Ngay từ thời cổ đại, vấn đề này đã được đề cập trong triết học của Platôn, Arixtốt… Sự hình thành nhà nước pháp quyền, như nhiều nhà khoa học đã khẳng định, gắn liền với sự phát triển dâ
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử tư tưởng chính trị nhân loại, vấn đề xã hội công dân (“xã hội dân sự” - thuật ngữ được sử dụng ở nước ta gần đây) và nhà nước pháp quyền đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Ngay từ thời cổ đại, vấn đề này đã được đề cập trong triết học của Platôn, Arixtốt… Sự hình thành nhà nước pháp quyền, như nhiều nhà khoa học đã khẳng định, gắn liền với sự phát triển dân chủ, mà chủ yếu là với vấn đề bảo đảm sự thống trị của pháp luật trong đời sống xã hội Tư tưởng này không phải là mới, song nhiều năm nay, nó lại gần như bị lãng quên, bởi người ta coi đó là phạm trù của nhà nước
tư sản và do vậy, là xa lạ với chủ nghĩa xã hội
Hiện nay, chúng ta đang xây dựng một nhà nước pháp quyền, trong đó công dân đóng vai trò quan trọng trong xã hội Đây là một công việc đầy khó khăn, đòi hỏi sự nỗ lực của tất cả các thành viên trong xã hội Đặc biệt, đối với những nhà nghiên cứu triết học ở nước ta thì việc tìm hiểu lý luận về xã hội công dân và nhà nước pháp quyền được đặt ra như là một trong những nhiệm vụ nghiên cứu quan trọng hàng đầu Bởi, xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân luôn được Đảng và nhà nước ta đặt ra ngay từ khi thành lập, ngày càng thể hiện rõ phẩm chất và những đặc trưng của một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Hiến pháp và hệ thống pháp luật của chúng ta ngày càng được bổ xung và hoàn thiện không chỉ phù hợp với những đặc thù của sự phát triển đất nước, mà còn hướng tới sự phù hợp với hệ thống công ước quốc tế Đây là cơ sở để chúng ta hội nhập quốc tế trong quá trình toàn cầu hóa Nước ta, mặc dù phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh khốc liệt với nhiều hy sinh, mất mát và giờ đây, vẫn đang trong tình trạng của một nước chậm phát triển, nhưng chủ trương xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh vẫn được khẳng định
Trang 3Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta khẳng định “Nhà
nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, và nhấn mạnh: “Cần xây
dựng cơ chế vận hành của nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật Xây dựng và hoàn thiện thể chế giám sát, kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các
cơ quan công quyền”[12, tr.45] Điều đó cho thấy, Đảng và Nhà nước ta không chấp nhận "tam quyền phân lập" như trong các nhà nước pháp quyền
tư sản, song trên cơ sở đánh giá một cách toàn diện tư tưởng phân chia quyền lực ở các nhà nước này, chúng ta đã tiếp thu và vận dụng một cách sáng tạo các nhân tố hợp lý của nó vào thực tiễn nước ta thông qua các qui định trong Hiến pháp hiện hành
Đứng trước vấn đề mới mẻ đó thì một trong những con đường hữu hiệu nhất là tiếp cận từ lịch sử tư tưởng triết học về xã hội công dân và nhà nước pháp quyền Trong số những vấn đề cần quan tâm, tư tưởng của Môngtexkiơ
là dấu mốc quan trọng, vì ông là người có công lớn trong việc đề xuất tư tưởng gắn xã hội công dân với nhà nước pháp quyền Tư tưởng này của ông
đã được nhiều nhà triết học, nhà tư tưởng sử dụng làm cơ sở cho sự nghiên cứu vấn đề này trong các giai đoạn tiếp theo Do vậy, nghiên cứu tư tưởng của Môngtexkiơ về xã hội công dân và nhà nước pháp quyền là một vấn đề có ý nghĩa lý luận quan trọng đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền và xã hội công dân trong thời đại ngày nay Bởi lẽ, như Ph.Ăngghen đã khẳng định:
“Tư duy lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta
mà có thôi Năng lực ấy cần phải được phát triển hoàn thiện, và muốn hoàn thiện nó thì cho tới nay, không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn
bộ triết học thời trước” [6, tr.487] Trên thực tế, chúng ta mới chỉ bước đầu
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân và
xã hội dân chủ mà trong đó, mọi cán bộ, đảng viên và công chức là công bộc của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân - xã hội dân sự (xã hội công dân) Theo đó, có thể nói, việc nghiên cứu tư tưởng của các nhà triết học là
Trang 4cần thiết Xét từ góc độ này, quan điểm của Môngtexkiơ về xã hội công dân
và nhà nước pháp quyền có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thực sự cấp bách Với
suy nghĩ đó, chúng tôi lựa chọn “Quan niệm của Môngtexkiơ về xã hội công
dân và nhà nước pháp quyền” làm đề tài nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong lịch sử triết học, ngay từ thời Cổ đại, các nhà tư tưởng, các nhà triết học cũng đã đề cập đến xã hội công dân và nhà nước pháp quyền Người
có công lớn trong việc đề xuất tư tưởng gắn xã hội công dân với nhà nước pháp quyền, trước hết phải nói đến Môngtexkiơ Ông đã thể hiện tư tưởng về
xã hội công dân và nhà nước pháp quyền trong một số tác phẩm tiêu biểu, như
Những bức thư Ba Tư, Bàn về tinh thần pháp luật…Năm 1748, tác phẩm Bàn
về tinh thần pháp luật của ông đã được xuất bản Kể từ đó cho đến nay, Bàn
về tinh thần pháp luật đã được tái bản nhiều lần, được dịch ra nhiều thứ tiếng
và được nhiều độc giả trên thế giới biết đến, trong đó có cả bản dịch ra tiếng Việt và độc giả nước ta
Nhìn chung, cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu từ góc độ lịch sử triết học về tư tưởng của Môngtexkiơ, và quan niệm của ông về xã hội công dân và nhà nước pháp quyền Đã có không ít nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, đưa ra những đánh giá, nhận định khác nhau về những quan niệm này của ông, mặc dù đây là vấn đề khá phức tạp, có những ảnh hưởng theo chiều hướng khác nhau đến sự phát triển xã hội Trong luận văn này, chúng tôi không có điều kiện để trình bày tất cả các công trình nghiên cứu quan điểm triết học của ông về nhà nước pháp quyền và xã hội công dân, mà chỉ có thể kể đến các công trình tiêu biểu sau đây:
Trong số những công trình nghiên cứu từ góc độ lịch sử triết học về tư
tưởng của Môngtexkiơ, trước hết phải kể đến Lịch sử triết học- Triết học thời
kỳ tiền tư bản chủ nghĩa Đây là công trình do Viện Hàn lâm Khoa học Liên
Trang 5Xô xuất bản 1957 và đến 1962 được dịch sang tiếng Việt Công trình này đã khái quát những tư tưởng về triết học do Môngtexkiơ nêu ra và cũng đã chỉ ra ảnh hưởng của chúng đến việc chuẩn bị về mặt tư tưởng cho cuộc cách mạng
Pháp 1789
Năm 2002, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã cho tái bản cuốn Lịch
sử triết học do Nguyễn Hữu Vui chủ biên Công trình này đã giới thiệu một
cách khái quát về thân thế, sự nghiệp của Môngtexkiơ, phân tích thế giới quan của ông trong các vấn đề xã hội
Công trình 106 nhà thông thái do P.S.Taranốp biên soạn (Đỗ Minh
Hợp dịch và hiệu đính, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2000) cũng đã trình bày một cách vắn tắt về cuộc đời, sự nghiệp và học thuyết chính trị của Môngtexkiơ
Văn học phương Tây thế kỷ XVIII (Phùng Văn Tửu và Đỗ Ngoạn đồng
tác giả), nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp xuất bản năm
1983 Công trình này mặc dù khai thác về lịch sử văn học, nhưng trong thời
kỳ Khai sáng Pháp, các nhà văn đồng thời cũng là nhà triết học, nên các tác giả cũng đã làm rõ tư tưởng của các nhà tư tưởng phương Tây thế kỷ XVIII, trong đó có tư tưởng Môngtexkiơ
Lịch sử các học thuyết chính trị trên thế giới là công trình do nhiều học
giả nổi tiếng ở Liên bang Nga biên soạn và do Nhà xuất bản “Đại học” Mátxcơva xuất bản Bộ sách này được Lưu Kiếm Thanh và Phạm Hồng Thái
dịch sang tiếng Việt (Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, năm 2001) Đại cương
lịch sử các tư tưởng và học thuyết chính trị trên thế giới là công trình do
Nguyễn Thế Nghĩa chủ biên Các công trình này đã chỉ rõ quá trình phát sinh, phát triển các tư tưởng và học thuyết chính trị trên thế giới, trong đó có tư tưởng của Môngtexkiơ Những công trình này đã phân tích vai trò của của học
Trang 6thuyết tam quyền phân lập của Môngtexkiơ trong cuộc đấu tranh chống lại chế độ phong kiến, hệ tư tưởng phong kiến và bảo vệ chế độ sở hữu tư sản
Lịch sử tư tưởng chính trị là công trình biên soạn của tập thể tác giả
Khoa Chính trị học- Phân viện báo chí và tuyên truyền, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2001 Các tác giả công trình này đã khẳng định Môngtexkiơ là nhà tư tưởng, nhà chính trị xuất sắc của Pháp, đồng thời
chỉ ra những tư tưởng chính trị của ông trong Tinh thần pháp luật và Những
bức thư Ba Tư
Năm 2004, Nhà xuất bản Lý luận chính trị đã tái bản tác phẩm Bàn về
tinh thần pháp luật do Hoàng Thanh Đạm dịch Đây là một công trình khoa
học thực sự, bởi ngoài nội dung tác phẩm, dịch giả còn giới thiệu một cách ngắn gọn về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Môngtexkiơ Ngoài ra, dịch giả còn cung cấp thêm những sự kiện xã hội, phần phụ lục giới thiệu các tác
phẩm chính của Môngtexkiơ Bảo vệ tác phẩm tinh thần pháp luật, một vài phần trong các tác phẩm khác của Môngtexkiơ như Những bức thư Ba Tư và
Những nhận định về nguyên nhân cường thịnh và suy thoái của Rome, ngoài
ra còn hai tác phẩm văn học của ông
Trong những năm gần đây, vấn đề về xã hội công dân và nhà nước pháp quyền đã được một số tác giả Việt Nam quan tâm nghiên cứu
Năm 2006, tác giả Lê Tuấn Huy đã cho ra mắt bạn đọc công trình Triết
học chính trị Môngtexkiơ với việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam
trên cơ sở sửa chữa, bổ xung luận án tiến sĩ của chính tác giả (bảo vệ năm
2005 tại Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh) Tác giả đã phân tích những cống hiến xuất sắc của Môngtexkiơ về vấn đề này, đồng thời chỉ ra mối quan hệ giữa những tư tưởng triết học chính trị của Môngtexkiơ với đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền Việt Nam Tác giả đã vận dụng những hạt nhân
Trang 7hợp lý trong nguyên tắc phân quyền của Môngtexkiơ để luận giải con đường xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
Bên cạnh đó, còn có một số luận văn thạc sỹ triết học nghiên cứu về
nhà nước pháp quyền đã được bảo vệ tại Viện Triết học: Tìm hiểu tư tưởng về
nhà nước pháp quyền và vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam của
tác giả Đào Ngọc Tuấn, bảo vệ năm 1994; Tư tưởng về nhà nước, quyền lực
nhà nước trong lịch sử triết học và quan điểm của Đảng ta về xây dựng nhà nước Việt Nam của tác giả Nguyễn Thanh Dũng, bảo vệ năm 1998 Các tác
giả này đã nghiên cứu những tư tưởng mang tính lý luận về nhà nước pháp quyền trong lịch sử để từ đó, vận dụng vào việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam
Nhân dịp kỷ niệm 60 năm thành lập Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tạp chí Cộng sản - cơ quan lý luận và chính trị của Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã phối hợp cùng với Viện Triết học, Viện Khoa
học Xã hội Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học - thực tiễn: “Sáu mươi năm
xây dựng Nhà nước cách mạng Việt Nam của dân, do dân, vì dân” Các báo
cáo khoa học tham gia Hội thảo này không chỉ khẳng định những thành tựu, chỉ ra những hạn chế, bài học kinh nghiệm trong quá trình xây dựng Nhà nước cách mạng Việt Nam, đặc biệt là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà còn đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm tiếp tục xây dựng
và hoàn thiện hơn nữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong số các báo cáo này
đã có nhiều báo cáo về xã hội công dân và nhà nước pháp quyền, như “Nhà
nước pháp quyền, xã hội công dân và vấn đề quyền và nghĩa vụ công dân”
của tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm, Viện Triết học; “Xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa và vấn đề thực thi quyền làm chủ của nhân dân” của
tác giả Đặng Hữu Toàn, Viện Triết học; “Quan điểm về nhà nước pháp quyền
Trang 8và những vấn đề đặt ra ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Đình Tường, Viện
nhà nước pháp quyền (Vũ Thư, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 9 - 2003);
Xã hội công dân và nhà nước pháp quyền (Stupisin, Tạp chí Thông tin Khoa
học Xã hội, số 4-1990); Về tư tưởng nhà nước pháp quyền và khái niệm nhà
nước pháp quyền (Lê Minh Tâm, Tạp chí Luật học, số 2 -2002),…
Có thể nói, ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu từ góc độ lịch sử triết học về tư tưởng của Môngtexkiơ nói chung và quan niệm của ông về xã hội công dân và nhà nước pháp quyền nói riêng là không nhiều Chúng ta chủ yếu biết đến triết học của Môngtexkiơ qua một số tư liệu, sách dịch và qua giới thiệu ở một số từ điển triết học, giáo trình về lịch sử triết học phương Tây
Xã hội công dân và nhà nước pháp quyền là vấn đề chính trị - pháp lý hết sức phức tạp Do vậy mà cho đến nay, quan niệm của những người nghiên cứu về vấn đề này còn có điểm khác biệt, thậm chí trái ngược nhau Đây là một khó khăn cho người nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng những công trình nghiên cứu trên về Môngtexkiơ như những tài liệu tham khảo
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là phân tích và luận giải những tư tưởng cơ bản của Môngtexkiơ về xã hội công dân và nhà nước pháp quyền để trên cơ sở đó,
Trang 9đưa ra một số suy nghĩ bước đầu về việc xây dựng xã hội công dân và nhà nước pháp quyền ở Việt Nam
Để thực hiện mục đích trên, luận văn này tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, phân tích những điều kiện kinh tế- xã hội và tư tưởng có ảnh
hưởng đến sự hình thành quan niệm của Môngtexkiơ về xã hội công dân và nhà nước pháp quyền
Thứ hai, phân tích những quan niệm của Môngtexkiơ về xã hội công
dân và nhà nước pháp quyền
Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu tư tưởng Môngtexkiơ về xã hội công dân
và nhà nước pháp quyền, nêu ra một vài suy nghĩ về việc xây dựng xã hội công dân và nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
4 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Nghiên cứu về xã hội công dân và nhà nước pháp quyền là vấn đề chính trị - pháp lý hết sức phức tạp, đòi hỏi phải có sự đầu tư lớn về công sức của các nhà khoa học Đây là một đề tài có thể nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, chúng tôi không có tham vọng tìm hiểu vấn đề nhà nước pháp quyền và xã hội công dân trên mọi góc độ, mà giới hạn đề tài nghiên cứu của mình ở phương diện triết học, thông qua sự phân tích các tác phẩm của Môngtexkiơ
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu trực tiếp những tác phẩm
của Môngtexkiơ viết về xã hội công dân và nhà nước pháp quyền trên nền tảng lý luận của triết học Mác – Lênin về những vấn đề này, đồng thời kế thừa
có chọn lọc những công trình nghiên cứu về vấn đề này của các tác giả đi trước
Trang 10Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp lôgíc kết hợp với phương pháp lịch sử để trình bày các vấn đề
6 Cái mới của luận văn
Luận văn góp phần khẳng định Môngtexkiơ là người đã đưa ra chủ trương chủ xây dựng một xã hội tự do, bình đẳng, dân chủ - xã hội công dân
và nhà nước pháp quyền trên cơ sở tam quyền phân lập; đồng thời khẳng định những quan điểm này của ông là lý luận mở đường cho xã hội Pháp đi tới cách mạng tư sản
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận, luận văn góp phần nghiên cứu tư tưởng của các triết gia
phương Tây về xã hội công dân và nhà nước pháp quyền Hệ thống hóa tư tưởng triết học của Môngtexkiơ về những vấn đề này
Về mặt thực tiễn, luận văn đã chỉ ra những đóng góp của Môngtexkiơ
đối với thực tiễn xã hội hiện thực
Ngoài ra, luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy lịch sử triết học phương Tây ở các trường đại học, cao đẳng
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
cơ bản của luận văn bao gồm hai chương, năm tiết
Trang 11CHƯƠNG 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ LÝ LUẬN CHO
SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA MÔNGTEXKIƠ
1 1 Môngtexkiơ - cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm
Saclơ đơ Sơcôngđa Môngtexkiơ là nhà tư tưởng có dòng dõi quý tộc Ông sinh ngày 18 tháng 1 năm 1689 tại lâu đài La Brét ở Tây Nam nước Pháp Cha ông là Giắc đơ Sơcôngđa - một quý tộc bị sa sút và đã có một thời gian làm đại uý vệ binh, sau đó lui về ở ẩn cho đến năm 1713 thì qua đời Khi Môngtexkiơ lên 7 tuổi thì mẹ ông mất Môngtexkiơ chịu ảnh hưởng nhiều của người chú ruột - Giăng đơ Sơcôngđơ, người đã từng là Chủ tịch Nghị viện Boócđô
Năm 1700, Môngtexkiơ theo học tại một trường trung học do những người theo giáo phái Ôratoa tổ chức ở Giuli gần Pari Trong thời gian học trung học, ông rất mê văn chương, sử học và khoa học tự nhiên Môngtexkiơ
đã viết một số tác phẩm mà nhiều độc giả thời đó rất ưa chuộng Theo
P.S.Taranốp - tác giả của công trình 106 nhà thông thái, sau khi kết thúc công
việc học tập, Môngtexkiơ đã quay trở lại lâu đài của người cha và tại đây, ông
đã bắt đầu nghiên cứu luật học [Xem: 36, tr.687]
Năm 1714, Môngtexkiơ vào làm việc tại Nghị viện Boócđô và hai năm sau, ông trở thành nam tước Đờ Môngtexkiơ - Chủ tịch Nghị viện Boócđô (Chánh án toà án) Năm 1716, Môngtexkiơ trở thành thành viên Viện Hàn lâm Khoa học Boócđô Thời gian làm Chủ tịch nghị viện - nghị viện khi đó cũng là cơ quan phán xử - đã ảnh hưởng đến tư tưởng của ông sau này, nhất là khi ông phân biệt rạch ròi giữa ba quyền Mặc dù nắm giữ cương vị là Chủ
Trang 12tịch nghị viện, song điều đó vẫn không lấn át được lòng say mê khoa học, văn chương và triết học ở Môngtexkiơ Mất khá nhiều thời gian cho những hoạt động chính trị, xã hội, song ông vẫn dành nhiều tâm huyết cho những công trình nghiên cứu về những nguyên nhân của tiếng vang, về công dụng của các tuyến thận, về trọng lực…, về lợi ích của các môn khoa học [Xem: 47, tr.153] Tại Viện Hàn lâm Khoa học Boócđô, ông cũng đã trình bày một luận văn về đề tài tôn giáo của những người La Mã Trong luận văn đó, ông đã chứng minh rằng "tôn giáo là do các vua chúa và quý tộc La Mã bầy đặt ra để làm chỗ dựa cho quyền lực của họ và tăng cường áp bức nhân dân” [Dẫn theo:47, tr.153]
Khí chất của chàng thanh niên Môngtexkiơ ham tìm tòi, suy nghĩ với lòng khát khao hiểu biết trên nhiều lĩnh vực, đồng thời lại trực tiếp tiếp xúc với thực tiễn chính trị - xã hội của thời đại ở giai đoạn được coi là có sự bùng
nổ của các cuộc đấu tranh quyết liệt chống phong kiến đã sớm nung nấu tinh thần của nhà triết học Khai sáng tương lai Tư tưởng và tài năng của ông thực
sự hoà làm một, kết tinh thành năng lực tư duy sáng tạo, khí phách kiên cường của nhà triết học Khai sáng Vào năm 1721, Môngtexkiơ đã cho ra đời tác phẩm đầu tay gây chấn động dư luận không riêng gì ở Pháp, mà cả ở châu
Âu Đó là tiểu thuyết bằng thư Những bức thư Ba Tư Tác phẩm ra mắt bạn
đọc giữa lúc nước Pháp đang ngả nghiêng trong cơn khủng hoảng về kinh tế, chính trị của thời đó Sự mục nát của chế độ quân chủ và mặt trái của nhà thờ
đã được Môngtexkiơ phơi bầy trong Những bức thư Ba Tư, qua con mắt của
hai người Ba Tư đến thăm nước Pháp sau khi đã đi qua một số nước châu Âu Đây là một trong ba tác phẩm tiêu biểu cho sự nghiệp của Môngtexkiơ và là tác phẩm được công chúng Pháp nhiệt liệt hoan nghênh ngay khi mới ra đời
Mặc dù là tác phẩm văn chương, nhưng Những bức thư Ba Tư đã khiến nhiều
người dân Pháp khi đó phải suy nghĩ nghiêm túc về nền chuyên chế, về giáo
Trang 13hội và giới giáo sỹ, về thân phận của con người trong sự cai trị độc đoán Thông qua những bức thư của hai người Ba Tư đang lưu trú tại châu Âu giử
về quê hương, Môngtexkiơ đã dựng lên một bức tranh về xã hội phương Đông
và xã hội phương Tây Thông qua hình tượng quan thái giám - kẻ tượng trưng cho những con người mà trong một xã hội chuyên chế, ngay bản thân họ cũng không thể tự bảo vệ được mình trước sự áp đặt của nhà nước chuyên chế, Môngtexkiơ đã cho thấy xã hội phương Đông khi đó là một xã hội mà ở đó, người ta đã “lấy từ thế giới này đem ném vào thế giới kia một người nào đó khéo chọn, người ấy cảm thấy rõ rệt tất cả cái phi lý mà chúng ta không cảm thấy, cái lạ lùng của tập quán, cái kỳ dị của luật pháp, cái đặc biệt của phong tục, tình cảm, tín ngưỡng mà ai nấy đều thích nghi” [47, tr.161] Và, khi mượn lời hai vị khách Ba Tư, Môngtexkiơ đã cho công chúng Pháp thấy hình ảnh thật của Lui XIV Đó là một ông vua giàu có, tham quyền, xa hoa, trác táng…đẩy nhân dân vào cảnh cùng khổ và hơn thế nữa, còn là “ông vua quyền uy nhất châu Âu Ông không có mỏ vàng như vua Tây Ban Nha láng giềng, nhưng lại có nhiều của cải hơn, bởi vì của cải của ông được khai thác trong cái hư danh của thần dân, là một thứ kho vô tận, hơn cả mỏ vàng ” Ông vua này chẳng qua chỉ là một nhà ảo thuật "Ông ta áp đặt quyền lực vào ngay đầu óc thần dân Ông bắt trăm họ suy nghĩ như ông Nếu trong ngân khố chỉ còn một triệu đồng êquy, ông chỉ cần hạ lệnh rằng một đồng ăn hai đồng
khi ông cần chi tới hai triệu êquy Dân cũng cứ tin tưởng như vậy” [29,
tr.296]
Vấn đề tôn giáo cũng được Môngtexkiơ nêu một cách không kém phần gay gắt Nói tới nhà thờ Cơ Đốc giáo như một thiết chế xã hội với bộ mặt vô nhân đạo, đầy rẫy chuyện lụi bại, tàn bạo, đạo đức giả, thông qua hình tượng Lui XIV, Môngtexkiơ viết: “ Ông ta làm cho mọi người tin rằng ba chỉ là một: Rằng bánh người ta ăn không phải là bánh, hoặc rượu vang người ta
Trang 14uống chẳng phải là rượu vang và nghìn trò khác đại loại như thế ” [Dẫn theo:47, tr.167] Mặc dù phê phán nhà thờ gay gắt, nhưng trên bình diện triết học, Môngtexkiơ tỏ ra ôn hoà và thể hiện rõ ông là người theo thuyết tự nhiên thần luận
Sau khi tác phẩm Những bức thư Ba Tư ra đời, “Môngtexkiơ trở thành
nhân vật nổi tiếng từ đấy và thường lui tới phòng khách của phu nhân Đơ Lambe, gia nhập câu lạc bộ Ăngtơrơsơn - một thứ hàn lâm viện tự do, để cùng nhau nghiên cứu các vấn đề khoa học, đạo đức và chính trị ” [29, tr.12]
Năm 1726, Môngtexkiơ thôi chức vụ Chủ tịch nghị viện Boócđô mà trước đấy, ông đã làm thế chân người chú của mình Một năm sau, ông được bầu vào Viện Hàn lâm Khoa học Pháp Đến năm 1728, ông tạm biệt các phòng khách ở Pari và lên đường đi du lịch khắp nơi để hiểu phong tục tập quán, luật pháp và thể chế của các nước châu Âu Ông đã đi qua Đức, Áo, Hung, Ý, Thuỵ Sỹ, Hà Lan Ở những nơi này, ông đã được chứng kiến những ngày tàn của chế độ phong kiến châu Âu, được tận mắt xem xét cuộc sống của dân chúng dưới chế độ cộng hoà Ông lưu lại 2 năm cuối ở Anh Dưới chế độ Quân chủ lập hiến, ông cảm thấy rất hài lòng và cho đó là một thể chế lý tưởng, trái ngược với nước Pháp quân chủ chuyên chế “Tại Nghị viện Anh, người ta cho phép ông có mặt trong các cuộc tranh luận giữa Chính phủ và phe đối lập kéo dài tới 12(!) giờ Các tư tưởng của ông về lý luận phân quyền
đã bắt đầu chín muồi ở Anh” [36, tr.689] Đây là thời gian đã làm cho Môngtexkiơ thấy thực sự quý báu và những cảm nhận của ông về những gì đã diễn ra ở đây đã trở thành tiền đề cho sự hình thành tư tưởng của ông sau này
Năm 1731, Môngtexkiơ quay về Pháp và sống ở lâu đài Brét Ở đây,
ông tiếp tục hoạt động lý luận Năm 1734, ông cho ra đời tác phẩm Nhận định
về nguyên nhân cường thịnh và suy thoái của Rôma Theo ông, nguyên nhân
làm cho La Mã cường thịnh là do tình yêu tự do, tình yêu tổ quốc và tình yêu lao động Ông nhấn mạnh đến đường lối quân sự, chính trị khôn ngoan đối
Trang 15với các nước bên cạnh để dựa vào đấy củng cố chính quyền của mình Còn nguyên nhân của sự suy thoái chính là sự rộng lớn của đế chế Đó là tình trạng
“quân đội đồn trú quá xa trung ương, do đó cũng xa tinh thần cộng hòa và chỉ biết có vị chỉ huy của mình; là cuộc nội chiến liên miên để giành giật đất đai, của cải giữa các vương hầu…” [48, tr.93-94] Môngtexkiơ cũng như nhiều triết gia khác của Pháp ở thế kỷ XVIII muốn khám phá những quy luật diễn biến của lịch sử, chống lại quan điểm cho rằng sự vận động của lịch sử là do
sự sắp đặt của thần linh, do ý muốn chủ quan của một cá nhân, hay do ngẫu nhiên chi phối Tuy nhiên, Môngtexkiơ chưa thấy được đấu tranh giai cấp là động lực thúc đẩy lịch sử, mà chỉ chú ý đến những yếu tố tinh thần Đây là hạn chế của ông và cũng là của thời đại Trong tác phẩm này, Môngtexkiơ đã phê phán nền chính thể chuyên chế và tình trạng suy đồi ở những nước theo chính thể này Ông viết: “Thật ra các luật của Rôma đã trở nên bất lực, không thể cai trị nước cộng hoà được nữa; nhưng đó là cái mà người ta luôn luôn thấy là
“những luật hay” đã làm cho một nước cộng hoà nhỏ trở thành nước lớn, và
“những luật hay” ấy trở thành gánh nặng khi nước cộng hoà đã bành trướng quá mức, vì những luật này chỉ có tác dụng làm thành một dân tộc lớn, chứ
không có tác dụng cai trị dân tộc đó” [29, tr.311] Theo ông, những thiết chế
quân sự và đời sống tinh thần của công dân trong các nhà nước đó khi đạt đến
độ cực thịnh thì nội chiến nổ ra lên miên và điều đó khiến cho nền cộng hoà trở thành nhà nước chuyên chế độc quyền Ông viết: “Trong khi tầng lớp bình dân Rôma được các vị hộ dân quan nuông chiều, chỉ biết thừa nhận quyền lực của mình, thì cơ quan chấp chính còn có thể tự bảo vệ một cách dễ dàng
vì họ cứ theo chính sách đã ban hành mà làm việc Thế là đám dân đen cứ luôn luôn bị đánh đập và trở thành yếu đuối Nhưng một khi dân chúng có thể vuốt râu tự hào về quyền lực của mình ở ngoài nước rồi thì mọi khôn ngoan của cơ quan chấp chính trong nước cũng trở nên vô ích và nền cộng hoà bị tiêu vong” [29, tr 307-308]
Trang 16Tháng 10 năm 1748, Môngtexkiơ cho ra đời tác phẩm Bàn về tinh thần
pháp luật Do đã phải làm việc rất căng thẳng để nghiên cứu, soạn thảo cuốn
sách này, nên sức khoẻ của ông bị suy sụp, nhất là thị lực Ngay từ tác phẩm
Những bức thư Ba Tư, chúng ta đã thấy thấp thoáng quan niệm của
Môngtexkiơ về sự khác biệt giữa chính thể quân chủ và chính thể chuyên chế, những nguyên tắc chi phối nhà nước, như phong tục, tập quán, khí hậu…Ở
tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật, Môngtexkiơ không nghiên cứu luật pháp như một nhà luật học thuần tuý, mà nghiên cứu cái hồn, cái tinh thần của
pháp luật Ông muốn khám phá cái trật tự, cái quy luật trong mớ hỗn độn các
luật pháp ở tất cả các dân tộc và ở mọi thời đại Đây là tác phẩm mang tính triết học sâu sắc, trong đó luật pháp được giải thích từ nhiều khía cạnh khác nhau
Bàn về tinh thần pháp luật thể hiện lòng căm ghét của Môngtexkiơ đối
với chính thể chuyên chế và muốn thay thế nó bằng một hình thức nhà nước mới để cho công dân Pháp lúc bấy giờ có lối thoát Sau khi được công bố, tác phẩm này đã bị phê phán từ nhiều phía và do vậy, Môngtexkiơ lại tiếp tục viết
một tác phẩm luận chiến Bảo vệ tinh thần pháp luật (1750) để nói rõ lập
trường của mình
Những năm cuối đời, Môngtexkiơ sống trong lâu đài của mình và tại
đây, ông đã viết thêm một số tác phẩm khác như Lyđimác (1751), Acxat và
Ixmêni (1754) Khi đó, ông đã trở nên nổi tiếng và được kính trọng Nhiều
học giả khi đó đã cho ra đời các công trình nghiên cứu về tác phẩm Bàn về
tinh thần pháp luật của Môngtexkiơ và nhiều học giả trong số đó đã gửi cho
ông công trình nghiên cứu của họ, một số người còn muốn được trực tiếp gặp ông để trò chuyện
Năm 1754, Môngtexkiơ đến Pari “Nguyên nhân của chuyến đi là việc bắt giam giáo sư La-Bômen, một trong những người đầu tiên công khai bảo
vệ mãnh liệt tinh thần pháp luật Theo yêu cầu của Chính phủ Pháp,
Trang 17La-Bômen bị bắt ở Phổ, trao cho Pháp và bị giam vào Baxti với tư cách một người khả nghi về mặt chính trị Nhận được tin này, Môngtexkiơ vội vàng đến giúp đỡ Ông hăng hái xin giùm cho vị giáo sư bất hạnh, sử dụng các mối quan hệ có thế lực của mình và giải thoát được ông ta” [36, tr.690] Trong thời gian đó, ông đã phải chịu đựng sự hành hạ thân xác một cách khủng khiếp do bệnh tật ngày một nặng thêm, nhưng ông vẫn sống và hoạt động với một nghị lực hiếm có Ông đã qua đời tại Pari ngày 10 tháng 2 năm 1755 và
để lại nhiều di cảo, trong đó có tập Những tư tưởng của tôi
1.2 Những tiền đề kinh tế - xã hội và lý luận cho sự hình thành tư tưởng của Môngtexkiơ
1.2.1 Tiền đề kinh tế - xã hội
Châu Âu vào thế kỷ XIV - XVII xét trên mọi phương diện: kinh tế, chính trị, xã hội, đã diễn ra nhiều sự kiện trọng đại
Chế độ phong kiến với nền sản xuất nhỏ và đạo luật hà khắc đã dần dần
bị tan dã, thay vào đó là nhiều công trường thủ công ra đời, đem lại năng suất lao động cao hơn Chẳng hạn như việc sáng chế ra máy tự kéo sợi và máy in
đã làm cho công nghiệp dệt, công nghệ in ấn phát triển, giúp cho con người làm tăng năng suất lao động Những phát minh mới về kỹ thuật, nhất là những hình thức tổ chức mới trong lao động sản xuất đã tạo ra năng suất lao động ngày càng cao, tạo tiền đề cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời Quá trình công nghiệp hoá diễn ra mạnh mẽ ở châu Âu đã làm thay đổi căn bản cách thức sản xuất chủ yếu bằng lao động thủ công sang sử dụng máy móc và từng bước hình thành cơ cấu công nghiệp hoàn chỉnh, từ sản xuất quy
mô nhỏ lên quy mô lớn với sự xuất hiện ngày một nhiều các khu công nghiệp Công trường thủ công xuất hiện, những mầm mống của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời “Tuy nhiên, khi đó, giai cấp tư sản mới ra đời còn yếu ớt
Trang 18chưa thể thiết lập chính quyền của mình, và những tầng lớp trên của giai cấp
tư sản lại ủng hộ nhà nước chuyên chế tập quyền” [dẫn theo:40, tr.256]
Vào thế kỷ XVII, chế độ phong kiến ở Pháp đã đạt tới độ cực thịnh dưới triều vua Lui XIV, với việc xây dựng bộ máy chính quyền quân chủ chuyên chế, tập trung Đó là bước tiến quan trọng của lịch sử trên con đường gạt bỏ các thế lực phong kiến để thống nhất quốc gia về một mối Mặt khác, chế độ quân chủ chuyên chế, tập trung của Lui XIV vẫn giữ sự cân bằng giữa một bên là giai cấp phong kiến và một bên là các lực lượng mới do giai cấp tư sản đứng đầu Tuy nhiên, thế cân bằng này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn Các lực lượng mới ngày càng lớn mạnh cùng với sự phát triển của các hình thức và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, thế cân bằng đó cũng dần dần mất đi Đến đầu thế kỷ XVIII, tình hình này đã diễn ra ngày càng gay gắt hơn
Trên lĩnh vực kinh tế, nước Pháp khi bước vào thế kỷ XVIII, về căn bản, vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu: Chế độ sở hữu phong kiến, đất đai được chia thành những mảnh nhỏ, lối canh tác thì thô sơ, nông dân nghèo túng, không có sức mua, họ tự làm ra một số sản phẩm tiêu dùng cần thiết Tình hình này đã cản trở việc hình thành một thị trường thống nhất và trở thành nguyên nhân kìm hãm một phần sự phát triển của thương mại và kỹ thuật Nó cũng ảnh hưởng đến việc cung cấp nhân lực dự trữ cho các xưởng sản xuất Tuy nhiên, trong lĩnh vực thương mại và kỹ thuật, khi đó các hình thái mới mang tính chất tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện ngày càng nhiều trong lòng chế độ phong kiến Ở một số nơi, người ta đã xây dựng các nhà máy đường, xưởng đóng tàu, xưởng dệt, mỏ khai thác kim loại quý với quy mô tương đối lớn; việc buôn bán với nước ngoài cũng ngày một được mở rộng Song, về cơ bản, công thương nghiệp vẫn còn theo lối phong kiến về quy mô kinh doanh và do vậy, đã làm hạn chế tự do cạnh tranh, cản trở cải tiến kỹ thuật Nhìn chung, nước Pháp đã thu về một mối thống nhất dưới chế độ quân
Trang 19chủ chuyên chế, tập trung, nhưng trên thực tế, nó vẫn còn bị chia cắt thành nhiều vùng với những lợi ích riêng và điều này đã dẫn đến không ít khó khăn cho việc kinh doanh, buôn bán Cơ cấu chặt chẽ của chế độ phong kiến đã tạo nên những lực cản đối với yêu cầu phát triển của các lực lượng xã hội mới và những quan hệ sản xuất mới
Về phương diện xã hội, chế độ quân chủ chuyên chế Pháp luôn bảo vệ lợi ích cho chế độ phong kiến suy tàn Trong chế độ này nhà vua là người nắm mọi quyền hành và không chịu sự kiểm soát nào, có quyền quyết định mọi công việc và hoàn toàn đứng trên luật pháp “Nước Pháp không có hiến pháp Nước Pháp từ lâu đã quên đi sự tồn tại của Hội nghị đẳng cấp - một thiết chế mang tính bán đại diện của các thành phần xã hội, dù chỉ là hình thức, được thiết lập vào đầu thế kỷ XIV Cách thức khi đó người Pháp cai trị quốc gia là thông qua bộ máy quan liêu mà cho đến những năm 1750 đã phồng to quá mức, kết quả của chế độ mua quan bán chức được thừa nhận từ thời Lui XI Dù đã thống nhất từ lâu, nước Pháp trước 1789 vẫn tồn tại những phạm vi tài phán riêng biệt của mười ba pháp viện tối cao ở mỗi vùng tương ứng Lại còn tồn tại thêm một hệ thống đốc quan được nhà vua sử dụng như một công cụ kiềm chế sức mạnh của giới quý tộc và áp bức người dân” [21, tr.79] Với chế độ chính trị như vậy, cư dân nước Pháp khi đó được chia thành
ba đẳng cấp Đó là đẳng cấp quý tộc, tăng lữ và “đẳng cấp thứ ba” Quý tộc tập hợp quanh nhà vua và địa chủ quý tộc ở các vùng nắm quyền chính trị thực tế Tăng lữ có thế lực rất lớn, nắm quyền về đời sống tinh thần Hai đẳng cấp này là những người có quyền hành cao nhất, họ có đặc quyền đặc lợi Đẳng cấp thứ ba bao gồm các tầng lớp xã hội còn lại như tư sản, thợ thủ công, nông dân, dân nghèo thành thị, trí thức, Đẳng cấp này chiếm đa số trong xã hội, nhưng lại bị hai đẳng cấp trên bóc lột về kinh tế và áp bức về chính trị,
Trang 20không được tham gia vào các cơ quan nhà nước Ngoài hai tầng áp bức trên, đẳng cấp thứ ba còn là nạn nhân của chính thể quân chủ mục nát
Nước Pháp vào thế kỷ XVIII, đã bị suy yếu bởi những cuộc chiến tranh, như chiến tranh với Anh về tranh chấp thuộc địa, chiến tranh giành quyền kế thừa ở Tây Ban Nha (1701-1714)… Chiến tranh đã làm cho nền tài chính của Pháp kiệt quệ, đất nước khủng hoảng Hơn nữa, vua quan lại sa vào con đường ăn tiêu xa hoa, lãng phí Để duy trì lối sống này cần phải có nhiều tiền, và để có tiền, triều đình đã tổ chức mua quan bán tước và đánh thuế nặng vào người lao động Do vậy mà bao khổ cực đã trút lên đầu nhân dân lao động Tình trạng căng thẳng như vậy đã diễn ra khắp nơi, thậm chí còn xuất hiện ngày càng nhiều mâu thuẫn ngay trong nội bộ các đẳng cấp Nhìn chung, mâu thuẫn bao trùm trong toàn xã hội là mâu thuẫn giữa một bên là đẳng cấp quý tộc liên kết với đẳng cấp tăng lữ nhằm cố duy trì trật tự đương thời và một bên là đẳng cấp thứ ba đang hướng tới con đường cách mạng Mặt khác, bản thân chính sách của nhà nước chuyên chế phong kiến đã trở thành lực cản ngày càng kìm hãm sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Điều đó đã đưa giai cấp tư sản khi ấy trở thành lực lượng đại diện cho đẳng cấp thứ ba với mong muốn thủ tiêu ách áp bức của bọn phong kiến Khi đó, giai cấp tư sản Pháp còn chưa bộc lộ nhiều bản chất xấu xa của nó như giai cấp tư sản Anh cùng thời
Có thể nói, khi bước sang thế kỷ XVIII, ở Pháp quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã thâm nhập vào các vùng nông thôn một cách sâu rộng Điều này
đã làm cho tình trạng phân hoá giai cấp ở Pháp ngày càng rõ rệt Giai cấp địa chủ Pháp đã thực hiện chế độ tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp, tăng cường thu thuế trong nông dân, cướp đoạt ruộng đất, tước mất những quyền lợi đã thành phong tục tập quán, như chăn nuôi, lấy củi … Do đó, người nông dân Pháp đã lâm vào tình trạng sống dở chết dở, với nhiều nỗi khổ cực “Nhiều người đã mất hết ruộng đất và phải đi ăn xin Nhân dân nông thôn bị chết
Trang 21chóc thảm hại Theo tài liệu của một số người đương thời thì vào giữa 1739, nhiều vùng ở Pháp, người ta phải ăn cỏ và chết như ruồi” [Dẫn theo: 49, tr.76] Công nghiệp ở Pháp bị kìm hãm bởi những quy tắc do nhà nước chuyên chế đề ra và bởi các thứ trở ngại khác Nhiều học giả cho rằng, ở Pháp thế kỷ XVIII, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã phát triển một cách nhanh chóng Song, xiềng xích phong kiến đã trói buộc sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Các lực lượng sản xuất mới ra đời nhờ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã ngày càng trở nên xung đột gay gắt với các quan hệ sản xuất phong kiến được bảo vệ bởi kiến trúc tượng tầng phong kiến, nhất là với thể chế nhà nước và pháp luật phong kiến Trong bối cảnh đó, nhân dân Pháp phần đông đều muốn thủ tiêu ách thống trị của giai cấp phong kiến, lật đổ chế
độ phong kiến chuyên chế và xoá bỏ chính sách thuế má, xoá bỏ nền chuyên chế giáo hội (nền chuyên chính ủng hộ chế độ phong kiến và chế độ quân chủ chuyên chế)
Nhận xét về bối cảnh này ở Pháp nói riêng, ở châu Âu khi đó nói chung, Ph.Ăngghen cho rằng: “ Quyền lực nhà vua, dựa vào thị dân, đã đập tan thế lực của quý tộc phong kiến và lập ra những nước quân chủ lớn, chủ yếu dựa trên cơ sở dân tộc, trong đó các dân tộc Âu châu hiện đại và xã hội tư sản hiện đại đã bắt đầu phát triển” [6, tr.458]
Do tính chất phức tạp như đã nêu, nên ở Pháp khi đó, đã xuất hiện những người như Môngtexkiơ, tuy đứng trong hàng ngũ quý tộc nhưng lại là một triết gia tiến bộ, mang đậm dấu ấn của thời đại Khai sáng Ph.Ăngghen đã hoàn toàn có cơ sở khi đánh giá tư tưởng của các nhà Khai sáng như sau:
“Những vĩ nhân ở Pháp đã soi sáng đầu óc mọi người để chuẩn bị cho cuộc cách mạng sắp đến gần thì bản thân họ cũng rất cách mạng Họ không thừa nhận bất kỳ một thứ uy quyền bên ngoài nào Tôn giáo, quan niệm về tự nhiên, xã hội, chế độ nhà nước, tất cả phải được đem ra phê phán một cách thẳng tay nhất, tất cả đều phải ra trước toà án của lý tính để biện hộ cho sự tồn tại của mình hoặc từ bỏ sự tồn tại của mình …Tất cả những hình thức xã hội
Trang 22và nhà nước từ trước đến nay, tất cả những quan niệm cổ truyền, đều bị coi là không hợp lý và bị vứt bỏ như những đồ cũ; từ trước đến nay thế giới chỉ do những thành kiến chỉ đạo, toàn bộ quá khứ đều chỉ đáng thương và đáng khinh mà thôi Giờ đây, lần đầu tiên, mặt trời đã mọc; và từ nay sự mê tín, sự bất công, đặc quyền và sự áp bức phải nhường chỗ cho chân lý vĩnh cửu, cho chính nghĩa vĩnh cửu, cho bình đẳng bắt nguồn từ bản thân giới tự nhiên, và
cho những quyền bất khả xâm phạm của con người” [6, tr.30-31]
Trong bối cảnh xã hội như vậy, phái Khai sáng và duy vật Pháp thế kỷ XVIII, một mặt, đưa ra một thế giới quan tiên tiến, chỉ rõ vai trò tiến bộ của giai cấp tư sản so với giai cấp phong kiến trong thời đại cách mạng tư sản - cần thủ tiêu chế độ phong kiến tàn bạo trong thời đại cách mạng tư sản bằng cách gợi lên sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối; đồng thời nêu bật ý nghĩa tiến bộ của những tư tưởng khai sáng ở thế kỷ XVIII Mặt khác, phái Khai sáng và duy vật Pháp coi những quan hệ tư sản đang hình thành là quan
hệ hoàn toàn tự nhiên, phù hợp với bản chất con người Họ coi quan hệ đó là
tự do, bình đẳng, bác ái Nói về điều này Ph.Ăngghen viết: “Hiện nay, chúng
ta biết rằng vương quốc của lý tính ấy chẳng qua chỉ là vương quốc được lý tưởng hoá của giai cấp tư sản; rằng chính nghĩa vĩnh cửu đã được thực hiện trong nền tư pháp tư sản; rằng sự bình đẳng quy lại là bình đẳng tư sản trước pháp luật; rằng một trong những nhân quyền cơ bản nhất của con người mà người ta đã tuyên bố, là quyền sở hữu tư sản Nhà nước của lý tính- khế ước
xã hội của Rútxô - đã thể hiện và chỉ có thể hiện ra như là nền cộng hoà dân chủ tư sản Tất cả những nhà tư tưởng vĩ đại của thế kỷ XVIII, cũng như tất
cả những tiền bối của họ, không thể vượt qua những khuôn khổ mà thời đại của họ đã quy định cho họ” [6, tr.31] Các nhà Khai sáng và duy vật Pháp thế
kỷ XVIII, đã xác định nhiệm vụ quan trọng của họ lúc này là đánh đổ lý luận thần bí về Thượng đế - lý luận cho rằng lịch sử đã được quyết định trước và coi hoạt động cải tạo có tính cách mạng là vô ích Để thực hiện nhiệm vụ này,
Trang 23theo họ, trước hết cần cách mạng hoá vai trò của lý trí và giáo dục trong xã hội, nâng cao tính tự giác của con người trong việc cải tạo các quan hệ xã hội
Thế kỷ XVIII, ở phương Tây trở thành mốc quan trọng đánh dấu thời
kỳ tan dã của chế độ phong kiến, thời kỳ thắng lợi của cách mạng tư sản trên quy mô rộng lớn Đặc biệt, cuộc cách mạng tư sản Pháp không phải chỉ có ý nghĩa riêng ở Pháp mà rộng lớn hơn, nó có ý nghĩa và giá trị như hồi chuông báo tử cho chế độ phong kiến ở cả châu Âu nói riêng, trên phạm vi toàn thế giới nói chung Vì chế độ phong kiến kết hợp với chính sách ngu dân của giáo hội từ nhiều thế kỷ vẫn là lực cản kìm hãm sự tiến bộ của quần chúng nhân dân Các nhà triết học, các nhà hoạt động xã hội, nhà văn tiến bộ của thế kỷ XVIII này, ở khắp nơi đã dấy lên một phong trào mạnh mẽ đề cao lý trí để xua tan bóng tối, tìm ra chân lý, mở mang trí tuệ cho nhân dân, tạo điều kiện cho họ tiếp xúc với văn hoá, khoa học, nghệ thuật…Thời kỳ Khai sáng đã soi rọi vào mọi lĩnh vực, từ kinh tế đến chính trị, pháp luật, tôn giáo…và trở thành vũ khí sắc bén chống lại chế độ phong kiến chuyên quyền độc đoán
1.2.2 Tiền đề lý luận
Nói đến quá trình hình thành tư tưởng của Môngtexkiơ về xã hội công dân và nhà nước pháp quyền, không thể không nhắc đến tư tưởng của các nhà triết học tiền bối Trong một chuyên khảo của mình, tác giả Lê Văn Cảm đã nhắc lại câu nói của Viện sỹ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Nga V.X.Nhêrơxesiantơ về việc các nhà Khai sáng và duy vật Pháp nói chung, Môngtexkiơ nói riêng đã kế thừa di sản của các nhà tư tưởng thời trước như sau: “Toàn bộ cái mới của các quan điểm lý luận về tổ chức nhà nước pháp quyền đã dựa vào kinh nghiệm của quá khứ, vào những thành tựu của thực tiễn và lý luận về xã hội, chính trị và pháp luật đã tồn tại trước đó, vào những truyền thống nhân văn và các giá trị chung vốn có của loài người đã được hình thành về mặt lịch sử, đồng thời, các tư tưởng và các chế định chính trị -
Trang 24pháp luật của Hy Lạp cổ đại và La Mã cổ đại, kinh nghiệm của thời sơ cổ về nền dân chủ, cộng hoà và trật tự pháp luật đã ảnh hưởng đáng kể trên bình diện này trong việc hình thành các quan niệm về mặt lý luận” [Dẫn theo: 2, tr.21] Theo đó, có thể nói, chính sự phát triển liên tục của các tư tưởng triết học chính trị phương Tây trong lịch sử đã đưa đến sự hình thành hệ thống tư tưởng của Môngtexkiơ về xã hội công dân và nhà nước pháp quyền
Thật vậy, trong lịch sử tưởng nhân loại, quan niệm về xã hội công dân
và nhà nước pháp quyền đã có mầm mống ở các nhà triết học Hy lạp cổ đại
chẳng hạn: Xôlông (638-558 TCN) - nhà làm luật Aten nổi tiếng, người đã
tiến hành một loạt cải cách nhằm chống lại giới quý tộc thị tộc dưới ảnh hưởng của quần chúng nhân dân - đã nêu lên ý tưởng về nhà nước pháp quyền, khi ông chủ trương cải cách nhà nước bằng việc đề cao vai trò của pháp luật Ông đã trực tiếp tiến hành các cuộc cải cách nhằm xoá bỏ sự hỗn loạn trong các thành bang và hoà giải những phe phái thù địch Ông bảo vệ nền dân chủ tuyển cử ôn hoà, một chế độ mà lãnh đạo xã hội là những người quyền quý, giàu có trong xã hội, còn quần chúng nhân dân thì chỉ có quyền lựa chọn và giám sát công việc của các quan chức Theo ông, “điều đảm bảo cho sự yên bình quốc gia là chính quyền và luật pháp cứng rắn… Tình trạng
vô chính phủ đã đem lại bao tai họa, đưa các thành phố tới chỗ diệt vong Chỉ
có pháp luật mới thiết lập được trật tự và tạo nên sự thống nhất” [50, tr.72]
Tiếp thu quan điểm này của Xôlông, Môngtexkiơ đã chỉ rõ bản chất của nhà
nước cộng hoà như sau: Các vị pháp quan cầm quyền thì phải bầu chọn, các viên chức dân sự khác thì được lựa chọn theo cách rút thăm Nhưng việc rút thăm này chỉ được tiến hành trong số những người hiện diện, người trúng thăm phải qua sự thẩm xét của pháp quan, và mỗi công dân đều có quyền khiếu nại nếu thấy người đó không xứng đáng [29, tr.50]
Trang 25Arixtốt (384 - 322 TCN) - nhà triết học, nhà tư tưởng vĩ đại nhất của
Hy lạp cổ đại, người sáng lập lôgíc học - trong tác phẩm “Chính trị”, lần đầu tiên đã nhắc đến thuật ngữ "xã hội công dân" với mục đích phê phán quan niệm của Platôn về nhà nước lý tưởng Ông mở đầu sự nghiệp nghiên cứu của mình về "xã hội công dân" bằng việc chứng minh rằng bản thân sự tồn tại của xã hội loài người đã làm nảy sinh sự bất công mà chế độ chiếm hữu nô lệ
là nguồn gốc cơ bản của sự bất công đó Nhà nước không phải là kết quả của
sự thỏa thuận giữa mọi người với nhau dựa trên ý chí của họ Nhà nước xuất hiện một cách tự nhiên, được hình thành do lịch sử, được phát triển từ gia đình và làng xã nhằm đạt tới một cuộc sống sung sướng cho mọi người Ông còn cho rằng, nhà nước tồn tại trước cá nhân như chỉnh thể tồn tại trước bộ phận Cá nhân phụ thuộc vào thành bang, con người sinh ra là để sống trong thành bang và thành bang là sự thống nhất của đời sống tinh thần Tiếp thu quan niệm đó của Arixtốt, Môngtexkiơ cho rằng, nhà nước ra đời do sự vận động và phát triển của xã hội loài người đến một trình độ nhất định Con người từ sống theo bản năng sinh tồn vươn lên sống theo xã hội và theo pháp luật Từ đó, con người lập gia đình, tạo nên xã hội rồi mới sáng lập ra nhà nước Trong gia đình, người ta sử dụng đạo đức và tập quán, trong xã hội có nhà nước thì người ta sử dụng pháp luật Quyền lực tối thượng của xã hội là thuộc về nhân dân
Khi khẳng định sự cần thiết phải có sự phù hợp giữa chính trị và pháp luật, Arixtốt cho rằng, việc đề cao pháp luật phải gắn với cơ chế, hệ thống các
cơ quan thực thi quyền lực nhà nước Và, khi đưa ra ý tưởng về sự cần thiết phải tổ chức nhà nước một cách quy củ để đảm bảo sự công bằng của pháp luật, Arixtốt cho rằng, hình thức nhà nước thích hợp là hình thức mà ở đó có
sự phân biệt cần thiết giữa ba loại quyền lực: nghị luận, chấp hành và xét xử
Sứ mệnh của nhà nước là không chỉ bảo đảm cho con người sống bình
Trang 26thường, mà còn phải làm cho con người sống hạnh phúc Tiêu chuẩn để đánh giá nhà nước là mức độ phúc lợi mà nó đem lại cho các công dân trong xã hội (trừ nô lệ, bởi họ không được Arixtốt coi là người, mà chỉ là công cụ biết nói) Với quan niệm như vậy, ông cho rằng, bất kỳ một nhà nước nào cũng được cấu thành từ ba tầng lớp: Người giàu, người nghèo và tầng lớp trung gian Ông ưu ái cho tầng lớp trung gian vì tầng lớp này luôn tuân thủ những trật tự
đã được xác lập và nhờ nó mà quốc gia có thể giải quyết được những mâu thuẫn giữa người giàu và người nghèo Quan điểm này cho thấy, tuy chưa đưa
ra những dấu hiệu cơ bản về thuyết phân chia quyền lực, nhưng tư tưởng của Arixtốt là nền tảng cho tư tưởng phân chia quyền lực sau này, và chính Môngtexkiơ cũng đã tiếp thu tư tưởng này
Xixêrôn (106- 43TCN) - nhà hùng biện, nhà triết học, nhà hoạt động
chính trị La Mã cổ đại - đã gắn liền nguồn gốc ra đời của nhà nước với sự giao tiếp vốn có của con người, theo hướng liên minh, liên kết con người với nhau bằng sự nhất trí về pháp luật và quyền lợi chung Ông nhấn mạnh khái niệm nhân dân và coi “Nhân dân là một tập đoàn đông những người liên hiệp lại với nhau với cùng một luật pháp và cùng một cộng đồng lợi ích nào đó” [23, tr 106-107] Với ông, đạo đức con người là biểu hiện cao nhất, nó giữ trách nhiệm trong đời sống công cộng, tham gia vào đời sống chính trị với tư cách nghĩa vụ Người công dân lý tưởng của nhà nước La Mã phải tích cực tham gia vào đời sống chính trị, vì đó là biểu hiện cao nhất của đạo đức con người Những công dân tốt không được phép bỏ qua các công việc công cộng,
mà phải theo dõi công việc hàng ngày và chấp nhận các quy tắc của nó Xixêrôn cho rằng, nhà nước ra đời là để bảo vệ cho sở hữu tư nhân Theo ông, nhà nước ra đời không phải do tự nhiên, mà do hoạt động của con người Ông cho rằng, pháp quyền được lập ra là để xác lập sự thống nhất trong xã hội Đặc biệt, ông còn chú ý đến việc phân loại các hình thức tổ chức nhà nước:
Trang 27dân chủ, quý tộc và quân chủ Trong ba hình thức này, ông nghiêng về chế độ quân chủ Còn chế độ dân chủ, theo ông, là chế độ bất công, là nhà nước có
xu hướng cào bằng, vì nó đem lại cho mỗi người cái vốn có của mình, mà cái của mình ở mỗi người trong xã hội lại không giống nhau, nên trong xã hội chính nghĩa, người ta cần phải tôn trọng sự khác biệt Tiếp thu quan điểm phân chia các hình thức tổ chức nhà nước một cách hình thức này của Xixêrôn, Môngtexkiơ đã phân chia nhà nước thành nhà nước dân chủ, nhà nước quân chủ và nhà nước chuyên chế Song, khác với Xixêrôn, Môngtexkiơ nghiêng về chế độ cộng hoà dân chủ Theo ông, trong chế độ này, con người được tự do, bình đẳng Chỉ trong nền cộng hoà dân chủ, những giá trị cơ bản của tự do và bình đẳng mới có thể đến được với mỗi người Ở đây, khi tiếp thu quan điểm của Xixêrôn về tự do, Môngtexkiơ đã cho rằng: “Tự do chính trị tuyệt đối không phải là muốn làm gì thì làm Trong một nước có luật pháp,
tự do chỉ có thể được làm những cái nên làm và không bị ép buộc làm điều không nên làm” [29, tr.105]
Từ những tư tưởng, quan niệm của các nhà tư tưởng thời kỳ Cổ đại về
xã hội và nhà nước đã nêu trên, có thể nói rằng, mặc dù những tư tưởng, quan niệm đó được đưa ra ở những góc độ khác nhau, nhưng tựu chung lại, đều cổ
vũ cho việc đề cao pháp luật và xây dựng nhà nước hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật
Khi lịch sử nhân loại phát triển đến thời kỳ Trung đại, khái niệm “công dân” đã trở nên mờ nhạt Khi đó, các nhà tư tưởng thường coi con người tồn tại với tư cách thần dân và do vậy, trong thời kỳ này đã xuất hiện khái niệm
“cá nhân”, nhưng chủ yếu là quan niệm về cá nhân trong quan hệ với Chúa
Mặc dù vậy, đây cũng là một khái niệm rất quan trọng trong lý luận về
xã hội công dân, nó đã đóng góp những giá trị tích cực cho sự phát triển chính trị của nhân loại Những ý tưởng đó có ảnh hưởng rất lớn tới việc hình thành
Trang 28và phát triển tư tưởng của Môngtexkiơ về xã hội công dân và nhà nước pháp quyền
Môngtexkiơ đã kế thừa những tư tưởng tư sản phong kiến của dân tộc mình Đó là tư tưởng của Môngtenhơ (1533 -1592) - người đã đề cao tư tưởng nhân văn và cho rằng, con người có quyền được hưởng thụ giá trị vật chất và giá trị tinh thần; người đã phê phán kịch liệt thuyết kinh viện và thần học Đến thế kỷ XVIII, các nhà Khai sáng Pháp, trước hết là phái duy vật đã đấu tranh chống lại chế độ quân chủ phong kiến, nhất là chống tôn giáo Họ coi đó là chế độ xã hội không hợp lý, trái với trật tự tự nhiên Với sự ra đời một nền khoa học mới, họ đã phát triển học thuyết duy vật và vô thần và cho rằng, giới
tự nhiên có tính vật chất, không do ai sáng tạo ra và không bị mất đi, nó tồn tại mãi mãi, vô cùng vô tận và tuân theo những quy luật khách quan của mình
“Kế thừa các nhà tư tưởng tư sản thế kỷ XVI-XVII, họ đã xây dựng học thuyết về quyền tự nhiên như quyền của những con người sinh ra vốn bình đẳng Một vài nhà Khai sáng đã khẳng định quyền tự nhiên của con người là bất biến, nó được bảo vệ ở mọi chế độ xã hội Học thuyết quyền tự nhiên được sử dụng làm vũ khí phê phán nhà nước chuyên chế và pháp luật đương thời” [30, tr.316]
Đứng về mặt phương pháp, Môngtexkiơ cũng như các triết gia khác của thế kỷ XVIII ở Pháp đã chịu ảnh hưởng quan niệm duy lý của Đêcáctơ (1590
- 1650) - người đã bác bỏ triết học thời Trung cổ, phủ nhận quyền uy của giáo hội, nền giáo dục kinh viện và coi xã hội Trung cổ là một xã hội đầy rẫy những cái bất hợp lý Khi cho rằng, con người cần phải có một nền khoa học mới - một nền khoa học của con người, vì con người mà các nhà triết học Anh
là những người đi tiên phong, Đêcáctơ đã chỉ rõ: “Người Anh đã đi đầu trong lĩnh vực này Bêcơn sớm đưa ra lập luận cho rằng việc nghiên cứu khoa học đối với tự nhiên đã bao hàm một điều là cả con người và xã hội cũng là đối tượng của sự nghiên cứu đó Hệ thống các quy luật tự nhiên của Niutơn (1642-1727), dù ông cũng rơi vào bế tắc ở điểm tận cùng của lý lẽ khi viện
Trang 29đến “cái hích của Chúa”, đã là một minh chứng mạnh mẽ cho nền khoa học mới như vậy” [21, tr.81] Do vậy, Đêcáctơ đã đưa ra một phương pháp mới, khoa học về việc nhận thức thế giới, đem lý tính và khoa học thay cho tín ngưỡng mù quáng Ông nhấn mạnh lý tính, coi lý tính là tiêu chuẩn của chân
lý Về phương pháp, ông dùng sự “hoài nghi” làm phương pháp suy luận của mình Theo ông, nhờ phương pháp suy luận này mà người ta có thể tránh mọi
ý kiến sai lệch để xác định chân lý mà người ta không thể chối cãi Khi kế thừa những quan điểm và phương pháp này của Đêcáctơ, Môngtexkiơ đã sử dụng chúng để xây dựng tư tưởng về xã hội công dân và nhà nước pháp quyền
Tư tưởng của Môngtexkiơ không những chịu ảnh hưởng quan điểm duy
lý của Đêcáctơ, mà còn chịu ảnh hưởng kinh nghiệm luận của Gi.Lốccơ (1632-1704) Gi.Lốccơ khẳng định nguồn gốc mọi tri thức con người là ở kinh nghiệm, nghĩa là để tồn tại như cái thực tồn thì phải được kiểm chứng bằng kinh nghiệm Tiếp thu quan điểm này của Gi.Lốccơ, Môngtexkiơ khẳng định con người nguyên thủy lúc đầu nhận thức thế giới bằng cảm giác, sau đó dần dần dùng lý trí khái quát những tài liệu cảm giác Khẳng định ý nghĩa của cảm giác, của sự nhận thức các sự vật bằng kinh nghiệm, Môngtexkiơ tin rằng, tri thức bắt nguồn từ kinh nghiệm
Gi.Lốccơ là người bênh vực chế độ quân chủ lập hiến, bênh vực lợi ích của giai cấp tư sản Anh Ông cho rằng, nhà nước có nhiệm vụ bảo vệ chế độ
tư hữu Kế thừa những tư tưởng này của Gi.Lốccơ, Môngtexkiơ đã ủng hộ chế
độ quân chủ lập hiến và coi đó là một thể chế lý tưởng Khi phát triển tư tưởng phân quyền của Arixtốt cho phù hợp với đặc điểm phát triển của xã hội phương Tây trong bước giao thời của lịch sử cận đại, Gi.Lốccơ cho rằng, quyền lực nhà nước phải được phân chia thành quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền liên bang Lập pháp do quốc hội đảm nhiệm, hành pháp thuộc
về nhà vua, và vua lãnh đạo việc thi hành pháp luật, bổ nhiệm các bộ trưởng
và quan chức khác Còn quyền liên bang là các công việc đối ngoại Trong ba
Trang 30quyền lực này thì Gi.Lốccơ chứng minh rằng, lập pháp phải là quyền cao nhất, nó được duy trì mãi mãi và độc lập với các quyền khác Môngtexkiơ cho rằng việc dồn cả ba quyền trên vào một cá nhân hay một cơ quan đã bị lịch sử vượt qua Rằng tư tưởng phân quyền này là nhằm trao những bộ phận quyền lực nhà nước cho những lực lượng chính trị - xã hội khác nhau, cho giai cấp
tư sản và tầng lớp quý tộc phong kiến Và, mọi sự nới lỏng quyền lực từ phía
cơ quan lập pháp cũng như sự thắt chặt quyền lực từ phía cơ quan hành pháp đều gây ra tác hại Trên cơ sở đánh giá như vậy, Môngtexkiơ đã tiếp tục phát triển một cách sáng tạo lý luận về tam quyền phân lập
Như vậy, có thể nói, sự phát triển tư tưởng về xã hội công dân và nhà nước pháp quyền của các nhà triết học từ thời Cổ đại cho đến thế kỷ XVIII, là tiến trình đưa đến sự hình thành tư tưởng của Môngtexkiơ Chúng ta không thể lật ngược lại lịch sử Song, có thể nói một cách chắc chắn rằng, nếu không
có lịch sử triết học, không có các tư tưởng kế tiếp nhau đầy sinh động và ngày một phát triển, thì chưa chắc đã có một nền tảng lý luận để Môngtexkiơ và các nhà triết học sau này xây dựng lý luận của mình
Trong thế kỷ XVIII, các nhà Khai sáng Pháp, về cơ bản, đều hoạt động một cách độc lập, riêng rẽ Mỗi người có suy nghĩ, có cảm nhận riêng về trách nhiệm của mình trước một xã hội đầy rối ren, nhiều biến động Trước tình thế
mà lịch sử trao cho họ, các nhà Khai sáng Pháp đã đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội Vì lẽ đó mà trong các tác phẩm của họ, chúng ta không tìm thấy ở họ những nghiên cứu sâu sắc về vấn đề bản thể luận hay nhận thức luận, mà chỉ thấy họ quan tâm đến những vấn đề mang tính chính trị - xã hội, như các quan hệ, nhà nước, công dân, tôn giáo, con người, pháp luật, xã hội Nhìn chung, có thể nói, các nhà Khai sáng Pháp đã đưa ra các cách lý giải khác nhau về những vấn đề này, nhưng họ vẫn thể hiện ra như một tổng thể thống nhất Dù có sự khác biệt, nhưng họ không hề đối lập nhau trên tinh thần chống chuyên chế, chống thế quyền bạo ngược và thần quyền giáo điều, chống lại sự u tối trong nhận thức
Trang 31Trong các tác phẩm của các nhà Khai sáng Pháp, dường như cái ranh giới giữa văn, sử và triết đã bị xoá nhòa đi Tính chất “văn sử triết bất phân”
đã thể hiện khá rõ ở các tác gia thời đó Các nhà văn lớn thời kỳ này cũng đồng thời là các nhà triết học Ngoài Môngtexkiơ và Rútxô, chúng ta còn phải kể đến những tên tuổi, như Vônte (1694-1778), Điđrô (1713-1784) “Họ, như bài
mang tên Philosophe được viết ẩn danh trong Bách khoa thư của Điđrô đã nói
đến, đều là những con người dám đạp lên những định kiến, truyền thống, những
ý nghĩa phổ biến, kể cả quyền lực, hay chính là những cái nô dịch tư duy con người Họ dám tự mình suy nghĩ, xem xét lại quá khứ và tìm kiếm những nguyên lý rõ ràng nhất Họ không thừa nhận bất cứ cái gì khác, ngoài những
gì được chứng thực bằng kinh nghiệm và lý trí của họ” [Dẫn theo:21, tr.83]
Những định kiến mà các nhà duy vật Pháp nói đến không chỉ là xã hội Pháp đương thời, mà còn là tất cả những điều không hợp lý với tinh thần bảo
hộ cho cái xã hội đầy rẫy những bất công, những cái đã buộc con người sống trong hoàn cảnh đó phải chấp nhận Đó là tình trạng nô dịch về tinh thần của con người trước những định kiến mà không một nhà triết học Khai sáng nào
là không phê phán
Trong bối cảnh nước Pháp thế kỷ XVIII, Môngtexkiơ đã cho ra đời tác
phẩm Bàn về tinh thần pháp luật với hy vọng nó “có thể làm cho người đời
chữa khỏi thành kiến” Đó là cái "thành kiến" mà theo ông, "không phải vì người ta không biết một điều gì đó, mà vì người ta không tự biết chính mình” [Xem:29, tr.33] Và, Môngtexkiơ đã đưa ra lời khuyến cáo cho tất cả mọi người, rằng “Nhân dân cần được soi sáng Đó là điều ta chớ thờ ơ Những định kiến của các nhà cầm quyền thường bắt đầu là định kiến dân tộc Thời còn dốt nát, người ta chẳng hoài nghi gì, ngay cả khi người ta làm điều bậy bạ nhất Đến thời sáng suốt, người ta còn run lên khi làm điều tốt đẹp nhất Người ta biết điều lạm dụng ngày xưa và người ta tìm thấy cách sửa chữa, nhưng người ta còn thấy được cả sự lạm dụng trong khi sửa chữa nữa Người
ta để nguyên cái xấu, nếu họ sợ cái tồi tệ hơn Người ta giữ cái tốt vừa phải,
Trang 32nếu họ còn hoài nghi cái ưu việt hơn Người ta chỉ nhìn vào cái cục bộ để phán đoán cái tổng thể Người ta xem xét mọi nguyên nhân để nhìn cho ra kết
chính thể cộng hoà, chính thể quân chủ và chính thể chuyên chế Quan điểm
chính trị của ông khi còn ít tuổi là theo đuổi chính thể cộng hoà Tư tưởng này
đã theo đuổi ông khi còn ngồi trên ghế nhà trường Chính thể cộng hoà mà ông biết được là thông qua sách vở về nền cộng hoà La Mã Năm 1721, ông viết
Những bức thư Ba Tư Khi đó, ông vẫn thiên về chính thể cộng hoà, bởi ở đó,
theo ông, con người được sống tự do, có đạo đức và được sung sướng
Năm 1748, khi viết tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật, ông thấy cần
phải học tập chính thể quân chủ lập hiến giống nước Anh và coi chính thể quân chủ lập hiến đó là chính thể quân chủ mà nước Pháp cần phải xây dựng Chính thể quân chủ lập hiến này, theo ông, được đặc trưng bởi sự phân quyền
là cái cần thiết để hạn chế quyền lực của nhà vua bằng nghị viện tư sản Lý tưởng này của Môngtexkiơ phù hợp với ông Chủ tịch Nghị viện Boócđô khi
đó, bởi ông này cũng có tư tưởng căm ghét chế độ quân chủ chuyên chế Cũng do vậy, tư tưởng của Môngtexkiơ về xã hội công dân và nhà nước pháp quyền đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ
Trang 33CHƯƠNG 2
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG QUAN NIỆM CỦA MÔNGTEXKIƠ VỀ XÃ HỘI CÔNG DÂN VÀ NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN
2.1 Quan niệm của Môngtexkiơ về xã hội công dân
Thuật ngữ “xã hội công dân” lần đầu tiên được Arixtốt nói đến trong
“Chính trị” với mục đích phê phán quan niệm của Platôn về nhà nước lý tưởng mà trong đó, việc thủ tiêu sở hữu tư nhân và thực hiện chế độ công hữu
về tài sản đã được khẳng định là tiêu chí căn bản để đánh giá nhà nước lý tưởng Arixtốt cũng đã cho rằng, các yếu tố cơ bản của xã hội công dân chính
là gia đình, dòng họ, làng xóm, nhà nước và xã hội Xã hội công dân bao gồm hai thành tố “xã hội’ và “công dân” “Xã hội” có thể được coi là tổng thể các quan hệ xã hội giữa người với người trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, như kinh tế, chính trị, văn hóa, đạo đức “Công dân” là người mang quốc tịch của một quốc gia, thể hiện mối quan hệ pháp lý giữa cá nhân với một nhà nước cụ thể Với cách tiếp cận này, xã hội cộng sản nguyên thủy, xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến không thể được coi là xã hội công dân Bởi lẽ, chỉ đến khi nhà nước tư sản ra đời, xã hội thần dân mới chuyển thành xã hội công dân - xã hội của các công dân tự do, bình đẳng trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ về mặt pháp lý
Khái niệm về xã hội công dân được hình thành từ thời Cổ đại, ít nhiều
đã xuất hiện những tư tưởng sơ khai về một xã hội tự do, bình đẳng Xã hội công dân thời kỳ này được hiểu theo nghĩa rộng, được coi là đồng nghĩa với nhà nước hay xã hội chính trị Theo quan niệm này, xã hội công dân thể hiện
sự phát triển của nền văn minh đến những nơi mà xã hội đã được văn minh hoá, như thành bang Aten và cộng hoà La Mã Nó thể hiện trật tự xã hội của
Trang 34các công dân và ở đó, các công dân tự điều chỉnh các quan hệ của họ và dàn hòa các tranh chấp theo hệ thống pháp luật Đó cũng là nơi mà các công dân chủ động tham gia vào cuộc sống cộng đồng Nói cách khác, xã hội công dân
là sự đánh dấu thời điểm mà con người bước vào môi trường của những thỏa thuận, bước từ trạng thái tự nhiên, tiền chính trị sang xã hội chính trị Tuy nhiên, đó mới chỉ là một số biểu hiện của xã hội công dân và chỉ thấy ở một vài lãnh thổ nhỏ
Lịch sử nhân loại bước sang thời kỳ Cận đại với sự hình thành thị trường trên quy mô thế giới đã tác động sâu sắc đến sự phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia ở phương Tây Đặc biệt, những chuyển biến xã hội sâu sắc diễn ra ở Anh và Pháp với các cuộc cách mạng tư sản, tạo nên một sự chuyển biến mạnh mẽ và căn bản trên nhiều phương diện trong đời sống kinh
tế - xã hội ở nhiều nước châu Âu Do vậy, người ta coi thời kỳ này là thời kỳ
mà nhân loại chính thức bước vào xã hội công dân
Giai đoạn phát triển thứ nhất của xã hội công dân bắt đầu từ thế kỷ
XVI-XVII Đây là giai đoạn hình thành nên các tiền đề kinh tế - chính trị và
tư tưởng cho một xã hội công dân Những tiền đề đó là sự phát triển công nghiệp, thương nghiệp, là sự chuyên môn hoá các loại hình sản xuất và tăng mạnh sự phân công lao động xã hội và các quan hệ kinh tế thị trường Từ đó, các quốc gia đã phát triển tập trung hơn trên cơ sở khẳng định chủ quyền lãnh thổ, củng cố bộ máy quản lý chính quyền Cùng với các yếu tố đó là sự bùng
nổ về hệ tư tưởng, phát triển văn hoá, nghệ thuật, sự nổi dậy của tầng lớp bị
áp bức chống lại chế độ cường quyền phong kiến mà tâm điểm của nó là sự bất bình đẳng giai cấp trong xã hội Nhà nước tư sản đã phá bỏ chế độ đẳng cấp trong xã hội phong kiến, chuyển nó thành xã hội công dân mà trung tâm của nó là sự bình đẳng về mặt pháp lý
Trang 35Giai đoạn phát triển thứ hai của xã hội công dân được bắt đầu phát
triển ở thế kỷ XVII tại châu Âu Vào thời kỳ này, khái niệm “xã hội công dân” đã được lý giải theo nhiều cách khác nhau và đã được các nhà triết học dần dần làm sáng tỏ về nội dung và những khía cạnh liên quan đến nó “Theo nghĩa đơn giản nhất, xã hội công dân chỉ cộng đồng dân cư thuộc một nước
Ở chiều sâu, xã hội công dân không phải chỉ là sự tập hợp đơn giản các cá nhân, mà là hệ thống các mối quan hệ, liên hệ về kinh tế, chính trị và các quan
hệ, liên hệ khác giữa họ Nhân tố tạo nên cơ sở của xã hội công dân là sự bình đẳng về mặt pháp lý trong quan hệ giữa các cá nhân Bình đẳng pháp lý cho mọi người với tư cách là chủ thể độc lập của các quyền và tự do là dấu hiệu chính yếu và nền tảng của xã hội công dân” [43, tr.12] Từ đó, có thể thấy rằng, “xã hội công dân” là phạm trù lịch sử, chỉ xuất hiện từ khi có xã hội tư sản “xã hội công dân” là khái niệm đối lập với khái niệm “xã hội thần dân” trong chế độ phong kiến với sự thống trị của quan hệ đẳng cấp trong xã hội Như vậy, yếu tố cơ bản nhất tạo nên xã hội công dân và làm nên bản chất của
nó là sự tự do, bình đẳng về pháp lý
Môngtexkiơ không sử dụng thuật ngữ “xã hội công dân”, nhưng điều
đó không có nghĩa là ông không đề cập đến những yếu tố của xã hội công
dân Những yếu tố đó đã được ông đề cập đến trong một số tác phẩm: Những
bức thư Ba Tư, Những nhận định về nguyên nhân cường thịnh và suy thoái của Rôma, Bàn về tinh thần pháp luật Thông qua các yếu tố này,
Môngtexkiơ muốn xây dựng quan niệm của riêng ông về một xã hội tự do,
bình đẳng, dân chủ Đặc biệt, tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật của ông
đã đóng một vai trò quan trọng và mang ý nghĩa Khai sáng về mặt pháp chế, vạch ra định hướng xây dựng xã hội công dân, nhà nước pháp quyền mà sau này, đã trở thành nguyên tắc pháp lý chi phối sâu sắc sự phát triển của nhà nước và pháp luật hiện đại
Trang 36Môngtexkiơ cho rằng, sự xuất hiện của xã hội tự do, bình đẳng, dân chủ
- xã hội công dân là dấu hiệu của việc con người vĩnh viễn bước ra khỏi trạng thái tự nhiên Trong trạng thái tự nhiên, con người sinh ra vốn là bình đẳng, nhưng khi hợp thành xã hội, sự bình đẳng đó đã trở thành sự bất bình đẳng và chỉ khi luật pháp ra đời thì con người mới lại có sự bình đẳng
Sự bình đẳng trong xã hội công dân với chính thể dân chủ được Môngtexkiơ coi là sự bình đẳng chân chính, sự bình đẳng mà với tư cách
công dân, mọi người đều bình đẳng với nhau Ông viết: “Bình đẳng chân chính không phải là làm cho mọi người đều chỉ huy hay không ai bị chỉ huy,
mà là chỉ huy những người bình đẳng với mình và phục tùng con người bình
đẳng với mình Nền dân chủ không phải là vô chủ, mà là do những người bình
đẳng làm chủ” [29, tr.91] Khác với bình đẳng cực đoan “như thể ai cũng là quan cai trị, ai cũng là thẩm phán, ai cũng làm thầy, làm chủ”, bình đẳng chân chính trong xã hội công dân với “dân chủ có mức độ”, theo Môngtexkiơ, là
“mọi người đều bình đẳng với tư cách công dân” [29, tr.91] Quan điểm này của Môngtexkiơ giống với quan điểm về trạng thái tự nhiên của xã hội ở Gi.Lốccơ và sau này là ở Rútxô, nhưng “khác với họ, những người quan niệm rằng sự bình đẳng mới sẽ được tạo lập bằng việc ký kết một thỏa ước ngầm định và vô hình, Môngtexkiơ chủ trương hoàn toàn hiện thực rằng bình đẳng
xã hội muốn có được phải dựa trên pháp luật, được bảo đảm bằng pháp luật,
và là cái hiện diện một cách công khai và định hình xác định” [21, tr.108]
Với chủ trương đó, Môngtexkiơ cho rằng, trong xã hội công dân, chính thể dân chủ là cái cần phải được đề cao và ông coi chính thể dân chủ này là đạo đức chính trị, là tình yêu pháp luật và tình yêu tổ quốc Ông viết: “Lòng yêu mến nền cộng hoà trong chính thể dân chủ là lòng yêu dân chủ Lòng yêu dân chủ lại là lòng yêu sự bình đẳng và không những yêu vì quyền lợi mà yêu
cả về nghĩa vụ Lòng yêu dân chủ còn là lòng yêu cuộc sống thanh đạm” [29,
Trang 37tr.68] Giải thích điều này, Môngtexkiơ cho rằng, trong xã hội công dân với chính thể dân chủ, mọi công dân đều có những hạnh phúc và cơ hội như nhau
và do vậy, họ phải được hưởng thụ như nhau, có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau Đến lượt mình, điều này chỉ có thể đạt được khi mọi công dân trong chính thể dân chủ được sống trong “sự sống thanh đạm nói chung” [29, tr.69] Tình yêu dân chủ ấy, theo ông phải được đặt lên trên lợi ích cá nhân, còn vận mệnh của chính thể thì được giao cho mỗi công dân Mọi công dân trong chính thể dân chủ đều mong muốn có sự bình đẳng và cuộc sống thanh đạm
Và, do yêu bình đẳng, nên mọi công dân trong xã hội công dân đều có một tham vọng duy nhất là giúp ích cho tổ quốc Cũng vì yêu bình đẳng, nên họ không thích lối sống vụ lợi, xa hoa, lãng phí Ông viết: “Tính thanh đạm hạn chế ước vọng thu vén riêng cho gia đình mình, mà khuyến khích tình cảm ước mong cho tổ quốc được giàu có, thừa thãi Của cải quốc gia tạo nên sức mạnh chung mà một công dân không thể dùng riêng cho mình, vì dùng riêng là không công bằng” [29, tr.69] Do vậy, trong xã hội công dân với chính thể dân chủ, theo Môngtexkiơ, nhà nước cần phải “thiết lập nếp sống thanh đạm trong các gia đình, nhưng lại mở cửa cho các chi phí hào phóng nơi công cộng, như ở Athène và Rôma ngày xưa Vẻ huy hoàng và hào phóng nơi công cộng chính là dựa vào sự thanh đạm của các công dân mà có được Cũng giống như tôn giáo yêu cầu con chiên dâng lễ Chúa với bàn tay sạch sẽ, luật pháp mong muốn xây dựng nếp sống thanh đạm để công dân có thể đóng góp nhiều cho tổ quốc” [29, tr.69]
Trong xã hội công dân với chính thể dân chủ, mọi công dân đều yêu cuộc sống thanh đạm, song “muốn yêu nó (cuộc sống thanh đạm - N.T.H) thì phải có cái gì hưởng thụ trong nếp sống thanh đạm đó” và do vậy, theo Môngtexkiơ, “ngay trong chính thể cộng hoà cũng phải có những điều luật để đưa người ta đến chỗ nảy sinh lòng yêu bình đẳng và nếp sống thanh đạm”
Trang 38[29, tr.70] Mọi công dân trong xã hội công dân với chính thể dân chủ đều yêu cuộc sống thanh đạm, song những nhu cầu hàng ngày của họ và việc họ thực hiện các nhu cầu ấy lại hết sức đa dạng, nên nhà nước phải có chính sách hợp nhất và tích hợp các khát vọng cá nhân và khát vọng của các nhóm xã hội để duy trì tính toàn vẹn về lãnh thổ và sự tiến bộ của xã hội Thực thi nghĩa vụ này, nhà nước trong xã hội công dân, Môngtexkiơ khẳng định, phải thực hiện
“sự bình đẳng thực tế” và thiết lập mối quan hệ qua lại giữa lợi ích của xã hội, của nhóm và của các cá nhân công dân thông qua chức năng quản lý xã hội Thiết lập “sự bình đẳng thực tế …trong chính thể dân chủ”, theo ông, là “linh hồn của nhà nước”, “nhưng thật khó mà thiết lập nó một cách tuyệt đối chính xác” Do vậy, theo ông, nhà nước trong chính thể dân chủ ở xã hội công dân
“chỉ cần định mức một cách tương đối để rút ngắn khoảng cách chênh lệch, ví
dụ như yêu cầu người giàu đóng góp cho xã hội nhiều hơn người nghèo, và có những chính sách cụ thể nâng đỡ người nghèo” [29, tr.71] Rõ ràng, ở đây, Môngtexkiơ đã không chủ trương giảm thiểu bất bình đẳng bằng sự kêu gọi
về mặt đạo đức, mà đề xuất tư tưởng về vai trò của nhà nước trong việc điều tiết thu nhập xã hội, điều hòa sự bất bình đẳng kinh tế để đạt “tới sự bình đẳng thực tế” trong phạm vi có thể, trong điều kiện xã hội, luật pháp cho phép Với
tư tưởng này, ông đã đi đến quan niệm cho rằng, trong xã hội công dân với chính thể dân chủ vẫn còn tồn tại sự bất bình đẳng, nhưng sự bất bình đẳng đó
“phải tương đối hợp với bản chất của nền dân chủ Ví dụ, những người nào đó cần có việc làm thường xuyên để không bị nghèo khổ quá, thì họ không được lười biếng trong công việc; và thợ cả thì không được lên mặt kiêu ngạo” [29, tr.71] Rằng, trong xã hội công dân với chính thể dân chủ “vẫn tồn tại một phần chưa bình đẳng” nhưng sự tồn tại này là “tồn tại theo lợi ích của nền dân chủ, và đó chỉ là chưa bình đẳng về bề ngoài mà thôi” [29, tr.71]
Trang 39Trong quan niệm của Môngtexkiơ, xã hội công dân với chính thể dân chủ còn là xã hội mà ở đó, tự do là quyền tối cao của con người
Trong Những bức thư Ba Tư, đặc biệt là trong Bàn về tinh thần pháp
luật, khi phê phán nhà nước chuyên chế đã tước bỏ quyền làm người, quyền
công dân của con người trong xã hội và biến họ thành những “công dân phi tự nhiên” không chỉ bằng cường quyền, bằng những đạo luật, những quan hệ xã hội mang tính cưỡng bức, mà còn bằng những phong tục, tập quán và định kiến cổ hủ và do vậy, trong các xã hội chuyên chế, con người hiếm khi được xem như những người tự do và chỉ duy nhất bằng sự tưởng tượng, người ta mới có thể xem họ như những công dân, Môngtexkiơ đã khẳng tự do với tư cách quyền tối cao của con người chỉ thực sự xuất hiện ở những nơi mà nền cộng hoà được thiết lập, thể chế dân chủ được ban hành phổ biến Bởi lẽ, “ở nước cộng hoà, người ta không thấy những công cụ gây xấu khiến người ta phải kêu ca; ở đây luật pháp nói nhiều mà người cầm quyền thì nói ít, cho nên thường thường người ta coi chính thể cộng hoà là tự do mà gạt bỏ ý niệm tự
do khỏi chính thể quân chủ” [29, tr.104] Tự do thực sự, tự do với đúng nghĩa của nó chỉ có thể có trong xã hội công dân với chính thể dân chủ, theo Môngtexkiơ, còn bởi “trong các nước dân chủ, nhân dân hầu như được làm điều mình muốn làm, cho nên người ta đặt ý niệm tự do vào loại chính thể này” [29, tr.104]
Với khát vọng xây dựng nên một lý luận hiện thực hoá sự tự do thành một quyền căn bản của con người trong xã hội công dân, đồng thời làm rõ sự khác biệt giữa “các luật tạo ra tự do chính trị trong quan hệ với hiến pháp” và các luật tạo ra tự do chính trị trong quan hệ với công dân” [29, tr.103], trước khi luận giải tự do với tư cách một quyền tối cao của con người, Môngtexkiơ
đã đề cập đến những quan niệm khác nhau về tự do
Trang 40Trong Bàn về tinh thần pháp luật, Quyển XI - “Các luật tạo ra tự do
chính trị trong mối quan hệ với hiến pháp”, Chương 2 - “Các định nghĩa dùng cho tự do”, Môngtexkiơ cho rằng, trong lịch sử tư tưởng triết học nhân loại,
“không có một từ nào lại có nhiều định nghĩa theo những lối suy nghĩ khác
nhau như từ tự do” Bởi lẽ, có những người coi “tự do là dễ dàng cách chức
người đã được giao quyền mà lại trở nên độc đoán”; người khác lại cho rằng
“tự do là bầu ra người mà mình phải phục tùng”; một số người thì lại nói “tự
do là có quyền mang vũ khí và thực hành bạo lực” Đối với một số dân tộc,
“tự do là được người nước mình cai trị lấy mình, hoặc được cai trị bằng luật pháp của nước mình”; một số người dân tộc khác thì “đã từ lâu coi tự do là được để râu dài như dân Mạc Tư Khoa” dưới thời của vua Pie Đệ nhất Rằng, người ta thường “gán tự do cho chính thể cai trị của nước mình mà chê bai chính thể cai trị của nước khác” và do vậy, “ai đã nếm mùi chính thể cộng hoà thì cho cộng hoà là tự do Ai đã sống trong chính thể quân chủ thì cho quân chủ là tự do Tóm lại, mọi người gọi tự do là chính thể phù hợp với tập quán
và phương hướng của mình” [29, tr 103 - 104]
Không đồng ý với những quan niệm đó, Môngtexkiơ cho rằng, cũng như bình đẳng, tự do là cái không thể có trong chế độ quân chủ và càng là cái không thể có ở chế độ chuyên chế Tự do là cái chỉ có thể có trong xã hội công dân với chính thể dân chủ; tự do là cái đồng nhất với chính thể dân chủ,
“quyền của nhân dân” cũng chính là “tự do của nhân dân” tự do là một quyền căn bản, tối cao của công dân [ Xem: 29, tr.104]
Đồng nhất tự do với chính thể dân chủ, mà dân chủ ở đây là “dân chủ
có mức độ”, dân chủ trong khuôn khổ của luật pháp, nên tự do trong xã hội công dân với chính thể dân chủ, theo Môngtexkiơ, cũng chỉ là tương đối Đồng ý với quan niệm của nhà triết học Hy lạp cổ đại - Xixêrôn (106 - 43 TCN) về quyền tự do tương đối của công dân trong một cộng đồng xã hội và