“Trong những năm gần đây, do sự phát triển rất nhanh của nhiều ngành khoa học kĩ thuật, đặc biệt là trong lĩnh vực truyền thông đa phương tiện, các thiết bị nghe nhìn và máy tính, mộ[r]
Trang 1Huongdanvn.com –Cĩ hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm hay
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT THỐNG NHẤT A - -
BẠCH THANH LỤA
ỨNG DỤNG PHẦN MỀM MACROMEDIA FLASH 8 THIẾT KẾ MỘT SỐ MÔ HÌNH ĐỘNG TRONG MÔN HOÁ HỌC LỚP 10
ĐỒNG NAI -2012
Trang 2TRƯỜNG THPT THỐNG NHẤT A - -
BẠCH THANH LỤA
ỨNG DỤNG PHẦN MỀM MACROMEDIA FLASH 8 THIẾT KẾ MỘT SỐ MÔ HÌNH ĐỘNG TRONG MÔN HOÁ HỌC LỚP 10
ĐỒNG NAI -2012
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ứng dụng CNTT trong GD ở một số nước trên thế giới 8
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ứng dụng CNTT trong dạy học Hóa học ở Việt Nam 11
1.3 Điều tra tình hình ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học 13
1.4 Vai trò của phương tiện trực quan trong dạy học hóa học 14
Chương 2 THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG MÔ HÌNH ĐỘNG TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC TẾ BÀO BẰNG PHẦN MỀM MACROMEDIA FLASH 8 2.1 Sơ lược về Flash 20
2.2 Thiết kế mô hình động trong dạy học Hóa học lớp 10 bằng phần mềm Macromedia Flash 8 .24
2.2.1 Nguyên tắc thiết kế mô hình động 24
2.2.2 Quy trình thiết kế mô hình động bằng phần mềm Macromedia Flash 8 26
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 3.1 Mục đích thực nghiệm 32
3.2 Nội dung thực nghiệm 32
3.3 Phương pháp thực nghiệm 32
3.4 Kết quả thực nghiệm 38
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ A Kết luận 43
B Đề nghị 44
Tài liệu tham khảo 45
PHỤ LỤC: Phân tích 41 mô hình đã thiết kế
Trang 4CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
Đối chứng
Giáo viênHọc sinhKhoa học kĩ thuật
electronPhương pháp dạy họcPhương tiện trực quanPhương tiện dạy họcTrung học phổ thôngPhiếu học tập
Quá trình dạy họcSách giáo khoa
hóa học
Shockwave Flash Thực nghiệm
Trang 6MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Xuất phát từ sự phát triển của cuộc cách mạng KHKT
Cuộc cách mạng KHKT của thế giới hiện nay đã làm cho lượng thông tinkhoa học nói chung và khoa học hoá học nói riêng tăng như vũ bão Một kiến thứcđược đưa vào nhà trường như trước đây, sau 5-7 năm phát minh nay đã lạc hậu.Làm thế nào để giải quyết được mâu thuẫn vốn tiềm tàng trong giáo dục: khốilượng kiến thức tăng “siêu tốc” với quỹ thời gian học tập ở nhà trường có hạn; giáodục cần cập nhật ngay được với những kiến thức hiện đại, nhưng để đưa kiến thức
đó vào chương trình học tập cần phải có một thời gian khá lớn Một giải pháp duynhất đó là đổi mới PPDH: Để trong cùng một thời gian lượng thông tin được cungcấp nhiều nhất; người học được trang bị khả năng tự cập nhật với thông tin hiện đạitốt nhất
1.2 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới PPDH
Định hướng đổi mới PPDH đã được xác định trong “Văn kiện đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ X” của Đảng Cộng Sản Việt Nam là: “Nâng cao chấtlượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý,nội dung, phương pháp dạy và học thực hiện chuẩn hóa, hiện đạihóa, xã hội hóa, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam”[6] Địnhhướng trên cũng được pháp chế hoá trong luật Giáo dục, mục 2 điều 4: “Phươngpháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạocủa HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp
tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm,đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS’’[19]
Như vậy, định hướng cơ bản của đổi mới PPDH là: hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động,
Trang 7đề cao khả
Trang 8năng tự học của người học và đề cao vai trò của người thầy về
khả năng dạy cho người học cách học có hiệu quả nhất [10]
Một trong những hướng tiếp cận hiện đại để thực hiện chủ trương trên
là ứng dụng những thành tựu của CNTT trong dạy học Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 17/10/2000 đã chỉ rõ nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục là: “ Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo
ở mọi cấp học, bậc học và ngành học”[2] Chỉ thị số 29/2001/CT Bộ Giáo dục
và đào tạo cũng đã đưa ra mục tiêu cụ thể: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục, đào tạo theo hướng sử dụng CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giáo dục, học tập ở tất cả các bộ môn”[3]
1.3 Xuất phát từ những ưu điểm của viêc ứng dụng CNTT trong dạy học
PTDH đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cho người học hiểu nhanh,nhớ lâu các nội dung học tập Giúp người thầy tự nguyện từ bỏ vai trò chủ thể, tiếnhành bài học không phải bắt đầu bằng giảng giải, thuyết trình, độc thoại, mà bằngvai trò đạo diễn, thiết kế, tổ chức, kích thích, trọng tài, cố vấn trả lại cho ngườihọc vai trò là chủ thể, không phải học thụ động bằng nghe thầy giảng giải, mà họctích cực bằng hành động của chính mình nhằm mục tiêu hình thành và phát triểnnhân cách
“Trong những năm gần đây, do sự phát triển rất nhanh của nhiều ngành khoa học kĩ thuật, đặc biệt là trong lĩnh vực truyền thông đa phương tiện, các thiết bị nghe nhìn và máy tính, một yêu cầu bức bách đối với hệ thống giáo
dục và đào tạo là phải mau chóng ứng dụng CNTT để tạo ra một bước đột phá
nhằm đổi mới các phương pháp dạy học, giúp cho người học hiểu nhanh, nhớ
lâu các kiến thức mới và có thể áp dụng ngay các kĩ năng tiên tiến vào công
việc hàng ngày” [7]
Sự phát triển của các loại PTDH sẽ góp phần đổi mới các PPDH
Những năm gần đây, băng video, máy vi tính và hệ thống phương tiện đa
Trang 9năng (Multimedia) phát triển rất nhanh, tạo điều kiện cho cá nhân hoá việc họctập; thầy giáo đóng vai trò người hướng dẫn nhiều hơn phải trực tiếp đứnggiảng bài
1.4 Xuất phát từ những ưu điểm của phần mềm Macromedia Flash
Phương pháp trực quan gắn liền với việc sử dụng các phương tiện trực quan Ngoài các mô hình, tranh vẽ, các thí nghiệm thì phần mềm dạy học cũng đang dần thể hiện tính ưu việt của mình Phần mềm dạy học là một phương tiện trực quan hữu hiệu có tác dụng kích thích tính tích cực, độc lập, sáng tạo của người học, giúp thực hiện tốt việc phân hoá, cá thể hoá trong dạy học Theo ý kiến của một số giáo viên dạy hoá học ở các trường THPT thì việc mô tả bằng lời hoặc tranh vẽ các quá trình trong hoá học như lai hoá, xen phủ, các quá trình điện li của các phân tử chất điện li gặp rất nhiều khó khăn, học sinh không hiểu hoặc hiểu không trọn vẹn Khi đó, sự có mặt của các mô hình động trở nên rất cần thiết
Phần mềm Flash là phần mềm thể hiện khá nhiều ưu điểm: Giúp tạo hình ảnh động cho tất cả các quá trình cần mô tả; tập tin kết xuất từ Flash hiển thị được trên hầu hết các hệ điều hành máy tính, thiết bị cầm tay, điện thoại và
cả tivi Việc thiết kế và sử dụng mô hình động mô tả các quá trình hoá học bằng phần mềm Flash sẽ giúp học sinh dễ tiếp thu, hiểu bài một cách sâu sắc hơn doviệc thu nhận thông tin về sự vật, hiện tượng một cách sinh động, chính xác, đầy đủ Từ đó, nâng cao hứng thú học tập môn học, nâng cao niềm tin của học sinh vào khoa học
1.5 Xuất phát từ thực trạng dạy - học hiện nay
Trong chương trình hoá học 10 và 11 có rất nhiều kiến thức về các khái niệm, cơ chế, quá trình ở cấp độ vi mô (sự chuyển động của các electron trongnguyên tử, sự xen phủ giữa các obitan, sự lai hoá giữa các obitan, cơ chế các giaiđoạn của phản ứng …) khá trừu tượng đối với HS phổ thông Để cụ thể hoá
Trang 10được những kiến thức đó GV ở các trường phổ thông hiện nay hầu hết mới chỉ dùng các tranh, ảnh tĩnh, hay những mẫu vật, mô hình đơn giản Với những PTDH như vậy, người GV khó có thể dùng lời để diễn tả hết những diễn biến phức tạp trong các quá trình hoá học để giúp HS lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc Hơn nữa, việc GV chỉ mô tả các quá trình HH bằng lời sẽ không tạo ra được kích thích để HS tự giác, chủ động khám phá kiến thức, và
có nguy cơ biến giờ học quay về lối truyền thụ một chiều như trước kia
Như vậy, có thể thấy rằng muốn đổi mới PPDH thì trước tiên cần phải cải tiến PTDH, tăng cường sử dụng các PTTQ Làm thế nào để các PTTQ có thể đáp ứng được việc thể hiện tính “động” của các quá trình hoá học các phảnứng hoá học
Hiện nay, một trong những hướng đổi mới PPDH cũng như cải tiến cácPTDH đang được triển khai với nhiều ưu thế đó là ứng dụng CNTT trong dạy học.Với các phần mềm như Flash hay Gif animatior, máy tính cho phép chúng ta cóthể tạo nên những bức ảnh động hay những đoạn phim hoạt hình mô phỏng các quátrình động diễn ra ở bất kì cấp độ nào của tổ chức sống, có thể khắc phục được mặt
“tĩnh” của các PTDH hiện hành Hoặc là từ những hình ảnh “download” trên mạngInternet, chúng ta sử dụng những phần mềm tương ứng để chỉnh sửa hoặc thiết kếlại một cách dễ dàng, phù hợp với mục đích dạy học khác nhau, rất thuận tiện
Bên cạnh đó, một trong những ứng dụng phổ biến nhất của CNTT đang được áp dụng trong dạy học hiện nay là thiết kế bài dạy trên phần mềm MS Powerpoint; Violet ưu thế lớn nhất của các phần mềm này không phải là kênh chữ với nhiều hiệu ứng, mà quan trọng hơn là khả năng tích hợp kênh hình tĩnh hoặc động trong cùng một bài trình diễn, làm cho bài giảng hết sức sinh động, sử dụng kết hợp với các PPDH tích cực, người GV có nhiều khả năng
Trang 11thành công hơn so với các bài giảng chỉ sử dụng các thiết bị dạy học thôngthường
Tuy có nhiều ưu điểm như vậy, nhưng hiện nay GV muốn ứng dụng CNTTtheo hướng trên vào dạy học còn gặp rất nhiều khó khăn: thiếu nguồn tư liệuMultimedia là các tranh, ảnh, phim…Hơn nữa rất nhiều GV chưa tự thiết kế được
mô hình động phục vụ cho bài dạy của mình
Với những lí do trên, tôi chọn đề tài “Ứng dụng phần mềmMacromedia Flash 8 thiết kế một số mô hình động trong môn hoáhọc lớp 10 và 11"
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xác định cơ sở lý thuyết và thực tiễn cho việc thiết kế và sử dụng mô hình động trong dạy học hoá học bằng phần mềm Macromedia Flash 8 góp phầnnâng cao chất lượng giảng dạy và học tập môn hoá học ở trường phổ thông
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học Hoá học lớp 10 ở trường THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Ứng dụng phần mềm Macromedia Flash để thiết kế và sử dụng mô hình động
mô phỏng các quá trình trong Hoá học 10 và 11
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu xác định được nguyên tắc, quy trình thiết kế và sử dụng mô hình độngtrong dạy học Hoá học thì sẽ giúp GV THPT có thể tự thiết kế các mô hình động vàđưa chúng vào bài dạy của mình đồng thời sẽ tích cực hoá hoạt động nhận thức của
HS trong quá trình học tập bộ môn
Trang 125 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1 Tổng quan tài liệu và điều tra cơ bản về tình hình ứng dụng công nghệ thôngtin trong dạy học HH, làm cơ sở thực tiễn của đề tài
5.2 Xác định các nguyên tắc và quy trình thiết kế mô hình động trong dạy họcHoá học bằng phần mềm Macromedia Flash 8
5.3 Thiết kế mô hình động của quá trình chuyển động của các electron trongnguyên tử, sự hình thành các loại liên kết trong hợp chất, sự xen phủ, lai hoá giữacác obitan nguyên tử, các qui trình điều chế, các qui trình chưng cất, tách chất, sựtạo thành ion của nguyên tử, sự chuyển dịch cân bằng của phản ứng thuận nghịch,
sự khuyếch tán thành ion của các phân tử chất điện li, vònng tuần hoàn của nước…bằng phần mềm Macromedia Flash 8 và đề xuất phương pháp đưa các mô hình động vào các phần mềm dạy học (Microsoft PowerPoint, Violet)
5.4 Thực nghiệm sư phạm và phân tích kết quả thực nghiệm để chứng minh tínhhiệu quả và tính khả thi của phương án đề xuất
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách phápluật của Nhà nước trong công tác giáo dục, các công trình nghiên cứu liên quanđến đề tài
Nghiên cứu nội dung, chương trình SGK hoá học 10 và 11 THPT
Nghiên cứu giáo trình Flash
6.2 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Gặp gỡ và trao đổi với những chuyên gia về lĩnh vực mà đề tài nghiên cứu,lắng nghe sự tư vấn và giúp đỡ của các chuyên gia để định hướng cho việc triểnkhai và nghiên cứu đề tài
6.3 Phương pháp điều tra thực trạng
Thiết kế và sử dụng phiếu điều tra, tìm hiểu tình hình ứng dụng tin học trong dạy học HH Kết quả điều tra là cơ sở thực tiễn cho việc ứng dụng phần
Trang 13mềm Macromedia Flash để thiết kế mô hình động trong giảng dạy hoá học
6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm sư phạm ở trường THPT nhằm kiểm chứng giả thuyết khoahọc của đề tài
6.5 Phương pháp thống kê toán học
Các số liệu trong thực nghiệm sư phạm được xử lý thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel, xác định các tham số đặc trưng mang tính khách quan
7 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
7.1 Bước đầu xây dựng cơ sở lý luận của việc thiết kế mô hình động nói chung
và vận dụng vào việc thiết kế mô hình động mô phỏng quá trình hoá họcnguyên tử, phân tử, hợp chất, trong dạy học hoá học
7.2 Xác định được quy trình thiết kế và sử dụng mô hình động trong quá trìnhhoá học
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tintrong giáo dục ở một số nước trên thế giới
Khoảng 20 năm gần đây, máy tính điện tử đã trở thành công cụ không thể thay thế được trong phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng và nghiên cứu khoa học Nhiều nước như Pháp, Anh, Nhật đã xác định chiến lược phát triển ứng dụng CNTT, một mặt quan trọng của chiến lược đó là giáo dục tin học phổ thông Vì vậy, họ đã đầu tư xây dựng các trung tâm máy tính điện tử cho các viện nghiên cứu và cho các trường học Việc đưa tin học vào trường phổ thông trên thế giới hình thành hai xu hướng: Một là đưa tin học vào nội dung dạy học, hai là sử dụng máy vi tính như công cụ dạy học
Người ta rất quan tâm đến việc phân biệt giữa dạy học về máy tính và dạy họcvới sự trợ giúp của máy tính Nhật Bản đã xác định vai trò của máy tính dùng để
hỗ trợ quá trình giáo dục là rất quan trọng và đã đầu tư theo hướng này với tốc
độ phát triển nhanh chóng
Tuỳ từng điều kiện cụ thể, mỗi nước có cách đi và phương hướng phát triển riêng Tuy nhiên, các nước trên đều có xu hướng chung là từng bước đưa nội dung tin học vào phổ thông nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và sử dụng máy tính điện tử như công cụ trợ giúp cho dạy - học Đa số các nước đều quan tâm đến phương pháp dạy học như thế nào để học sinh nhanh chóng lĩnh hội được tri thức cơ bản và tự học để hoàn thiện kiến thức Trong đó, hầu hết các nước đều phát triển phương pháp dạy cách tự học cho học sinh
Cùng với sự phát triển của máy tính điện tử là sự phát triển của các phần mềm hệ thống và ứng dụng Hầu hết người sử dụng máy tính trên thế giới đã quen với các phần mềm nổi tiếng như WinDows, Foxpro, Visual Basic Từ
Trang 15nửa sau của thế kỉ 20 sự phát triển của CNTT đã tiến những bước nhảy vọt Cácphần mềm ứng dụng ngày càng được sử dụng nhiều hơn và ngày càng phát huy thếmạnh của chúng trong lĩnh kinh tế, kĩ thuật, khoa học và giáo dục Nhiều phầnmềm ứng dụng trong dạy học đã lần lượt ra đời Phần mềm tin học là một chươngtrình cho máy tính để xử lý thông tin Các phần mềm tin học được ứng dụng ngay
từ khi có hệ thống phần cứng ra đời
Monet định nghĩa: “ Phần mềm tin học là nội dung “thông minh” trong máy tính, bao gồm toàn bộ những chỉ dẫn nhằm hướng dẫn hoạt động chung (hệ thống khai thác) và riêng (ứng dụng) cho một cách sử dụng chính xác hay đặc thù” [11]
Phần mềm tin học được coi là chỗ dựa cho dạy học được gọi là phần mềm dạy học Phần mềm tự học là dạng phần mềm giáo dục, cho phép cá nhân tự học theo một nội dung nào đó, nhờ sự trợ giúp của máy tính, phần mềm tự học đặt ra các lỗi, các tình huống xử lý trong quá trình học (học viên
tự kiểm tra và hiệu chỉnh kiến thức qua lỗi mắc phải) Phần mềm hỗ trợ dạy
và học đã sớm ra đời, ngày càng phong phú đa dạng, dễ sử dụng, thuận tiện, thường xuyên cập nhật các phiên bản mới Các phần mềm dạy học ngày càng chuyên biệt và được xây dựng theo từng nội dung kiến thức cụ thể của chuyên ngành
Sự ra đời Internet đã kết nối toàn cầu thành một hệ thống thông tin khổng
lồ Việc trao đổi thông tin không chỉ là đơn lẻ một khu vực hay quốc gia mà rộngkhắp thế giới Thông tin trao đổi có thể trực tiếp, các thông tin thời sự và các kếtquả nghiên cứu khoa học được cập nhật nhanh nhất Các ngôn ngữ lập trình cũngđược phát triển và hoàn thiện gần gũi với ngôn ngữ tự nhiên hơn tạo điều kiện choviệc phát triển các ứng dụng trên nền tảng phần cứng nhanh nhất và thuận tiệnnhất Các phần mềm có tính chất mở (người sử dụng có thể phát triển) nhiều hơnthuận tiện cho người sử dụng phát triển vào mục đích ứng dụng của mình
Trang 16Trong dạy học, các phần mềm dùng để tham khảo và phổ biến kiến thức đượcxây dựng khá công phu và có ứng dụng rộng rãi thông qua mạng Internet, ví
và cho kết quả tốt Ví dụ, một số chương trình nghiên cứu ứng dụng CNTT vào dạy học như:
- Đề án: “ Tin học cho mọi người” năm 1970 do Pháp xây dựng
- Chương trình MEP (Microelectonics Education Prorame) năm 1980 do Anhxây dựng
- Đề án: CLASS ( Computer Literacy And Studies in School ) của Ấn Độ năm
Việc đào tạo từ xa của các trường đại học cũng như các trung tâm nghiên cứu
đã được thực hiện trên cơ sở xây dựng hệ thống thư viện điện tử và tra cứu thôngtin qua mạng Internet
Hiện nay, đã có phần mềm hỗ trợ dạy và học các môn học ở mọi cấp học,trong đó có các phần mềm về lĩnh vực dạy học HH:
- Phòng thí nghiệm ảo
- Phần mền hổ trợ vẽ công thức…
Trang 17Nhìn chung, phần mềm nước ngoài có giao diện sinh động, có âm thanh, màu sắc trung thực, nhưng bằng tiếng nước ngoài nên khả năng sử dụng cho
GV và HS rất hạn chế Một điều đáng nói là nội dung các phần mềm đó có ở
khắp các cấp học, chỉ phù hợp cho việc tham khảo, minh hoạ của GV khi cần
thiết, không phù hợp với chương trình SGK mới ở cấp tiểu học, THCS, THPT hiện hành
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ứng dụng CNTT trong dạyhọc ở Việt Nam
Từ những năm 60, nước ta đã bắt đầu sử dụng máy tính điện tử Hội đồngchính phủ đã ra nghị quyết số 173- CP (1975) và 245- CP (1976) về tăng cường ứngdụng toán học và máy tính điện tử trong cả nước Viện Công nghệ thông tin đượcthành lập và có những đề án nghiên cứu ứng dụng CNTT, đưa tin học vào nhàtrường
1.2 Một số nghiên cứu về ứng dụng tin học trong dạy học cácmôn học ở trường phổ thông
Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về việc ứng dụng tin học trong dạy học cácmôn học ở trường phổ thông
Năm 2002, Phạm Xuân Quế, Phạm Kim Chung đã thử nghiệm xây dựngtrang Web dạy học chương “dao động cơ học” ở chương trình Vật lý 12 theo hướngphát triển hứng thú, tính tích cực, tự lực tham gia giải quyết vấn đề trong học tậpcủa HS [18]
Năm 2004, Nguyễn Thị Côi và cộng sự đã khai thác và ứng dụng tiện ích của phần mềm Microsoft powerpoint để thiết kế các dạng sơ đồ, biểu đồ, tạo các hiệu ứng hoạt hình sinh động trong dạy học Lịch Sử ở trường phổ thông [5] Hoàng Thị Quỳnh Anh đã sử dụng các phần mềm Maple, Cabri
Trang 18Geometry nhằm khắc sâu và mở rộng kiến thức đại số tuyến tính cho sinh viên[1] Nguyễn Thiện Phúc và các cộng sự đã xây dựng các “ thiết bị ảo”, các mô hình2D, 3D , sử dụng các phương pháp hiện đại về đồ hoạ và làm hoạt hình trên máytính để giảng dạy kĩ thuật [16]
Năm 2005, Hoàng Trọng Phú đã ứng dụng phần mềm Working model
để thiết kế các thí nghiệm mô phỏng trong dạy học Vật lý [15] Theo tác giả thì những hiện tượng vật lý như được thu nhỏ lại trước màn hình giúp HS có thể theo dõi, quan sát hiện tượng ở nhiều góc độ khác nhau Lê Công Triêm
đã giới thiệu một số website điển hình dùng cho việc khai thác tư liệu hỗ trợ cho việc thiết kế bài giảng điện tử trong dạy học Vật lý [24] Trịnh Thanh Hải
đã khai thác phần mềm Cabri geometry để tạo các hình vẽ trực quan, hình động nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học hình học [8]
Năm 2006, Trần Thị Trung Ninh và các cộng sự đã sử dụng phần mềm Macromedia Flash MX để minh hoạ một số cơ chế phản ứng hữu cơ trong dạy học hoá học [14] Tác giả cho rằng: Chỉ cần những minh hoạ đơn giản, có thể hiểu được cơ chế của một số phản ứng hữu cơ xảy ra như nào, điều mà rất khó có thể chứng minh được bằng các thí nghiệm hoá học thông thường Bùi Thị Hạnh đã nghiên cứu sử dụng phần mềm Microsoft Power point dạy học một số nôi dung trong bài “Ancol, giúp GV tiết kiệm được thời gian, nhấn
mạnh được trọng tâm của vấn đề" [9]
Năm 2007, Nguyễn Mạnh Hưởng đã nghiên cứu thiết kế bài giảng cáchmạng tháng Tám với sự hỗ trợ của phần mềm Microsoft power point[12].Theo tác giả, phần mềm này có vai trò, ý nghĩa to lớn trong việc giúp HS đi từtrực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, hiểu đúng bản chất sự kiện, hiện tượnglịch sử
1.3 Điều tra tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy
học
Thực tiễn dạy học ở các trường trung học phổ thông cho thấy, việc sử dụngPTTQ của GV Hóa học ở trường phổ thông chưa thường xuyên và chưa có hiệu quả
Trang 19Chúng tôi đã tiến hành điều tra thực trạng ứng dụng tin học trong dạy họchoá học của 90 giáo viên ở 4 tỉnh là: Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, BàRịa- Vũng Tàu Kết quả được phản ánh trong bảng 1
Bảng 1: Thực trạng ứng dụng tin học trong dạy học hoá học
1.4 Vai trò của phương tiện trực quan trong dạy học hoá học
1.4.1 Phưong tiện dạy học
Phương tiện dạy học là các phương tiện được sử dụng trong QTDH, baogồm các đồ dùng dạy học, các trang thiết bị kỹ thuật dùng trong dạy học, các thiết
bị hỗ trợ và các điều kiện cơ sở vật chất khác
Theo Lotsklinbo: “PTDH là tất cả những phương tiện vật chất cần thiết giúp
GV hay HS tổ chức tiến hành hợp lý, có hiệu quả quá trình giáo dục và giáo dưỡng
ở các cấp học, ở các lĩnh vực, các môn học để có thể thực hiện những yêu cầu củachương trình giảng dạy PTTQ bao gồm mọi thiết bị kỹ thuật từ đơn giản đến phứctạp được dùng trong QTDH, để làm dễ dàng cho sự truyền đạt và lĩnh hội kiến thức,
kỹ năng, kỹ xảo” [7]
Trang 201.4.2 Phương tiện trực quan
PTTQ là khái niệm phụ thuộc khái niệm PTDH PTTQ được hiểu là một hệthống bao gồm mọi dụng cụ, đồ dùng, thiết bị kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạpdùng trong QTDH
PTTQ là nguồn chứa đựng thông tin tri thức hết sức phong phú và sinh động,giúp HS lĩnh hội tri thức đầy đủ và chính xác, đồng thời giúp củng cố, khắc sâu, mởrộng, nâng cao và hoàn thiện tri thức Qua đó rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, phát triển
tư duy tìm tòi sáng tạo, năng lực quan sát, phân tích tổng hợp, hình thành và pháttriển động cơ học tập tích cực, làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học Từ
đó có khả năng vận dụng những tri thức đã học vào giải quyết các vấn đề trong thựctiễn cuộc sống
Trực quan trong dạy - học là một nguyên tắc lý luận dạy - học ra đời sớmnhất Từ cổ xưa, người ta đã sử dụng nó trong quá trình truyền đạt những kinhnghiệm, kỹ năng, kỹ xảo, ở những chỗ mà lời giảng không đủ để đảm bảo cho trẻ
em hiểu thấu được đối tượng
J.A.Cômenxki (1592-1679) - nhà giáo dục nổi tiếng Slovakia được xem
là người đầu tiên nêu lên luận đề cơ bản về giảng dạy trực quan Theo ông, không có gì hết trong trí não nếu như trước đây không có gì trong cảm giác
Vì vậy, dạy - học không thể bắt đầu từ sự giải thích về các sự vật mà phải từ
sự quan sát trực tiếp chúng Trực quan được xem là một phương tiện phản ánh khách quan, trung thực vào đối tượng và các quá trình của thế giới hiện thực, nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với việc phát triển tư duy trừu tượng của HS
PTTQ là một công cụ trợ giúp đắc lực cho GV trong quá trình tổ chức hoạtđộng dạy học ở tất cả các khâu của QTDH Nó không thể thiếu trong việc vậndụng phối hợp các PPDH cụ thể, giúp GV trình bày bài giảng một cách tinh giảmnhưng đầy đủ, sâu sắc và sinh động, điều khiển quá trình nhận thức của HS mộtcách hiệu quả, sáng tạo
Trang 21PTTQ là những phương tiện chứa đựng và chuyển tải thông tin nhằm đáp ứng các yêu cầu nhận thức, phát triển, giáo dục của quá trình sư phạm Tuy nhiên, PTTQ có giá trị dạy học cao hay thấp hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ sư phạm trong quá trình nghiên cứu xây dựng và sử dụng của người
GV Nếu trong giờ học, PTTQ được sử dụng không hợp lý thì sẽ dẫn đến những hậu quả xấu về mặt sư phạm và kinh tế Chúng có thể phá vỡ cấu trúc bài giảng, phân tán sự chú ý của HS, lãng phí thời gian và tiền của Vì vậy, một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu là việc nghiên cứu xây dựng và
sử dụng các PTTQ phải gắn liền với việc hướng dẫn sử dụng có hiệu quả cho đội ngũ GV Đây cũng chính là một vấn đề còn ít được quan tâm đầy đủ, và là một khâu yếu nhất trong nhà trường phổ thông hiện nay
Trong lý luận dạy học, quá trình dạy học là một quá trình truyền thông tin baogồm sự lựa chọn sắp xếp và truyền đạt thông tin trong một môi trường sư phạmthích hợp, tối ưu cho người học Trong bất kỳ tình huống dạy - học nào cũng cómột thông điệp truyền đi, thông điệp đó thường là nội dung của chủ đề được dạy,cũng có thể là các câu hỏi về nội dung cho người học, và các phản hồi từ ngườihọc, kể cả sự kiểm soát quá trình này về sự nhận xét đánh giá các câu trả lời haycác thông tin khác PTTQ chính là các cầu nối truyền thông tin từ GV tới HS vàngược lại Ta có thể minh họa mối quan hệ giữa GV, HS và PTTQ theo hình 1.1
Phương pháp
Hình 1.1 Mối quan hệ giữa GV, HS và PTTQ
Trang 22PTTQ được sử dụng trong quá trình dạy - học, giúp GV tổ chức và tiến hànhhợp lý có hiệu quả của quá trình dạy - học để có thể thực hiện được những yêucầu của chương trình học tập PTTQ chỉ phát huy hiệu quả cao nhất khi GV sửdụng nó với tư cách là phương tiện tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức của
HS, còn đối với HS thông qua làm việc với PTTQ để hình thành những tri thức, kỹnăng, thái độ và hình thành nhân cách
PTTQ có vai trò quan trọng trong quá trình dạy - học, nó thay thế cho những sự vật hiện tượng và các quá trình xảy ra trong thực tiễn mà GV và HS không thể tiếp cận trực tiếp được, nó giúp cho GV phát huy được tất cả các giác quan của HS trong quá trình tiếp thu kiến thức, giúp cho HS nhận biết được quan hệ giữa các hiện tượng, các khái niệm, quy luật làm cơ sở cho việc rút ra những tri thức và sự vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế Như vậy, nguồn tri thức HS thu nhận được trở nên đáng tin cậy và được nhớ lâu bền hơn
PTTQ làm cho việc giảng dạy trở nên cụ thể, dễ dàng hơn, làm tăng thêm khả năng tiếp thu những sự vật hiện tượng và các quá trình phức tạp mà trong điều kiện bình thường HS khó nắm bắt được Nhờ đó nó rút ngắn thời gian giảng dạy, đồng thời việc lĩnh hội những kiến thức của HS lại diễn ra nhanh hơn Mặt khác, nó cũng giúp cho GV giảm nhẹ được lao động của mình trên lớp, do đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học PTTQ còn là phương tiện vật chất dễ dàng gây được sự chú ý và chiếm được tình cảm của
HS hơn cả Bằng việc sử dụng PTTQ, GV có thể kiểm tra một cách khách quan khả năng tiếp thu tri thức mới cũng như hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo của
HS
Ngày nay, sự truyền đạt thông tin tri thức cho người học không phải chỉ
có mỗi hình thức dựa vào sự trình bày hay hướng dẫn của GV (dạy học có GV) mà còn có hình thức dạy học không phụ thuộc vào sự trình bày của GV,
Trang 23đó là hình thức dạy học từ xa, dạy học chương trình hoá (Angolit hoá) và tự họcthông qua sử dụng PMDH (dạy học không giáp mặt) Tuy nhiên, ở những giai đoạnnhất định vẫn cần có sự tham gia của GV, mặc dù khác nhau ở hình thức tổ chứcnhưng ở cả 2 kiểu dạy học này PTTQ đều có những tác động đặc biệt quan trọngđến kết quả cuối cùng của quá trình dạy học
Ngày nay, với những thành tựu của khoa học và công nghệ thì PTTQ càng được phát triển cùng với sự ra đời của các phương tiện nghe nhìn hiện đại như điện ảnh, vô tuyến truyền hình, computer Những thành tựu đó đã cho phép đưa vào những nội dung diễn cảm và hứng thú làm thay đổi phương pháp và hình thức tổ chức dạy - học, tăng nhịp độ của quá trình dạy - học, tạo nên phong cách mới và trạng thái tâm lý mới Nhưng dù PTTQ có hiện đại đến đâu vẫn chỉ là công cụ trong tay người GV, giúp họ thực hiện có hiệu quả quá trình dạy - học Trong dạy - học, GV cần tính đến mối quan hệ giữa PTTQ trong mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố cấu trúc khác của quá trình dạy - học theo hình 1.2
Trang 24Mỗi môn học đều cần có các PTTQ phù hợp, đặc biệt là trong thế kỷ 21 với sựbùng nổ của thông tin thì PTTQ lại càng có vai trò quan trọng hơn Đối với hóa học
- là khoa học nghiên cứu thế giới sinh vật, nếu chỉ giải thích bằng lời và với sự hiểubiết của mình thì chưa đủ sức để thuyết phục Vì vậy, cần phải có những PTTQ đểgiúp HS quan sát, phát hiện lại những sự kiện, hiện tượng tự nhiên xảy ra trong thếgiới sinh vật Trong dạy học hóa học, có thể phân loại các PTTQ như sau:
1- Các vật tượng hình: mô hình, tranh vẽ, ảnh, phim, phim đèn chiếu,phim video, phần mềm dạy học, sơ đồ, biểu đồ:
1 Mô hình: là những vật thay thế cho đối tượng nghiên cứu dưới dạng cácbiểu tượng trực quan được vật chất hoá hoặc mô tả các cấu trúc, những hiệntượng, quá trình Mô hình còn cho phép mô tả sự vật, hiện tượng trong khônggian ba chiều, có thể tĩnh hoặc động làm cho quá trình nhận thức được đầy đủ trựcquan hơn
2 Tranh, ảnh: Mô tả các sự vật, hiện tượng, cấu trúc, quá trình ở trạng thái tĩnh, có thể được chụp trực tiếp hoặc mô phỏng lại qua sơ đồ hình vẽ
3 Băng, đĩa hình: Miêu tả sự vật, hiện tượng ở trạng thái động, diễn cảm chính xác và sống động
4 Bản trong: là các hình ảnh, sơ đồ về cấu trúc, quá trình được ghi lên một bản trong, sau đó được chiếu lên màn hình qua máy chiếu Overhead
5 PMDH: có khả năng cung cấp thông tin dưới nhiều dạng khác nhau
nhờ tích hợp được truyền thông đa phương tiện, như chứa được cả hình ảnh, âm thanh, phim video có hiệu quả trực quan cao nhất
Trang 25Các vật tượng hình giúp tạo điều kiện cho học sinh hình thành những biểu tượng về sự vật, hiện tượng mà trong điều kiện bình thường khó quan sát được
2- Các bộ dụng cụ thí nghiệm, thực hành
Trong đề tài này, chúng tôi đề cập đến việc thiết kế và sử dụng mô hình động bằng phần mềm Macromedia Flash với vai trò là một loại PTTQ đặc biệt
Trang 26Chương 2 THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG MÔ HÌNH ĐỘNG TRONG DẠY HỌC
HOÁ HỌC BẰNG PHẦN MỀM MACROMEDIA FLASH 8
2.1 Sơ lược về Macromedia Flash [22],[23]
Khi làm việc trong Flash, có thể tạo ra đoạn phim bằng cách vẽ một ảnh, hay nhập vào một ảnh vẽ rồi sắp xếp nó trong một Stage, làm chuyển động ảnh với thanh thước thời gian (Timeline) Có thể tạo ra vùng chuyển cảnh trong đoạn phim bằng cách dùng các Action (hành vi) để tạo ra đoạn phim trả lời lại các sự kiện theo nhiều cách đặc biệt Khi đoạn phim được tạo xong, có thể xuất nó thành đoạn phim Flashplayer độc lập với Flash
Khi sử dụng Flash có thể tạo ra các đối tượng chuyển động làm cho chúng xuất hiện và di chuyển ngang qua khung Stage (nơi trình chiếu) hoặc làm biến đổi hình dạng (Shape), kích thước (Size), màu sắc (Colour), hướng xoay (Rotation) và các thuộc tính khác Có thể tạo ra ảnh chuyển động từ Frame (khung) này sang Frame khác mà mỗi khung tạo ra một ảnh riêng lẻ Ngoài ra, có thể tạo ra ảnh chuyển động kiểu Tween, trong kiểu này chỉ cần tạo ra Frame đầu và Frame cuối sau đó Flash sẽ tạo trực tiếp các Frame giữa
để kết nối Frame đầu và cuối Cũng có thể tạo ảnh chuyển động xuất hiện thành đoạn phim thông qua dùng các lệnh trong Setpropertyaction