* Thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội: – Sương rừng: + sương lấp đoàn quân mỏi -> Sương rừng mờ ảo, phủ dày đặc che kín như vùi lấp cả đoàn quân/ Màn sương mờ của kỉ niệm – nỗi nhớ thương + Đ
Trang 1TÂY TIẾN- Quang Dũng
I TIỂU DẪN:
1 TÁC GIẢ:
2 ĐẠI Ý TÁC PHẨM:
II ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN:
1 Đoạn 1 : Nỗi nhớ về hình ảnh người lính và thiên nhiên miền Tây Tiến.
a Hai câu thơ mở đầu: Cảm hứng chủ đạo cho toàn đoạn thơ
“ Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi.”
b.6 câu thơ (tt): Cuộc hành quân của người lính giữa núi rừng hùng vĩ, khắc nghiệt,
dữ dội nhưng cũng rất trữ tình
1
- Nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc
- Là nhà văn- chiến sĩ
- Hồn thơ: phóng khoáng-hào hoa- lãng mạn
- Nỗi nhớ của tác giả về đoàn quân Tây Tiến
– Câu 1: nhắc tới 2 danh từ – điểm về, nơi đến của nỗi nhớ + Hình ảnh “Sông Mã”: con sông gắn với đời lính -> như gợi thức nỗi nhớ ùa về trong tâm hồn nhà thơ
+ Tây Tiến: Đoàn binh + Ngắt nhịp 4/3
=> C1 với tiếng gọi đầu tiên là tiếng gọi đồng đội
– C2 với NT: Điệp từ ” nhớ” (2 lần), từ láy ” chơi vơi”, điệp
âm ” ơi” ( 3 lần) -> Hiệu quả đặc biệt: Tạo tính nhạc, hình
tượng hoá nỗi nhớ (Liên hệ: QD tâm sự với con mình về nhan đề “Nhớ Tây Tiến”…., Ca dao: Ra về nhớ bạn chơi vơi,
…)
+ Nhớ rừng núi: Không gian mênh mông của miền Tây + Nhớ “chơi vơi” ( 2 thanh bằng, nhẹ, lan toả) -> gợi cảm giác nỗi nhớ vô hình, vô lượng, không thể đo đếm, nhớ mơ
hồ, đầy ám ảnh, nỗi nhớ luôn lơ lửng, âm ắp khôn nguôi Cảm xúc chủ đạo của đoạn thơ, bài thơ là nỗi nhớ
* Thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội:
– Sương rừng:
+ sương lấp đoàn quân mỏi -> Sương rừng mờ ảo, phủ dày đặc che kín như vùi lấp cả đoàn quân/
Màn sương mờ của kỉ niệm – nỗi nhớ thương + Đoàn quân mỏi -> gợi một cuộc hành quân dãi
dầu đầy gian khổ của những người lính Tây Tiến
– Dốc núi, vực sâu:
+ NT sử dụng nhiều từ láy: ” khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút”; điệp từ “dốc” ->diễn tả sự hiểm trở với những con đường quanh co, gập ghềnh , đứt đoạn của núi rừng Tây Bắc
+ NT nhân hoá “súng ngửi trời”, phép đảo” hun
Trang 2Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
c/ 4 câu thơ (tt): Sự gian khổ, những hy sinh của người lính:
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời !
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
d/ 2 câu thơ cuối: cảm xúc hồi hồi, lắng đọng
Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
2
- Anh bạn: gọi đồng đội tình cảm thân thiết, gắn
bó
- Từ láy dãi dầu: vất vả, khó khăn, nhọc nhằn mà
người lính phải đối mặt, vượt qua trên đường hành quân
- Không bước nữa, bỏ quên đời: Có thể hiểu là
nghỉ ngơi buông mình vào giấc ngủ vô tư lự trẻ trung/ có thể hiểu kiệt sức – xót xa/ có tthể hiểu là cái chết nhẹ nhõm quên đời
–> Nổi bật chất bi tráng, thể hiện vẻ đẹp ngang
tàng, anh dũng, ngạo nghễ, bi mà không luỵ, tinh nghịch bông đùa với cái chết, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng,
- Ngoài ra, âm thanh gầm thét của cọp beo, thác dữ cũng càng tô đậm thêm những khó khăn của những người lính
Qua bút pháp hiện thực và lãng mạn khắc hoạ
TN miền Tây dữ dội, hiểm trở, hùng vĩ, thơ mộng
+ Nhớ ôi: sắc thái cảm thán của cảm xúc trào dâng mãnh
liệt
+ Tập hợp cảm nhận bằng thị giác, khứu giác ( khói, nếp xôi)
+ Mùa em: mùa lúa chín; liên tưởng xao xuyến nồng nàn
trước nụ cười rặng rỡ, ánh mát sóng sánh từ tình người miền tây
=>Gợi không khí đầm ấm tình quân dân, như xua đi bao mệt mỏi của cuộc hành trình,tạo cảm giác êm dịu, ấm áp
Trang 32/ Khổ 2: Những kỷ niệm đẹp của tình quân dân và cảnh sông núi miền Tây đầy
thơ mộng.
a/ 4 câu thơ đầu: Cảnh đêm liên hoan văn nghệ
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
b) Cảnh sông núi miền Tây đầy thơ mộng.
3
– Khi màn đêm buông xuống cũng là lúc đêm liên hoan văn nghệ bắt đầu
+ Chữ “bừng”: vừa diễn tả không khí tưng bừng, sôi
nổi của đêm văn nghệ, vừa tỏa sáng không gian, xua đi màn đêm bóng tối
+ Hai chữ “đuốc hoa”: chỉ ngọn đuốc thắp sáng trong
đêm văn nghệ, vừa chỉ ngọn đuốc thắp sáng trong đêm tân hôn Ý thơ thể hiện sự tinh nghịch của chàng trai Tây Tiến
– Hình ảnh của “em” chính là trung tâm, là linh hồn
của đêm văn nghệ:
+ Đó là cô gái dân tộc dịu dàng, duyên dáng (e ấp), trong trang phục dân tộc (xiêm áo), trong vũ điệu dân
tộc “man điệu” Vẻ đẹp của em đã thu hút sự chú ý của
các chàng trai Tây Tiến
+ Hai chữ “kìa em” biểu lộ sự ngõ ngàng đến ngạc
nhiên của chàng trai Tây Tiến trước vẻ đẹp của cô gái + Âm thanh của tiếng khèn, cảnh vật và tình quân dân
ấm áp đã thăng hoa cảm xúc của người nghệ sĩ: “Nhạc
về Viên Chăn xây hồn thơ”.
- Cảnh sông nước Tây Bắc gợi cảm giác mênh mang huyền ảo:
+ Nhà thơ không tả mà chỉ gợi Vậy mà cảnh
vẫn hiện lên thơ mộng
+ Không gian của buổi chiều giăng mắc một màn sương – “chiều sương”
+ Bông hoa lau như có hồn, phảng phất trong gió + Bến bờ tĩnh lặng, hoang dại như thời tiền sử + Bông hoa rừng không “đung đưa” mà “đong đưa” như làm duyên với cảnh, với người
– Trên dòng sông ấy là hình ảnh một cô gái:
+ Duyên dáng, uyển chuyển, khéo léo trên chiếc
Trang 4Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
3/ Phần 3: Hình tượng người lính Tây Tiến
a/ Vẻ đẹp ngoại hình thật kiêu hùng của lính Tây Tiến
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
4
- Người lính Tây Tiến chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn gian khổ, bệnh sốt rét hoành hành làm cho mái tóc xanh hôm nào rụng hết (không mọc tóc) và hậu quả của bệnh sốt rét rừng đã để lại làn
da xanh xao như “màu lá” Nhưng dưới ngòi bút
của Quang Dũng những mái đầu không mọc tóc, màu nước da xanh như màu lá lại có vẻ đẹp
kiêu dũng, oai phong của con hổ nơi rừng thiêng Dường như họ xem thường mọi khổ ải, thiếu thốn
- Nét độc đáo trong cách miêu tả của nhà thơ là không miêu tả cụ thể một gương mặt nào của người lính Tây Tiến mà tập trung khắc họa rõ nét mặt chung của cả đoàn quân Tây Tiến
- Hai chữ “đoàn binh” tạo một âm hưởng mạnh
mẽ, dứt khoát còn hình ảnh “không mọc tóc” lại
gợi lên nét ngang tàng của người lính Tây Tiến
- Thơ ca kháng chiến khi viết về người lính thường nói đến căn bệnh sốt rét hiểm nghèo Quang Dũng không hề che dấu những gian khổ đó nhưng ông không miêu tả một cách trần trụi mà qua một cái nhìn đậm màu sắc lãng mạn
(Liên hệ: anh với tôi đã biết từng cơn ớn lạnh….Đồng chí- Chính Hữu; Giọt giọt mồ hồi rơi/ trên má anh vàng nghệ…Cá nước- Tố Hữu; Ý kiến: Thời kháng chiến chống Pháp người ta cho rằng số người chết do bệnh còn nhiều hơn chết trận,…)
Trang 5b) Vẻ đẹp tâm hồn lãng mạn
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
c) Vẻ đẹp lý tưởng
Rải rác biên cương mồ viễn xứ,
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
5
- Cái nhìn nhiều chiều đã giúp nhà thơ nhìn qua cái
dằn dữ mắt trừng của họ là những tâm hồn, trái tim
rạo rực yêu thương
- Họ chiến đấu trong điều kiện gian khổ nhưng vẫn
mơ về Hà Nội Ở đó có dáng hình của người đẹp
“dáng kiều thơm” Hình bóng người đẹp ở quê hương là động lực tinh thần thúc giục các anh cầm súng tiêu diệt kẻ thù
(Liên hệ: có một thời hai câu thơ trên bị cho là mộng rớt tiểu tưu sản….)
- “Áo bào” là sự kết hợp hai từ: “áo vải” và “chiến bào” khiến cho “áo bào” vừa bình dị vừa sang trọng Đây là cách nói mà theo Quang Dũng là để
“an ủi linh hồn những người lính” Xuất phát điểm
là tình yêu đồng đội Chính tình yêu thương đã khiến hồn thơ hào hoa Quang Dũng tìm được hình ảnh đẹp để “sang trọng hóa” cái chết của người lính (Sự thật bi thảm là: người lính hi sinh trên đường hành quân đến một manh chiếu liệm cũng thiếu Con mắt thơ Quang Dũng đã bao bọc đồng đội mình trong những tấm áo bào sang trọng)
Người lính ngã xuống với chiến bào đỏ thắm trong vầng hào quang lồng lộng của các chiến binh xưa
- “Về đất”- nghệ thuật nói tránh đã không những diễn tả được sự hi sinh của người chiến sĩ mà còn thể hiện được sự trân trọng, yêu thương của những người đồng đội ở lại “Về đất” cũng là hòa vào linh hồn đất nước để bất tử cùng hồn thiêng sông núi và trường tồn cùng đất nước
- Dòng sông Mã đã được nhân cách hóa để đã tấu lên “khúc độc hành” dữ dội hùng tráng để tiễn đưa hương hồn người chiến sĩ với bao tiếc thương, cảm phục Những mất mát đau thương như dồn nén, tích tụ trong tiếng gầm vang rung chuyển cả núi rừng của dòng sông Mã Các anh đã hi sinh cho mảnh đất nảy nở đầy thơ, đầy nhạc và cùng với thiên nhiên, linh hồn các anh vẫn hát mãi khúc quân hành Âm thanh đó làm cho sự hi sinh của
Trang 6d) Vẻ đẹp hy sinh thật bi tráng:
Áo bào thay chiếu, anh về đất,
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
6
– Viết về người lính Tây Tiến, Quang Dũng không hề che dấu cái bi, nhưng cái bi lại được nâng đỡ bằng đôi cánh lãng mạn làm cho cái bi trở thành bi tráng:
+ Hình ảnh những nấm mồ rái rác nơi biên cương,
viễn xứ gợi một cảm xúc bi thương
+ Hình ảnh “đời xanh” là biểu tượng cho tuổi trẻ đặt sau chữ “chẳng tiếc” thể hiện tinh thần tự nguyện, sẵn
sàng vượt lên cái chết hiến dâng cả sự sống, tuổi trẻ cho nghĩa lớn của dân tộc
+ Người lính Tây Tiến khi chết chỉ có manh chiếu (thậm chí không có) quấn thân nhưng tác giả đã thay
vào đó tầm áo bào sang trọng Và khúc nhạc tiễn đưa
anh là âm thanh gầm réo của dòng sông Mã Sự thật
bi thương vậy mà dưới ngòi bút của Quang Dũng, người lính Tây Tiến vẫn chói ngời vẻ đẹp lý tưởng và mang dáng dấp của những tráng sĩ thuở xưa
– Tinh thần xả thân của người lính Tây Tiến được diễn đạt bằng những từ Hán Việt hết sức trang
trọng: biên cương, viễn xứ, chiến trường,…
Trang 74 Đoạn 4: Lời thề và lời hẹn ước
– Nhớ đến Tây Tiến, tác giả nhớ đến tháng ngày đẹp đẽ, hào hùng say mê:
Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
+ Hình ảnh “người đi không hẹn ước” thể hiện tinh thần chung của Tây Tiến.
– Xa Tây Tiến nhưng tâm hồn, tình cảm nhà thơ vẫn gửi lại nơi ấy, những nơi mà đoàn quân Tây Tiến đã đi qua
– Nhịp thơ chậm, giọng điệu thơ buồn nhưng linh hồn của đoạn thơ vẫn toát lên vẻ hào hùng
– Các địa danh được nói tới tạo ấn tượng về tính cụ thể, xác thực của thiên nhiên, cuộc sống con người
Đoạn kết gợi lại không khí của một thời Tây Tiến một đi không trở lại
III ĐỊNH HƯỚNG TRÍCH DẪN Ý KIẾN VÀ LIÊN HỆ:
1 ĐỊNH HƯỚNG LIÊN HỆ:
a/ Liên hệ với bài thơ Từ ấy- TH:
– Cả 2 nhà thơ đều xây dựng hình tượng chung về người chiến sĩ cách mạng với vẻ đẹp lí tưởng sángngời, cùng sử dụng bút pháp lãng mạng cách mạng để thể hiện:
+ Người chiến sĩ cộng sản trong Từ ấy say mê lí tưởng Đảng, cất lên tiếng hát của một
tâm hồn trẻ trong buổi đầu giác ngộ cách mạng
+ Người chiến sĩ trong Tây Tiến là đoàn binh hùng mạnh, can trường, tài hoa và lãng
mạn khi còn sống và khi đã hi sinh
b/ Liên hệ với bài thơ Việt Bắc- TH:
* Điểm tương đồng:
– Cả hai bài thơ, hai đoạn thơ đều viết về cuộc kháng chiến chống Pháp Cả hai bài thơ đều được viết ra từ nỗi nhớ da diết, mênh mang về một thời đã qua – thời kì gian khổ
mà hào hùng, tình nghĩa Đó là nỗi nhớ của người trong cuộc khi đã chia xa nhớ về
7
Trang 8– Hai tác giả đều sử dụng bút pháp tả thực kết hợp với lãng mạn, sử thi nhưng cảm hứng sử thi, lãng mạn vẫn nổi bật để khẳng định vẻ đẹp của những con người cách mạng, những con người làm nên chiến thắng vang dội trên các chiến trường
* Nét riêng trong cách thể hiện của hai nhà thơ:
– Nhà thơ Quang Dũng viết bài thơ Tây Tiến trong những năm đầu cuộc kháng chiến
chống Pháp Hình ảnh người lính mang vẻ đẹp bi tráng Hồn thơ Quang Dũng thiên về
thể hiện cái phi thường trong hoàn cảnh khắc nghiệt Còn bài thơ Việt Bắc được Tố
Hữu viết khi cuộc kháng chiến chống Pháp oanh liệt của nhân dân ta đã chiến thắng vang dội, miền Bắc đã hoàn toàn được giải phóng Hình ảnh con người kháng chiến vì thế mang vẻ đẹp hùng tráng, đầy khí thế chiến thắng
– Nỗi nhớ trong bài Tây Tiến là nỗi nhớ của cá nhân nhà thơ, nỗi nhớ của một người
lính nhớ về đồng đội bằng tình yêu thương, cảm phục, tự hào cũng là của riêng nhà thơ
Quang Dũng Còn nỗi nhớ trong bài Việt Bắc là nỗi nhớ không chỉ của riêng nhà thơ
Tố Hữu, còn là nỗi nhớ của những người cán bộ cách mạng về xuôi Tình cảm trong bài thơ là tình cảm cách mạng, tình cảm cộng sản
c/ Khi phân tích bức tranh thiên nhiên sông nước trong bài thơ này, ta có thể bức tranh thiên nhiên trong bài tnơ Đây Thôn Vĩ Dạ-HMT:
– Nét giống nhau: Đều dùng bút pháp gợi tả, với những nét vẽ phóng khoáng cốt để gợi cái hồn của cảnh, của người Giọng điệu của cả hai đoạn thơ tràm lắng, đượm nỗi buồn bâng khuâng Ngôn ngữ thơ giàu nhạc điệu, giàu liên tưởng
– Nét khác nhau: Nét tài hoa trong thơ Quang Dũng mang cái “chất” của một người lính- một sinh viên trí thức Hà Thành Những “chất liệu” trong đoạn thơ gắn với kỉ niệm sâu đậm của người lính một thời gắn bó với đồng đội nơi mảnh đất miền Tây hoang sơ, hùng vĩ mà thơ mộng trữ tình
d/ Khi phân tích về hình tượng người lính tronng bài nay, ta có thể liên hệ với hình tượng người lính trong Văn tế NSCG- NĐC
- Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu và Tây Tiến của Quang Dũng đều
là những tác phẩm mang nội dung yêu nước sâu sắc dù ở thời đại khác nhau Qua đó,
ta thấy được sự kế thừa và đổi mới của nội dung đổi mới trong văn học Việt Nam
- Sự kế thừa nội dung yêu nước trong văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám 1945: yêu nước là nội dung lớn, kế thừa nội dung yêu nước trong văn học trung đại cả
về cảm xúc và giọng điệu Nhiều điểm gặp gỡ giữa Tây Tiến và Văn tế nghĩa sĩ Cần
Giuộc: yêu nước là yêu quê hương đất nước, lòng căm thù giặc, ý thức trách nhiệm đối
với đất nước, quyết tâm đánh giặc, sẵn sàng xả thân vì đất nước,…; giọng điệu tự hào, xót thương, tiếc nuối,…
- Sự đổi mới trong dung yêu nước của văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám
1945 ở Tây Tiến: Không còn tư tưởng trung quân mà là lòng tự hào dân tộc, ý thức về
một giang sơn thống nhất, toàn vẹn, thiêng liêng; tình yêu đất nước không trừu tượng, cao siêu mà hết sức cụ thể, thân thuộc: tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình, quê hương,
…
e/ Nói về sự hy sinh của người lính TT, ta có thể liên hệ đến sự hy sinh của người chiến sĩ trong Đàn ghi ta của LC- Thanh Thảo:
- Sự tương đồng:
+Đều viết về những cái chết của những con người tài năng, yêu tự do, yêu đất nước, tiên phong mở đường cho lí tưởng mang vẻ đẹp bi tráng, hào hùng vượt lên trên hiện thực khốc liệt, bi thảm, nhưng mỗi tác gỉa lại có cái nhìn, cảm xúc và biểu đạt riêng + Sự khác biệt:
++ Sự hi sinh, cái chết trong Tây Tiến của Quang Dũng được miêu tả gián tiếp qua hình ảnh (nấm mộ viễn xứ) và ngôn ngữ (về đất) Cái chết không đơn lẻ mà là sự hi sinh bi tráng chung của người lính Tây Tiến qua bức tượng đài tập thể tạo nên khúc tráng ca, mang dấu ấn sử thi của một dân tộc anh hùng Cảm hứng lãng mạn khiến cách nhìn cái chết của những người lính vừa có chất khốc liệt trong cuộc chiến sinh tử
8
Trang 9nhưng lại chói ngời vẻ đẹp lí tưởng, khí phách, lí tưởng mang dáng dấp của những tráng sĩ thủa xưa Nghệ thuật chủ đạo là bút pháp lãng mạn kết hợp với bi tráng, sử dụng ngôn từ hình ảnh đặc sắc độc đáo, giàu tính nhạc và hội họa
++Sự hi sinh, cái chết trong Đàn ghi ta của Lorca của Thanh Thảo miêu tả trực tiếp qua hình ảnh áo choàng bê bết đỏ, điệu về bãi bắn Cái chết, sự hi sinh của Lorca đơn độc lẻ loi một mình tạo nên vẻ đẹp của con người mở đường tiên phong trong cuộc đấu tranh giữa ánh sáng – bóng tối, chính – tà, cũ – mới trong nền chính trị và nghệ thuật Tây Ban Nha thời đó nói riêng, cho sự tiến bộ nhân loại, cho nghệ thuật nói chung Với thể thơ tự do mang phong cách tượng trưng, siêu thực, kết hợp giữa tự sự và trữ tình, giữa thơ và nhạc, giữa màu sắc thơ viếng phương Đông và chất bi tráng trong nhạc giao hưởng phương Tây, hình ảnh thơ lạ hoá, ảo hoá… tạo nên dấu ấn riêng của đoạn thơ
2.ĐỊNH HƯỚNG TRÍCH DẪN Ý KIẾN:
a/ Có người cho rằng: Tây Tiến quả là nét son đẹp nhất trong đời thơ Quang Dũng Cả bài thơ hiện ra như một sự hoà điệu đẹp đẽ giữa thơ – nhạc – hoạ về phương diện nghệ thuật, Tây Tiến còn thể hiện một trình độ tổ chức chất liệu ngôn từ xuất sắc với một cấu trúc thơ có thể nói đã đạt tới mức tối ưu
b/ Vũ Quần Phương: Tây Tiến là bài thơ dày đặc những câu thơ tài hoa, Nhưng có thể nói “Sông Mã gầm lên khúc độc hành ” là câu thơ tiêu biểu nhất cho thi hứng toàn bài Chữ “gầm” được dùng rất đắc địa Nó là âm vang của sông núi, là điệu kèn vĩnh quyết,
là khúc hát bi tráng… Vũ Ông đã nhận xét khá tinh rằng: “Nội lực câu thơ đó không nằm ở bản thân nó mà rơi xuống từ câu trên: “Áo bào thay chiếu anh về đất Vì cảnh bi hùng như vậy, sông Mã mới gầm lên và chỉ gầm lên đơn độc: “khúc độc hành Cái tiếng vang rung chuyển và ngự trị cả một vùng thiên nhiên trời đất sinh ra từ những mất mát câm lặng cùa con người”
c/ Có ý kiến cho rằng: “ Đoạn thơ đầu trong bài thơ là bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, thơ mộng song cũng đầy dữ dội, khắc nghiệt”
d/ Có ý kiến cho rằng: “ Đoạn thơ đầu đã vẽ nên bức tượng đài về người chiến sĩ Tây Tiến gian khổ, hi sinh song cũng rất đỗi lãng mạn, hào hoa”
d/Một số đánh giá, nhận định khác về QD và bài thơ TT:
- Ông là người tài hoa, vẽ tài, hát giỏi, thơ hay Bài thơ Tây Tiến của ông mang đậm nét hào hùng, bi tráng pha chất lãng mạn (wikipedia)
- Hay đến nỗi ta không khỏi ngạc nhiên mà nghĩ rằng: Tại sao trong những ngày đầu non nớt của nền thơ kháng chiến và cách mạng mà chúng ta lại có được một tác phẩm thơ tuyệt diệu đến thế, kinh điển đến thế mà cũng hiện đại đến thế
( Nhà thơ Anh Ngọc)
- Tây Tiến là sự tiếp tục của một dòng thơ lãng mạn nhưng đã được tác giả thổi vào hồn thơ rất trẻ, rất mới, khác hẳn những tiếng thơ bi lụy não nùng Cũng khơi nguồn cảm hứng từ một thời gian khổ và oanh liệt của lịch sử đất nước nhưng “Tây Tiến” đã được thể hiện một cách đặc sắc qua ngòi bút Quang Dũng, với một tâm trạng cụ thể - nỗi nhớ đồng đội trong đoàn quân Tây Tiến Chính niềm thương nhớ da diết và lòng tự hào chân thành của tác giả về những người đồng đội của mình đã khiến người đọc nhiều thế hệ rung cảm sâu xa và đó cũng chính là âm hưởng chủ đạo của bài thơ này ( Vũ Thu Hương, in trong “Vẻ đẹp văn học Cách mạng”)
- “Tây Tiến” – tượng đài bất tử về người lính vô danh ( Vũ Thu Hương)
- Tây Tiến nơi mà con người Tây Tiến, chiến sĩ Tây Tiến, núi rừng Tây Tiến đã vượt
ra ngoài những cảm quan ban đầu của hồn thơ Quang Dũng để đến với đại ngàn thi hứng Nơi ấy cuồn cuộn dòng chảy lạnh lùng và đa tình, hiện thực và lãng mạn, bi và tráng Một Tây Tiến không chỉ níu kéo bước chân người lính trong nỗi niềm thương nhớ Tất cả đều gợi ấn tượng của sự “lạ hóa”, của những vẻ đẹp kì ảo khó gọi tên
9
Trang 10( Đinh Minh Hằng)
- Tôi làm thơ này rất nhanh, làm xong, đọc trước đại hội được mọi người hoan nghênh nhiệt liệt Hồi đó, tấm lòng và cảm xúc của mình ra sao thì viết vậy Tôi chả chút lí luận gì về thơ cả ( Quang Dũng)
- “Tây Tiến” là một sáng tác có giá trị về mặt tư tưởng, về nghệ thuật, Bài thơ được viết ra với những màu sắc thẩm mĩ phong phú Có cái đẹp hùng tráng của núi rừng hiểm trở và vẻ đẹp bình dị nên thơ của cuộc sống nơi bản làng quê hương, có cảm hứng mạnh mẽ hòa hợp với chất trũ tình nhẹ nhàng mềm mại trong thơ Đặc biệt “Tây Tiến” là bài thơ giàu nhạc điệu, nhạc điệu của cuộc sống và của tâm hồn Mỗi đoạn thơ mang một nhạc điệu riêng vừa mạnh mẽ, vừa uyển chuyển khi đưa người đọc về với những kỉ niệm xa nên thơ và gợi xảm Nhà thơ Xuân Diệu có lần đã cho rằng đọc bài thơ “Tây Tiến” như ngậm nhạc trong miệng ( GS Hà Minh Đức)
IV MỘT SỐ DẠNG ĐỀ PHỔ BIẾN:
1/ Bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng có những đoạn thơ đặc sắc về thiên nhiên miền Tây vừa hùng vĩ, dữ dội, vừa thơ mộng, mĩ lệ:
Đoạn 1:
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
Đoạn 2:
“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
( Trích Tây Tiến – Quang Dũng, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, tr.88 và tr.89)
Anh/chị hãy phân tích những đoạn thơ trên, từ đó làm nổi bật cảm hứng lãng mạn của thơ Quang Dũng.
ĐỊNH HƯỚNG
* Phân tích vẻ đẹp đặc sắc của thiên nhiên miền Tây trong đoạn thơ thứ nhất
– Nội dung: Bức tranh thiên nhiên vừa hùng vĩ, dữ dội vừa duyên dáng mĩ lệ với hành trình gian lao mà tâm hồn trẻ trung, lãng mạn của người lính
+ Hùng vĩ bởi các từ láy tượng hình và từ ngữ tạo hình: khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút…diễn tả được sự gập ghềnh, cheo leo, hiểm trở của núi đèo Tây Bắc, vừa gợi được hành trình gian lao, sự trẻ trung, tinh nghịch của người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân (hình ảnh “súng ngửi trời”)
+ Dữ dội qua những nét vẽ phối hợp các thanh trắc tạo nên những nét gân guốc, táo bạo, khỏe khoắn; âm hưởng thơ ghềnh thác như núi non Tây Bắc hun hút đến ghê người Dữ dội qua nghệ thuật đối ở câu ba: “Ngàn thước lên cao/ ngàn thước xuống”, điệp từ “dốc”, “ngàn thước” như vẽ ra trước mắt người đọc địa hình núi đèo trùng điệp, cao ngất trời mây, tiếp ngay là vực sâu thăm thẳm
+ Sự chơi vơi, trữ tình trong xa xa, hư ảo, thiên nhiên Tây Bắc hiện ra mênh mang với những bản làng bồng bềnh trôi giữa sương rừng mưa núi, ánh mắt xa xăm của người lính phút dừng chân đỉnh đèo
+ Cái thơ mộng nơi tâm hồn người lính bình yên, êm mát trong những chữ toàn thanh bằng gợi người đọc liên tưởng đến nét bút lông mềm mại, gợi được cái lâng lâng, bay bổng, thư thái trong tâm hồn người lính Tây Tiến
– Nghệ thuật thơ đặc sắc từ ngôn ngữ đến hình ảnh, vận dụng hiệu quả nghệ thuật đối, điệp từ, điệp ngữ, nhân hóa…trong những dòng thơ phối hợp chất thơ, chất nhạc, chất họa
* Phân tích vẻ đẹp đặc sắc của thiên nhiên miền Tây trong đoạn thơ thứ hai:
10