú ý vào một việc làm nổi bật một phương diện Nước Phổ từng khuyến khích sự khai minh và khoa học, nay càng cần tăng cường điều
ấy để tranh thủ thiện cảm của nước ngoài, và, bằng một cách vô hại về chính trị, đạt cho được một sức mạnh tinh thần ở nước Đức, vì sức mạnh ấy sẽ hết sức quan trọng về nhiều mặt trong tương lai” [3; tr 164]
1.2 Wilhelm Von Humboldt: Cuộc đời và tác phẩm
1.2.1 Vài nét về tiểu sử của Wilhelm Von Humboldt
Wilhelm von Humboldt tên thật là Friedrich Wilhelm Christian Karl Ferdinand Freiherr von Humboldt, sinh ngày 22 tháng 6 năm 1767 và mất
Trang 1511
ngày 8 tháng 4 năm 1835 Ông sinh ra tại Potsdam, một thành phố nhỏ cạnh Berlin như một khu Sanssouci dành cho các vua Phổ Từ năm 1802 đến 1808, tức trước lúc nhậm chức để cải tổ đại học và giáo dục, ông làm đại sứ của Phổ tại Vatican Tại đây, ông không quan tâm mấy đến chính trị thời sự và xã hội Roma mà âm thầm theo đuổi một lý tưởng hàng đầu đã được các nhà cổ điển Đức tại Weimar và Jena xướng lên: lý tưởng tân nhân văn theo hình mẫu người Hy Lạp Ông được coi là “đối tác trẻ” của trường phái cổ điển Đức, được kết thân với Schiller và Goethe, những đại văn hào của Đức tại Weimar những năm trước khi nhậm chức ở Roma [3; tr 57]
“Humboldt thành thạo các loại ngôn ngữ như Latin, Hy Lạp, Hebrew và tiếng Pháp, và nhận được kiến thức tổng quát từ các gia sư Hai nơi dừng chân
có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển tinh thần ông là Đại học Gottingen, đại học khai sáng, và thành phố Weimar, trung tâm văn hoá và pháo đài của trường phái cổ điển-lãng mạn trong văn học Người ta nói “Gottingen là thành phố quê hương của sự phát triển trí tuệ của ông” Tại đây sự đam mê văn minh Cổ đại thực sự ở Humboldt vụt cháy, và trở thành nguồn năng lượng quan trọng nhất trong đời ông, sẽ có ảnh hưởng lớn lên lý thuyết giáo dục của ông Ở đó có một người thầy ngành Cổ đại học rất lỗi lạc, là người dọn đường cho chủ nghĩa tân nhăn văn, Christian Gottlieb Heyne.” [3; tr 58]
Wilhelm Von Humboldt có một người em trai là Alexander von Humboldt, người mà kém ông hai tuổi Tuy là hai anh em nhưng họ lại thể hiện hai “thái cực” theo hai chiều hoàn toàn khác nhau Wilhelm Von Humboldt có mối quan tâm hàng đầu là hiểu được chiều sâu của con người trong khi người em Alexander là một nhà thám hiểm và địa chất nổi tiếng, hiểu thế giới bên ngoài của tự nhiên theo hướng tự nhiên của nó Alexander từng có lần miêu tả về người anh của mình như sau: “Và bây giờ, Gottinger
đã trở thành Athen của nước Đức! Anh tôi rất thích, vì anh ấy tìm được chất liệu cho tinh thần, và có nhiều sự quen biết hơn là anh ấy- một con người lạ lùng – cần đến.” [3; tr 58] Cả hai anh em nhà Humboldt đều được hưởng
Trang 16ta Ông sống ở những nơi khác nhau: trên khu đất của cha vợ gần Erfurt, ở Weimar và Jena để gần Goethe và Schiller, ở Dresden, và trên khu đất gia đình gần Berlin, Tegel, cái mà sau này ông xây dựng lại với sự cân nhắc rất lớn phong cách cổ điển và làm nơi ở ưa thích của mình.”1 [38; tr viii]
“Năm 1796, mẹ ông mất để lại cho hai anh em một gia sản thừa kế to lớn Mặc dù chi phi khổng lồ và một gia đình đang phát triển, Wilhelm quyết định sống ở Ý một thời gian, nhưng khi chiến tranh cản đường, gia đình ông chuyển đến Paris Tại đây, họ đã trải qua bốn năm từ tháng 11 năm 1797 đến
1
“After the father’s death in 1779, their education was guided by the ambitious and rather cold-hearted mother, who sent them, still under supervision, to the minor but safely traditional university at Frankfurt an der Oder berfore they were allowed to proceed to the modern and liberal University of Gottingen, where they benefited from the lively intellectual atmosphere and studied under famous scholars Wilhelm completed his legal studies and from a short while held a government post in Berlin, but gave it up in 1791 when he married a wealthy woman, who already knew Schiller and Goethe Humboldt never had to work for a living, and for the next dozen years he did what he prized most: he cultivated his mind and explored his individuality in all the ways that were open to him He resided in different places: on his father-in-law’s estate near Erfurt, in Weimar and Jena to be close to Goethe and Schiller, in Dresden, and on the family estate near Berlin, Tegel, which he later rebuilt with great deliberation in the classical style and made his preferred residence.”
Trang 17đó là một nơi ở mở ra một kỷ nguyên mới trong suy nghĩ của tôi Trong cùng năm đó, ông ta đã viết cho một người bạn khác, người đang dự định rời Paris, rằng anh ta không chấp nhận quyết định này, “bất cứ điều gì bạn nói, Paris luôn thú vị, và bạn muốn quay lại Berlin, đến một nơi ít quan trọng bởi một số tiền lớn.” Vào mùa thu năm 1801, ngay sau khi trở về Berlin, ông đã viết thư cho một phóng viên rằng có một cơn biến động ở Tegel đã buộc gia đình phải
cư trí tại nhà phố ở Berlin.”3[38; tr viii] “Chỉ sau một năm ở Berlin, gia đình ông di chuyển đến Rome, nơi Humboldt ở lại cho đến năm 1808 Nhưng vào năm 1808, ông được gọi trở lại Đức, và bây giờ sau hàng chục năm bận rộn với dịch vụ công cộng, để lại ít thời gian cho nghiên cứu quý giá của mình, mặc dù ông không bao giờ phải từ bỏ hoàn toàn Trong thời gian 1809-10, ông là Trưởng bộ phận giáo dục của Bộ Nội vụ, và trong vai trò của mình, ông đã có một ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài, cuối cùng đã vượt ra khỏi biên
growing family, Wilhelm decided to live in Italy for a while, but when war blocked the way, they all instead journeyed to Paris Here they spent four years between November of 1797 and last summer of 1801” 3
“It was in these years, when the world was made new, that Paris was becoming the capital of the nineteenth century From all parts of Europe poets, scholars, writers, and scientists streamed to Paris to be part of the action, which was both politically and intellectually exciting Among them was Wordsworth The Paris experience had a profound impact on Humboldt’s thought, and he made it emphatically clear in letters
he wrote at the time A year after his arrival he wrote to a friend in Germany that in spite of much he found disagreeable, ‘nevertheless I cannot deny…that my residence here opens a new epoch in my thinking’ In the same year he wrote to another friend, who was planning to leave Paris, that he did not approve of the decision, ‘whatever you say, Paris is always interesting, and you wish to return to Berlin, to a place that is less important by a wide margin.’ In the fall of 1801, soon after the return to Berlin, he wrote to a correspondent that an outbreak of scarlet fever in the region of Tegel had forced the family to reside in the town house in Berlin.”
Trang 1814
giới Đức, và các mục tiêu và tổ chức giáo dục trên tất cả cấp độ Ông là người tạo ra hiệu quả của trường đại học mới ở Berlin và do đó là sự thể chế hoá kiến thức và giáo dục Đây chắc chắn là thành tựu quan trọng nhất trong cuộc đời của Humboldt Trong những năm sau đó, ông đã tham gia vào các cuộc đàm phán phức tạp, bao gồm cả Đại hội Vienna, sau sự sụp đổ của đế chế Napoleon Trong thời gian 1817-18, ông đã dành một năm ở London với tư cách là đại sứ của Toà án Saint James, sau đó một năm trở lại phục vụ chính phủ Berlin cho đến khi ông được thả ra vào cuối năm 1819 do mâu thuẫn về chính sách.”4
[38; tr ix]
Wilhelm Von Humboldt mất vào đầu tháng 4 năm 1835 tại Tegel Wilhelm Von Humboldt lớn lên trong tinh thần Khai sáng nhưng ở tuổi thanh niên, ông đã trở thành con người của nhân văn mang tính chất lãng mạn của thời Hậu khai sáng
1.2.2 Các tác phẩm của Wilhelm Von Humboldt
“Socrates và Plato về Thần học” (“Socrates and Plato on the
Divine”) (orig Sokrates und Platon über die Gottheit) 1787-1790
Action”, first seen in 1792 Ideen zu einem Versuch, die Grenzen der
4
“After barely a year in Berlin, the growing family now travelled to Rome, where Humboldt remained until
1808 as Prussian resident accredited to the Vatican These were years of moderate leisure that left time for greatly intensified study of languages in the newly conceived spirit At this time he was first introduced to American Indian languages when his brother, now back from his widely acclaimed travels in equatorial America, brought him a large number of grammars from the many Jesuit mission stations he had visited But in 1808 he was recalled to Germany, and now followed a dozen busy years in public service that left little time for his treasured study, though he never had to give it up entirely During 1809-10 he was director of the education section in the Ministry of the Interior, and in his role he had a profound and long- lasting effect, that eventually reached beyond the borders of Germany, on the aims and organization of education on all levels He was the effective creator of the new university of Berlin and thus of the academic institutionalization of knowledge and education that, for better or worse, the world has lived with since that time This is undoubtedly the single most important achievement in Humboldt’s public life During the following years he took part in the complicated negotiations, including the Congress of Vienna, that followed the collapse of Napoleon’s empire During 1817-18 he spent a year in London as ambassador
to the Court of Saint James, then for a year returned to government service in Berlin until he was released
at the very end of 1819 owing to conflicts over policy Except for minor official duties, he now entered private life for good, living mostly at Tegel, where he died in early April of 1835 For the first time in years,
he could again devote all his energies to languages in the private pursuit of his treasured cult of education.”
Trang 19selt-15
Wirksamkeit des Staates zu bestimmen, page ii Published by E Trewendt,
1851 (German))
“Đề cương của Nhân học so sánh” (“Outline of a Comparative
Anthropology”) (orig Plan einer vergleichenden Anthropologie) 1797
“Thế kỉ thứ mười tám” (“The Eighteenth Century”) (orig Das
achtzehnte Jahrhundert) 1797
1807-1808
verschiedenen Epochen der Sprachentwicklung 1820
“Những nghiên cứu về những cư dân ban đầu của Tây Ban Nha với sự
hỗ trợ của ngôn ngữ Basque” (“Researches into the Early Inhabitants of Spain
with the help of the Basque language”) (orig Prüfung der Untersuchungen
über die Urbewohner Hispaniens vermittelst der vaskischen Sprache) 1821
die Ideenentwicklung 1822
“Viết và mối quan hệ của nó với Nói” (“Upon Writing and its Relation
to Speech”) (orig Über die Buchstabenschrift und ihren Zusammenhang mit
dem Sprachbau) 1824
Trang 2016
“Những ngôn ngữ của các vùng biển Nam” (“On the languages of the
South Seas”) (orig Über die Sprache der Südseeinseln) 1828
“Schiller và con đường của sự phát triển tâm linh” (“On Schiller and
the Path of Spiritual Development”) (orig Über Schiller und den Gang seiner
Geistesentwicklung) 1830
“Bàn về ngôn ngữ - Sự đa dạng của cấu trúc ngôn ngữ của con người
và ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển tinh thần của nhân loại” (“The Heterogeneity of Language and its Influence on the Intellectual Development
of Mankind”) (orig Über die Verschiedenheit des menschlichen Sprachbaus
und seinen Einfluss auf die geistige Entwicklung des Menschengeschlechts)
1836 Phiên bản mới: “On Language On the Diversity of Human Language Construction and Its Influence on the Mental Development of the Human Species, Cambridge University Press, 2nd rev edition 1999”
Năm 24 tuổi, Wilhelm Von Humboldt viết tác phẩm “The Limits of State Action” hay dịch ra tiếng Việt là “Giới hạn hành động của nhà nước” bàn về nhà nước và sự phát triển, tự hoàn thiện của nhân cách con người Ở tác phẩm này ông đã đặt nền móng chi những ý tưởng giáo dục và cuộc cải cách giáo dục mười năm sau Tác phẩm này được dịch sang tiếng Anh lần đầu tiên năm 1854 dưới tên “Khu vực và những nhiệm vụ của chính phủ” (“The
Sphere and Duties of Government”) do Joseph Coulthard thực hiện, và cũng
thông qua tác phẩm này, được John Stuart Mill trích dẫn trong tác phẩm “Bàn
về tự do” của mình Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng bản dịch tiếng Anh của J W Burrow được xuất bản năm 1969 của Cambridge University Press
Một tác phẩm khác, hay nói chính xác là một bài luận của Wilhelm Von Humboldt (được xem như bị vong lục) về đại học Berlin được viết vào năm 1809/10, tức là lúc ông xúc tiến và thành lập đại học Berlin Nhưng bài này không được công bố chính thức, và người ta khám phá nó vào khoảng năm 1900, tức là gần một trăm năm sau Nhưng mọi người đều xem bài viết
Trang 2117
đó của Humboldt là linh hồn của đại học mà ông muốn cải cách Bản tiếng Anh chính thức được dịch vào năm 1970 có tên là “On the Spirit and the Organisational Framework of Intellectual Institutions in Berlin” hay được dịch ra tiếng Việt là “Tinh thần và cơ cấu tổ chức của các thể chế khoa học cao ở Berlin”
1.3 Những tiền đề ra đời triết học giáo dục đại học của Wilhelm Von Humboldt
1.3.1 Tư tưởng chính trị của John Locke
John Locke (1632 – 1704) sinh ở Wrington, một làng nhỏ ở Somerset,
vào ngày 29 tháng 8 năm 1632 Ông sinh trưởng trong một gia đình Thanh
giáo, là con trai của một chủ đất nhỏ hành nghề luật sư tại nông thôn và đã
tham gia Nội chiến trong phe của Cromwell Năm 1646, ông vào học
trường Westminster tại London và học tiếp lên trường Christ Church của Đại học Oxford vào năm 1652 Ông lấy bằng cử nhân năm 1656 và thạc sĩ năm 1658, sau đó làm giảng viên tại trường từ 1660 Trong thời gian ở đây, ông còn quan tâm đến khoa học thực nghiệm và trở thành hội viên Hội Hoàng gia vào năm 1668
Năm 1666, ông làm thư ký cho Huân tước toàn quyền Carolinas, Huân
tước Ashley tức Bá tước Shaftesbury Ashley đã thuyết phục vua Charles
II thành lập Ban Thương mại và Thuộc địa và ông trở thành thư ký của Ban
này Sau 1674, khi Shaftesbury rời chính trường, Locke trở lại Đại học Oxford lấy bằng cử nhân Y học và giấy phép hành nghề rồi sang miền Nam nước Pháp Khi Shaftesbury trở lại vũ đài chính trị thì ông cũng quay về Anh năm 1679 Do sợ bị nghi ngờ dính líu đến một âm mưu ám sát nhà vua nên
ông quyết định sang Hà Lan vào năm 1683 Tại đây, ông viết Lá thư về lòng
khoan dung bằng tiếng Latinh và trước khi rời Hà Lan vào tháng 2 năm 1689,
tác phẩm Luận về sự hiểu biết của con người đã được ông hoàn thành
Cuộc Cách mạng Vinh quang năm 1688 đã đánh dấu một bước ngoặt
không chỉ của nước Anh, mà với cả Locke Ông trở lại Anh trên chiếc tàu chở
Trang 2218
Nữ hoàng Mary về nước để cùng chồng cai trị vương quốc Trong giai đoạn
này, ông xuất bản tác phẩm “Luận về sự hiểu biết của con người” và “Hai
chuyên luận về nhà nước” Đồng thời, tác phẩm “Lá thư về lòng khoan dung” mà ông viết bằng tiếng Latinh cũng được dịch ra tiếng Anh Trong
những năm tiếp theo, ông có mối quan hệ thân thiết với Quý bà Masham và sống tại Oates, Essex Ông viết nhiều thư từ, tranh luận để bảo vệ các tác
phẩm của mình và cho xuất bản các cuốn sách “Tính hợp lý của Kitô
giáo”, “Một số suy nghĩ về giáo dục”
Từ năm 1696 đến năm 1700, ông lại tham gia vào Ban Thương mại và
Thuộc địa, một cơ quan quản lý nhiều việc, trong đó có cả các việc về
nước Mỹ trước khi xảy ra Cách mạng Mỹ Sau khi về hưu, Locke trở về Oates
sống những ngày cuối đời và mất ngày Chủ nhật, 28 tháng 10 năm 1704
Ông là nhà triết học theo trường phái chủ nghĩa kinh nghiệm Anh trong lĩnh vực nhận thức luận Ông cũng phát triển lý thuyết về khế ước xã hội, vai
trò của nó tới chức năng và nguồn gốc nhà nước Qua các tác phẩm của mình, John Locke luôn đấu tranh chống lại chủ nghĩa chuyên chế và có những đóng
góp lớn đối với chủ nghĩa tự do cả về mặt cá nhân lẫn mặt thể chế Về cá nhân, ông muốn con người dùng lý trí để đi tìm chân lý thay vì chấp nhận ý
kiến áp đặt hoặc được sinh ra bởi niềm tin mù quáng Về mặt thể chế, cụ thể
là nhà nước và nhà thờ, Locke tách biệt những chức năng chính đáng và không chính đáng của các thể chế này và từ đó mà có sự khác nhau trong việc
sử dụng bạo lực của các thể chế này tương ứng với những chức năng của nó Chính những khái niệm về quyền tự nhiên, khế ước xă hội và nhiều đóng góp
khác đă khiến ông trở thành một nhà tư tưởng lớn của phong trào Khai
sáng và có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc Cách mạng Mỹ và bản Tuyên ngôn
Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
Lý thuyết về quyền tự nhiên và khế ước xã hội là cốt lõi cơ bản trong
quan điểm của Locke về nhà nước và tổ chức nhà nước Quyền tự nhiên trước hết là quyền mưu cầu sinh tồn của con người Ông quan niệm tài sản
Trang 2319
là quyền tự nhiên và sinh ra do lao động Chính lao động sinh ra giá trị tài
sản của một vật thể Tài sản là tính có trước cả nhà nước và do vậy, nhà
nước không có quyền can thiệp
Lao động tạo ra của cải, nhưng việc tích luỹ của cải cũng có giới hạn vì khả năng sản xuất và tiêu thụ có hạn của con người Để giải quyết vấn đề này cần có lưu thông tiền tệ Chính tiền tệ khiến việc tích lũy là có thể mà tránh không bị lăng phí hay hư hỏng như khi tích lũy hàng hóa Ông cho rằng, bất bình đẳng sinh ra do sự thỏa thuận ngầm trong việc sử dụng tiền tệ chứ không phải từ khế ước xã hội trong xã hội văn minh hay do các luật lệ điều chỉnh quyền sở hữu đất đai Ông cũng nhận thức được vấn đề đặt ra từ việc tích lũy không có giới hạn, nhưng mới chỉ ám chỉ rằng chính quyền cần điều hòa mâu thuẫn giữa việc tích lũy của cải không có giới hạn với việc phân phối của cải bình đẳng hơn, mà chưa hề đề cập đến những nguyên tắc mà dựa vào đó, chính quyền giải quyết được việc này
Nhưng, nguồn gốc của thể chế nhà nước không chỉ xuất phát từ nhu cầu
kinh tế Cũng như Hobbes, Locke quan niệm trong trạng thái tự nhiên, tất cả
mọi người đều bình đẳng và độc lập, không ai có quyền làm tổn hại đến người khác và mọi người đều có quyền trừng phạt kẻ vi phạm Xã hội văn minh ra đời khi vì mục đích quản trị tốt hơn mà con người giao một số chức năng của mình cho các quan chức và do vậy, nhà nước hay hệ thống chính quyền ra đời
và được thể chế bằng khế ước xã hội Theo đó, quyền lực của nhà nước là có
giới hạn và nhà nước có nghĩa vụ đối với người dân Ngoài ra, quyền lực của nhà nước có thể bị thay đổi bởi chính người dân, người bị trị, những người đã trao quyền cho nhà nước
Locke cũng cho rằng, con người luôn ích kỷ và đầy ham muốn Chính vì
vậy mà ngay từ thời kỳ còn trong trạng thái tự nhiên, khi nhà nước chưa ra
đời, bên cạnh quyền tự nhiên của mình, con người đã phải tự cho mình quyền
xét xử và trừng phạt kẻ khác để duy trì luật của tự nhiên Khi xã hội văn minh
ra đời, thể chế nhà nước là hệ quả của khế ước xã hội - một bước tiến văn
Trang 2420
minh hơn và giúp duy trì luật của tự nhiên thông qua luật lệ của xã hội văn minh Ngay cả một nhà nước chuyên chế do vua chúa cai trị cũng phải thực hiện đúng các chức năng của khế ước xã hội như một chính quyền dân sự nếu không muốn bị diệt vong Chức năng của một chính quyền dân sự hợp lý là phải bảo vệ quyền tự nhiên của con người, tức quyền được sống, được tự do,
có sức khỏe và của cải của mỗi công dân Ông cũng phân biệt quyền hạn của nhà nước do truyền ngôi với quyền hạn chính trị và độc tài Quyền hạn truyền ngôi là hạn chế, còn quyền hạn chính trị là lấy từ quyền của mỗi cá nhân để đảm bảo việc thực hiện luật của tự nhiên Quyền độc tài thì ngược lại, nó lấy quyền sống, tự do, sức khỏe và cả một phần của cải của người khác để phục
vụ cho quyền lực của mình
Theo quan điểm của Locke về khế ước xã hội, nhà nước không cần có
quá nhiều quyền lực, vì như vậy chỉ khiến người dân bị đè nén Ông cũng nhận thấy nguy cơ của quyền lực tuyệt đối, quyền độc tài dù trao cho một cá nhân hay một nhóm người Dạng nhà nước tốt nhất chính là quyền lực của hệ thống chính quyền được hạn chế bằng cách chia thành các nhánh và mỗi nhánh có quyền hạn riêng cần thiết đủ để thực hiện chức năng của mình Theo ông, một hệ thống nhà nước cần có quyền xét xử độc lập mà việc ra quyết định được thực hiện chỉ dựa trên duy nhất hiến pháp của cả quốc gia Ông cho rằng, trách nhiệm của quốc hội là lập pháp và nhiệm vụ của nhà vua là hành động như một người chấp pháp tối cao
Để duy trì trật tự xã hội, bất kỳ nhà nước nào cũng đều phải có sự đồng thuận của những người bị trị [35; tr 95] Nhận thấy rằng, khó có thể đạt được
sự đồng thuận tuyệt đối cho một luật lệ cụ thể được đưa ra, Locke chủ trương phải chấp nhận đặt sự quyết định dựa trên ý kiến của đa số lên trên hành vi của mỗi cá nhân [35; tr 97-98]
Đối với Locke, cơ cấu nhà nước không quan trọng bằng việc quyền lập pháp – quyền quyết định trật tự xã hội và phúc lợi chung qua việc đặt ra luật
lệ về việc chuyển nhượng, bảo toàn và thu nhận tài sản – phải được thực hiện
Trang 2521
theo cách mà mọi người đều đồng thuận [35; tr.134 - 138] Vì luật lệ sẽ được duy trì trong một thời gian dài sau khi thiết lập, nên cơ quan lập pháp không cần phải họp thường xuyên Tuy nhiên nhánh hành pháp - nơi chịu trách nhiệm đảm bảo luật pháp được thực thi cần duy trì hoạt động liên tục trong xã hội [35; tr 144] Chức năng hành pháp được thực hiện bởi các quan chức, các
vị bộ trưởng mà quyền lực của họ được trao từ nhánh lập pháp [35; tr 153]
Khi nhánh lập pháp ngưng họp, cơ quan hành pháp có đặc quyền xử trí tình
hình khẩn cấp khi chưa có luật lệ quy định cho những tình huống này [35; tr 160] Locke cũng cảnh báo rằng, nếu lạm dụng đặc quyền này sẽ ảnh hưởng đến sự ổn định và trật tự của quốc gia Khi đó, một trật tự mới, một khế ước
xã hội mới sẽ ra đời để thực hiện quyền phán xét tối cao theo đúng luật của tự
nhiên (Cách mạng)
Quan điểm của Locke về sự ra đời của nhà nước là một đóng góp tiến bộ cho lý thuyết về khế ước xã hội Một thế kỷ sau đó, Jean Jacques Rousseau đã nhắc lại ý tưởng này của Locke như là nội dung cốt lõi cho kiệt tác “Bàn về khế ước xã hội” của ông: “Với khế ước xã hội, con người mất đi cái tự do thiên nhiên và cái quyền hạn chế được làm những điều muốn làm mà làm được; nhưng mặt khác con người thu lại quyền tự do dân sự và quyền sở hữu những cái mà anh ta có” Khi gia nhập khế ước xã hội, con người từ bỏ những
gì họ có trong trạng thái tự nhiên để đạt tới sự bảo toàn tốt hơn cho chính mình, sức mạnh có giới hạn của cá nhân được thay thế bởi sức mạnh chung tưởng như vô hạn của cả cộng đồng
Với những nhận định mang tính lý luận về nguồn gốc của chính quyền,
về mối quan hệ giữa xã hội dân sự và xã hội chính trị, John Locke còn được đánh giá là người khởi thảo cho học thuyết phân quyền Trước Locke, Hobbes từng mô tả nhà nước như một con quái vật khổng lồ nắm trọn mọi quyền lực tối cao và bất khả chiến bại Hơn thế nữa, Hobbes còn quan niệm rằng, nhân dân chuyển giao toàn bộ quyền lực cho nhà nước và bởi vậy, quyền lực nhà nước là bất khả phân
Trang 2622
Đến Locke, ông đã chỉ ra sự phân chia quyền lực nhà nước như một sự phân công lao động hợp lý: lập pháp là quyền lực cao nhất trong bộ máy nhà nước và thuộc về nghị viện Nghị viện thông qua các đạo luật, còn việc thực hiện chúng là phần việc của cơ quan hành pháp Còn dân chúng hay cộng đồng xã hội sẽ giữ quyền phán xử trong các tranh chấp giữa bộ ba lập pháp - hành pháp - dân chúng Điều đáng tiếc là ông chưa nhận thấy thẩm quyền tài phán lẽ ra phải thuộc về một quyền lực độc lập khác (quyền lực tư pháp) trong hệ thống các cơ quan nhà nước
Hạn chế này của Locke về sau đã được bổ khuyết bởi Montesquieu, một nhà tư tưởng Pháp thế kỷ XVIII Ông đã kế thừa và phát triển tư tưởng của Locke lên một tầm cao mới Montesquieu không đề cập đến quyền lực tối cao, mà chỉ ra một quyền lực có thể phân chia, một quyền lực nhà nước có kiểm soát và sự kiểm soát đó được thực hiện bằng một cơ chế mà các thành phần của nó nằm ngay chính trong cơ cấu của nhà nước, đó chính là 3 nhánh quyền lập pháp - hành pháp - tư pháp cùng cơ chế kìm chế và đối trọng
Ngạn ngữ Latinh có câu “Salus populi suprema lex”, có nghĩa là hạnh phúc của nhân dân là luật tối cao Đó cũng chính là mục tiêu cao nhất và bất biến của mọi chính quyền chân chính Mục đích hướng tới của việc thiết lập chính quyền không là gì khác ngoài việc bảo đảm cho mọi người dân quyền sống, quyền tự do và quyền sở hữu
Trong “Khảo luận thứ hai về chính quyền”, John Locke đã biện luận cho
sự phát triển của chính quyền như là một hình thái khác của gia đình và quyền lực chính trị của quốc vương hay nhà lãnh đạo cao nhất của chính quyền được ông gán với quyền lực gia trưởng của người cha Trách nhiệm của người cha
là gìn giữ sự gắn bó của gia đình và mang lại hạnh phúc cho các thành viên của nó, còn trách nhiệm của bậc quân vương là bảo tồn chính quyền và bảo đảm hạnh phúc cho muôn dân
Trang 2723
Có thể xem John Locke là người khởi nguồn tri thức cho trào lưu Khai sáng Tư tưởng về nhà nước pháp quyền có thể được coi là tư tưởng nổi bật nhất trong hệ thống tư tưởng triết học chính trị của ông
Cho đến thời điểm hiện tại, có thể khẳng định rằng, mô hình nhà nước pháp quyền là hình thức tổ chức nhà nước hợp lý, hiệu quả nhất từ trước đến nay, là mô hình nhà nước tiến bộ nhất trong lịch sử Hiện nay, trên thế giới chưa nhiều nước tổ chức theo mô hình nhà nước pháp quyền nhưng xét về xu thế dân chủ đang được rộng mở, thế giới đang phấn đấu cho một nhà nước pháp quyền
Nhà nước pháp quyền là nhà nước gắn liền với nền dân chủ là nhà nước hoạt động dựa trên quyền lực của nhân dân, hướng đến bảo vệ các quyền của công dân dựa trên nền tảng hệ thống pháp luật của nhà nước Tư tưởng
“quyền lực thuộc về nhân dân” là đặc điểm đặc sắc trong quan niệm của Locke Nó đặc sắc ở chỗ, sau hàng mấy thế kỷ thống trị của tư tưởng chuyên chế, đề cao vai trò thần thánh của vua, hạ thấp vai trò của nhân dân thì Locke
là người đầu tiên, với một cách nhìn tích cực đã đả phá vào thành trì kiên cố của chủ nghĩa chuyên chế vương quyền Từ Locke, đã mở ra một cuộc cách mạng tư tưởng, hướng đến việc khẳng định, đề cao vai trò của nhân dân trong quan hệ với chính quyền
Tư tưởng về mối quan hệ giữa công dân với nhà nước, về quyền lực tuyệt đối của nhân dân thể hiện tính cách mạng sâu sắc và triệt để Nó là cuộc đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa chuyên chế chính trị, với các chế độ độc tài phi nhân tính, huỷ hoại tự do, nhân phẩm con người Sau hàng ngàn năm mất tự do trong “đêm trường Trung cổ”, những tư tưởng cách mạng triệt để của Locke đã là nguồn sức mạnh để nhân dân các nước đứng lên làm cách mạng xoá bỏ sự kìm kẹp, kiểm soát từ Giáo hội Kitô và các nền quân chủ chuyên chế đang trói buộc con người Tư tưởng “quyền lực thuộc về nhân dân” của Locke là một đóng góp quan trọng trong lịch sử tư tưởng nhân loại