Trong nhiều thập kỷ qua, trên cơ sở phát triển kinh tế - xã hội, cùng với việc không ngừng cải tiến chế độ tiền lương, tiền công và nâng cao thu nhập cho người lao động, Đại hội đại bi[r]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP - 2019
TS PHẠM THỊ TÂN - ThS NGUYỄN BÁ HUÂN
Trang 2TS PHẠM THỊ TÂN - ThS NGUYỄN BÁ HUÂN
BÀI GIẢNG
AN SINH XÃ HỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP - 2019
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ AN SINH XÃ HỘI 3
1.1 Khái niệm, đối tượng nghiên cứu môn an sinh xã hội 3
1.1.1 Khái niệm an sinh xã hội 3
1.1.2 Đối tượng nghiên cứu của môn an sinh xã hội 6
1.1.3 Các thuật ngữ có liên quan 7
1.2 Nội dung, phương pháp nghiên cứu của an sinh xã hội 11
1.2.1 Nội dung nghiên cứu của môn học an sinh xã hội 11
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu của môn học 12
1.3 Lịch sử hình thành và hệ thống an sinh xã hội 13
1.3.1 Lịch sử hình thành và hệ thống an sinh xã hội trên thế giới 13
1.3.2 Lịch sử hình thành và hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam 17
1.4 Vai trò, chức năng, nguyên tắc của an sinh xã hội 21
1.4.1 Vai trò của an sinh xã hội 21
1.4.2 Chức năng của an sinh xã hội 23
1.4.3 Các nguyên tắc cơ bản của an sinh xã hội 25
1.5 Mối quan hệ an sinh xã hội và công tác xã hội 26
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới hệ thống an sinh xã hội 27
1.6.1.Thể chế chính sách về an sinh xã hội 27
1.6.2 Thể chế tài chính 27
1.6.3 Các đối tác tham gia 28
Chương 2 BẢO HIỂM XÃ HỘI 30
2.1 Bảo hiểm xã hội bắt buộc 30
2.1.1 Khái niệm về BHXH 30
2.1.2 Sự ra đời và phát triển của BHXH 34
2.1.3 Bản chất và đặc trưng của bảo hiểm xã hội 38
2.1.4 Nguyên tắc của bảo hiểm xã hội 41
2.1.5 Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc 41
2.2 Bảo hiểm xã hội tự nguyện 59
2.2.1 Khái niệm và nguyên tắc của BHXH tự nguyện 59
2.2.2 Đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện 60
Trang 42.2.3 Quyền và trách nhiệm của người tham gia BHXH tự nguyện 60
2.2.4 Phương thức đóng và mức đóng BHXH tự nguyện 61
2.2.5 Các chế độ BHXH tự nguyện 62
Chương 3 TRỢ GIÚP XÃ HỘI 73
3.1 Một số vấn đề chung về trợ giúp xã hội 73
3.1.1 Khái niệm 73
3.1.2 Vai trò trợ giúp xã hội 75
3.1.3 Phân loại trợ giúp xã hội 77
3.2 Trợ giúp xã hội thường xuyên 78
3.2.1 Khái niệm, đối tượng hưởng 78
3.2.2 Nhu cầu trợ giúp xã hội thường xuyên 79
3.3 Trợ giúp xã hội đột xuất 80
3.3.1 Khái niệm và đối tượng hưởng 80
3.3.2 Các hình thức trợ giúp xã hội đột xuất 81
3.4 Chính sách trợ giúp xã hội 83
3.4.1 Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên 83
3.4.2 Chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng 85
3.5 Công cụ chính sách 87
3.5.1 Hành chính và tổ chức 87
3.5.2 Tài chính 88
3.5.3 Giáo dục, tâm lý 89
3.5.4 Kỹ thuật nghiệp vụ 90
Chương 4 GIẢM NGHÈO, VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP 91
4.1 Những vấn đề chung về giảm nghèo 91
4.1.1 Khái niệm về nghèo đói 91
4.1.2 Mối quan hệ giữa an sinh xã hội và nghèo đói 93
4.1.3 Tiêu chí đánh giá đói nghèo và chuẩn nghèo ở Việt Nam 94
4.1.4 Nguyên nhân đói nghèo và thoát nghèo của hộ n ng dân 96
4.1.5 Quan điểm và giải pháp xóa đói giảm nghèo 99
4.2 Việc làm và thu nhập 101
4.2.1 Khái niệm việc làm và tạo việc làm 101
4.2.2 Chính sách hỗ trợ của nhà nước về việc làm 106
4.2.3 Giải pháp tạo việc làm và toàn dụng lao động trong điều kiện hiện nay 111 Chương 5 DỊCH VỤ XÃ HỘI 119
5.1 Khái niệm và đặc trưng của dịch vụ xã hội 119
Trang 55.1.1 Khái niệm dịch vụ xã hội 119
5.1.2 Đặc trưng, mối quan hệ giữa dịch vụ xã hội với các dịch vụ khác 121 5.2 Chức năng, vai trò của dịch vụ xã hội 125
5.2.1 Chức năng của dịch vụ xã hội 125
5.2.2 Vai trò của dịch vụ xã hội 126
5.3 Phân loại dịch vụ xã hội 126
5.3.1 Phân theo tính chất của dịch vụ xã hội 126
5.3.2 Phân loại theo chủ thể cung ứng dịch vụ xã hội 127
5.3.3 Phân loại theo cơ chế quản lý tài chính 128
5.3.4 Phân loại dịch vụ xã hội theo các hình thức dịch vụ cụ thể 128
5.4 Dịch vụ xã hội cơ bản trong hệ thống an sinh xã hội hiện nay 129
5.4.1 Đảm bảo giáo dục tối thiểu 129
5.4.2 Đảm bảo y tế tối thiểu 130
5.4.3 Bảo đảm mức tối thiểu về nhà ở 132
5.4.4 Bảo đảm nước sạch cho người dân 133
5.4.5 Bảo đảm thông tin 134
5.4.6 Vai trò của nhà nước đối với hoạt động cung ứng dịch vụ xã hội 134 5.5 Xã hội hóa dịch vụ xã hội 135
5.5.1 Khái niệm xã hội hóa dịch vụ xã hội 135
5.5.2 Nội dung, bản chất xã hội hóa dịch vụ xã hội 136
5.5.3 Xu hướng xã hội hóa dịch vụ xã hội ở nước ta hiện nay 136
Chương 6 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN SINH XÃ HỘI 138
6.1 Khái niệm và đặc điểm quản lý nhà nước về an sinh xã hội 138
6.1.1 Khái niệm 138
6.1.2 Đặc điểm 139
6.2 Vai trò và nguyên tắc của quản lý nhà nước về an sinh xã hội 140
6.2.1 Vai trò 140
6.2.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước về an sinh xã hội 141
6.3 Cơ sở và nội dung cơ bản quản lý nhà nước về an sinh xã hội 143
6.3.1 Cơ sở quản lý nhà nước về an sinh xã hội 143
6.3.2 Nội dung cơ bản của QLNN về ASXH 144
6.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về an sinh xã hội 145
6.4 Hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội trong giai đoạn hiện nay 148
TÀI LIỆU THAM KHẢO 154
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, an sinh xã hội được coi như cách thức cơ bản góp phần thúc đẩy
sự phát triển, tiến bộ và công bằng xã hội An sinh xã hội được xem là một “giá đỡ”, một “lưới an toàn” để tăng cường khả năng ngăn ngừa, chống đỡ, giảm nhẹ, khắc phục những rủi ro gặp phải trong cuộc sống, đảm bảo cho các cá nhân, các giai tầng xã hội có điều kiện, cơ hội phát triển
Ở Việt Nam, Đảng và nhà nước ta đang đặt quyết tâm phát triển hệ thống
an sinh xã hội phù hợp với một quốc gia có thu nhập trung bình và với các chuẩn mực quốc tế, đảm bảo ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản của con người Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 1/6/2012 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về
“Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020” khẳng định: Đến năm
2020 cơ bản hình thành hệ thống an sinh xã hội bao phủ toàn dân với các yêu cầu: Bảo đảm để người dân có việc làm, thu nhập tối thiểu; tham gia bảo hiểm xã hội, bảo đảm hỗ trợ những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người cao tuổi thu thập thấp, người khuyết tật nặng, người nghèo…); bảo đảm cho người dân tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu (y
tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin), góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân
Trước bối cảnh đó, việc tổ chức sưu tầm, nghiên cứu và phổ biến những kiến thức khoa học về an sinh xã hội là yêu cầu cấp bách và rất cần thiết Cuốn bài giảng “An sinh xã hội” được biên soạn với mục đích làm tài liệu giảng dạy
và học tập cho khối ngành Công tác xã hội và một số ngành học khác có liên quan Bài giảng này được biên soạn trên cơ sở đề cương chương trình môn học
an sinh xã hội, có tham khảo bài giảng các môn học khác của Trung tâm và các tài liệu liên quan đến vấn đề an sinh xã hội Nội dung bài giảng bao gồm 6 chương do TS Phạm Thị Tân biên soạn chương 1, 2, 3, 4, 5, 6 và Ths Nguyễn
Bá Huân đồng biên soạn chương 5 Cụ thể:
- Chương 1: Một số vấn đề chung về an sinh xã hội;
- Chương 2: Bảo hiểm xã hội;
- Chương 3: Trợ giúp xã hội;
- Chương 4: Giảm nghèo, việc làm và thu nhập;
- Chương 5: Dịch vụ xã hội;
- Chương 6: Quản lý nhà nước về an sinh xã hội
Trang 8Trong quá trình biên soạn, mặc dù đã có nhiều cố gắng, song bài giảng không thể tránh khỏi những sai sót Nhóm tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp để tiếp tục hoàn thiện bài giảng trong thời gian tới tại địa chỉ: Trung tâm công tác xã hội và phát triển cộng đồng, Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Lâm Nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Nhóm tác giả
Trang 9Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ AN SINH XÃ HỘI
Lao động tạo ra con người và thông qua quá trình này con người tồn tại Con người ngoài việc chịu sự tác động với nhau còn phải chịu sự tác động của
tự nhiên nhưng không phải lúc nào con người cũng gặp những may mắn, thuận lợi, gặp những điều kiện sinh sống bình thường mà trong một số trường hợp con người phải đối mặt với những thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, ốm đau hay các biến cố rủi ro khác nhau Để tồn tại và đối mặt với những vấn đề đó con người
đã liên kết hợp tác với nhau lựa chọn ra những phương thức phù hợp nhằm trợ giúp nhau trong cuộc sống, trong đó an sinh xã hội được xem là một “giá đỡ”, một “lưới an toàn” góp phần thúc đẩy sự phát triển, tiến bộ và công bằng xã hội Sau khi nghiên cứu chương này, người học có thể:
- Hiểu được khái niệm, bản chất và chức năng của ASXH;
- Xác định sự cần thiết của ASXH trong giai đoạn hiện nay và những vấn
đề cơ bản của ASXH;
- Phân tích hệ thống ASXH ở Việt Nam;
- Vận dụng phân tích các lý thuyết về ASXH
1.1 Khái niệm, đối tượng nghiên cứu môn an sinh xã hội
1.1.1 Khái niệm an sinh xã hội
Trong cuộc sống, để thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu, con người phải lao động sản xuất để có thu nhập Tuy vậy, không phải lúc nào người lao động cũng đảm bảo chắc chắn duy trì được việc làm thường xuyên và thu nhập ổn định Đó
là những lúc gặp rủi ro như ốm đau, bệnh tật, tai nạn lao động dẫn đến bị mất hoặc giảm việc làm Hơn nữa, hoạt động lao động sản xuất của con người không phải lúc nào cũng thuận lợi vì còn bị phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, môi trường, xã hội Vì thế, sự cần thiết phải có các biện pháp phòng tránh và khắc phục rủi ro đã trở thành một nhu cầu của con người Đặc biệt trong nền sản xuất công nghiệp, khi
mà số lượng người lao động có thu nhập chính từ tiền lương tăng lên thì sự hẫng hụt về thu nhập trong các trường hợp gặp rủi ro hoặc khi không còn khả năng lao động càng trở thành mối đe doạ đối với cuộc sống của họ
Tính tất yếu phải đối mặt với những hẫng hụt về thu nhập trong những trường hợp bất khả kháng đã buộc người lao động tìm cách khắc phục bằng
Trang 10nhiều biện pháp khác nhau như tiết kiệm với phương châm "tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn" hoặc dựa vào sự đùm bọc, cưu mang của cộng đồng với tinh thần "lá lành đùm lá rách" Nhưng xã hội càng phát triển, những biện pháp có tính truyền thống như trên đã tỏ ra không đủ độ an toàn để giúp cho mỗi người
có thể khắc phục hoặc vượt qua khó khăn trong cuộc sống Bổ sung vào đó là các biện pháp phi truyền thống chỉ có trong xã hội hiện đại như bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), cứu trợ xã hội, trợ giúp xã hội Đây là những trụ cột cơ bản của hệ thống an sinh xã hội (ASXH) nhằm bảo vệ con người trước những rủi ro về kinh tế - xã hội
Trong thực tiễn, do sự đa dạng về nội dung, phương thức và góc độ tiếp cận nên hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về ASXH
Theo Ngân hàng Thế giới (WB): ASXH là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập
Theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): ASXH là hình thức bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong, cung cấp chăm sóc
y tế và trợ cấp cho các gia đình nạn nhân có trẻ em
Hiệp hội An sinh quốc tế (ISSA) coi ASXH là thành tố của hệ thống chính sách công liên quan đến sự bảo đảm an toàn cho tất cả các thành viên xã hội chứ không chỉ có công nhân Những vấn đề mà ISSA quan tâm nhiều trong hệ thống ASXH là chăm sóc sức khỏe thông qua bảo hiểm y tế; hệ thống BHXH, chăm sóc tuổi già; phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ giúp xã hội
Ở Việt Nam, mặc dù ASXH là một lĩnh vực còn nhiều mới mẻ nhưng cũng
đã dành được sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà quản lý nghiên cứu về vấn đề này
Theo GS TS Hoàng Chí Bảo: ASXH là sự an toàn của cuộc sống con người, từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực cho phát triển con người và xã hội ASXH là những đảm bảo cho con người tồn tại (sống) như một con người và phát triển các sức mạnh bản chất người, tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân cách
Trang 11Theo TS Nguyễn Hải Hữu thì "ASXH là một hệ thống các cơ chế, chính sách, biện pháp của Nhà nước và xã hội nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế - xã hội làm cho họ có nguy cơ suy giảm, mất nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì những nguyên nhân khách quan rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ và cung cấp các dịch vụ sức khỏe cho cộng đồng, thông qua hệ thống mạng lưới về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trợ giúp xã hội"
GS TS Mai Ngọc Cường lại cho rằng, để thấy hết được bản chất, chúng ta phải tiếp cận ASXH theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp của khái niệm này Theo nghĩa rộng: ASXH là sự đảm bảo thực hiện các quyền để con người được an bình, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội Theo nghĩa hẹp: ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai địch hoạt
Chiến lược ASXH giai đoạn 2011 - 2020 ghi nhận: “An sinh xã hội là sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trước các nguy
cơ, rủi ro có thể dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế”
Trong bài "Đảm bảo ngày càng tốt hơn ASXH và phúc lợi xã hội là một nội dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020” Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng "ASXH và PLXH là hệ thống các chính sách và giải pháp nhằm vừa bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường; vừa góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân"
Trên cơ sở phân tích các quan điểm về ASXH đã có, trong môn học này, khái niệm ASXH được hiểu như sau: An sinh xã hội là những can thiệp của Nhà nước và xã hội bằng các biện pháp kinh tế để hạn chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong cộng đồng do bị mất hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già
và chết; đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con
Trang 12Bản chất của ASXH là tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất
cả các thành viên trong trường hợp bị giảm, bị mất thu nhập hay khi gặp những rủi ro xã hội khác Chính sách ASXH là một chính sách xã hội cơ bản của Nhà nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội do đó nó vừa
có tính kinh tế, vừa có tính xã hội và nhân đạo sâu sắc
1.1.2 Đối tượng nghiên cứu của môn an sinh xã hội
Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của loài người, anh sinh xã hội không chỉ dừng lại trong nhận thức của con người như một nhu cầu nguyện vọng cần được đáp ứng mà trong nhận thức, tư duy, an sinh xã hội đã trở thành một quyền của con người cần được đáp ứng và bảo vệ, nó gắn liền với quyền của con người Đây có thể coi là sự phát triển mới trong nhận thức lý luận của xã hội hiện đại Chính vì sự thay đổi nhận thức, tư duy này mà cộng đồng quốc tế, cũng như các quốc gia đều đã rất quan tâm đến việc phát triển hệ thống an sinh xã hội
để ứng phó với các rủi ro có thể diễn ra, nhằm bảo đảm an toàn cho các thành viên trong xã hội trước các nguy cơ rủi ro đó và vấn đề này được xác định như là một chức năng, trách nhiệm của nhà nước
Mục tiêu của ASXH là tạo ra một lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ cho tất cả mọi thành viên của cộng đồng trong những trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất trong chi tiêu của gia đình
do nhiều nguyên nhân khác nhau, như ốm đau, thương tật, già cả… gọi chung là những biến cố và những “rủi ro xã hội” Để tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp, ASXH dựa trên nguyên tắc san sẻ trách nhiệm và thực hiện công bằng
xã hội, được thực hiện bằng nhiều hình thức, phương thức và các biện pháp khác
học an sinh xã hội là những vấn đề có tính quy luật, có tính phổ biến về rủi ro và các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro và khắc phục rủi ro, nhằm bảo vệ
an toàn cho các thành viên trong xã hội trước các nguy cơ rủi ro bị suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập do già cả, ốm đau, tai nạn, thất nghiệp, thiếu việc làm hoặc các cú sốc về kinh tế xã hội, thông qua các giải pháp làm giảm thiểu rủi ro, phòng ngừa rủi ro, khắc phục rủi ro gắn liền với con người và các hiện tượng kinh tế xã hội và môi trường có liên quan
Trang 13Đối tượng nghiên cứu môn an sinh xã hội còn nghiên cứu quy luật hình thành, điều kiện hình thành các mô hình an sinh xã hội, các cơ chế, chính sách của hệ thống an sinh xã hội, cách thức vận hành hệ thống an sinh xã hội để bảo đảm tính bền vững, ổn định của hệ thống an sinh xã hội trong nhưng điều kiện
cụ thể của từng quốc gia, khu vực
Môn an sinh xã hội còn nghiên cứu các yếu tố tác động đến quá trình hình thành, phát triển của hệ thống an sinh xã hội và từng hợp phần của hệ thống; Mối quan hệ của các hợp phần trong hệ thống; điều kiện để thực hiên; biện pháp thực hiện để hướng tới an sinh xã hội toàn dân và các chỉ số giám sát đánh giá chất lượng của hệ thống cũng như tính ổn định và bền vững của từng hợp phần của hệ thống an sinh xã hội
An sinh xã hội cũng có thể chỉ các chương trình hành động của chính phủ nhằm thúc đẩy phúc lợi của người dân thông qua các biện pháp hỗ trợ đảm bảo quyền tiếp cận các nguồn lực đầy đủ về thực phẩm và nơi trú ẩn và tăng cường sức khỏe và phúc lợi cho người dân nói chung và các phân đoạn có khả năng dễ
bị tổn thương như trẻ em, người già, người bệnh và người thất nghiệp Các dịch
vụ cung cấp an sinh xã hội thường được gọi là các dịch vụ xã hội
Do nghiên cứu những vấn đề có tính quy luật nên môn học an sinh xã hội được xem xét như là một khoa học nghiên cứu về hệ thống an sinh xã hội tổng thể bao gồm các thể chế chính sách, thể chế tài chính và các hình thức tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội của nhà nước, cũng như các giải pháp của cộng đồng trong việc bảo vệ an toàn các thành viên của mình trước các rủi ro
1.1.3 Các thuật ngữ có liên quan
Có thể nhận thấy, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững có mối quan hệ gắn bó hữu cơ An sinh xã hội góp phần giữ vững ổn định kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước Thực hiện tốt an sinh xã hội góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững thông qua việc điều hòa các mâu thuẫn xã hội, hạn chế các nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn và bất ổn của xã hội Từ những định nghĩa trên cho thấy an sinh xã hội là vấn đề vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, vừa có tính nhân đạo rất sâu sắc Hiện nay, có nhiều thuật ngữ an sinh xã hội được
sử dụng ở Việt Nam Nhằm giúp hiểu được ý nghĩa nội hàm của các thuật ngữ an sinh xã hội; tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai thực hiện, xác định đối tượng được hưởng chính sách an sinh xã hội một số thuật ngữ được đề cập đến:
Trang 14Bảng 1.1 Một số thuật ngữ về an sinh xã hội
Bình đẳng
Là một khái niệm xã hội học phản ánh mối quan hệ ngang bằng (hoặc
có quyền quan hệ ngang bằng) về vị thế và quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ giữa các thành viên trong xã hội
Chính sách xã hội
Là tập hợp các biện pháp nhằm ngăn ngừa sự xuất hiện các rủi ro xã hội, điều tiết, bảo vệ và cải thiện mức thu nhập, mức trợ cấp và mức sống của cá nhân và cộng đồng trong xã hội
Chính sách xã hội có 4 chức năng: (i) Cung cấp phúc lợi cho những người không còn khả năng tự bảo đảm nhu cầu thiết yếu cho bản thân hoặc có nhu cầu hỗ trợ tạm thời; (ii) cung cấp các biện pháp chủ động
và tức thời cho cá nhân, tập thể nhằm đối phó với những rủi ro liên quan đến con người (an sinh xã hội); (iii) tái phân bổ thu nhập giữa các nhóm dân cư có thu nhập khác nhau và tái phân bổ nguồn lực giữa những nhóm dân cư có nguy cơ bị rủi ro khác nhau (công bằng xã hội); (iv) khuyến khích và hỗ trợ nâng cao năng lực khắc phục rủi ro cho các nhóm thiệt thòi (trao quyền xã hội)
Chỉ số khoảng
cách nghèo
Là chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt về thu nhập/chi tiêu của người nghèo được tính bằng % thu nhập trung bình của toàn bộ hộ nghèo so với mức chuẩn nghèo Với người không nghèo, khoảng cách này bằng
0 Khi nhân khoảng cách thu nhập với tỷ lệ người nghèo sẽ được khoảng cách nghèo
Chi tiêu xã hội
Là những hỗ trợ của nhà nước (và tư nhân) và các nguồn tài chính khác cho các cá nhân, hộ gia đình nhằm đảm bảo/duy trì mức phúc lợi cơ bản khi có những biến cố (ví dụ rủi ro về sức khỏe) Các hỗ trợ này bao gồm hỗ trợ bằng tiền mặt, hiện vật, hoặc hỗ trợ hoàn toàn hoặc một phần sử dụng hàng hóa và dịch vụ công cộng
Công tác xã hội
Giúp cá nhân, cộng đồng thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó Công tác xã hội hướng đến cải thiện các điều kiện xã hội của cộng đồng, tăng cường nguồn lực của các cá nhân và cải thiện các mối quan hệ giữa cá nhân với môi trường xã hội Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề công tác xã hội Công tác xã hội đặc biệt chú trọng đến nhu cầu của những nhóm đối tượng yếu thế, thiệt thòi trong xã hội
Trang 15Giảm thiểu rủi ro Là các hoạt động được thực hiện trước nhằm hạn chế mức độ xảy ra
của các biến cố
Khả năng tiếp cận
Thể hiện mức độ sẵn có của các lợi ích vật chất, phi vật chất hoặc cả hai cho người dân Tăng cường khả năng tiếp cận của người dân đối với các dịch vụ xã hội là việc xóa bỏ những rào cản để người dân tham gia và nhận được sự hỗ trợ của các dịch vụ xã hội được cung cấp (VD: Dịch vụ chăm sóc y tế)
Lưới an sinh
Có thể là lưới chính thức (từ chính phủ như các chương trình bảo hiểm
xã hội hoặc trợ cấp xã hội) hay cũng có thể lưới an sinh phi chính thức
cá nhân (gia đình hoặc bạn bè là những người cung cấp an sinh xã hội) hoặc cũng có thể là các tổ chức cung cấp lưới an sinh
Lưới an sinh (an
toàn) xã hội
Là tập hợp các dịch vụ do nhà nước hoặc tổ chức xã hội cung cấp cho người nghèo hoặc người dễ bị tổn thương trước các cú sốc nhằm giảm nguy cơ rơi vào nghèo đói và duy trì mức sống tối thiểu
Lưới an sinh xã hội bao gồm: Trợ cấp xã hội (thường xuyên, đột xuất), chương trình việc làm công, nhà ở xã hội, và đôi khi là các dịch vụ được bao cấp như giao thông công cộng
Mối nguy hiểm
Là các sự kiện, biến cố khi xảy ra, có thể làm giảm khả năng vật chất, tài chính, con người, của cải dẫn đến tăng nguy cơ nghèo đói và dễ bị tổn thương của cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng, xã hội Thất nghiệp,
ốm đau và hạn hán là những mối hiểm nguy đe dọa đến cuộc sống của người dân
Mức độ bao phủ
Là tỷ lệ số người tham gia vào một chương trình/chính sách cụ thể, được đo bằng tổng số người tham gia/tổng số người thuộc diện đối tượng tham gia
Nghèo tạm thời
Là tình trạng con người có khả năng làm việc nhưng không tìm được việc làm (do thiếu việc làm) hoặc không thể làm việc do hoàn cảnh bất lợi (ốm đau, chăm sóc con cái, chăm sóc dài hạn cho bố mẹ…) khiến cho thu nhập thấp của người đó thấp hơn ngưỡng nghèo Tình trạng nghèo tạm thời có thể được cải thiện nếu được hỗ trợ nhằm tăng khả năng có việc làm và giảm các chi phí y tế và chăm sóc sức khỏe
Trang 16Phúc lợi xã hội
Là một bộ phận thu nhập quốc dân của xã hội được sử dụng nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong xã hội Phúc lợi xã hội bao gồm những chi phí xã hội như trả tiền hưu trí, các loại trợ cấp BHXH, học bổng cho học sinh,những chi phí cho học tập không mất tiền, những dịch vụ y tế, nghỉ ngơi an dưỡng, nhà trẻ, mẫu giáo…
Quyền lợi Là thuật ngữ chung chỉ tất cả các chế độ trợ cấp bằng tiền mặt và hiện
vật cũng như các dịch vụ cung cấp thuộc hệ thống an sinh xã hội Rủi ro Là xác suất mà các mối nguy hiểm sẽ trở thành hiện thực
Rủi ro con người
Là các rủi ro hay những đe dọa đối với con người, bao gồm: rủi ro tự nhiên, rủi ro môi trường, rủi ro sức khỏe, rủi ro chu kỳ sống, rủi ro kinh tế, rủi ro xã hội, rủi ro chính trị
Sự yếu thế
Là quá trình theo đó những nhóm người nhất định đang gặp phải khó khăn, thí dụ như người nghèo, thất nghiệp, cha/mẹ đơn thân và những người có trình độ hạn chế, bị đẩy ra bên lề xã hội, do vậy họ không có tiếng nói trong việc ra quyết định và thiếu các điều kiện để cải thiện vị thế của mình trong xã hội
Trang 17đề xã hội có những đặc điểm:
- Con người tri giác được, nhận thức được;
- Nảy sinh hiện thực có khoảng cách so với chuẩn mực;
- Hệ quả là tác động đến phạm vi xã hội nhất định;
- Được đáng kể người dân và người lao động nhận thức;
- Phải giải quyết thông qua các hoạt động thực tiễn xã hội
1.2 Nội dung, phương pháp nghiên cứu của an sinh xã hội
1.2.1 Nội dung nghiên cứu của môn học an sinh xã hội
An sinh xã hội (ASXH) theo nghĩa rộng là sự bảo đảm thực hiện các quyền
để con người được an bình, bảo đảm an ninh, an toàn trong xã hội Theo nghĩa hẹp, khái niệm ASXH là sự bảo đảm thu nhập và điều kiện sống thiết yếu cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trong trường hợp bị giảm, bị mất thu nhập hay gặp phải những rủi ro khác; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị ảnh hưởng bởi thiên tai dịch họa
Ở Việt Nam, ASXH trở thành một trong những trụ cột cơ bản trong hệ
thống các chính sách xã hội được Đảng và Nhà nước ta quan tâm xây dựng ASXH là nhân tố đảm bảo công bằng xã hội Thực tiễn phát triển đã cho thấy ASXH có vai trò rất lớn trong việc khắc phục những hệ lụy của phân hóa xã hội, tăng cường gắn kết xã hội, sự đồng thuận và đảm bảo ổn định chính trị Giai đoạn 2012 - 2020 an sinh xã hội được kết cấu với nhiều hợp phần khác nhau, nội dung bài giảng đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất của an sinh xã hội làm tiền
đề cho việc nghiên cứu các phần tiếp theo của an sinh xã hội bao gồm:
- Các khái niệm về an sinh xã hội, quá trình thay đổi nhận thức về an sinh
xã hội thông qua việc hình thành các khái niệm, các tư tưởng chủ đạo về an sinh xã hội;
- Các khái niệm, thuật ngữ liên quan đến an sinh xã hội;
- Mối quan hệ giữa an sinh xã hội với công tác xã hội, các chính sách kinh
tế xã hội;
Trang 18- Các mô hình an sinh xã hội ở một số nước mang tính phổ biến;
- Khung khổ hệ thống an sinh xã hội: mục tiêu, chức năng, nội hàm, thể chế, nguyên tắc, vai trò ;
- Quá trình phát triển mô hình an sinh xã hội của nước ta;
- Các hợp phần của an sinh xã hội và nội hàm cơ bản của từng hợp phần;
- Các thể chế chính sách, thể chế tài chính và thể chế tổ chức bộ máy quản
lý và cán bộ thực hiện an sinh xã hội;
- Nghiên cứu hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tìm ra những đặc điểm chung, phổ biến ở tất cả các nền an sinh xã hội khác và đặc điểm riêng có tính cá biệt, đặc thù của Việt Nam do điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa và truyền thống dân tộc chi phối
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu của môn học
Nghiên cứu về an sinh xã hội dựa vào tiếp cận quyền con người: Phát triển, bảo vệ, tự do, dân chủ, bình đẳng và công bằng xã hội Đây là phương pháp tiếp cận trực tiếp trong nghiên cứu về an sinh xã hội, đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, quyền con người, quyền được bảo vệ trước các rủi ro và công bằng xã hội được đặt lên hàng đầu trong quá trình nghiên cứu Coi an sinh xã hội như một thể chế để đảm bảo tính nhân văn, nhân đạo của một xã hội
Con người không thể tồn tại nếu tách rời đồng loại của mình, chính vì lẽ đó
mà trong quá trình tồn tại và phát triển đó, sự thành công hoặc thất bại của người này gắn liền với sự thất bại hoặc thành công của người khác Vì những lẽ đó mà các thành viên trong gia đình và xã hội phải có trách nhiệm chia sẻ rủi ro cho nhau, giảm bớt gánh năng cho người bị rủi ro bằng sự trợ giúp phù hợp với khả năng của họ
Trong từng giai đoạn phát triển mà các nhóm xã hội như người già, người tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người nghèo, người có thu nhập thấp xuất hiện những nhu cầu cụ thể như nhu cầu được bảo đảm mức sống tối thiểu, nhu cầu đảm bảo đảm quyền bình đẳng, nhu cầu tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế xã hội, nhu cầu tham gia giao thông, nhu cầu tiếp cận công nghệ
Trang 19thông tin để thực hiện được các nhu cầu đó họ cần có sự trợ giúp của nhà nước
và cộng đồng An sinh xã hội là một bộ phận của chính sách xã hội, chính sách
vì ấm no hạnh phúc của con người và toàn dân tộc, do vậy phương pháp nghiên cứu môn học an sinh xã hội sử dụng phương pháp nghiên cứu nhu cầu của các nhóm xã hội, dựa vào điều kiện phát triển kinh tế xã hội, văn hóa truyền thống dân tộc
Do tính đặc thù của an sinh xã hội liên quan đến sự bảo vệ an toàn của mọi thành viên trong xã hội và an sinh hướng đến toàn dân nên quá trình nghiên cứu phải sử dụng phương pháp tiếp cận nghiên cứu đa ngành từ lĩnh vực kinh tế, tài chính đến xã hội, văn hóa, nhân chủng học, dân tộc học, xã hội học Sự tiếp cận
đa ngành trong quá trình nghiên cứu sẽ giúp cho quá trình nghiên cứu sẽ khách quan hơn, toàn diện hơn và tổng thể hơn
Quá trình nghiên cứu an sinh xã hội còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của các môn học khác như phương pháp nghiên cứu của khoa học tâm lý: tâm lý cá nhân, tâm lý xã hội, tâm lý dân tộc, truyền thống văn hóa Phương pháp nghiên cứu xã hội học: điều tra xã hội học, phỏng vấn Tiếp cận nghiên cứu an sinh xã hội còn sử dụng nhiều phương pháp khác như phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp và phương pháp diễn dịch Ngoài việc sử dụng phương pháp nghiên cứu có tính đặc thù như tiếp cận quyền con người và công bằng xã hội, an sinh xã hội còn sử dụng những phương pháp mà các môn khoa học khác
sử dụng có tính phổ biến
1.3 Lịch sử hình thành và hệ thống an sinh xã hội
1.3.1 Lịch sử hình thành và hệ thống an sinh xã hội trên thế giới
Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ thống ASXH đã có những cơ sở để hình thành và phát triển Quá trình công nghiệp hóa làm cho đội ngũ người làm công ăn lương tăng lên, cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động làm thuê đem lại Sự hẫng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm hoặc khi về già…, đã trở thành mối đe dạo đối với cuộc sống bình thường của những người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương
Sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đã buộc những người làm công ăn lương tìm cách khắc phục bằng những hành động tương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn…); đồng thời, đòi hỏi giới chủ và Nhà nước phải có trợ giúp bảo đảm cuộc sống cho họ
Trang 20ra hướng mới Sự tham gia là bắt buộc và không chỉ người lao động đóng góp mà giới chủ và Nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình (cơ chế ba bên) Tính chất đoàn kết và san sẻ lúc này được thể hiện rõ nét: mọi người, không phân biệt già - trẻ, nam - nữ, người khỏe - người yếu mà tất cả đều phải tham gia đóng góp
Mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latin, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX Sau chiến tranh thế giới thứ hai, ASXH đã lan rộng sang các nước giành được độc lập ở châu Á, châu Phi và vùng Caribê Ngoài BHXH, các hình thức truyền thống về tương tế, cứu trợ xã hội cũng tiếp tục phát triển để giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn như những người già cô đơn, người tàn tật, trẻ em mồ côi, người góa bụa và những người không may gặp rủi ro vì thiên tai, hỏa hoạn… Các dịch vụ xã hội như dịch vụ y tế, dự phòng tai nạn, dự phòng y tế tái thích ứng; dịch vụ đặc biệt cho người tàn tật, người già, bảo vệ trẻ em… được từng bước mở rộng ở các nước theo những điều kiện tổ chức, chính trị, kinh tế - xã hội, tài chính và quản lý khác nhau Hệ thống ASXH được hình thành và phát triển rất đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau ở từng quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử, trong đó BHXH là trụ cột chính Đạo luật đầu tiên về ASXH (Social Security) trên thế giới là Đạo luật năm 1935 ở Mỹ
Đạo luật này quy định thực hiện chế độ bảo vệ tuổi già, chế độ tử tuất, tàn tật
và trợ cấp thất nghiệp Thuật ngữ ASXH được chính thức sử dụng Đến năm
1941, trong Hiến chương Đại Tây Dương và sau đó Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) chính thức dùng thuật ngữ này trong các công ước quốc tế ASXH đã được tất cả các nước thừa nhận là một trong những quyền con người Nội dung của ASXH đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948 Trong bản Tuyên ngôn có viết: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng ASXH Quyền đó đặt
cơ sở trên sự thỏa mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa cần cho nhân cách
Trang 21và sự tự do phát triển con người…” Ngày 25/6/1952, Hội nghị toàn thể của ILO
đã thông qua Công ước số 102, được gọi là Công ước về ASXH (tiêu chuẩn tối thiểu) trên cơ sở tập hợp các chế độ về ASXH đã có trên toàn thế giới
Đến nay, an sinh xã hội đã phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới với sự kết hợp giữa hai mô hình trên tùy thuộc vào đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội, văn hóa của mỗi quốc gia Dưới đây là một số mô hình về an sinh xã hội phổ biến Một số nước ở Trung Âu, Đông Âu, Trung Á, Mỹ La tinh… đã phát triển
mô hình an sinh xã hội dựa chủ yếu vào nguyên tắc bảo hiểm rủi ro, tập trung vào việc phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro, trong đó các mức chi trả được thực hiện kèm theo các điều kiện gắn với thu nhập Mục tiêu của mô hình
là khuyến khích người lao động tham gia thị trường lao động và các loại hình bảo hiểm khác (ngoài bảo hiểm xã hội) trước khi có sự can thiệp của Nhà nước
Sơ đồ 1.1 Mô hình ASXH của một số nước Trung Âu, Đông Âu,
GIỚI THIỆU VIỆC
LÀM
THẤT NGHIỆP
Trang 22Thiết kế hệ thống an sinh xã hội gồm các trụ cột như sau:
- Trụ 1: Gồm các chương trình, chính sách, cơ chế nhằm phát triển thị trường lao động, tạo việc làm tăng thu nhập cho người lao động;
- Trụ 2: Gồm các chương trình, chính sách, cơ chế phát triển các loại hình bảo hiểm xã hội, mở rộng diện tham gia bảo hiểm xã hội cho người dân Đây là trụ chính của hệ thống an sinh xã hội, nhằm bảo đảm người dân có khoản tiền thay thế thu nhập bị mất đi do mất việc làm, ốm đau, tai nạn lao động, tuổi già…;
- Trụ 3: Gồm các chương trình, chính sách, cơ chế về trợ cấp xã hội thường xuyên, trợ cấp đột xuất cho những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Đây là trụ cuối cùng nhằm khắc phục rủi ro về thiên tai, kinh tế thị trường… vượt ra khỏi khả năng của cá nhân và cộng đồng
Một số nước như Nhật, Vương quốc Anh, Ấn Độ… đã áp dụng mô hình
an sinh xã hội có tính phổ cập, dựa vào nguyên tắc phân phối lại thu nhập, trong đó tất cả mọi người dân đều được hưởng trợ giúp tối thiểu nhằm nâng cao mức sống và giảm phân hóa giàu nghèo Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc cung cấp an sinh xã hội thông qua hệ thống bảo hiểm xã hội và trợ cấp gia đình Điều kiện áp dụng mô hình này là ý thức, trách nhiệm cộng đồng của người dân cao, nguồn lực nhà nước lớn kết hợp với cơ chế giám sát có hiệu quả
Mô hình an sinh xã hội do Ngân hàng thế giới đưa ra gần đây, nhấn mạnh đến vai trò của hệ thống an sinh xã hội trong việc nâng cao năng lực phòng ngừa rủi ro, tái tạo sinh kế thuận lợi hơn trong thế kỷ 21, bao gồm 3 chức năng:
- Chức năng phòng ngừa, được thực hiện bởi các chính sách bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế và việc làm công ;
- Chức năng bảo vệ, thông qua việc thực hiện các chính sách hỗ trợ tiền
mặt hoặc hiện vật để giúp người dân khắc phục rủi ro cùng với các hình thức trợ giúp cộng đồng khác…;
- Chức năng thúc đẩy, bao gồm các chính sách về dinh dưỡng, tín dụng vi
mô, đào tạo, thị trường lao động để thúc đẩy phát triển năng lực con người
Mô hình 3P (Prevention - Protection - Promotion - Phòng ngừa - Bảo vệ
- Thúc đẩy) được thể hiện trong sơ đồ sau đây:
Trang 23Sơ đồ 1.2 Mô hình ASXH theo tiếp cận 3P
(Phòng ngừa - Bảo vệ - Thúc đẩy)
1.3.2 Lịch sử hình thành và hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam
Có thể thấy rằng, ngay từ năm 1945 đến nay, ở Việt Nam đã thực hiện gần như đầy đủ các chính sách an sinh xã hội mà các quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện Đặc biệt, chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách ưu đãi xã hội được chú trọng thực hiện, thể hiện nét riêng, sáng tạo trong hệ thống an sinh xã hội Trong giai đoạn đầu khi vừa có chính quyền nhân dân thì nhiệm vụ trước mắt và cấp bách của an sinh xã hội được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rất cụ thể, gắn với các nhu cầu thiết thực của người dân, đó là:
“Làm cho dân có ăn
Làm cho dân có mặc
Làm cho dân có chỗ ở
Làm cho dân được học hành”
Tiếp đến là làm cho người nghèo đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm
Tuy nhiên, giai đoạn từ năm 1945 đến 1975 và giai đoạn 1976 đến 1985, do ảnh hưởng của chiến tranh kéo dài, điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội không ổn định, thay đổi qua nhiều thời kỳ dẫn đến tình trạng hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam nói chung có tính ổn định không cao, đôi lúc chạy theo việc giải quyết nhu cầu
xã hội trước mắt, chứ không được xây dựng có hệ thống, lâu dài và bền vững
Từ năm 1986, các vấn đề xã hội (trong đó có hệ thống an sinh xã hội) lần đầu tiên được Đảng Cộng sản Việt Nam nâng lên tầm chính sách xã hội Trước thực tế đời sống nhân dân gặp vô vàn khó khăn, những nhu cầu thiết yếu của người dân không được đáp ứng đầy đủ, nên mục tiêu cấp thiết được Đại hội VI xác định là phải ổn định đời sống kinh tế, đáp ứng những nhu cầu cấp bách và thiết yếu của xã hội, dần dần ổn định và tiến lên cải thiện một bước đời sống vật
Trang 24chất của nhân dân Cụ thể là, mọi chính sách an sinh xã hội phải đảm bảo sao cho người dân “ăn đủ no, có thêm dinh dưỡng, mặc đủ ấm; đáp ứng tốt hơn nhu cầu về bảo vệ sức khỏe và chữa bệnh, đi lại, học hành và hưởng thụ văn hóa, tăng thêm đồ dùng thiết yếu của các gia đình, khắc phục một bước khó khăn về nhà ở Đó chính là yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội” Đến Đại hội VII, chính sách an sinh xã hội được mở rộng thêm một bước mới, Đảng xác định phải “đáp ứng tốt hơn các nhu cầu thiết yếu và ngày càng đa dạng của các tầng lớp dân cư; bảo đảm vững chắc nhu cầu lương thực, khắc phục tình trạng thiếu đói thường xuyên và nạn đói giáp hạt ở một số vùng; nâng mức cung ứng và tiêu dùng thực phẩm, tăng thêm chất dinh dưỡng bữa ăn”, “Tạo điều kiện cho nhân dân cải thiện nhà ở”, “Quan tâm chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và những người có công với cách mạng, giúp đỡ người già cô đơn và trẻ mồ côi, những người cơ nhỡ, bất hạnh trong cuộc sống”; “Xóa nạn đói, giảm số người nghèo khổ, giải quyết vấn đề việc làm, bảo đảm các nhu cầu cơ bản, cải thiện đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân”
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), lần đầu tiên Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức đưa nhiệm vụ đảm bảo an sinh xã hội thành một tiêu chí và coi đó là một đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội: Xây dựng xã hội mà ở đó, người dân có “cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân”, “Bảo đảm và không ngừng nâng cao đời sống vật chất của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất”, “Tạo môi trường và điều kiện cho mọi người lao động có việc làm, chăm lo cải thiện điều kiện lao động”, “Có chính sách thích đáng đối với các gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, cán bộ lão thành, những người về hưu”
Có thể nói, đến Đại hội VII, nhận thức của Đảng về một hệ thống an sinh xã hội nhiều tầng, đối tượng bao phủ rộng với trụ cột là bảo hiểm xã hội đã được định hình Điều này, một mặt, thể hiện nhận thức của Đảng về bản chất của an sinh xã hội ngày càng đầy đủ hơn và hiện đại hơn; mặt khác, cũng hình thành khung lý luận làm kim chỉ nam cho việc xây dựng hệ thống chính sách an sinh xã hội phù hợp với mục tiêu và sự phát triển của đất nước trong giai đoạn tiếp theo
Trong các kỳ Đại hội VIII và IX của Đảng, công tác đảm bảo an sinh xã hội vẫn được xác định với những nội dung cơ bản, như giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, các hoạt động nhân đạo, từ thiện, chăm sóc
và bảo vệ sức khỏe, nâng cao thể chất cho nhân dân Nhận thức mới về mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội được Đảng xác định là “nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất, tinh thần và thể lực của dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và hội nhập vào cộng đồng quốc tế” và hướng đến “sự phát triển và
Trang 25lành mạnh hóa xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh
mẽ phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp” Trong đó, nhiệm vụ trọng tâm là tiếp tục ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, giải quyết
có hiệu quả những vấn đề bức xúc của xã hội; tạo nhiều việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở cả thành thị và nông thôn; cải cách cơ bản chế độ tiền lương; cơ bản xóa đói, giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo; chăm sóc tốt người có công; nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của nhân dân Đồng thời, thực hiện tốt hơn các chính sách ưu đãi và bảo trợ xã hội để “bảo đảm tất cả các gia đình chính sách đều có cuộc sống bằng hoặc khá hơn mức sống trung bình so với người dân địa phương , người già không nơi nương tựa, những người tàn tật và những nạn nhân do hậu quả chiến tranh và thiên tai để lại, đều được chăm sóc, giúp đỡ” Đến Đại hội X, Đảng chủ trương: “Xây dựng chính sách an sinh xã hội đa dạng; phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm toàn dân Đa dạng hóa các loại hình cứu trợ xã hội, tạo việc làm ” Các mục tiêu cụ thể vẫn là “chú trọng thực hiện tốt chính sách ưu đãi xã hội; vận động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với các lão thành cách mạng, những người có công với nước, người hưởng chính sách xã hội; chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người già, nhất là những người già cô đơn, không nơi nương tựa; giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam, người tàn tật, trẻ mồ côi, lang thang”
Đại hội XI của Đảng khẳng định: “Phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả Phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp… Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người lao động tiếp cận và tham gia các loại hình bảo hiểm Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi và không ngừng nâng cao mức sống đối với người có công Mở rộng các hình thức trợ giúp và cứu trợ xã hội, nhất là đối với các đối tượng khó khăn” Nghị quyết của Đảng cũng tiếp tục nhấn mạnh: “Hoàn thiện hệ thống chính sách, kết hợp chặt chẽ các mục tiêu, chính sách kinh tế với các mục tiêu chính sách xã hội; thực hiện tốt tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững… Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa đạng hóa các nguồn lực và phương thức để bảo đảm giảm nghèo bền vững… Thực hiện tốt các chính sách về lao động, việc làm, tiền lương, thu nhập nhằm khuyến khích
và phát huy cao nhất năng lực của người lao động”
Báo cáo chính trị của Đại hội XI đưa ra định hướng về bảo đảm an sinh xã hội: “Tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình xóa đói, giảm nghèo ở vùng
Trang 26sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức xóa đói, giảm nghèo gắn với phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển giáo dục, dạy nghề và giải quyết việc làm để xóa đói, giảm nghèo bền vững; tạo điều kiện và khuyến khích người đã thoát nghèo vươn lên làm giàu và giúp đỡ người khác thoát nghèo” và “Huy động mọi nguồn lực xã hội cùng với Nhà nước chăm lo tốt hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của những người và gia đình có công”
Bên cạnh việc phát triển hệ thống an sinh xã hội, Đại hội XI cũng khẳng định phải “Quan tâm hơn nữa việc chăm lo hạnh phúc và sự phát triển tự do, toàn diện của con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực hiện các Điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam ký kết”
Như vậy, có thể nói, từ năm 1945 đến nay, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về hệ thống an sinh xã hội không ngừng được bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước trong quá trình đẩy mạnh công ngiệp hóa - hiện đại hóa; phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
Từ những nội dung trên có thể khẳng định, hệ thống an sinh xã hội hiện nay ở Việt Nam gồm bốn trụ cột cơ bản:
Sơ đồ 1.3 Hệ thống ASXH ở Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020
VIỆC LÀM, ĐẢM BẢO THU NHẬP
TỐI THIỂU VÀ GIẢM NGHÈO
TẠO VIỆC LÀM
TÍN DỤNG ƯU ĐÃI
HỖ TRỢ HỌC NGHỀ
TÌM VIỆC LÀM (TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC)
CHƯƠNG VIỆC LÀM CÔNG
GIẢM NGHÈO
ỐM ĐAU
TAI NẠN LĐ - BỆNH NN
HƯU TRÍ
TỬ TUẤT BHXH TỰ NGUYỆN HƯU TRÍ
TỬ TUẤT
BH THẤT NGHIỆP BẢO HIỂM HƯU TRÍ BỔ SUNG
TRỢ GIÚP XÃ HỘI THƯỜNG XUYÊN
ĐỒNG
HỖ TRỢ TIỀN MẶT
Y tế
THÔNG TIN
HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 2012 - 2020
Trang 27Một là, hệ thống chính sách, giải pháp và các chương trình phát tiển thị
trường lao động, mà trọng tâm là trợ giúp tạo nghề, tạo việc làm cho các đối tượng yếu thế, chưa có việc làm trong thị trường lao động; trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp đào tạo lại nghề cho số lao động dôi dư do quá trình sắp xếp lại các doanh nghiệp, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước Đào tạo nghề, giải quyết việc làm gắn liền với triển khai các chương trình phát triển kinh tế - xã hội đảm bảo thực hiện có hiệu quả chương trình xóa đòi, giảm nghèo bền vững
Hai là, phát triển hệ thống bảo hiểm như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
(tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân), bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, bảo hiểm sản xuất và các hình thức bảo hiểm phù hợp khác Phát triển mạnh cả các hình thức bảo hiểm bắt buộc và các hình thức bảo hiểm tự nguyện
Ba là, xây dựng và thực hiện tốt các chính sách ưu đãi đối với những người
có công, thương binh, gia đình liệt sĩ Hoàn thiện các chính sách và hệ thống trợ giúp xã hội linh hoạt, ứng phó có hiệu quả với các biến cố, rủi ro (trợ giúp đột xuất và trợ giúp thường xuyên) Nâng cao vai trò của Nhà nước cùng với đẩy mạnh phát triển các hình thức trợ giúp xã hội, cứu trợ xã hội tự nguyện, nhân đạo, dựa vào cộng đồng; chú trọng đối với các nhóm dân cư dễ bị tổn thương, các đối tượng bảo trợ xã hội
Bốn là, phát triển hệ thống phúc lợi xã hội và hệ thống dịch vụ xã hội, nâng
cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội, trước hết là các dịch vụ công cộng cơ bản, thiết yếu như: y tế, giáo dục, văn hóa, thông tin… cho mọi người dân, nhất
là đối với người nghèo, vùng nghèo
1.4 Vai trò, chức năng, nguyên tắc của an sinh xã hội
1.4.1 Vai trò của an sinh xã hội
Trong thời gian gần đây, hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam ngày càng thể hiện vai trò to lớn của nó đối với sự phát triển và ổn định kinh tế - xã hội, đó là:
Thứ nhất, an sinh xã hội góp phần ổn định đời sống của người lao động Hệ
thống an sinh xã hội sẽ góp phần thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi người lao động bị ốm đau, mất khả năng lao động, mất việc làm, hoặc chết Nhờ
có sự thay thế hoặc bù đắp thu nhập kịp thời mà người lao động khắc phục nhanh chóng được những tổn thất về vật chất, nhanh phục hồi sức khỏe, ổn định cuộc sống để tiếp tục quá trình hoạt động bình thường
Thứ hai, an sinh xã hội góp phần đảm bảo an toàn, ổn định cho toàn bộ nền
kinh tế - xã hội Để phòng ngừa, hạn chế tổn thất, các đơn vị kinh tế phải đề ra
Trang 28các quy định chặt chẽ về an toàn lao động buộc mọi người phải tuân thủ Khi có rủi ro xảy ra với người lao động, hệ thống an sinh xã hội kịp thời hỗ trợ, tạo điều kiện cho người lao động nhanh ổn định cuộc sống và sản xuất Tất cả những yếu
tố đó góp phần quan trọng làm ổn định nền kinh tế - xã hội
Thứ ba, hệ thống an sinh xã hội, trong đó có bảo hiểm xã hội (BHXH) làm
tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước Người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước đều tham gia đóng góp vào quỹ BHXH, điều đó làm cho người lao động có trách nhiệm hơn trong công việc, trong lao động sản xuất Người sử dụng lao động tham gia đóng góp quỹ BHXH cho người lao động được hưởng các chế độ BHXH cũng thấy rõ trách nhiệm của mình đối với người lao động Nhà nước vừa tham gia đóng góp, vừa điều hành hoạt động của quỹ BHXH, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng cho mọi đối tượng thụ hưởng… Điều đó làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa Nhà nước - người sử dụng lao động - người lao động, góp phần ổn định nền kinh
tế - xã hội
Thứ tư, hệ thống an sinh xã hội góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và
công bằng xã hội Quỹ an sinh xã hội, trong đó có quỹ BHXH là nguồn tài chính tập trung khá lớn, được sử dụng để chi trả các chế độ cho người lao động và gia đình họ, phần nhàn rỗi được đầu tư vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh để bảo tồn và tăng trưởng quỹ Như vậy, xét trên cả phương diện chi trả các chế độ, cũng như đầu tư tăng trưởng quỹ, hoạt động của quỹ an sinh xã hội đều góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế
Bên cạnh đó, phân phối trong an sinh xã hội là sự phân phối lại theo hướng
có lợi cho những người có thu nhập thấp; là sự chuyển dịch thu nhập của những người khỏe mạnh, may mắn có việc làm ổn định cho những người ốm, yếu, gặp phải những biến cố rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống Vì vậy, an sinh xã hội góp phần làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, góp phần bảo đảm sự công bằng xã hội
An sinh xã hội là một trong những chính sách xã hội cơ bản thể hiện đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước ta hướng vào mục tiêu phát triển con người, thúc đẩy công bằng và tiến bộ, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước Để chính sách này đảm bảo tốt hơn đời sống cho người dân, góp phần tích cực vào việc ổn định, an toàn xã hội,
Trang 29đẩy mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước thì việc xây dựng và hoàn thiện Pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam là hết sức cần thiết Pháp luật an sinh xã hội phải trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựu lập pháp đã đạt được cũng như điều chỉnh các quan hệ mới theo điều kiện thực tế để Việt Nam có được một hệ thống an sinh xã hội phát triển, đủ sức chống đỡ với các rủi ro xã hội
1.4.2 Chức năng của an sinh xã hội
Mặc dù còn có các quan điểm, định nghĩa và vai trò khác nhau về an sinh
xã hội nhưng đều thống nhất hệ thống an sinh xã hội có các chức năng cơ bản sau đây:
- Một là, bảo đảm thu nhập ở mức tối thiểu
Đây là chức năng cơ bản nhất của an sinh xã hội An sinh xã hội có vai trò cung cấp (có điều kiện hoặc không có điều kiện) mức tối thiểu thu nhập (mức sàn) bảo đảm quyền sống tối thiểu của con người, bao gồm các quyền về ăn, sức khỏe, giáo dục, nhà ở và một số dịch vụ xã hội cơ bản nhằm bảo vệ con người khỏi bị đói nghèo do không có thu nhập tạm thời hoặc vĩnh viễn
- Hai là, nâng cao năng lực quản lý rủi ro
Nền tảng của đảm bảo an sinh xã hội là quản lý rủi ro, bao gồm: (i) Phòng ngừa rủi ro: Hỗ trợ người dân chủ động ngăn ngừa rủi ro trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và biến động của môi trường tự nhiên; (ii) giảm thiểu rủi ro: Giúp cho người dân có đủ nguồn lực để bù đắp những thiếu hụt về thu nhập do các biến cố trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và môi trường tự nhiên và (iii) khắc phục rủi ro: Hỗ trợ kịp thời cho người dân để hạn chế tối đa các tác động không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát do các biến cố trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và môi trường tự nhiên và bảo đảm điều kiện sống tối thiểu của người dân
- Ba là, phân phối thu nhập
Một trong những chức năng quan trọng của an sinh xã hội là bảo đảm thu nhập cho những người/nhóm đối tượng khi không có khả năng tạo thu nhập Các chính sách giảm nghèo, các hình thức trợ giúp xã hội thường xuyên và đột xuất cho các nhóm đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương và phương châm“người trẻ đóng - người già hưởng” trong bảo hiểm xã hội, hay “người khỏe đóng - người ốm hưởng” trong bảo hiểm y tế thể hiện rõ chức năng chia sẻ rủi ro, phân phối lại thu nhập của an sinh xã hội, ngay cả khi phân phối không dựa trên sự đóng góp, mà dựa vào nhu cầu của cá nhân cũng như khả năng bảo đảm của ngân sách nhà nước
Trang 30- Bốn là, thúc đẩy việc làm bền vững và phát triển thị trường lao động
Hệ thống an sinh xã hội thúc đẩy việc làm bền vững, tăng cường kỹ năng
và các cơ hội tham gia thị trường lao động cho người lao động thông qua việc: (i) H ỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động (đặc biệt người nghèo, người nông thôn ), (ii) phát triển thông tin thị trường lao động và dịch vụ việc làm
để kết nối cung cầu lao động, giảm thiểu mất cân bằng cung cầu lao động; (iii)
hỗ trợ tạo việc làm trực tiếp cho một bộ phận người lao động thông qua các chương trình cho vay vốn tín dụng ưu đãi, chương trình việc làm công và các chương trình thị trường lao động khác; (iv) hỗ trợ chuyển đổi việc làm cho lao động mất đất, lao động di cư, lao động bị tác động bởi khủng hoảng kinh tế
- Năm là, nâng cao hiệu quả quản lý xã hội, thúc đẩy gắn kết xã hội và phát triển xã hội
Một hệ thống an sinh xã hội được xây dựng và thực thi có hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển của mỗi quốc gia, cụ thể như sau:
- Nâng cao hiệu quả quản lý xã hội:
Như trên đã nêu, an sinh xã hội là một trong 3 cấu phần của chính sách xã hội, là một trong những hệ thống chương trình, chính sách quan trọng để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Do vậy, an sinh xã hội là công cụ quản lý của nhà nước trong lĩnh vực phân phối và điều tiết phân phối Thông qua chính sách thuế và các chính sách chuyển nhượng xã hội, nhà nước thực hiện vai trò điều tiết, phân phối lại thu nhập giữa các khu vực kinh tế, các vùng kinh tế, các nhóm dân cư và các thế hệ
- Xóa đói giảm nghèo, giảm bất bình đẳng, thu hẹp chênh lệch về điều kiện sống theo vùng, các nhóm dân cư
Mục tiêu đầu tiên của an sinh xã hội là giảm nghèo, giảm bất bình đẳng
và phân hóa giàu nghèo Nhà nước thông qua chính sách hỗ trợ người nghèo, các đối tượng yếu thế, điều chỉnh nguồn lực cho các vùng nghèo, vùng chậm phát triển, tạo nên sự phát triển hài hoà, giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng, hạn chế bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư, tạo nên sự đồng thuận giữa các giai tầng, các nhóm xã hội trong quá trình phát triển và duy trì sự ổn định xã hội
- Góp phần tăng trưởng kinh tế và gắn kết xã hội:
Thông qua hỗ trợ người nghèo, người yếu thế tham gia thị trường lao động, giảm nghèo, giảm bất bình đẳng an sinh xã hội nâng cao nguồn vốn
Trang 31con người, tăng cường cơ hội và phát triển con người và tăng cường sự hòa nhập , là tiền đề cho tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và tăng cường gắn kết xã hội
- Hướng tới tương lai tốt đẹp hơn:
Một hệ thống an sinh xã hội được thiết kế hiệu quả có thể tạo điều kiện cho mỗi cá nhân được phát triển độc lập, chủ động và nhiều cơ hội đầu tư tốt hơn cho tương lai Ngày nay, trong hầu hết các nước, các chỉ số an sinh xã hội đều là những chỉ số rất quan trọng gắn với phát triển con người và xã hội như: tình trạng sức khỏe, giáo dục, thu nhập, nhà ở, tuổi thọ, tầm vóc
An sinh xã hội được coi là công cụ để đầu tư cho tương lai, giảm rủi ro trong tương lai
- Sáu là, hỗ trợ người dân vượt qua khủng hoảng
Các nước đang phát triển ngày càng có nhu cầu thiết kế và phát triển hệ thống an sinh xã hội nhằm hỗ trợ người nghèo và người yếu thế trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế và các biến động có phạm vi người dân bị ảnh hưởng mạnh do: số lượng các chương trình an sinh xã hội hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu về an sinh của người dân Phạm vi bao phủ của chính sách an sinh xã hội bị hạn chế, chỉ phục vụ cho một nhóm dân cư, thông thường là nhóm dân cư “khỏe hơn, tốt hơn” trong xã hội
1.4.3 Các nguyên tắc cơ bản của an sinh xã hội
Mặc dù các hệ thống an sinh xã hội ở các quốc gia khác nhau có mục tiêu, công cụ khác nhau, song đều có chung một số nguyên tắc xây dựng như sau:
- Nguyên tắc đoàn kết: Nguyên tắc này thể hiện sự gắn bó đoàn kết giữa
các cá nhân, nhóm trong xã hội như gia đình, cộng đồng; giữa Nhà nước với người dân và các đối tác xã hội, đồng thời mang tính đạo lý, nhấn mạnh ý nghĩa của sự tương trợ lẫn nhau trong nội bộ và giữa các nhóm trong xã hội;
- Nguyên tắc chia sẻ: Dựa trên cơ chế phân phối lại thu nhập giữa các
nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ, giữa nhà nước, doanh nghiệp,
hộ gia đình và cá nhân;
- Nguyên tắc công bằng: Thể hiện mối quan hệ giữa đóng góp với
hưởng lợi, giữa mức hưởng lợi hay đóng góp của các nhóm đối tượng có cùng hoàn cảnh và điều kiện Việc thực hiện nguyên tắc này nhằm khuyến
Trang 32khích người lao động tích cực tham gia vào hệ thống thông qua tính công khai, minh bạch;
- Nguyên tắc nâng cao trách nhiệm cá nhân: Thể hiện trách nhiệm cá
nhân tham gia vào thực hiện chính sách, đóng góp vào các chương trình xã hội Bảo đảm tính thỏa đáng, thích đáng và bền vững trong từng chính sách, chương trình và của hệ thống trong dài hạn;
- Nguyên tắc tập trung hỗ trợ: Bảo đảm mức sống tối thiểu cho người dân
khi bị rủi ro làm suy giảm hoặc mất thu nhập tạm thời hay vĩnh viễn, đặc biệt là người nghèo, đối tượng dễ bị tổn thương
1.5 Mối quan hệ an sinh xã hội và công tác xã hội
Công tác xã hội và an sinh xã hội đều có chung mục đích là bảo vệ sự an toàn cho các thành viên trong xã hội là đối tượng yếu thế, đối tượng có vấn đề
xã hội, bảo vệ sự bình yên cho xã hội
An sinh xã hội không chỉ dừng lại ở viêc thực hiện chức năng bảo đảm an toàn cho các thành viên trong xã hội khi họ gặp rủi ro, trợ giúp các cá nhân vượt qua khó khăn, rủi ro trong cuộc sống mà còn có chức năng đảm bảo giải quyết
và ngăn ngừa khó khăn, rủi ro một cách triệt để, lâu dài và phù hợp với các đối tượng khác nhau An sinh xã hội cung cấp những dịch vụ xã hội cơ bản nhằm đáp ứng nhu cầu cần được bảo vệ của các thành viên trong xã hội trong đó có nhóm yếu thế, nhóm có vấn đề xã hội Công tác xã hội (CTXH) là hoạt động mang tính chuyên nghiệp nhằm huy động mọi nguồn lực của người dân, của cả cộng đồng để giải quyết các vấn đề phát sinh, các mâu thuẫn, bất bình đẳng, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, phúc lợi và hạnh phúc của con người, vì tiến bộ, công bằng, phồn vinh của xã hội Với điều kiện ở Việt Nam, CTXH càng có ý nghĩa to lớn, là một trong những nhân tố quyết định sự thành công bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy sự phát triển ổn định, bền vững, đưa từ quốc gia đói nghèo vươn lên trở thành điểm sáng của thế giới về thực hiện các mục tiêu
về kinh tế, xã hội trong giai đoạn đổi mới đất nước hiện nay
An sinh xã hội và công tác xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với nhau thông qua việc tư vấn, tham vấn và trợ giúp xã hội đối với các đối tượng yếu thế, các
cá nhân, nhóm xã hội, các gia đình, cộng đồng có vấn đề xã hội, cung cấp dịch
vụ xã hội cho các đối tượng có vấn đề xã hội Sự kết hợp giữa việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội với thực hành công tác xã hội trên từng vùng, địa
Trang 33phương trên từng nhóm đối tượng cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng sẽ mang lại hiệu quả tích cực hơn cho xã hội, bởi vì sự phối kết hợp không những tăng thêm nguồn lực về tài chính mà còn tăng thêm cả nguồn lực về con người trong trợ giúp các đối tượng xã hội, tăng thêm tình đoàn kết, nghĩa cử nhân văn cao đẹp
Do đó, sự tác động của cả hai hệ thống công tác xã hội và an sinh xã hội sẽ làm cho cộng đồng phát triển hơn và bền vững hơn
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới hệ thống an sinh xã hội
1.6.1 Thể chế chính sách về an sinh xã hội
Thể chế chính sách đóng vai trò quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội Nội dung cơ bản của thể chế này là xác định khuôn khổ pháp lý (luật, các văn bản dưới luật), phạm vi các chính sách/chế độ, đối tượng tham gia, tiêu chí, điều kiện tham gia, cơ chế đóng góp (tuỳ từng hình thức, chế độ), quyền lợi hưởng thụ và những điều kiện ràng buộc Thể chế chính sách còn xác định trách nhiệm của bộ, ngành địa phương trong việc thực hiện chính sách, chế độ đề ra
Thể chế chính sách được hình thành từ nhu cầu thực tế của các thành viên trong xã hội cần được bảo vệ trước các nguy cơ bị rủi ro mà họ không
tự bảo vệ được Tuy nhiên, không phải mọi thành viên trong xã hội đều có nhu cầu và có cơ hội ngang nhau trong việc tham gia và thụ hưởng các chính sách an sinh xã hội An sinh xã hội được hình thành và phát triển theo từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, ngay cả những nước coi an sinh xã hội
là quyền của người dân, lộ trình để thực hiện mục tiêu an sinh xã hội toàn dân cũng phải kéo dài trong nhiều năm, thậm chí hàng thế kỷ: Ví dụ Pháp, Đức cần khoảng 70 năm, Thụy Điển trên 100 năm, Nhật Bản kéo dài khoảng
60 năm
1.6.2 Thể chế tài chính
Thể chế tài chính đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm nguồn lực thực hiện các chính sách an sinh xã hội Thể chế tài chính xác định cơ chế đối với từng loại chính sách, từng nhóm đối tượng (tỷ lệ đóng góp của người dân, người sử dụng lao động, của Nhà nước); cơ chế cân đối thu - chi, đầu tư phát triển quỹ; giá cả, cơ chế và chất lượng cung cấp dịch vụ an sinh xã hội
Cơ chế tài chính của các hợp phần của an sinh xã hội không hoàn toàn giống nhau Các loại hình bảo hiểm có thể áp dụng cơ chế có đóng có hưởng, còn đa số hợp phần trợ giúp xã hội thì nguồn tài chính lại chủ yếu do ngân sách nhà nước cung cấp
Thể chế tài chính của hệ thống an sinh xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với
Trang 34chính sách thuế và tài chính và phụ thuộc vào mô hình hệ thống an sinh xã hội Ví
dụ, các nước theo mô hình Nhà nước phúc lợi thường thu thuế cao (kể cả thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập gia tăng hoặc thuế xuất nhập khẩu cũng như các khoản lệ phí khác) để có nguồn thực hiện các chính sách an sinh xã hội tốt hơn cho mọi người dân Ngược lại, các nước theo mô hình Nhà nước xã hội khuyến khích tăng trưởng nhanh hơn nên thu thuế thấp hơn và chỉ thực hiện các chính sách an sinh xã hội ở mức thấp, với phạm vi chính sách và đối tượng bao phủ hạn chế Trong thể chế tài chính, vấn đề hỗ trợ của nhà nước cho người tham gia hệ thống an sinh xã hội có ý nghĩa rất quan trọng Người nghèo, người lao động khu vực phi chính thức thường có thu nhập thấp và không ổn định, do vậy nếu không có sự tài trợ của Nhà nước thì khó tham gia vào hệ thống an sinh xã hội Việc bố trí nguồn tài chính cho các chính sách an sinh xã hội tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế - xã hội của từng quốc gia Một số nước phát triển, ngân sách nhà nước dành cho các chính sách an sinh xã hội có thể lên tới 30% tổng ngân sách nhà nước, hay khoảng 15% GDP, trong khi đối với các nước đang phát triển (trong đó có Việt nam), chỉ khoảng dưới 5% GDP
1.6.3 Các đối tác tham gia
Các đối tác tham gia có vai trò quan trọng trong việc tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội, bao gồm: các đối tác khu vực nhà nước, khu vực tư nhân, các tổ chức chính trị - xã hội Mỗi nhân tố nêu trên đều có vai trò quan trọng và có mối quan hệ biện chứng với nhau, phụ thuộc và chi phối lẫn nhau, góp phần phát triển hệ thống an sinh xã hội ổn định và bền vững
Sơ đồ 1.4 Các đối tác tham gia hệ thống an sinh xã hội
Trang 35Các đối tác khu vực nhà nước gồm: các cơ quan lập pháp - Quốc hội thông qua các luật về an sinh xã hội hoặc các luật riêng (luật bảo hiểm y tế, luật bảo hiểm xã hội…) và giám sát việc thực hiện; các cơ quan hành pháp bao gồm các Bộ, ngành của Chính phủ quản lý hoạt động của từng chính sách theo các cấp (trung ương, tỉnh, huyện, xã); các cơ quan tư pháp như tòa xã hội
Các đối tác tư nhân gồm: các công ty cung cấp dịch vụ an sinh xã hội (công ty bảo hiểm, bệnh viện, trường học…); các nhóm tương trợ; gia đình,
họ hàng, bạn bè, cá nhân
Các hiệp hội, tổ chức từ thiện gồm: công đoàn; các nghiệp đoàn, các tổ chức khác của người lao động; các tổ chức phi chính phủ; hội chức thập đỏ, nhà thờ
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1
1 Phân tích bản chất của an sinh xã hội?
2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống an sinh xã hội?
3 Phân tích chức năng vài vai trò của an sinh xã hội?
4 Tóm tắt những mốc lịch sử hình thành an sinh xã hội và các mô hình an sinh xã hội trên thế giới và Việt Nam
5 Các yếu tố ảnh hưởng đến an sinh xã hội hiện nay?
Trang 36Chương 2 BẢO HIỂM XÃ HỘI
Trong thực tế cuộc sống, không phải người lao động nào cũng có đủ điều kiện về sức khỏe, khả năng lao động hoặc những may mắn khác để hoàn thành nhiệm vụ lao động, công tác hoặc tạo nên cho mình và gia đình một cuộc sống
ấm no hạnh phúc Ngược lại, người nào cũng có thể gặp phải những rủi ro, bất hạnh như ốm đau, tai nạn, hay già yếu, chết hoặc thiếu công việc làm do những ảnh hưởng của tự nhiên, của những điều kiện sống và sinh hoạt cũng như các tác nhân xã hội khác… Để khắc phục những rủi ro, bất hạnh giảm bớt khó khăn cho bản thân và gia đình thì ngoài việc tự mình khắc phục, người lao động phải được
sự bảo trợ của cộng đồng và xã hội Sự xuất hiện của BH là một tất yếu khách quan khi mà mọi thành viên trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham gia
hệ thống BHXH và sự cần thiết tham gia bảo hiểm xã hội
Sau khi nghiên cứu chương này, người học có thể:
1 Xác định sự cần thiết của BH trong giai đoạn hiện nay và những vấn đề
cơ bản của BHXH;
2 Hiểu được bản chất, nguyên tắc của bảo hiểm xã hội;
3 Vận dụng được các chế độ bảo hiểm để giải quyết các tình huống trong bảo hiểm
2.1 Bảo hiểm xã hội bắt buộc
2.1.1 Khái niệm về BHXH
Bảo hiểm xã hội có lịch sử khá lâu và đã có nhiều thay đổi về chất với nhiều mô hình phong phú, được thực hiện ở hàng trăm nước trên thế giới Tuy nhiên, cho đến nay, định nghĩa thế nào là BHXH vẫn là vấn đề còn nhiều tranh luận vì được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau với những quan điểm khác nhau Điều này cho thấy tính đa dạng và phong phú của BHXH Chính vì vậy,
để có thể nêu được khái niệm này, có thể xuất phát từ việc trả lời những câu hỏi sau:
- Thứ nhất, tại sao lại phải có BHXH?
- Thứ hai, mục đích của BHXH là gì?
- Thứ ba, BHXH được thực hiện ra làm sao?…
Để trả lời cho câu hỏi thứ nhất, cần xuất phát từ cơ sở hình thành BHXH Như đã nêu ở đầu bài viết, BHXH hình thành và phát triển do nhu cầu của đời
Trang 37sống xã hội, nhất là khi hình thành nền sản xuất hàng hóa Trong lao động sản xuất, song song với những thuận lợi, con người thường gặp phải những sự kiện không thuận lợi, những “rủi ro xã hội” làm giảm hoặc mất thu nhập của họ Có thể chia những sự kiện, những “rủi ro xã hội” thành hai loại:
- Những sự kiện, những “rủi ro xã hội” liên quan đến thu nhập bao gồm: Mất hoặc giảm thu nhập do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc khả năng lao động không được sử dụng, ví dụ như tai nạn lao động, ốm đau, thất nghiệp…;
- Những sự kiện, những “rủi ro xã hội” liên quan đến sử dụng thu nhập: Đó
là các sự kiện giảm thu nhập do phải chi tiêu bất thường như chi phí để mua sắm thuốc men, tiền nuôi dưỡng sản phụ…
Những sự kiện, những “rủi ro xã hội” nêu trên, từ khía cạnh này hay khía cạnh khác đều dẫn đến đe doạ “an toàn kinh tế” cho người lao động và gia đình
họ (bị giảm hoặc mất thu nhập) Vì vậy, phải có những biện pháp và hình thức để chống lại sự đe dọa này mà một trong những biện pháp đó là BHXH Nói cách khác, BHXH được hình thành là để góp phần đảm bảo thu nhập cho người lao động và gia đình họ trước những sự kiện không thuận lợi, những “rủi ro xã hội” Câu hỏi thứ hai được trả lời từ hệ quả của câu trả lời cho câu hỏi thứ nhất
Có thể nêu rõ hơn, mục đích của BHXH là thông qua hệ thống các hình thức trợ cấp BHXH, bù đắp hoặc thay thế thu nhập cho người lao động và gia đình họ trước những sự kiện, những “rủi ro xã hội” làm cho người lao động bị giảm hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp, do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc sức lao động không được sử dụng, góp phần đảm bảo an toàn xã hội, ở đây cần làm
rõ khái niệm bù đắp và thay thế thu nhập Khi người lao động bị giảm thu nhập thì BHXH thực hiện bù đắp cho khoản thu nhập bị thiếu hụt này Tất nhiên, sự
bù đắp này chỉ có tính tương đối và tuỳ điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi nước
và khả năng của quỹ BHXH trong mỗi giai đoạn phát triển Khi người lao động
bị mất thu nhập do không thể lao động được hoặc sức lao động không được sử dụng (trường hợp thất nghiệp), BHXH thực hiện trả trợ cấp BHXH thay cho phần thu nhập bị mất này Khoản thu nhập thay thế này cũng tuỳ theo điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng của quỹ BHXH mà có thể thay thế toàn bộ hoặc một phần
Trang 38Vậy để để đạt được mục đích trên, BHXH được tổ chức thực hiện như thế nào? Đó là câu hỏi thứ ba cần được trả lời Lịch sử phát triển BHXH đã chỉ ra rằng, có một số cách thức tổ chức thực hiện để bù đắp hoặc thay thể thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp, như: Người lao động cùng giúp nhau; Nhà nước thực hiện thông qua ngân sách và hình thành một quỹ tài chính độc lập thông qua sự đóng góp của các bên tham gia BHXH (bao gồm người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước)… Trong BHXH hiện đại, hình thức thực hiện chủ yếu là hình thành quỹ BHXH do các bên đóng góp Từ cách tiếp cận này, có thể nêu khái niệm về BHXH như sau:
“BHXH là sự tổ chức bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc sức lao động không được sử dụng, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác, nhằm góp phần đảm bảo an toàn kinh tế cho người lao động và gia đình họ; đồng thời góp phần bảo đảm an toàn
- Từ giác độ tài chính: BHXH là thuật (kỹ thuật) chia sẻ rủi ro và tài chính giữa những người tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp luật
- Từ giác độ chính sách xã hội: BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống vật chất cho người lao động khi họ không may gặp phải các “rủi ro
xã hội”, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội…
Mối quan hệ xuyên suốt trong hoạt động BHXH là mối quan hệ giữa nghĩa
vụ, trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia BHXH Khác với bảo hiểm
Trang 39Người sử dụng lao động có trách nhiệm phải bảo hiểm cho người lao động
mà mình thuê mướn Khi tham gia BHXH, người sử dụng lao động còn vì lợi ích của chính họ Ở đây người sử dụng lao động cũng thực hiện san sẻ rủi ro với tập đoàn người sử dụng lao động, để bảo đảm cho quá trình sản xuất của họ không bị ảnh hưởng khi phát sinh nhu cầu BHXH
Nhà nước tham gia BHXH với tư cách là người bảo hộ cho các hoạt động của quỹ BHXH, bảo đảm giá trị đồng vốn, và hỗ trợ cho quỹ BHXH trong những trường hợp cần thiết Ngoài ra, Nhà nước tham gia BHXH còn với tư cách chủ thể quản lý, định ra những chế độ, chính sách, định hướng cho các hoạt động BHXH
- Bên BHXH, đó là bên nhận BHXH từ những người tham gia BHXH Bên BHXH thường là một số tổ chức (cơ quan, công ty…) do Nhà nước lập ra (ở một số nước có thể do tư nhân, tổ chức kinh tế - xã hội lập ra) và được Nhà nước bảo trợ, nhận sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động, lập nên quỹ BHXH Bên BHXH có trách nhiệm thực hiện chi trả trợ cấp cho bên được BHXH khi có nhu cầu phát sinh và làm cho quỹ BHXH phát triển
- Bên được BHXH là bên được quyền nhận các loại trợ cấp khi phát sinh những nhu cầu BHXH, để bù đắp thiếu hụt về thu nhập do các loại rủi ro được bảo hiểm gây ra Trong BHXH, bên được BHXH là người lao động tham gia BHXH và nhân thân của họ theo quy định của pháp luật, khi họ có phát sinh nhu cầu được BHXH do pháp luật quy định Giữa các bên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trong kinh tế thị trường, bên tham gia BHXH có thể đồng thời là bên được BHXH (lao động chẳng hạn) Đối với người lao động độc lập, họ vừa là người tham gia BHXH vừa là người được quyền hưởng BHXH vì họ đóng phí được BHXH để bảo hiểm cho chính họ
Trang 402.1.2 Sự ra đời và phát triển của BHXH
Bảo hiểm xã hội (BHXH) ra đời là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài giữa giai cấp công nhân làm thuê với giới chủ tư bản Kết quả này đã được các nước trên thế giới ghi nhận và đều cố gắng xây dựng cho mình một hệ thống BHXH phù hợp Qua nhiều năm nghiên cứu về BHXH, giáo sư Henri Kliller thuộc trường đại học Sol ray của Bỉ đã khẳng định rằng nguồn gốc của BHXH xuất phát từ những vấn đề kinh tế, chính trị xã hội sau đây:
Cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo điều kiện cho chủ nghĩa tư bản ra đời
và ngày càng lớn mạnh Xã hội tư bản chủ nghĩa là hiện thân của quan hệ tư hữu
về tư liệu sản xuất và sản xuất hàng hóa đã ra đời Kinh tế hàng hóa đã buộc các chủ tư bản phải thuê mướn lao động Sản xuất hàng hóa càng phát triển thì nhu cầu thuê mướn ngày càng tăng lên và đội ngũ những người gia nhập đội quân làm thuê ngày càng đông Vì vậy, giai cấp công nhân cũng đã ra đời từ cuộc cách mạng công nghiệp
Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên phổ biến Giai cấp công nhân là giai cấp công nhân làm thuê cho giới chủ và được giới chủ trả tiền công Lúc đầu giới chủ cam kết trả tiền lương, tiền công Người lao động bị bóc lột tàn bạo và bị đối xử không công bằng Giờ làm việc của họ thường bị kéo dài và cường độ lao động rất cao nhưng tiền công được trả rất thấp Hiện tượng ốm đau, tai nạn lao động xảy ra phổ biến Và với tiền công được trả đó họ không thể đảm bảo cuộc sống của mình cũng như gia đình mình Thêm vào đó, nhà nước cũng như giới chủ không hề quan tâm hay giúp đỡ họ Đứng trước tình hình đó giai cấp công nhân đã liên kết lại với nhau để tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau; lập ra các quỹ cứu trợ người ốm, người bị tai nạn; lập các tổ chức tương tế và vận động mọi người tham gia; đấu tranh tự phát với giới chủ như: đòi tăng lương giảm giờ làm; thành lập các tổ chức công đoàn và sau này là đấu tranh có tổ chức nhưng bị giới chủ đàn áp thậm tệ Giai cấp công nhân không đòi được quyền lợi mà còn bị tổn thất nặng nề Mâu thuẫn giữa giới chủ
và thợ ngày càng trầm trọng và sâu sắc Các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế
xã hội Do vậy, Nhà nước đã phải đứng ra can thiệp và điều hòa mâu thuẫn Sự can thiệp này một mặt làm tăng được vao trò của Nhà nước, mặt khác buộc cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng đối với người làm thuê Nhận thức được lợi ích của việc này nên cả giới chủ và thợ đều tham gia Ngoài nguồn đóng góp của giới chủ, thợ để hình thành qũy còn có sự