lớp 11.7 Quân đội Nhân dân Việt Nam, tiền thân là đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, là lực lượng quân đội chính quy của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sau này là của Cộng
Trang 1
lớp 11.7
Quân đội Nhân dân Việt Nam, tiền thân là đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, là lực lượng quân đội chính quy của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sau này là của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Ngày truyền thống là ngày 22 tháng
12 năm 1944 Quân kỳ của Quân đội Nhân dân Việt Nam là lá quốc kỳ của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có thêm dòng chữ
"Quyết thắng" màu vàng ở phía trên bên trái
Quá trình phát triển
Tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam là đội Việt Nam Tuyên truyền Giải
phóng quân, được thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1944 tại khu rừng Trần Hưng
Đạo, thuộc huyện Nguyên Bình, Cao Bằng, ban đầu gồm 34 chiến sỹ (3 nữ) do Võ Nguyên Giáp chỉ huy chung, Hoàng Sâm được chọn làm đội trưởng, còn Xích Thắng, tức Dương Mạc Thạch, làm chính trị viên
Lễ thành lập Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân
Ngày 15 tháng 4 năm 1945, Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ họp tại Hiệp Hòa, Bắc Giang quyết định Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân sát nhập với lực
lượng Cứu quốc quân do Chu Văn Tấn chỉ huy, đổi tên thành Giải phóng quân, lực
lượng quân sự chính của Việt Minh để giành chính quyền năm 1945 Lễ hợp nhất được tổ chức ngày 15 tháng 5 năm 1945 tại Chợ Chu (Thái Nguyên)
Ngày 16 tháng 8 năm 1945, khi tiến đánh Thái Nguyên, quân số Giải phóng quân đã khoảng 450 người, biên chế thành một chi đội (tiểu đoàn), do Lâm Cẩm Như làm chi đội trưởng Sau 7 ngày quân Nhật ở Thái Nguyên mới chịu chấp nhận giao nộp vũ khí cho Giải phóng quân
Từ năm 1945, Giải phóng quân của Việt Minh là lực lượng nòng cốt quân đội quốc gia của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Để đối phó với sức ép của quân Tưởng Giới Thạch đòi giải tán quân đội chính qui Việt Minh, tháng 9 năm 1945 Việt Nam giải
phóng quân đổi tên thành Vệ quốc đoàn, còn gọi là Vệ quốc quân Lúc này quân số khoảng 50.000 người, tổ chức thành khoảng 40
chi đội ở hầu hết các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ Một số chi đội "Nam tiến" để giúp quân dân miền Nam chống lại quân Pháp đang tấn công ở Nam Bộ
được đặt dưới sự chỉ huy tập trung thống nhất của Bộ Tổng tham mưu Quân đội
tổ chức biên chế thống nhất theo trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội, Cùng với việc xây dựng quân đội quốc gia, chính phủ đặc biệt coi trọng việc xây dựng lực lượng
vũ trang quần chúng, lực lượng bán vũ trang, bao gồm: dân quân ở nông thôn và tự
vệ ở đô thị Đến cuối năm 1946, có khoảng 1 triệu dân quân tự vệ đã được tổ chức
đã tình nguyện tham gia chiến đấu và các ngành khác như chỉ huy, tham mưu, kỹ thuật, huấn luyện, quân y, quân giới, tuyên truyền , Nhiều người được giao trọng trách và phong quân hàm sĩ quan cao cấp Họ đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng quân đội Việt Nam trong thời kì non trẻ (Xem bài Chiến sĩ "Việt Nam mới") Năm 1949, hoàn thiện tổ chức tiểu đoàn bộ binh Đơn vị này gồm 3 đại đội
bộ binh, một đại đội hỏa lực mạnh Có súng máy nặng, súng cối Năm 1951, Quân đội Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Quân đội
Nhân dân Việt Nam.