Kênh thị trường: Là một tập hợp của các tổ chức độc lập, tổ chức thành viên và cá nhân có tham gia vào tất cả các mặt hoạt động từ tạo ra nhu cầu, kích cầu và thoả m ãn nhu cầu thông qua[r]
Trang 1KIỀU TRÍ ĐỨC, ĐỖ THỊ HƯỜNG, PHẠM QUANG VINH
Bài giảng
PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG NÔNG
LÂM SẢN
(Dành cho sinh viên ngành Nông lâm kết hợp, Lâm nghiệp xã hội, Khuyến nông)
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP, 2013
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Môn học Phân tích thị trường Nông lâm sản cung cấp cho sinh viên cáckiến thức và kỹ năng về thị trường nông lâm sản; phương pháp thu thập thôngtin thị trường; phân tích và đánh giá thị trường của một số sản phẩm nông lâmsản chủ yếu của Việt Nam Đây là một tài liệu th am khảo quan trọng cho sinhviên các ngành Lâm nghiệp xã hội, Nông lâm kết hợp và Khuyến nông của
trường Đại học Lâm nghiệp
Trên cơ sở khung chương trình đào tạo môn học đã được phê duyệt, nhóm
tác giả đã biên soạn tập trung vào những khái niệm cơ bản nhấ t về thị trường vàphân tích thị trường, phương pháp nghiên cứu thị trường được sử dụng tronglĩnh vực nông lâm nghiệp hiện nay cũng như cập nhật một số ví dụ về thị trườngcủa một số sản phẩm nông lâm sản đặc trưng của Việt Nam
Trong quá trình biên soạn cuốn bài giảng, mặc dù đã có nhiều cố gắng
nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót Nhóm tác giả hi vọng sẽ nhận được
những ý kiến đóng góp của các nhà nghiên cứu, các nhà chuyên môn, các thầy côgiáo và các bạn đồng nghiệp để cuốn bài giảng ngày càng được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Nhóm tác giả
Trang 4Chương 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG
1.1 Khái niệm và chức năng thị trườngnông lâm sản
1.1.1 Khái niệm thị trường
Thị trường là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sản xuất hànghóa, ở đâu có sản xuất hàng hoá thì ở đó có thị trường.Thị trường là nơi mua bánhàng hoá, là một quá trình trong đó người mua và người bán trao đổi, tác độngqua lại nhau để xác định giá cả và số lượng mua bán Thị trường là nơi diễn rahoạt động mua bán bằng tiền trong một thời gian và không gian nhất định
Dưới góc độ Marketing, thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm
ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sà ng và có khả năng thamgia trao đổi để thoã mãn nhu cầu và mong muốn đó Người làm Marketing coi
tập hợp người mua thành thị trường Thuật ngữ thị trường ở đây ám chỉ nhómkhách hàng có nhu cầu và mong muốn nhất định, do đó có thể được thoả mãnbằng một loại sản phẩm hay dịch vụ cụ thể, họ có đặc điểm giới tính hay tâmsinh lý nhất định, độ tuổi nhất định và ở một vùng cụ thể
Từ cách hiểu thị trường dưới góc độ Marketing quy mô thị trường sẽ tuỳthuộc vào hai yếu tố: thứ nhất, số lượng người có cùng nhu cầ u và mong muốn;thứ hai, lượng thu nhập bằng tiền mà họ sẵn sàng bỏ ra để mua sắm hàng hoánhằm thoã mãn nhu cầu và mong muốn đó Như vậy quy mô thị trường khôngphụ thuộc vào số lượng người đã mua hàng và cũng không phụ thuộc vào số
lượng người có nhu cầu và mong muốn khác nhau
Cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm thị trường Ta
có thể gặp một số khái niệm phổ biến sau:
Thị trường là một tập hợp các dàn xếp mà thông qua đó người bán và
người mua tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá và dịch vụ
Thị trường là một khuôn khổ vô hình trong đó n gười này tiếp xúc với
người kia để trao đổi một thứ gì đó, họ cùng xác định giá và số lượng trao đổi
Thị trường là bao gồm tất cả các khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầuhay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãnnhu cầu và mong muốn đó
Thị trường là nơi người mua và người bán gặp nhau để trao đổi hàng hóa
Trang 5và dịch vụ Nơi không có nghĩa là “chỗ”, địa điểm cụ thể mà có thể là nghĩabóng và có thể là một cơ hội mà người mua và người bán có thể trao đổi hànghóa và dịch vụ.
Theo nghĩa hẹp, thị trường là một cái chợ có địa điểm nhất định để trao đổihànghóa và dịch vụ Chợ có thể xuất hiện ở các ấp, xã, dọc các con đường, trongcác thịtrấn và các thành phố Có nhiều loại chợ: đầu mối, bán buôn, bán lẻ v.v
Thị trường cũng có thể được xác định bởi nhu cầu về sản phẩm hoặc dịchvụ.Theo định nghĩa này, thị trường là một nhóm người có nhu cầu và sẵn sàngtrả tiền đểthoả mãn nhu cầu đó
Qua những khái niệm trên đây cho thấy tr ong một số trường hợp người
mua và người bán có thể tiếp xúc trực tiếp tại các địa điểm cố định (thị trường
hàng tiêu dùng, rau quả ) Trong nhiều trường hợp khác các công việc giao dịchdiễn ra qua điện thoại, vô tuyến hoặc các phương tiện từ xa khác (thị trườngchứng khoán)
Như vậy, thuật ngữ thị trường được các nhà kinh tế học sử dụng với tính
cách là một phạm trù kinh tế học trừu tượng, gắn liền với sự ra đời, phát triểncủa sản xuất và trao đổi hàng hoá Về nguyên tắc, sự tác động qua lại giữa người
bán và người mua xác định giá của từng loại hàng hoá, dịch vụ cụ thể, đồng thờixác định cả số lượng, chất lượng, chủng loại sản phẩm cần sản xuất, qua đó sẽxác định việc phân bổ và sử dụng tài nguyên khan hiếm của xã hội Đây chính là
nguyên tắc hoạt động của cơ chế thị trường
Khái niệm thị trường nông lâm sản
Thuật ngữ thị trường nông lâm
sản, hiểu một cách chung nhất, là nơi
gặp gỡ giữa cung và cầu nông lâm
sản ở một thời điểm nhất định Hay
nói một cách khác, thị trường nông
lâm sản là nơi diễn ra các hoạt động
mua bán, chuyển nhượng, trao đổi
hàng hoá nông lâm sản
Ảnh 01 Chợ Bò Nghiên Loan – Bắc Kạn
Như vậy, bản chất thị trường nông lâm sản chính là sự chuyển giao quyền
sở hữu nông lâm sản từ người chủ này sang người chủ khác với một giá cả nhấ t
định do họ thoả thuận định ra
Trang 6Từ quan niệm này cho thấy, mỗi lần chuyển giao quyền sở hữu đều kéotheo một lần định giá, do đó sẽ có một hệ thống giá, dựa vào đó tạo lập sự cânbằng cung cầu trên thị trường Như vậy, nghiên cứu cung cầu nông lâm sản và
sự hình thành giá cả nông lâm sản là những nội dung quan trọng nhất khi nghiêncứu về thị trường nông lâm sản
1.1.2 Chức năng thị trường nông lâm sản
Với đặc điểm là một phạm trù kinh tế, thị trường nói chung và thị trườngnông lâm sản nói riêng có những chức năng cơ bản sau đây:
a) Chức năng thừa nhận
Trên thị trường, mọi yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất và các sảnphẩm nông lâm sản sản xuất ra đều thực hiện được việc bán, tức là việc chuyểnquyền sở hữu nó, thông qua một loạt các thoả thuận về giá cả, chất lượng,
phương thức giao nhận hàng, phương thức thanh toán Chức năng thừa nhận của
thị trường thể hiện ở chỗ: người mua chấp nhận mua hàng hoá của người bán và
do vậy hàng hoá được bán Thực hiện chức năng này nghĩa là thừa nhận các hoạt
động mua bán hàng hoá theo yêu cầu các quy luật của kinh tế thị trường
b) Chức năng thực hiện
Hoạt động mua bán là hoạt động lớn nhất, bao trùm cả thị trường Thị
trường thực hiện hành vi trao đổi hàng hoá, thực hiện cân bằng cung cầu từng
loại hàng hoá, hình thành giá cả và thực hiện việc trao đổi giá trị Thông quachức năng thực hiện của thị trường, các hàng hoá hình thành nên các giá trị trao
đổi của mình Giá trị trao đổi là cơ sở quan trọng để hình thành nên cơ cấu sản
phẩm, các quan hệ kinh tế khác trên thị trường
c) Chức năng điều tiết kích thích
Thông qua nhu cầu thị trường, người sản xuất chủ động di chuyển tư liệusản xuất, vốn, lao động từ ngành này qua ngành khác, từ sản phẩm này qua sảnphẩm khác để có lợi nhuận cao Thông qua sự hoạt động của các quy luật kinh tếtrên thị trường người tiêu dùng buộc phải cân nhắc, tính toán quá trình tiêu dùngcủa mình Do đó thị trường có vai trò to lớn đối với việc hướng dẫn tiêu dùng.Trong quá trình tái sản xuất không phải người sản xuất, lưu thông đưa ra chi phínhư thế nào cũng được xã hội thừa nhận Thị trường chỉ thừa nhận ở mức thấp
hơn hoặc bằng mức xã hội cần thiết trung bình Do đó, thị trường có vai trò vô
cùng quan trọng đối với kích thích tiết kiệm chi phí
Trang 7d) Chức năng thông tin
Thị trường thông tin về t ổng số cung và tổng số cầu, cơ cấu của cung vàcầu, quan hệ cung cầu đối với từng loại hàng hoá, giá cả thị trường, các yếu tố
ảnh hưởng đến thị trường, đến mua bán, chất lượng sản phẩm, hướng vận động
của hàng hoá Thông tin thị trường có vai trò quan trọ ng đối với quản lý kinh tế,
trong đó có vấn đề ra quyết định
Nói tóm lại, các chức năng của thị trường có mối quan hệ mật thiết vớinhau Mỗi hiện tượng kinh tế diễn ra trên thị trường đều thể hiện bốn chức năngnày Tuy nhiên chức năng thừa nhận là quan trọng nhất, có tính chất quyết định
1.2 Cung và cầu của thị trường
Cung và cầu là từ được sử dụng nhiều nhất trong kinh tế học Cung và cầu
là động cơ của kinh tế Cung và cầu là yếu tố quyết định số lượng sản xuất và
giá cả của một sản phẩm Nếu chúng ta nắm được các kiến thức cơ bản về cung
và cầu, chúng ta có thể hiểu được các hành vi của người mua và người bán vànữa chúng ta có thể hiểu được sự thay đổi của giácả
Khái niệm cầu của thị trường
Cầu là nhu cầu đối với lượng sản phẩm hoặc dịch vụ mà ngườ i mua sẵnlòng và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau Cầu thay đổi thường xuyên
Dưới đây là một số nguyên nhân phổ biến gây ra sự thay đổi của cầu:
Giá cả: Nếu giá tăng, cầu sẽ có xu hướng giảm và nếu giá giảm, cầu sẽ
có xu hướng tăng Nói cách khác, nếu giá tăng thì người tiêu dùng sẽ mua ít hơn
hoặc họ mua các loại sản phẩm khác Nếu giá giảm người tiêu dùng sẽ muanhiều hơn
Khi cầu tăng thì đường
cầu sẽ di chuyển sang bên phải
Khi cầu giảm thì đường
cầu sẽ di chuyển sang
bên trái
Lượng cầu Giá cả
Đường cầu
Trang 8Thu nhập của người tiêu dùng Khi thu nhập thực của người tiêu dùng
tăng, sức mua của họ và cầu sẽ tăng Khi thu nhập giảm, điều ngược lại sẽ xảy ra
Sở thích của người tiêu dùng Cầu là biểu hiện cho sở thích của người tiêudùng Sở thích của người tiêu dùng có thể thay đổi cùng với thay đổi về thu nhập,trình độ học vấn, cách tiếp cận với phong cách sống hiện đại và quảng cáo
Các sản phẩm cạnh tranh hoặc thay thế Cầu của một sản phẩm sẽ giảmkhi các sản phẩm thay thế trở nên sẵn có và/hoặc rẻ hơn Cầu sẽ tăng lên khi cácsản phẩm thay thế đó khan hiếm và/hoặc đắt hơn
Chất lượng sản phẩm Người tiêu dùng thường n hạy cảm với chất lượng
của các sản phẩm nông nghiệp Những cải tiến về chất lượng có thể khiến cầu
tăng trong khi chất lượng giảm sẽ có hiệu ứng ngược lại
Khái niệm cầu nông lâm sản
Cầu nông lâm sản là số lượng
nông lâm sản hàng hoá mà người mua
muốn mua ở mỗi mức giá chấp nhận
được Nhu cầu về một loại nông lâm
sản hàng hoá trên thị trường là tổng
nhu cầu của tất cả người mua về nông
lâm sản hàng hoá đó trên thị trường ở
mức giá đó Khi nói đến lượng cầu về
nông lâm sản, cần phải lưu ý hai điểm
cơ bản sau: Ảnh 02 Sản phẩm Miến Dong Riềng Hoài Đức – Hà Nội
Một là, lượng nông lâm sản mà người mua muốn mua với giá xác định Hai là, nhu cầu không phải là số lượng cụ thể mà là sự mô tả toàn diện về
số lượng nông lâm sản hàng hoá mà người mua có thể mua ở mỗi mức giá khácnhau hoặc ở tất cả các mức giá có thể đặt ra
Cầu khác với nhu cầu Không phải bất cứ nhu cầu nào của người tiêudùng cũng được thoả mãn Người ta chỉ có thể mua hàng với túi tiền của mình,tức là cầu có khả năng thanh toán Có cầu cá nhân và cầu thị trường, cầu thị
trường nông lâm sản được hình thành trên cơ sở tổng hợp tất cả cầu cá nhân, tức
là cầu có khả năng thanh toán của xã hội
Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu nông lâm sản
Cầu về một loại nông lâm sản hàng hoá phụ thuộc nhiều yếu tố bao gồmgiá của chính sản phẩm đó, giá của các sản phẩm khác có thể thay thế, thị hiếu,
Trang 9tập quán tiêu dùng và thu nhập của người tiêu dùng.
Giá của sản phẩm hàng hoá: Thường thì giá của nông lâm sản càng cao,
nhu cầu về sản phẩm đó càng ít và ngược lại Ví dụ đối với thị trường hàng hóalâm sản, sản phẩm chia ra làm 2 loại:
Nhóm sản phẩm tiêu dùng cuối cùng cho sinh hoạt đời sống (đồ gỗ gia
dụng): Những người tiêu dùng sản phẩm cuối cùng sẽ cần một lượng hàng cho
nhu cầu sinh hoạt tương đương với thu nhập của họ Như vậy, khi giá cao sảnphẩm được mua ít đi và khi giá hạ sản phẩm được mua nhiều hơn
Những người tiêu dùng sản phẩm trung gian (hạt giống, cây con, gỗ tròn )phải mua một lượng hàng nhất định căn cứ vào định mức kinh tế -kỹ thuật và quy
mô sản xuất của họ Như vậy, nếu giá hạ người ta cũng không mua được nhiều
hơn, còn nếu giá tăng người ta tìm mặt hàng thay thế và trong chừng mực nhấtđịnh phải giảm quy mô sản xuất hay chuyển hướng sản xuất Nhưng nhìn chung
giữa giá cả và lượng cầu có quan hệ tỷ lệ nghịch Khi giá của lâm sản thay đổi,
người tiêu dùng cũng sẽ có những ứng xử phù hợp với sự thay đổi đó
- Thu nhập của người tiêu dùng : Sự biến đổi của thu nhập sẽ tác động
đến cầu Thông thường nếu thu nhập thấp cầu về các mặt hàng rẻ tiền sẽ lớnhơn Khi thu nhập tăng người ta dùng nhiều hàng cao cấp hơn Tuy nhiên, điều
đó không phải lúc nào cũng đúng cho mọi sản phẩm nông lâm nghiệp
- Giá của các nông lâm sản hàng hoá có liên quan : trong một số trường
hợp, nhu cầu về sản phẩm sẽ tăng lên khi giá của hàng hoá khác tăng lên (cáchàng hoá này có thể thay thế cho nhau) Trong trường hợp khác, nhu cầu về mộtnông lâm sản hàng hoá giảm đi khi giá của nông lâm sản khác tăng lên (cáchàng hoá này bổ trợ cho nhau)
- Thị hiếu, tập quán tiêu dùng về nông lâm sản hàng hoá: Mỗi cộng
đồng có tiêu chuẩn và tập quán riêng về tiêu dùng Vì thế, cầu về một sản phẩm
nông lâm nghiệp nào đó rất khác nhau tuỳ theothị hiếu, tập quán sử dụng của
người tiêu dùng Sở thích của người tiêu dùng có thể thay đổi cùng với th ay đổi
về thunhập, trình độ học vấn, cách tiếp cận với phong cách sống hiện đạivàquảng cáo
- Cầu nông lâm sản còn được xác định bởi tính thời gian : Đối với hàng
hoá nông lâm sản vấn đề này càng rõ nét (cầu về hạt giống, cây giống, tre,nứa ) chỉ xuất hiện vào những lúc nhất định theo quy trình sản xuất Việc sảnxuất và cung ứng có tính thời vụ về một số sản phẩm nông lâm nghiệp tạo nên
Trang 10thời gian tính của sự tiêu dùng nông lâm sản.
- Chất lượng sản phẩm : Người tiêu dùng thường nhạy cảm với chất
lượng của các sản phẩm nông nghiệp Những cải tiến về chất lượng có thể khiến
cầu tăng trong khi chất lượng giảm sẽ có hiệu ứng ngược lại
Khái niệm Cung của thị trường
Cung là lượng sản phẩm hoặc dịch vụ mà người sản xuất và các trung
gian thị trường sẵn lòng và c ó khả năng cung ứng ở các mức giá khácnhau.Cung của mặt hàng nông lâm sản có xu hướng dễ thay đổi hơn vì quá trìnhsản xuất bị các điều kiện tự nhiên chi phối
Cung của thị trườnglà lượng hàng hoá, dịch vụ mà người bán có khả năngbán và sẵn sàng bán ở mỗ i mức giá có thể chấp nhận được trong phạm vi khônggian và thời gian nhất định
Khái niệm Cung
được Như vậy, cung
nông lâm sản phải được
xem xét trên cơ sở kết
hợp đồng thời hai điều
kiện chính là khảnăng sản
xuất và tính sẵn sàng
Khả năng sản xuất được quy định bởi các yếu tố đầu vào của sản xuấttrong một thời gian và không gian nhất định Tương ứng với khả năng sản xuất
nào đó sẽ có kết quả sản xuất đó, tức là lượng nông lâm sản được tạo ra với chi
phí nhất định là kết quả của việc sử dụng các yếu tố đầu vào của sản xuất Tuynhiên, cũng cần nhận rõ rằng cung và sản xuất có mối liên hệ với nhau, son gkhông phải là một Bởi vì có trường hợp người sản xuất không mang bán hết sảnphẩm do mình sản xuất ra thị trường hoặc có những loại hàng hoá nhờ nhậpkhẩu cho nên cung lớn hơn sản xuất
Cũng như cầu, cung không phải là một lượng cụ thể mà là một sự mô t ảtoàn diện về số lượng mà người bán muốn bán ở mỗi thời điểm và tất cả cácmức giá chấp nhận được Đồng thời cung cũng có hai loại: cung cá nhân và cung
Trang 11thị trường Chỉ có cung nào đáp ứng và phù hợp với cầu thị trường thì mới làcung của thị trường.
Các yếu tố ảnh hưởng đến cung nông lâm sản: Có nhiều yếu tố tác
động đến cung nông lâm sản trong đó các yếu tố sau đây được cho là ảnh hưởng
lớn nhất đến nguồn cung của hàng hóa nông lâm nghiệp
Thời tiết. Điều kiện
thời tiết thuận lợi cho thuhoạch tốt vì vậy ảnh hưởngtích cực đến cung trong khihạn hán và lũ lụt có hiệu ứng
ngược lại Sâu bệnh cũng cótác động tiêu cực đối với năng
suất và nguồn cung
Chi phí sản xuất. Chiphí sản xuất của một mặt hàng
cụ thể tăng khiến nông dânchuyển sang các mặt hàng khác có lãi cao hơn Chi phí sản xuất giảm sẽ có hiệu
ứng ngược lại
Giá bán. Nông dân có xu hướng mở rộng nguồn cung khi giá tăng và
giảm nguồn cung khi giá hạ Đối với các sản phẩm có thể dự trữ được như ngũcốc, họ có thể tăng nguồn cung ngay lập tức bằng cách giảm tiêu thụ trong gia
đình và xuất hàng khỏi kho dự trữ
Hạ tầng vận chuyển. Cải tiến hạ tầng vận chuyển có thể giúp thu hẹpkhoảng cách giữa các khu vực cụ thể và cho phép sản xuất các sản phẩm nôngnghiệp mới để bán ở thị trường thành thị
Lưu ý:
- Giá tăng khi nhu cầu tăng, vì do lượng cung giảm hoặc khan hiếm
- Giá giảm khi nhu cầu giảm, vì do lượng cung tăng hoặc dư thừa
- Xác định được xu thế cung và cầu:
- Nông dân sẽ xác định được xu thế giá
- Nông dân sẽ quyết định được sản xuất cái gì, sản xuất vào thời điểmnào, số lượng cần sản xuất là bao nhiêu và khi nào bán ra thị trường
- Giá cả hàng hoá nông lâm sản
Nhìn chung, khi giá cả hàng hoá nông lâm sản tăng lên sẽ kích thích tăngsản xuất, do đó, tăng cung và ngược lại Giá cả là yếu tố nộ i sinh Tuy nhiên,
Khi cunggiảm thì đường
cung sẽ di chuyển sang
bên trái
Khi cungtăng thì đường
cung sẽ di chuyển sang bên phải
Lượng cung
Giá cả
Đường cung
Trang 12cũng cần nhận rõ rằng, cũng như cầu, cung cũng co dãn dưới tác động của giá cảhàng hoá Tuy nhiên, nó có những đặc điểm khác biệt với cầu Theo đó, đối vớicầu, khi giá cả thay đổi sẽ làm cầu thay đổi; còn đối với cung, điều này có thể
chưa hẳn đã xảy ra Sở dĩ như vậy là vì, ngoài tác động của giá cả hàng hoá
nông lâm sản, cung còn đồng thời phụ thuộc vào các yếu tố khách quan và chủ
quan khác, như: nếu mọi khả năng sản xuất của doanh nghiệp đã được tận dụng
tức là trên đường giới hạn khả năng sản xuất thì dù có giá tăng thế nào đi nữa thìchủ doanh nghiệp cũng không thể mở rộng thêm sản xuất để tăng cung Ngượclại, nếu doanh nghiệp còn tiềm lực vốn, lao động, tài nguyên khi giá tăng họ
có khả năng khai thác để tăng cung
- Công nghệ
Công nghệ là một yếu tố quyết định cung Nhưng phải hiểu công nghệ vớinghĩa rộng của nó, theo đó, gồm tất cả các bí quyết về phương pháp sản xuấtchứ không phải chỉ có tình trạng máy móc Khi công nghiệp thay đổi sẽ tạo điềukiện cho các doanh nghiệp cung ứng nhiều sản phẩm hàng hoá nông lâm sản
hơn ở mỗi mức giá Ví dụ: trong lâm nghiệp, việc tạo ra các giống mới có năng
suất cao, chất lượng tốt và có khả năng chống chịu sâu bệnh cao hoặc thay đổiquy trình sản xuất nào đó đều là những tiến bộ công nghệ
- Các chính sách kinh tế vĩ mô
Trong nền kinh tế thị trường, sự điều tiết của Nhà nước có ảnh hưởng đến
cung Khi Nhà nước thay đổi thuế, giá cả một loại hàng hoá nào đó hoặc thayđổi về chính sách quản lý tài nguyên rừng thì cung hàng hoá nông lâm sản cũ ngthay đổi Hay những quy định nghiêm ngặt của Nhà nước về bảo vệ môi trườngsinh thái, an toàn lao động cũng tác động đến cung Tuy nhiên, chính sách tácđộng trong lâm nghiệp chậm phát huy tác dụng vì chu kỳ sản xuất dài
- Nhân tố thu nhập cũng ảnh hưởng tới cung
Nếu thu nhập thấp, doanh nghiệp ít vốn, ít tiền dự trữ, các chủ doanhnghiệp phải bán hàng trong mọi điều kiện Trong trường hợp này, chỉ với một sự
thay đổi nhỏ của thu nhập cũng sẽ làm cho cung co dãn lớn Ngược lại, nếu thu
nhập cao, doanh nghiệp trường vốn, sẵn tiền dự trữ thì các chủ doanh nghiệp chỉ
bán hàng trong điều kiện có lợi cho mình Trong trường hợp này dù có sự thayđổi lớn về thu nhập cũng không làm cho cung thay đổi nhiều
- Đặc tính giá trị sử dụng của các nông lâm sản
Trang 13Sản phẩm nông lâm nghiệp thường khó bảo quản hoặc khó dự trữ được
như: hạt giống, cây con phải bán với mọi giá cả thì mặc dù giá cả có thể tăng lên
song cũng không làm cung tăng được Ngược lại, đối với hàng gỗ thì cung codãn theo giá cả Nếu giá hạ thì nhà kinh doanh sẽ kìm hàng lại chờ khi giá tăng
sẽ tung ra thị trường Có một mối quan hệ chặt chẽ giữa sản phẩm xuất khẩu vàsản phẩm tiêu dùng trong nước Khi một quốc gia đã sản xuất ra được sản phẩm
gỗ xuất khẩu nào đó như gỗ dán, ván nhân tạo, đồ mộc công nghi ệp, bột giấy vàgiấy thì tiêu thụ trong nước về các sản phẩm đó cũng được mở rộng
* Nguyên lý cung – cầu
Điểm giao dịch giữađường cung và đường cầu xácđịnh điểm cân bằng thị trường Ở
trạng thái cân bằng không có dư
lượng cung và không dư lượng
cầu Hành vi của người mua và
người bán điều khiển sự cân
bằng của thị trường ( A) Nếu giá
thị trường cao hơn mức giá cânbằng, cung sẽ dư thừa và khiến
cho giá thị trường giảm (B) Nếu giá thị trường dưới mức giá cân bằng, cầu sẽ
dư thừa và khiến cho giá thị trư ờng tăng Sự biến đổi giá cả thị trường giúp
nhằm cân bằng giữa cung và cầu Một mặt, mức giá cân bằng xác định lượngcung của các nhà cung cấp Mặt khác, mức giá cân bằng xác định lượng cầu của
người có nhu cầu
1.3 Giá cả
Giá cả là số tiền phải trả cho hàng hoá, dịch vụ hoặc một tài sảnnào đó.Giá cả của hàng hoá nói chung là đại lượng thay đổi xoay quanh giá trị Giá cảcủa hàng hoá sẽ cao hơn giá trị của hàng hoá nếu số lượng cung thấp hơn cầu
Ngược lại, nếu cung vượt cầu thì giá cả sẽ thấp hơn giá t rị của hàng hoá đó
1.4 Biến đổi giá trên thị trường
Giá chủ yếu do cung và cầu quyết định Giá có thể dao động đáng kể,thậm chí trong một ngày Nếu có một lượng hàng lớn đột ngột cung ứng cho thị
trường (trường hợp điển hình trong vụ thu hoạch), giá sẽ giảm Khi thiếu lượng
cung trên thị trường (như khi mất mùa) giá sẽ tăng Vào dịp lễ Tết, nhu cầu thựcphẩm tăng khiến giá của nhiều sản phẩm nông nghiệp cũng tăng Biết diễn biến
Dư lượng cung
Dư lượng cầu
Số lượng
Giá cả
Đường cung Đường cầu
Điểm cân bằng thị trường
Lượng hàng cân bằng
Mức giá cân bằng
A
B
Trang 14cung và cầu là rất cần thiết để nắm bắt sự dao động giá ngắn hạn, theo mùa v ụ
và xu thế giá dài hạn Hiểu biết về cung và cầu thậm chí còn có thể cho phépnông dân dự đoán sự thay đổi giá trong tương lai
Sau đây là bảng tóm tắtMỐI QUAN HỆ CƠ BẢN giữa giá, cầu và cung.Chú thích:↗: tăng;↘: giảm → : không thay đổi
Trang 15cầu và cung thường đúng – nhưng đôi khi có những trường hợp ngoại lệ ,khôngthể dự đoán một cách chính thức.
1.5 Phân loại thị trường
Lúc đầu thuật ngữ thị trường được hiểu là nơi mà người mua và người bán
gặp nhau để trao đổi hàng hóa, chẳng hạn như một cái chợ của làng Các nhàkinh tế sử dụng thuật ngữ thị trường để chỉ một tập thể những người mua và
người bán giao dịch với nhau vể một sản phẩm hay một lớp sản phẩm cụ thể,như thị trường nhà đất, thị trường ngũ cốc Tuy nhiên, những người làm
marketing lại coi người bán họp thành ngành sản xuất, coi người mua họp thànhthị trường
Những người kinh doanh sử dụng thuật ngữ thị trường để chỉ nhóm khác hhàng khác nhau Họ nói về thị trường nhu cầu (chẳng hạn như thị trường thựcphẩm thường ngày), thị trường sản phẩm (thị trường giày dép), thị trường nhânkhẩu (như thị trường thanh niên) và thị trường địa lý (như thị trường Việt Nam).Hay họ còn mở rộng khái niệm để chỉ cả những nhóm không phải khách hàng,
như thị trường cử tri, thị trường sức lao động và thị trường nhà hảo tâm
Thực tế thì những nền kinh tế hiện đại đều hoạt động theo nguyên tắc
phân công lao động trong đó mỗi người chuyên sản xuất một thứ gì đó, nhận
tiền thanh toán rồi mua những thứ cần thiết bằng số tiền đó Như vậy là nền kinh
tế hiện đại có rất nhiều thị trường Chủ yếu các nhà sản xuất tìm đến các thị
trường tài nguyên (thị trường nguyên liệu, thị trường sức lao động, thị trường
tiền tệ ) mua tài nguyên, biến chúng thành hàng hóa và dịch vụ, bán chúng chonhững người trung gian để những người trung gian sẽ bán chúng cho những
người tiêu dùng Người tiêu dùng bán sức lao động của mình lấy tiền thu nhập
để thanh toán cho những hàng hóa và dịch vụ mà họ mua Nhà nước là một thịtrường khác có một số vai trò Nhà nước mua hàng hóa từ các thị trường tài
nguyên, thị trường nhà sản xuất và thị trường người trung gian, thanh toán tiềncho họ, đánh thuế các thị trường đó (kể cả thị trường n gười tiêu dùng), rồi đảmbảo những dịch vụ công cộng cần thiết Như vậy là mỗi nền kinh tế quốc gia vàtoàn bộ nền kinh tế thế giới hợp thành những tập hợp thị trường phức tạp tác
động qua lại với nhau và liên kết với nhau thông qua các quá trình trao đổi
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng có rất nhiều loại thị trường mà
doanh nghiệp cần phải tiếp cận Việc nghiên cứu phân loại thị trường sẽ giúpcho doanh nghiệp hiểu biết rõ về những đối tượng mà mình đang tiếp cận vàtham gia vào
Nếu phân loại thị trường theo các giai đoạn tạo nên sản phẩm, người ta cóthể chia thị trường thành hai loại: thị trường các yếu tố đầu vào của sản xuất vàthị trường sản phẩm
Trang 16Nếu phân loại thị trường căn cứ vào đặc điểm của hàng hóa tham gia thị
trường có thể chia thị trường thành:
+ Thị trường tư liệu sản xuất
+ Thị trường hàng tiêu dùng
+ Thị trường vốn
+ Thị trường lao động
Phân loại thị trường nông
lâm sảnNếu phân loại thị trường theo
đặc điểm hàng hóa tham gia thị
trường có thể chia thị trường thành:
Nếu phân loại thị trường theo
giai đoạn hình thành nên sản phẩm có
thể chia thị trường thành:
+ Thị trường đầu vào: Cây
giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực
1.6.1 Bản chất của kênh thị trường
Vấn đề tiêu thụ sản phẩm giữ vai trò quan trọng trong hoạt động kinhdoanh của mỗi một đơn vị sản xuất Hiện nay sản xuất không chỉ quan tâm đếnviệc đưa ra thị trường sản phẩm gì với giá bao nhiêu mà còn là đưa sản phẩm rathị trường như thế nào? Đây chí nh là chức năng phân phối của thị trường Chức
năng này được thực hiện thông qua mạng lưới kênh tiêu thụ sản phẩm của hoạtđộng sản xuất, kinh doanh
Có nhiều cách hiểu khác nhau đang tồn tại về kênh thị trường phụ thuộc
vào quan điểm của người sử dụng và lĩnh vực áp dụng Khái niệm về kênh thị
Trang 17trường sau đây được nhiều người sử dụng hiện nay.
Kênh thị trường: Là một tập hợp của các tổ chức độc lập, tổ chức thành
viên và cá nhân có tham gia vào tất cả các mặt hoạt động từ tạo ra nhu cầu, kíchcầu và thoả m ãn nhu cầu thông qua việc cung cấp và tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ
Như vậy, xây dựng kênh thị trường của một sản phẩm chính là xác định
các tác nhân tham gia thị trường và mối quan hệ giữa các tác nhân đó từ khi sảnphẩm được tạo ra cho đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng
Phân loại kênh thị trường: Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau mà người
ta phân loại kênh thị trường thành các loại sau:
Căn cứ vào mối quan hệ giữa doanh nghiệp với người tiêu dùngngười ta
phân chia kênh thành: kênh thị trường trực ti ếp và kênh thị trường gián tiếp
+ Kênh thị trường trực tiếp: tức là người sản xuất bán và phân phối trựctiếp đến người tiêu dùng
+ Kênh thị trường gián tiếp: tức là sản phẩm từ người sản xuất đến ngườitiêu dùng thông qua mạng lưới trung gian phân phối tiêu thụ
Căn cứ vào số lượng các lực lượng trung gian tham gia trong kênh người
ta chia kênh thị trường thành:
+ Kênh thị trường một cấp+ Kênh thị trường hai cấp+ Kênh thị trường ba cấp
Chức năng của kênh thị trường:
- Để làm hỗ trợ việc cung cấp sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu dung
- Để làm tăng hiệu quả của quá trình cung cấp sản phẩm
- Để làm tăng sự phong phú của sản phẩm, dịch vụ đến với khách hàng
- Làm cân đối nhu cầu giữa sản xuất lớn với tiêu dung nhỏ
- Làm thoã mãn những nhu cầu khác nhau của các nhóm khách hàng khác nhau
- Cung cấp cho khách hàng những giải pháp mới, tốt hơn
* Đối với nhà sản xuất
Chức năng đầu tiên của kênh phân phối là giúp nhà sản xuất bao phủ thị
trường, hay nói một cách khác là đưa sản phẩm đến bất kỳ nơi đ âu có nhu cầu
Trang 18Để làm được chức năng phân phối, nhà phân phối phải có một đội ngủ
bán hàng, phải có diện tích kho cần thiết nằm ở những vị trí thuận lợi cho việccung cấp đến cửa hàng và khách hàng một cách hiệu quả Nhà phân phối phải tổchức được một qui trình đặt hàng và giao hàng thuận tiện, giúp khách hàng
nhanh chóng có được lô hàng mà họ cần
Ngoài chức năng phân phối hàng hóa, kênh phân phối còn làm chiếc cầunối giữa người sản xuất ra sản phẩm và người sử dụng sản phẩm Kênh phânphối là một công cụ giúp nhà sản xuất nắm được thông tin thị trường, hiểu nhucầu của khách hàng, mục đích và cách mà khách hàng sử dụng sản phẩm Vàkhông kém phần quan trọng là thông tin về đối thủ cạnh tranh.Và tức nhiên đikèm theo sản phẩm vật chất là dịch vụ Nhiều nh à sản xuất trông cậy vào kênhphân phối để cung cấp dịch vụ cho khách hàng như hướng dẫn chọn và sử dụngsản phẩm, bảo hành, bảo trì v.v
* Đối với khách hàng
Đối với khách hàng thì kênh phân phối có chức năng đảm bảo luôn luôn
có sẵn sản phẩm và có sẵn với trọng lượng bao bì phù hơp khi khách hàng cần.Kênh phân phối là nơi trưng bày sản phẩm thuận tiện cho khách hàng chọn lựa
Người bán hàng còn cung cấp tài chính và tín dụng khi có yêu cầu Đối với
nhiều ngành hàng, điểm phân phối còn thay mặt nhà sản xu ất cung cấp dịch vụ
khách hàng, tư vấn hỗ trợ kỹ thuật v.v
Khái niệm kênh phân phối: là đường đi và phương thức di chuyển hàng
hoá từ nơi sản xuất tới người tiêu dùng, hay nói cách khác thì nhìn từ góc độkhách hàng, kênh phân phối là phương tiện mà qua đ ó khách hàng nhận và trảtiền cho hàng hóa và dịch vụ mà họ tìm kiếm Từ góc độ nhà cung cấp thì kênhphân phối là phương tiện mà nhà cung cấp có thể cung cấp hàng hóa, dịch vụcho khách hàng của mình
Kênh phân phối là một phần rất quan trọng trong những nỗ lưc tiếp cận thị
trường của doanh nghiệp Loại kênh phân phối mà bạn chọn có thể là trực tiếp
(bán thẳng đến người sử dụng sau cùng) hoặc gián tiếp (bán thông qua ngườitrung gian, nhà phân phối, nhà buôn sĩ đến người bán lẻ) hoặc chuyên nghành(bán thông qua kênh riêng biệt chuyên nghành cùng các sản phẩm dịch vụ khác)
Như vậy quy mô của thị trường phụ thuộc vào một số người có nhu cầu
và có những tài nguyên được người khác quan tâm, và sẵn sàng đem lại những
tài nguyên đó để đổi lấy cái mà họ mong mu ốn
1.6.2 Các thành viên của kênh thị trường
Trang 19Bao gồm những người tham gia được nối với nhau bởi các dòng chảy đàmphán và sở hữu Cơ cấu thành viên được thể hiện qua sơ đồ sau:
Có thực hiện đàm phán Không thực hiện đàm phán
Sơ đồ 01 Các thành viên tham gia vào kênh thị trường
a/ Người sản xuất (người cung cấp)
Là những người trực tiếp
sản xuất, chế tạo ra sản phẩm
gồm rất nhiều loại thuộc nhiều
loại hình kinh doanh như: công
nghiệp, nông nghiệp, lâm
nghiệp… Tồn tại dướ i nhiều quy
mô khác nhau song họ có cùng
mục đích là đưa ra những sản
phẩm thoả mãn và đáp ứng nhu
cầu thị trường Ảnh 06 Chăn nuôi Bò tại hộ gia đình
Những người sản xuất trường không thuận lợi để phân phối sản phẩm của
họ trực tiếp cho thị trường sử dụng cuối cùng Vì họ thiếu kinh nghiệm, và quy
mô hiệu quả để thực hiện tất cả các công việc phân phối sản phẩm cần thiết Vậy
họ thường chuyển các công việc phân phối cho các thành viên khác trong kênh
b/ Những người trung gian
Người
tiêu dùng
Có vận tải
Có kho hàng
Có bảo hiểm
Có nghiên cứu thị trừơng
Tất cả những người tham gia vào kênh
Trang 20Những người trung gian
thương mại là các doanh nghiệp
độc lập trợ giúp người sản xuất
và người tiêu dùng cuối cùng
trong việc thực hiện các chức
Những người trung gian bán buôn
Bán buôn bao gồm các doanh nghiệp có liên quan đến mua hàng bán cho
người bán lại hoặc sử dụng kinh doanh như những người bán lẻ, công ty sản
xuất công nghiệp, tổ chức ngành nghề Bao gồm:
Bán buôn hàng hoá
Là các doanh nghiệp thương mại mua, sỡ hữu hàng hoá, dự trữ và quản lývật chất sản phẩm với số lượng tương đối lớn và bán lại sản phẩm với số lượngnhỏ cho người bán lẻ sản xuất công nghiệp, thương mại, các tổ chức nghềnghiệp hoặc cho người bán buôn khác Tên gọi như là người bán buôn, ngườiphân phối, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, nhà lắp ráp…
Đại lý, môi giới và bán buôn hàng hoá ăn hoa hồng
Họ cũng là các trung gian độc lập, đảm nhiệm tất cả hoặc phần lớn côngviệc kinh doanh của họ Họ không sỡ hữu hàng hoá mà họ hân phối nhưng họ cóliên quan thật sự đến các chức năng đảm nhiệm về mua bán trong khi hoạt động.Thu nhập của họ dưới hình thức tiền hoa hồng trên doanh số bán hoặc khoản lệphí nhất định
Các chi nhánh và đại diện bán của người sản xuất
Được làm chủ và quản lý hoạt động bởi người sản xuất nhưng được tách
biệt về vất chất với các doanh nghiệp sản xuất Mục đích chủ yếu của họ tồn tại
là phân phối các sản phẩn của người sản xuất cho người bán buôn Ngoài ta thựchiện chức năng dự trữ, cung cấp các sản phẩm được đặt hàng rừ những ngườisản xuất khác Họ không phải là người bán buôn độc lập
Trung gian thương mại bán lẻ
Người bán lẻ bao gồm các doanh nghiệp kinh doanh bán hàng hoá cho
Trang 21tiêu dùng cá nhân hoặc hộ gia đình và các dịch vụ cho thuê bổ trợ phục vụ bánhàng hoá.
c/ Người tiêu dùng cuối cùng
Là những người sở hữu
và sử dụng hàng hoá và dịch vụ
nhằm thoả mãn nhu cầu của họ
Họ mua trực tiếp từ nhà sản xuất
hay qua các trung gian thương
mại trong kênh phân phối
Ảnh 08 Sản phẩm được b ày bán tại siêu thị
Các đại lý quảng cáo: Cung cấp cho các thành viên kênh dịch vụ phát
triển các chiến lược xúc tiến
Các tổ chức hành chính: Bao gồm các công ty tài chính, các tổ chức tiếtkiệm và cho vay, ngân hàng, các tổ chức chuyên môn hoá trong thanh toán Họtrợ giúp thành viên kênh về vốn, kinh nghiệm quản lý tài chính, giúp thực hiệnquá trình thanh toán dễ dàng
Các tổ chức bảo hiểm: Cung cấp cho người quản lý kênh và các thànhviên kênh dịch vụ giảm bớt rủi ro
Các công ty nghiên cứu thị trường: Cung cấp cho người quản lý kênhthông tin nếu họ thiếu kỹ năng cần thiết để thu thập thông tin liên quan đến phânphối Cung cấp cho các thành viên kênh về phát triển các chiến lược phânn phốihiệu quả…
Nhìn chung, các kênh thị trường có thể có các nhóm người hay các tổchức sau đây tham gia: người sản xuất bao gồm nông dân, các doanh nghiệp lâm
Trang 22nghiệp Nhà nước, tập thể và tư nhân, các công ty hợp tác và đầu tư với nước
ngoài Người thu mua có thể là các tổ chức thu mua của nhà nước hay của tập
thể hoặc tư thương Người chế biến bao gồm các tổ chức hay cá nhân tham giavào việc chế biến hay sơ chế sản phẩm tr ước khi bán cho người bán buôn haybán lẻ hoặc có thể bán trực tiếp cho người tiêu dùng Người bán buôn là những
người mua sản phẩm từ người thu gom hay từ người chế biến để bán sản phẩmcho người bán lẻ Người bán lẻ bán sản phẩm trực tiếp cho người tiêu dùng
Kênh thị trường phản ánh cơ cấu thị trường cũng như tỷ trọng sản phẩm do các
nhóm người tham gia vào thị trường cũng như phản ánh đúng đắn thực trạng và
dòng lưu chuyển của hàng hoá
Với nông lâm sản hàng hoá các kênh thị trường rất khác nhau tuỳ t heotính chất của mỗi sản phẩm hàng hoá và tình hình phát triển của cơ cấu thị
trường ở mỗi vùng và quốc gia
Ví dụ: các kênh thị trường chính gỗ trụ mỏ vùng Đông Bắc Bắc bộ baogồm 4 kênh chính sau:
Bắc Mỏ than Quảng Ninh
thương mại Mỏ than Quảng Ninh
than Quảng Ninh
1.7 Chuỗi giá trị
1.7.1 Khái niệm chuỗi giá trị
Có nhiều khái niệm về chuỗi giá trị nhưng có thể hiểu chuỗi giá trị như sau:Chuỗi giá trị là trình tự của các quá trình từ đầu vào cho một sản phẩmhoặc dịch vụ cho tới quá trình sản xuất ban đầu, chế biến, tiếp thị và tiêu thụcuối cùng
Chuỗi giá trị là sự sắp xếp tổ chức mà ở đó liên kết và điều phối các nhàsản xuất, chế biến, bán hàng, và phân phối cho một sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể
Chuỗi giá trị là một hệ thống kết hợp thông tin, công nghệ và kỹ năng để
điều phối sản xuất và tiếp thị, và để đạt được chất lượng cao của sản phẩm và
dịch vụ
Tóm lại Chuỗi giá trị là một loạt các hoạt động sản xuất kinh doanh có
Trang 23quan hệ với nhau,từ việc cung cấp đầu vào, sản xuất, thu gom, chế biến và cuốicùng là bán sản phẩmcho người tiêu dùng Chúng ta gọi định nghĩa này là địnhnghĩa chuỗi giá trị theo chức năng.Vậy, trong chuỗi giá trị có “chức năng” củachuỗi và cũng được gọi là các “khâu” trong chuỗi Các chức năng chuỗi giá trịchúng ta có thể mô tả cụ thể bằng các“hoạt động” để thể hiện rõ các công việccủa khâu Bên cạnh các chức năng chuỗi giátrị chúng ta có “ tác nhân” (cũng cóthể gọi là “người vận hành chuỗi giá trị”) củachuỗi giá trị Tác nhân là những
người thực hiện các chức năng trong chuỗi, ví dụ như nhà cung cấp đầu vào cho
sản xuất, nông dân sản xuất lúa, thương lái vận chuyển hàng hóa, v.v Bên cạnhcác tác nhân chuỗi giá trị chúng ta còn có các “nhà hỗ trợ chuỗi giá trị” Nhiệm
vụ của các nhà hỗ trợ chuỗi là giúp phát triển của chuỗi bằng cách tạo điều kiệnnâng cấp chuỗi giá trị
1.7.2 Sơ đồ chuỗi giá trị
Sơ đồ thể hiện các hoạt động sản xuất/kinh doanh (khâu), các tác nhân
chính trong chuỗi và những mối liên kết của họ Lập sơ đồ chuỗi giá t rị có nghĩa
là vẽ một sơ đồ về hiện trạng của hệ thống chuỗi giá trị Thể hiện qua sơ đồchuỗi giá trị dưới đây:
Làm sạch
Đóng gói
Bán sỉBán lẻ
• Các giai đoạn sản xuất/khâu:
• Các tác nhân chính thực hiện các khâu trong chuỗi:
• Người tiêu dùng cuối cùng:
Trang 24• Nhà hỗ trợ chuỗi giá trị:
1.7.3 Hướng dẫn cách lập sơ đồ chuỗi giá trị
Sơ đồ chuỗi giá trị luôn luôn thể hiện hiện trạng của chuỗi Để lập sơ đồ
chuỗi giá trị cần phải thu thập thông tin về hiện trạng của chuỗi giá trị Hãy xem
hướng dẫn sau đây
Bước 1 Đừng bắt đầu vẽ sơ đồ từ khâu “cung cấp đầu vào”! Hãy xác
định cụ thể người tiêu dùng cuối cùng của chuỗi giá trị!
Học viên trả lời các câu hỏi định hướng sau đây để xác định
cụ thể người tiêu dùng cuối cùng trong chuỗi giá trị
• Người tiêu dùng mua nhiều hay ít? Nhiều là bao nhiêu?
• Họ mua vào thời điểm nào?
• Họ mua ở đâu?
• Họ sẵn sàng bỏ bao nhiêu tiền để mua sản phẩm?
Bước 2 Xác định các khâu trong chuỗi giá trị Sau khi xác định được
người tiêu dùng cuối cùng trong chuỗi giá trị, hãy đi từng khâu
kế trước người tiêu dùng và sau đó khâu kế tiếp v.v Tùy vàochuỗi giá trị sơ đồ có thể chênh lệch trong cách khâu
Trang 25Câu hỏi định
hướng
• Khâu “Cung cấp đầu vào” bao gồm các hoạt động gì?
• Khâu “Sản xuất” bao gồm các hoạt động gì?
• Khâu “Thu gom” bao gồm các hoạt động gì?
• Khâu “Chế biến” bao gồm các hoạt động gì?
• Khâu “Thương mại” bao gồm các hoạt động gì?
Bước 4 Xác định các tác nhân trong chuỗi giá trị
Câu hỏi định
hướng
Hiện nay, ai thực hiện
• Khâu “Cung cấp đầu vào”?
• Sơ đồ thể hiện những khâu nào?
• Liên kết của các khâu có được tổ chức chặt chẽ không?
• Người nông dân sản xuất nhỏ lẻ hay tập thể?
• Các nhà hỗ trợ có hỗ trợ đúng lúc và đúng nơi không?
1.7.4 Ý nghĩa của việc sử dụng cộng cụ phân tích chuỗi giá trị
Công cụ phân tích chuỗi giá trị giúp chúng ta thay đổi cách nhìn và cáchlàm khi chúng ta sản xuất và/hoặc kinh doanh Chuỗi giá trị giúp chúng ta nhìnnhận đến thị trường tiêu thụ sản phẩm trước khi sản xuất Nó giúp xác định nhucầu và yêu cầu của thị trường Thông qua đó quản lý được sản xuất kinh
doanh,xác định nhu cầu đầu tư hỗ trợ để nâng cấp chuỗi
Nói cách khác trước khi sản xuất nông dân cần phải xác định rõ ràng sản
xuất để bán cho ai? Nguyên tắc của thị trường là tiêu dùng quyết định SX – Sảnxuất phải theo yêu cầu của thị trường
Công cụ phân tích chuỗi giá trị có ý nghĩa rất quan trọng trong nghiên cứu
và phân tích thị trường Sử dụng công cụ chuỗi giá trị giúp thay đổi quan điểm
vàphương pháp thực hiện trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao
hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường
Tác động về kinh tế:Nhờ công cụ phân tích chuỗi giá trị, các nhà sản
xuất kinh doanh có thể xác định được các chuỗi sản phẩm chủ lực có tiềm năng
Trang 26phát triển để tập trung khai thác có hiệu quả nhằm góp phần tăng thêm thu nhậpcho nền kinh tế.
Định hướng thị trường: Công cụ chuỗi giá trị giúp chúng ta nhắmđến thị
trường tiêu thụ sản phẩm trước khi sản xuất Nó giúp xác định nhu cầu và
yêucầu của thị trường Nhờ đó các cơ sở sản xuất kinh doanh có thể tiếp cận vàtận dụng được các cơ hội thị trường để phát triển đồng thời quản lý được sảnxuất kinh doanh, xác định nhu cầuđầu tư hỗ trợ để nâng cấp chuỗi
Điều phối: thúc đẩy việc điều phối tốt hơn giữa các tác nhân trong chuỗi,
với cả nhà nước và tư nhân
Kết hợp và thu hút được các nguồn lực: Việc phát triển các chuỗi giá
trị giúp tạo được sự quan tâm của xã nhằm thu hút các nguồn lực để phát triểntổng thể chuỗi giá trị
Tác động xã hội: đáp ứng được mục tiêu vì người nghèo thể hiện ở tiềm
năng tăng cường khả năng tham gia, lồng ghép giới, tạo việc làm và tăng thu
nhập cho người nghèo và các đối tượng thiệ t thòi khác
Bền vững:góp phần giải quyết một số vấn đề phát triển bền vững như:
con người, trái đất – biến đổi khí hậu, xóa đòi giảm nghèo…
1.7.5 Giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị
Giá trị gia tăng là mức đo độ thịnh vượng được tạo ra trong chuỗi giá t rị
Để tính được giá trị gia tăng trong một chuỗi giá trị, chúng ta tính như
sau: [Giá trị gia tăng] = [tổng giá bán sản phẩm] – [giá trị hàng hóa trung gian](ví dụ chi phí đầu vào: mua nguyên vật liệu, dịch vụ v.v.)
Giá trị gia tăng được tạo ra bởi tác nhân của từng khâu trong chuỗi giá trị.Chuỗi giá trị chỉ mang lại lợi nhuận cho các tác nhân nếu người tiêudùng sẵn sàng chi trả giá sản phẩm cuối cùng Người tiêu dùng không tạo ragiá trị gia tăng
Làm thế nào để tăng tỷ lệ lợi nhuận?
Có 3 cách để tăng tỷ lệ lợi nhuận: (a) tạo ra sản phẩm mới mà người tiêu
dùng yêu thích và/hoặc cần (b) cải tiến quy trình sản xuất sản phẩm hiện có (c)vừa tạo sản phẩm mới vừa cải tiến quy trình sản xuất
1 Tăng năng suất tăng sản lượng tăng giá trị gia tăng tỷ lệ lợi nhuận
Trang 27Cải tiến quy trình sản xuất cụ thể có 6 phương án:
Phương án số 1 chỉ hiệu quả nếu người tiêu dùng sẵn sàng mua nhiềuhơn! Ngoài ra, phương án này cũng là phương án truyền thống NHƯNG chưa
chắc là phương án hiệu quả nhất
Nói chung, tỷ lệ lợi nhuận chỉ tăng khi người mua có nhu cầu mua sảnphẩm Họ mua nhiều hơn hoặc với giá cao hơn Nói chung, giá trị gia tăng làcách mức độ thịnh vượng được tạo ra trong nền kinh tế Giá trị gia tăng được tạo
ra bởi tác nhân của từng khâu trong chuỗi giá trị Hàng hóa trung gian, đầu vào
và dịch vụ vận hành được cung cấp bởi các nhà cung cấp mà họ không phải làtác nhân của khâu
Sơ đồ 02 Các hoạt động chính và hoạt động hỗ trợ tạo ra giá trị gia tăng
6 Thành lập tổ/nhóm tăng lợi thế khi
thương lượng
phân phối lại giá trị
gia tăng
tỷ lệ lợi nhuận cao hơn
Trang 28cạnh tranh và tạo ra giá trị gia tăng Một công cụ hữu ích để phân cách doanhnghiệp trong một chuỗi các hoạt động tạo ra giá trị gia tăng được gọi là: valuechain.Vậy, value chain được hiểu là chuỗi/tập hợp các hoạt động của doanhnghiệp mà moi hoạt động góp phần gia tăng giá trị để chuyển các nguồn lựcthành sản phẩm/dịch vụ đến khách hàng Porter định nghĩa các hoạt động chính
và hoạt động hỗ trợ tạo ra giá trị gia tăng, đượ c thể hiện bởi sơ đồ sau:
Các hoạt động chính tạo giá trị gia tăng:
- Inbound Logistics: tiếp nhận và lưu trữ nguyên vật liệu, cung cấpnguyên vật liệu theo yêu cầu
- Operations: các quy trình xử lý đầu vào tạo ra sản phẩm và dịch vụhoàn thiện
- Outbound Logistics: kho bãi lưu trữ và phân phối sản phẩm/dịch vụ
- Marketing & Sales: tiếp thị sản phẩm/dịch vụ và bán hàng
- Service: hỗ trợ và chăm sóc khách hàng sau khi cung cấp sảnphẩm/dịch vụ
Các hoạt động chính nhằm mục đích hỗ trợ:
- The infrastructure of the firm: cơ cấu tổ chức, hệ thống kiểm soát, văn
hóa công ty, …
- Human resource management: tuyển dụng, đào tạo, phát triển nhân
viên, …
- Technology development: áp dụng công nghệ để hỗ trợ các hoạt động
gia tăng giá trị
- Procurement: thu mua nguyên vật liệu, nguồn cung cấp, thiết bị, …
Ví dụ: Một doanh nghiệp có chuỗi hoạt động chính làm gia tăng giá trị
như sau, A > B > C
Giả sử đầu vào là: x -> qua hoạt động A -> sẽ được cộng thêm 1 giá trị gia
tăng là: a’ Tương tự như vậy, qua các hoạt động B và C -> sẽ được cộng thêm 1
giá trị gia tăng là: b’ + c’
Sau khi đi qua chuỗi hoạt động chính -> tổng giá trị là: x + a’ + b’ + c’
Ngoài ra, ngoài giá trị về vật lý(a’, b’, c’), sẽ được cộng thêm vào 1 giá trị vô
hình x’ -> giá trị gia tăng được cộng th êm bởi khách hàng
Giá trị cuối cùng: x + a’ + b’ + c’ + x’
Trang 29- Value chain là một công cụ hữu ích trong việc xác định các năng lực cốt
lõi của doanh nghiệp và các hoạt động chính của doanh nghiệp Value chain
thích hợp và tích hợp cao sẽ tạo lợi thế cạnh tranh (mà đối thủ cạnh tranh khó
có thể bắt chước) cho doanh nghiệp:
- Cost advantage: bằng việc giảm và tiết kiệm chi phí -> tăng giá trị
gia tăng
- Differentiation: băng việc thích hợp và tích hợp cao tạo sự khác biệt so
với các đối thủ cạnh tranh
- Cost Advantage
Sau khi đã định nghĩa xong chuỗi giá trị, tiến hành phân tích chi phí, bácPorter định nghĩa 10 chi phí tác động đến các hoạt động của chuỗi giá trị:
- Tăng hay giảm lợi ích kinh tế theo gia tăng quy mô;
- Sự họ hỏi trong Doanh nghiệp;
- Cơ cấu của mức sử dụng năng lực sản xuất;
- Các mối liên kết xung quanh hoạt động của Doanh nghiệp;
- Sự tương quan qua lại, các mối quan hệ bên trong, xung quanh các đơn
vị kinh doanh;
- Mức độ tích hợp;
- Lựa chọn thời điểm;
- Các chính sách của Doanh nghiệp;
- Vị trí địa lý;
- Các yếu tố mang tính chất thể chế: quy định, thuế, …
Một công ty có được lợi thế chi phí bằng cách kiểm soát các đơn vị kinhdoanh tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh.Lợi thế chi phí cũng có thể đượcthực hiện thông qua việc cấu hình lại chuỗi giá trị Cấu hình lại có nghĩa là thay
đổi cơ cấu sản xuất như một quy trình mới, các kênh phân phối mới, hoặc bánhàng thông qua phương thức mới Vd: FedEx cấu trúc lại dịch vụ vận chuyển
hàng nhanh bằng việc mua máy bay riêng của mình, thực hiện một trung tâm và
hệ thống thông tin của riêng mình
Differentiation
Một lợi thế khác biệt có thể phát sinh từ bất kỳ tại phần nào của chuỗi giá trị
Ví dụ: Hoạt động mua sắm các đầu vào mà là duy nhất và không phổ biếnrộng rãi đến đối thủ cạnh tranh có t hể tạo ra sự khác biệt
Sự khác biệt bắt nguồn từ tính độc đáo Một lợi thế khác biệt có thể đạt đượcbằng cách thay đổi hoạt động của chuỗi giá trị để tăng tính độc đáo trong sản
Trang 30phẩm cuối cùng hoặc bằng cách cấu hình lại các chuỗi giá trị.
Bác Porter xác định một số yếu tố tác động đến sự độc nhất:
Lựa chọn chính sách cho Doanh nghiệp;
Các liên kết xung quanh các hoạt động;
Lựa chọn thời điểm;
được sáng tạo để phát triển một chuỗi giá trị mới phù hợp với ngành nghề lĩnh
vực kinh doanh, làm tăng sự khác biệt của sản phẩ m
1.7.6 Chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị
Xây dựng chiến lược phát triển chuỗi giá trị luôn có hai nội dung Thứnhất liênquan tới những gì mà các tác nhân tham gia chuỗi giá trị phải làm để trởnên cạnhtranh hơn và để tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn tro ng tương lai
Nội dung thứ hai của chiến lược liên quan đến vai trò của các thể chế hỗtrợ bênngoài, ví dụ như: chính phủ, các cơ quan tài trợ đang triển khai một
chương trình pháttriển Các thể chế hỗ trợ bên ngoài không trực tiếp tham gia
vào quá trình nâng cấp.Họ chỉ tạo điều kiện thuận lợi và trợ giúp cho quá trìnhnày, chứ bản thân họ khôngphải là các chủ thể tham gia chuỗi giá trị Như thế,
có hai loại chiến lược: một chiến lược nâng cấp và một chiến lược thúc đẩy Ở
đây chúng ta tập trung vào chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị Thúc đẩy chuỗi giá
trị cần có một tầm nhìn Tầm nhìn nâng cấp mô tả những đổithay mong muốncủa chuỗi giá trị nhằm trả lời câu hỏi: Chuỗi giá trị này sẽ như thếnào sau 5 nămtới? Các chiến lược có thể phân biệt như sau
• Chiến lược nâng cao chất lượng: nhằm cải tiến chất lượng trong toàn
chuỗi theo yêu cầu thị trường để bán với giá cao hơn và mở rộng thị trường tốt hơn
Trang 31• Chiến lược cắt giảm chi phí: nhằm giảm giá thành sản phẩm, bán với
số lượng nhiều hơn và mở rộng thị trường lớn hơn
• Chiến lược đầu tư công nghệ : nhằm sản xuất qui mô lớn, giá thành hạ,
chất lượng tốt hơn để bán với số lượng nhiều hơn và qui mô thị trường cao hơn
• Chiến lược tái đầu tư : nhằm phát triển tính chủ động và quyết định cao
cho tác nhân thuộc nhà sản xuất ban đầu, ổn định thị trường và phát triển bềnvững sản phẩm
Ngoài ra, kết hợp các yếu tố trong phân tích SWOT có thể bổ sung thêmcác giải pháp sau:
• Các giải pháp mang tính công kích: là các giải pháp được đề xuất dựavào điểm mạnh và cơ hội Giải pháp này được thực hiện dựa vào những điểm
mạnh để đeo đuổi cơ hội
• Các giải pháp mang tính điều chỉnh: là các giải pháp được đề xuất dựavào điểm mạnh và nguy cơ/thách thức Giải pháp này dựa vào việc tận dụngđiểm mạnh để khắc phục những nguy cơ/thách thức
• Các giải pháp mang tính thích ứng: là các giải pháp được đề xuất dựavào điểm yếu và cơ hội Giải pháp này dựa vào những cơ hội để hạn chế nhữngđiểm yếu
• Các giải pháp mang tính phòng thủ: là các giải pháp được đề xuất dựavào điểm yếu và nguy cơ/thách thức Giải pháp này dựa vào việc cải thiện
những điểm yếu để hạn chế những rủi ro có thể xảy ra
1.7.7 Phương pháp phân tích chuỗi giá trị
Phân tích chuỗi giá trị giúp chúng ta xác định những khó khăn của từngkhâu trong chuỗi, từ đó có các giải pháp khắc phục để sản phẩm đáp ứng đượcyêu cầu của thị trường và phát triển bền vững
Xây dựng chiến lược phát triển chuỗi giá trị luôn có hai nội dung Thứnhất, liên quan tới những gì mà các tác nhân tham gia chuỗi giá trị phải làm đểtrở nên cạ nh tranh hơn và để tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn trong tương lai
Nâng cấp chuỗi giá trị là gì?
Nâng cấp chuỗi giá trị là thực hiện các giải pháp để tháo gỡ những khó
khăn trong chuỗi nhằm đảm bảo sản phẩm đáp ứng được nhu cầu và yêu cầu của
thị trường và phát triển chuỗi một cách bền vững
Để nâng cấp chuỗi thành công, các tác nhân trong chuỗi đóng vai trò chủ
Trang 32đạo thực hiện nhiệm vụ nâng cấp và các nhà hỗ trợ đóng vai trò hỗ trợ các tác
nhân trong quá trình nâng cấp
Hướng dẫn phân tích nhanh chuỗi giá trị vì người nghèo
Để xây dựng chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị, hãy lần lượt điền thông tin
Thời gian?
Thuận lợi (được)
Khó khăn (chưa được)
Làm gì?
Làm như thế nào?
bao gồm kinh phí
Ai làm?
Đầu vào
(1)(2)
Sản xuất
(1)(2)
Thu gom
(1)(2)
Sơ chế
(1)(2)
Thương
mại
(1)(2)
Thông điệp chính: Các kết quả phân tích nhanh chuỗi giá trị có thể cho
thấy hiện trạng chuỗi giá trị của xã, đặc biệt là cái đã “được” và cái “chưa được”cần được cải tiến Kết quả này có thể sử dụng làm thông tin thị trường đầu vào
để lập kế hoạch phát triển kinh tế địa phương và có thể chỉ ra được phương ánđầu tư của xã trong tương lai
1.7.8 Tầm quan trọng của liên kết ngang và liên kết dọc trong chuỗi giá trị
Để nâng cấp chuỗi giá trị thành công thì liên kết ngang và liên kết dọc
phải được cũng cố và phát triển
Trang 33Liên kết ngang là gì?
Liên kết ngang là liên kết giữa các tác nhân trong cùng một khâu (Vd:
liên kết những người nghèo sản xuất/kinh doanh riêng lẻ thành lập nhóm cộng
đồng/ tổ hợp tác) để giảm chi phí, tăng giá bán sản phẩm
Tại sao cần liên kết ngang?
Nông dân hợp tác với nhau và mong đợi có được thu nhập cá nhân cao
hơn từ những cải thiện trong tiếp cận thị trường đầu vào, đầu ra và các dịch vụ
hỗ trợ Tóm lại, liên kết ngang mạng lại các lợi thế như sau:
- Giảm chi phí sản xuất, kinh doanh cho từng thành viên của tổ/nhóm qua
đó tăng lợi ích kinh tế cho từng thành viên của tổ
- Tổ/nhóm có thể đảm bảo được chất lượng và số lượng cho khách hàng
- Tổ/nhóm có thể ký hợp đồng đầu ra, sản xuất quy mô lớn
- Tổ/nhóm phát triển sản xuất, kinh doanh một cách bền vững
Để hỗ trợ cho liên kết ngang phát triển bền vững, việc tổ chức lại sản xuất
thành lập các Tổ Hợp tác theo Nghị định 151/2007/NĐ-CP Chính phủ là mộtvấn đề cấp bách, sẽ được nghiên cứu trong phần kế tiếp
Làm gì để thúc đẩy liên kết ngang?
Nên nhớ một điều quan trọng khi thúc đẩy liên kết ngang: thành lập tổhợp tác phải bắt đầu từ nhu cầu của các người dân và tham gia vào tổ hợp tácphải mang lại lợi ích kinh tế cho từng hộ Như thế hoạt động của tổ hợp tác mới
có thể bền vững
Tương tự như các hình thức thúc đẩy liên kết dọc thì các hình thức liên
kết ngang cũng nhằm để các hộ có cùng nhu cầu, sở thích và/hoặc mục tiêu kinh
- Tổ chức các cuộc đối thoại với những người hiện đang sản xuất, kinh doanh
Vai trò của đoàn thể, chính quyền địa phương trong việc liên kết ngang:
Cụ thể đề nghị các ngành và các đoàn thể tại địa phương quan tâm đếnnhững hoạt động như sau:
Trang 341 Thành lập Ban vận động xây dựng tổ hợp tác Thành viên ban vận động
là một phó chủ tịch làm trưởng Ban và các thành viên gồm CB chuyên trách địachính – nông nghiệp, kinh tế, Hội nông dân, Hội phụ nữ, đoàn thanh niên, Hộicựu chiến binh, các Ban nhân dân ấp Ban này cho nhiệm vụ:
- Tuyên truyền về các lợi ích khi tham gia vào tổ hợp tác, nghị định 151
- Quan sát tình hình sản xuất kinh doanh của địa phương và xác định đối
tượng có nhu cầu tham gia tổ Thu thập thông tin về nhu cầu của họ và tìm thêm
một số hộ có nhu cầu tương tự
- Tư vấn những người có nhu cầu muốn thành lập tổ hợp tác về thủ tụchình thành tổ hợp tác
2 Áp dụng Điều 111 đến 120 Bộ Luật Dân sự 2005 thành lập tổ hợp tác
và bao gồm các bước như sau:
- Bước 1: Để thành lập tổ, phải có tối thiểu 03 người, khác hộ khẩu Tổ
viên là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầu đủ
- Bước 2: Xây dựng hợp đồng hợp tác Hợp đồng sau khi xây dựng xong,
tổ trưởng tổ hợp tác mang đến UBND xã, phường, thị trấn chứng thực hợp đồng.Sau khi hợp đồng được chứng thực, Ban điều hành tổ tiến hành điều hành tổtheo nội dung hợp đồng đã thống nhất
Liên kết dọc là gì?
Liên kết dọc là liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi (Vd: nhóm cộng đồng
liên kết với doanh nghiệp thông qua hợp đồng tiêu thụ sản phẩm)
Tại sao cần liên kết dọc?
Giảm chi phí chuỗi
Có cùng tiếng nói của những người trong chuỗi
Hợp đồng bao tiêu sả n phẩm được bảo vệ bởi luật pháp nhà nước
Tất cả thông tin thị trường đều được các tác nhân biết được để sản xuất đáp
ứng nhu cầu thị trường
Niềm tin phát triển chuỗi rất cao
Để thúc đẩy liên kết dọc phát triển bền vững, Quyết định 80/2002/QĐ -TTg
là một tài liệu quan trọng, tạo điều kiện phát triển liên kết dọc và nhấn mạnh vai tròquan trọng của hợp đồng tiêu thụ sản phẩm
Có nhiều hình thức liên kết dọc
Sản xuất theo hợp đồng: mô hình tập trung, mô hình trang trại hạt nhân, môhình đa chủ thể, mô hình phi chính thức, mô hình trung gian
Trang 35Bao tiêu sản phẩm: theo QĐ 80/2002/QĐ - TTg
Hội nhập dọc
Khung pháp lý nhằm thúc đẩy liên kết dọc: Quyết định 80/2002/QĐ-TTg
Quyết định 80/2002/QĐ-TTg là một tài liệu quan trọng, tạo điều kiện pháttriển liên kết dọc và nhấn mạnh vai trò quan trọng của hợp đồng tiêu thụ sản phẩm.Hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hoá nhằm gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụnông sản hàng hoá để phát triển sản xuất ổn định và bền vững
Lưu ý: Hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hoá được ủy ban nhân dân xã xác
nhận hoặc phòng công chứng huyện chứng thực
Làm gì để thúc đẩy liên kết dọc?
Có nhiều hình thức để thúc đẩy liên kết dọc, ví dụ như
Khuyến khích các tác nhân chuỗi tham gia vào các hội chợ thương mại và
tổ chức triển lãm nhằm tập hợp các tác nhân trong cùng một chuỗi
Tổ chức các cuộc họp và/hoặc hội thảo giữa người bán và người mua, đi
thăm các nhà mua và/hoặc bán sản phẩm nhằm xây dựng quan hệ kinh doanh
Xây dựng “trang vàng”, sàn điện tử, góc thông tin v.v tạo điều kiện thuậnlợi cho cả đôi bên trong việc tìm kiếm người mua và người bán tiềm năng
Mọi hình thúc thúc đẩy đều nhằm đến việc làm thế nào để các tác nhân cóthể “gặp” nhau!
Vai trò của đoàn thể, chính quyền địa phương trong việc liên kết dọc
là gì?
Các ngành và các đoàn thể tại địa phương có trách nhiệm như sau:
- Tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân về phương thức sản xuất theo hợp
đồng, tăng cường giáo dục về pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật
cho doanh nghiệp và nông dân để nhân dân đồng tình hưởng ứng phương thức
làm ăn mới trong cơ chế thị trường
- Giúp đỡ cần thiết và tạo điều kiện cho người sản xuất và doanh nghiệpthực hiện phương thức tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng
- Phát hiện kịp thời những vướng mắc của doanh nghiệp và người sảnxuất trong quá trình thực thi phương thức này
- Hội Nông dân Việt Nam, Hiệp hội ngành hàng phát huy vai trò, vị trícủa ngành mình hỗ trợ các doanh nghiệp và người sản xuất ký kết hợp đồng tiêuthụ nông sản
Trang 36Chương 2 SẢN PHẨM VÀ THỊ TRƯỜNG NÔNG LÂM SẢN
2.1 Khái niệm sản phẩm
Sản phẩm là mọi thứ có thể chào bán trên thị trường để gây sự chú ý,mua, sử dụng và tiêu dùng, có thể thỏa mãn mọi mong muốn hay nhu cầu Mỗisản phẩm bao gồm phần cơ bản và phần thực tế
+ Phần cơ bản chứa lõi của sản phẩm là ích lợi c ốt lõi của sản phẩm, giátrị căn bản hay nhu cầu căn bản mà sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng Ví dụ gạo
dùng làm lương thực ăn hàng ngày
+ Phần thực tế là phần cụ thể hay phần vật chất của sản phẩm Phần nàybao gồm các yếu tố như bao bì, chất lượng, nhãn hi ệu, đặc tính của sản phẩm.Không có yếu tố này, sản phẩm hay dịch vụ chỉ là các ý tưởng Khách hàngkhông mua ý tưởng mà mua phần thực tế của sản phẩm
2.1.1 Bao bì sản phẩm
Bao bì xuất hiện từ thời cổ xưa, nhiệm vụ của bao bì là bảo quản, bảo vệ
và vận chuyển hàng hóa, giúp nhà sản xuất nông lâm sản gia tăng thời hạn bảoquản, nâng cao chất lượng nông lâm sản Ngày nay, bao bì trở thành công cụ đắclực của marketing vì có thể giúp cho người bán thu hút sự chú ý đối với hànghóa tạo sự tiện lợi, hình thức bên ngoài đáng tin cậy cho người mua, giúp ngườimua nhanh chóng nhận ra doanh nghiệp hay nhãn hiệu
2.1.2 Nhãn hiệu hàng hóa
Nhãn hiệu hàng hóa là dấu hiệu
dùng để nhận biết hàng hóa hoặc dịch
vụ của một cơ sở kinh doanh, giúp
phân biệt chúng với hàng hóa và dịch
vụ của các cơ sở kinh doanh khác
Nhãn hiệu hàng hóa có thể là chữ cái
Trang 37thổ một nước thành viên, hoặc từ một vùng, một khu vực địa lý của nước đó, với
điều kiện chất lượng, danh tiếng hay các đặc tính khác của sản phẩm chủ yếu do
nguồn gốc địa lý này mang lại”( Theo Điều 22, hiệp định TRIPS) Luật sở hữutrí tuệ Việt Nam củng nêu rõ: Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm
có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể
2.1.4 Tên gọi xuất xứ hàng hoá và tên địa lý của nước, địa phương
Dùng để chỉ xuất xứ của
mặt hàng từ nước, địa phương đó
với điều kiện những mặt hàng
này có các tính chất, chất lượng
đặc thù dựa trên các điều kiện địa
lý độc đáo và ưu việt, bao gồm
yếu tố tự nhiên, con người hoặc
kết hợp các hai yếu tố đó
Ảnh 10 Gà địa phươngchất lượng cao –
Bắc Kạn 2.1.5 Thương hiệu hàng hóa
Đang được sử dụng phổ biến trong thời gian gần đây và được nhiềungười, nhiều tổ chức có nhận thức khác nhau Theo định nghĩa của Hiệp hội
marketing Hoa Kỳ “thương hiệu” là một cái tên, một từ ngữ, một dấu hiệu, mộtbiểu tượng, một hình vẽ hay tổng hợp các yếu tố kể trên nhằm xác định một sảnphẩm hay dịch vụ của một (hay một nhóm) người bán và phân biệt các sản phẩm(dịch vụ) đó với các đối thủ cạnh tranh
2.1.6 Chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là sự sống còn của nhà sản xuất Trong vấn đề chất
lượng nông lâm sản, vệ sinh thực phẩm là điều kiện khách hàng quan tâm nhiều
nhất Đối với hàng tươi sống, vẻ bên ngoài của sản phẩm biểu thị mức tối thiểu
về khả năng có thể chấp nhận được đặc điểm là ở rau quả, thịt cá, các loại hảisản Ví dụ thịt tươi khi bán phải có màu đỏ, nếu thịt bắt đầu chuyển sang màuthâm, phải hạ giá mới bán được Các sản phẩm đã qua chế biến đòi hỏi phải ápdụng các tiêu chuẩn HACCP, với chứng nhận ISO – 9001 hoặc ISO – 2000, đặcbiệt đối với hàng xuất đi nước ngoài có những tiêu chuẩn về vệ sinh thực phẩmrất nghiêm ngặt, phải được cơ quan kiểm dịch thực/động vật và cơ quan y tếthực phẩm và môi trường chấp nhận doanh nghiệp nhập khẩu mới được đưa sảnphẩm vào nước họ
Trang 38Chất lượng nông lâm sản cần phải được kiểm soát ngay từ đầu, tức làngay khi nông dân bắt đầu sản xuất, nhà máy chế biến có hiện đại cách mấy mànguyên liệu đầu vào không đạt phẩm chất thì sản phẩm sau cùng cũng khó đạt
được tiêu chuẩn mong muốn
+ Phần thuộc tính gia tăng: bao gồm những yếu tố dịch vụ nhằm gia tăngcác giá trị cho khách hàng, các yếu tố này có thể gồm:
Dịch vụ: Dịch vụ kèm theo cũng là một đặc điểm quan trọng để kích thíchmua hàng nông lâm sản tiêu dùng, ví dụ cá được làm sạch, giao gạo tận nhà…
Giao hàng đúng hẹn: Các cửa hàng bán nông lâm sản cần có hàng thậtđúng lúc để tránh tình trạng ứ đọng hoặc cửa hàng không có hàng bán Đối với
doanh nghiệp chế biến, doanh nghiệp xuất khẩu cần phải giao hàng đúng thờihạn để không lỡ kế hoạch của doanh nghiệp
Hỗ trợ tín dụng hay các phương thức thanh toán (trả chậm…)
+ Phần sản phẩm tiềm năng: Một sản phẩm có đời sống hữu hạn, đến lúc
nào đó sẽ được thay thế bởi các sản phẩm mới có tính năng ưu việt hơn, đó là
các sản phẩm tiềm năng Ví dụ lúa có khả năng tổng hợp carotene Ngoài sảnphẩm, trong marketing nông lâm sản người ta còn đề cập đến khái niệm luồngsản phẩm Luồng sản phẩm bao gồm một nhóm rộng lớn các sản phẩm gần như
nhau và được người tiêu dùng sử dụng cho những mục đích tương tự nhau Ví
dụ luồng sản phẩm gạo, có nhiều loại gạo khác nhau và cũng đều dùng là lươngthực ăn hàng ngày Những người làm công tác marketing luôn tìm kiếm, mởrộng và hợp thức hóa các luồng sản phẩm Các sản phẩm sẽ luôn được thay đổi,các sản phẩm mới ra đời và thay thế các sản phẩm cũ
2.2 Khái niệm sản phẩm Nông lâm nghiệp
2.2.1 Sản phẩm nông nghiệp
Nông nghiệp hiện đại
vượt ra khỏi sản xuất nông
nghiệp truyền thống, loại sản
xuất nông nghiệp cũng ngày
càng đa dạng chủ yếu tạo ra
lương thực cho con người hay
làm thức ăn cho các con vật
Các sản phẩm nông nghiệp
hiện đại ngày nay bao gồm:
Ảnh 11 Lúa là nông sản xuất khẩu hàng đầu
của Việt Nam
Sản phẩm cung cấp lương thực: Lúa gạo, ngô, sắn …
Trang 39+ Sợi dệt (sợi bông, sợi len, lụa, sợi lanh…),
+ Chất đốt (mê tan, dầu sinh học, ethanol…)
+ Da, lông xương (thú), cây cảnh, sinh vật cảnh
+ Chất hóa học (tinh bột, đường, mì chính, cồn, nhựa thông),
+ Lai tạo giống,
+ Các chất gây nghiện cả hợp pháp và không hợp pháp như (thuốc lá,cocaine, thuốc phiện )
2.2.2 Sản phẩm lâm nghiệp
Ảnh 12 Thảo quả - Lào Cai
ại sản phẩm tre, luồng, giang, nứa, (măng)
ại sản phẩm song, mây, guột
ại lâm đặc sản: cánh kiến, quế, hồi, sa nhân,
ản phẩm cho thực phẩm có nguồn gốc động vật
ại dược liệu: nấm, sa nhân, thảo quả, ba kích, hồi…
oại nhựa: nhựa thông, nhựa trám,
ại tinh dầu chiết suất từ các bộ phận của cây: tràm, quê, hồi…ịch vụ du lịch sinh thái rừng, dịch vụ môi trường…
2.3 Đặc điểm của nông lâm sản
Trang 402.3.1 Đặc điểm của nông lâm sản tiêu dùng
Màu sắc, độ tươi và mùi vị thường là các yếu tố xác định chất lượng nônglâm sản tiêu dùng, qua các yếu tố này người tiêu dùng phân biệt được sự khácnhau giữa các sản phẩm, đánh giá được sự hấp dẫn của sản phẩm
Cách chế biến, sản xuất phải theo một quy trình chấp nhận được, không
được pha chế hoặc dùng những hoá chất cấm sử dụng
2.3.2 Đặc điểm của nông lâm sản làm nguyên liệu
Các nông lâm sản làm nguyên liệu thường được bán cho người bán buôn,bán lẻ, các nhà chế biến … ngoài các dịch vụ kèm theo sản phẩm, người muanông lâm sản tiêu dùng trung gian rất chú ý đến giá cả, tính chất vật lý, đặc điểm
kỹ thuật của nông lâm sản, độ bền của sản phẩm…
Giá cả, tính chất vật lý là đặc điểm quan trọng nhất của sản phẩm trunggian, khách hàng mua nông lâm sản để bán lại hoặc để sử dụng trong chế biếncông nghiệp muốn biết chính xác về nông lâm sản đó và giá cả là bao nhiêu
Các đặc điểm kỹ thuật như kích thước của nông lâm sản cũng rất quan
trọng vì sự tiêu chuẩn hoá về mặt kỹ thuật của sản phẩm giúp khách hàng chọn
được sản phẩm có chất lượng phù hợp, giảm bớt hao phí độ bền của sản phẩm là
thời gian sử dụng được trước khi bị hỏng
2.4 Các đặc điểm chính của thị trường nông lâm sản
Thị trường sản phẩm nông lâm nghiệp có một số đặc điểm khác biệt sovới các thị trường khác Đó là các đặc điểm như sau:
2.4.1 Giá hàng hóa thay đổi nhanh chóng
Giá hàng hóa nông lâm sản có thể thay đổi đáng kể và đột ngột trong vòngmột ngày hoặc một tuần Giá biến động là do sự điều phối kém của cung cầu.Những mặt hàng dễ thối hỏng như rau, quả tư ơi, sắn và cá tươi v.v không thểbảo quản lâu mà phải bán ngay nên giá của những mặt hàng đó có xu hướnggiảm nhiều vào cuối thời điểm buôn bán hoặc khi có một lượng hàng lớn độtngột xâm nhập vào thị trường làm cung vượt quá cầu