Hiểu biết về biển, đảo quê hương, thấu hiểu những dấu ấn cùa biển, đảo trong lịch sử - văn hỏa Việt Nam, cũng như nhận thức được vai trỏ, vị trí và ý nghĩa của biển, đảo tro[r]
Trang 1HÀ NGUYỄN
Trang 3LỜI GIỚI THIỆU
Nằm bên bờ Thải Bình Dương lộng gió, tựa vững chắc vào bán đảo Đông Dương (Indochina), hướng thảng ra Biển bông, trong suốt chiều dài lịch sử, biển đảo luôn là một phần máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam Từ nghìn Nca, biển, đảo đã gắn liền với đời sống và tâm thức của hầu hết
°àc cộng đồng cư dân sinh sổng trên lãnh thổ Việt Nam Trong tlên trình phát triển của dân tộc, biển, đảo luôn gắn với những
•nôc son lịch sử vẻ vang.
Hiểu biết về biển, đảo quê hương, thấu hiểu những dấu ấn cùa biển, đảo trong lịch sử - văn hỏa Việt Nam, cũng như nhận thức được vai trỏ, vị trí và ý nghĩa của biển, đảo trong thực tế lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta không chỉ là tri thức cần thiết, mà còn là nghĩa vụ, là lương tri để gây dựng nơi tóp người Việt Nam hôm nay niềm tin tưởng sầu sắc và quyết tâm tiếp nổi truyền thống của bao lớp ông cha đi trước Đỏ là hành trang cho các thể hệ trong quá trình khai thác gìn giữ và hào vệ biển, đảo quê hương, đưa Việt Nam nhanh chóng và đình đạc hội nhập vào cộng đồng khu vực và quốc tế trong bối
°ảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ hiện nay.
Trang 4Cuốn sách nhỏ này sẽ cố gắng thâu tóm, bao quát, giới thiệu một so vẩn đề chỉnh liên quan đến biển, đảo Việt Nam, nhằm mang đến những tri thức cơ bản nhất về biển, đảo quê hương mà mồi người Việt Nam hôm nay không thể không biết Cùng những người biên soạn đầy tâm huyết, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông trân trọng đưa tập sách
“Giới thiệu về biển đảo Việt Nam ” đến tay bạn đọc Quả trình biên soạn sẽ khỏ tránh khỏi khiếm khuyết, bất cập, chủng tôi rẩt mong nhận được những ỷ kiến đỏng góp quỷ báu, để có thể kịp thời bổ sung„ sửa chữa và phục vụ độc giả được tổt hơn nữaỊ
Xin trân trọng cảm ơn!
NHÀ XUÁT BẢN THÔNG TIN VÀ TRUYÊN THÔNG
4
Trang 5Chương 1
VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA BIEN, đ ả o v i ệ t nam
TRONG BIỂN ĐÔNG
1 Vị trí các vùng biển, hải đảo Việt Nam
L / Điểu kiện tự nhiên Biển Đông
u l Vị trí
Biển Đông là một biển nửa kín, có diện tích khoảng 3,5 triệu km2, trải rộng từ 3° vĩ Bắc đến 26° vĩ Bắc và từ 100° kinh Đông đến 121° kinh Đông; là một trong những biển lớn nhất trên thế giới với 90% chu vi được bao bọc bởi đất liền
Có 9 nước tiếp giáp với Biển Đông là Việt Nam, Trung Quốc, Phi-líp-pin, In-đô-nê-xia, Bru-nây, Ma-lai-xia, Xin-ga-po, Thái Lan, Cam-pu-chia và một vùng lãnh thổ là Đài Loan Theo ước tính sơ bộ, Biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của khoảng 300 triệu dân các nước này Biển Đông không chỉ là địa bàn chiến lược quan trọng đối với các nước trong khu vực mà còn của cả Châu Á - Thái Bình Dương và Châu Mỹ
Biển Đông là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọng cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các nước xung quanh, đặc biệt là nguồn tài nguyên sinh
5
Trang 6vật, khoáng sản, du lịch, đồng thời đây cũng là khu vực đang chịu sức ép nhiều về bảo vệ môi trường sinh thái biển.
Nước ta giáp với Biển Đông ở ba phía Đông, Nam và Tây Nam Các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam là một phần Biển Đông trải dọc theo bờ biển dài khoảng 3.260 km, từ Quảng Ninh đến Kiên Giang, vói nhiều bãi biển đẹp như Trà
Cổ, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, Cam Ranh, Vũng Tàu Như vậy, cứ 100 km2 lãnh thổ đất liền có 1 km bờ biển, tỷ lệ này cao gấp 6 lần tỷ lệ trung bình của thế giới (600 km2 đất liền có
1 km bờ biển) Không một nơi nào trên lục địa của Việt Nam lại cách xa bờ biển hơn 500 km
Việt Nam có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa rộng lớn theo Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982; có hai quần đảo Hoàng Sa và Trựờng Sa nằm giữa Biển Đông và hàng nghìn đảo lớn, nhỏ, gần và xa bờ, hợp thành phòng tuyến bảo
vệ, kiểm soát và làm chủ các vùng biển và thềm lục địa
1.1.2 Địa hình đáy Biển Đông
Tại hầu hết các đại dương và biển trên thế giới đều tìm thấy 8 dạng địa hỉnh đáy chủ yếu: (1) thềm lục địa, (2) sườn lục địa, (3) chân lục địa, (4) lòng chảo biển, (5) các cung đảo,(6) các rãnh sâu, (7) các đồi ngầm và (8) các dãy núi ngầm Đáy Biển Đông cũng có những dạng địa hình tương tự
+ Thềm lục địa Biển Đông chiếm hơn 50% diện tích, phân bố ở độ sâu nhỏ hơn 200 m
Trang 7+ Sườn lục địa chiếm khoảng 25%, diện tích còn lại phân
bô ở độ sâu lớn hon 2.000 m và thuộc lòng chảo trung tâm, các rãnh sâu, các bãi cạn, các cung đảo và các dãy núi ngầm
+ Giữa phần trũng sâu phía Bắc và phía Nam Biển Đông được nối sâu với nhau bằng một máng sâu trung tâm, rìa các trũng sâu là các dãy núi ngầm
ỉ 1.3 Chế độ nhiệt muổi Biển Đông
Nhiệt độ và độ muối (độ mặn) là hai đặc trưng vật lý cơ bản nhất của nước biển chi phối mọi quá trình thủy nhiệt động lực biển, đồng thời đảm bảo tồn tại và phát triển đời sống sinh vật trong biển Khác với nước trên lục địa, nước biển được đặc trưng bởi độ muối Độ muối trung bình của nước đại dương thế giới là 35 phần nghìn (có 35 gam chất khoáng rắn hòa tan trong 01 kg nước biển) Sự biến đổi của độ muối phụ thuộc vào nhiệt độ nước, chế độ khí tượng trên biển, vị trí địa
lý và các quá trình động lực biển Độ muối của lớp nước mặt Biển Đông biến động từ 32 đến 34,5 phần nghìn (trừ vùng cửa sông) Khu vực độ muối có giá trị cao là Đông Bắc Biển Đông, nơi có sự giao lưu với khối nước Thái Bình Dương qua
eo biển Basi và eo biển Đài Loan, ít chịu ảnh hưởng của nước lục địa và quá trình bốc hơi mặt biển mạnh Tháng có độ muối cao là tháng 1 đến tháng 3 Khu vực độ muối thấp là vùng ven
bờ do tác động mạnh của dòng nước lục địa Thời kỳ độ muối giảm thấp nhất là mùa hè, tháng 7 - 8 do mưa nhiều trên mặt biển và nước lục địa đổ ra với khối lượng lớn
7
Trang 8Phân bố nhiệt - muối của nước biển phản ánh cấu trúc khối nước và chế độ động lực nước biển Lớp nước mặt của Biển Đông tồn tại các khối nước là khối nước lạnh và nhạt ven bờ, khối nước ngoài khơi Đông Bắc và ngoài khơi Nam Biển Đông, khối nước trồi mùa hè Giữa các khối nước là các íront thủy văn với đặc trưng gradient ngang nhiệt, muối rất lớn Các đàn cá thường tập trung gần các íront thủy văn, sự biến động của front dẫn đến sự di cư của các đàn cá khai thác
và các loại hải sản
1 ỉ 4 Dòng chảy Biển Đông
Dòng chảy lóp nước mặt Biển Đông là kết quả của quá trình tương tác biển - khí quyển Dòng chảy quan trắc được trên mặt biển là tổng hợp của ba dòng chảy thành phần: dòng chảy gió, dòng chảy địa chuyển và dòng chảy thủy triều Hai thành phần đầu rất khó xác định, có thể sử dụng các số liệu đo thực tế và mô hình toán học để định lượng chúng Kết họp cả hai phương pháp chúng ta đã xây dựng được bản đồ chế độ dòng chảy Biển Đông đặc trưng cho hai mùa (mùa đông và mùa hè), phản ánh những quy luật cơ bản của hoàn lưu lớp nước mặt dưới tác động của chế độ gió mùa Tại Vịnh Bắc
Bộ, một hoàn lưu xoáy thuận luôn luôn tồn tại và một dòng mạnh hướng về Nam dọc theo bờ biển (trong mùa đông dòng chảy này xâm nhập sâu xuống vùng biển Bình Thuận và xa hơn) Vào mùa hè, dưới tác động của gió mùa Tây Nam đã hình thành dòng chảy mạnh Tây Nam dọc theo bờ Biển Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ lên phía Bắc và gặp dòng chảy từ
Trang 9phía Bắc xuống ở khoảng 16° Nam, sau đó chúng lệch hướng
về phía Đông ra vùng biển trung tâm tạo các xoáy quy mô lớn
ở phần phía Bắc và phía Nam Biển Đông
1 1.5 Thủy triều Biển Đông
Chế độ thuỷ triều Biển Đông là kết quả của sóng thuỷ triều truyền từ Thái Bình Dương và một phần từ Ấn Độ Dương qua các eo biển lớn và bị chi phối bởi các dạng địa hình phức tạp của biển Thuỷ triều Thái Bình Dương có bản chất bán nhật triều, khỉ truyền vào Biển Đông trở thành nhật triều là chủ yếu và biên độ tăng lên đáng kể Nhật triều đều điển hình quan trắc thấy ở Hòn Dấu (Hải Phòng) và Hồng Gai (Quảng Ninh), đó là khu vực có biên độ triều lớn nhất Biển Dông (4 m) Chế độ thuỷ triều dọc bờ biển Việt Nam rất đa dạng và luôn biến động Ở đây có thể quan trắc thấy cả bốn dạng thuỷ triều: nhật triều đều, nhật triều không đều, bán nhật triều và bán nhật triều không đều
1.2 Các khu vực biển, đảo, thềm Ịục địa Việt Nam trong Biển Đông
Biển, thềm lục địa và hải đảo nước ta nằm trong Biển Dông có nhiều khu vực khác nhau, nhưng nổi bật và có những đặc điểm cần chú ý hơn là Vịnh Bắc Bộ, Vịnh Thái Lan, hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và một số đảo, quần đảo khác
1.2.1 Vịnh Bắc Bộ
Vịnh Bắc Bộ nằm về phía Tây Bắc Biển Đông, được bao bọc bởi bờ biển và hải đảo của miền Bắc Việt Nam ở phía
9
Trang 10Tây; bởi lục địa Trung Quốc ở phía Bắc; bởi bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam ở phía Đông Vịnh Bắc Bộ trải rộng từ khoảng kinh tuyến 105°36’ Đông đến khoảng kinh tuyến 109°55’ Đông, trải dài từ vĩ tuyến 21°55’ Bắc đến vĩ tuyến 17°10’ Bắc Diện tích khoảng 1-26.250 km2, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 310 km và nơi hẹp nhất khoảng 220 km.Vịnh Bắc Bộ là vịnh tương đối nông, độ sâu trung bình khoảng từ 40 - 50 m, nơi sâu nhất khoảng 100 m; đáy biển tương đối bằng phẳng, độ dốc nhỏ Thềm lục địa thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam ra biển khá rộng, độ dốc thoải và có một lòng máng sâu trên 70 m gần đảo Hải Nam của Trung Quốc Bờ vịnh khúc khuỷu và ven bờ có nhiều đảo Phần vịnh phía Việt Nam có hàng nghìn đảo lớn, nhỏ, đảo Bạch Long Vĩ có diện tích 2,5 km2 cách đất liền Việt Nam 110 km, cách đảo Hải Nam của Trung Quốc 130 km Có nhiều nguồn lợi hải sản (trữ lượng cá của Việt Nam khoảng 44 vạn tấn) và tiềm năng dầu khí.
Vịnh Bắc Bộ có hai cửa thông với bên ngoài: Cửa phía Nam ra trung tâm Biển Đông, nơi hẹp nhất rộng khoảng 240
km, cửa phía Đông qua eo biển Quỳnh Châu (nằm giữa bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam) ra phía Bắc Biển Đông, nơi hẹp nhất khoảng 18 km
1.2.2 Vịnh Thái Lan
Vịnh Thái Lan nằm ở phía Tây Nam của Biển Đông, được bao bọc bởi bờ biển Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Ma-lai-xia
Trang 11Vịnh Thái Lan có diện tích khoảng 293.000 km2, chu vi khoảng 2.300 km, chiều dài vịnh khoảng 628 km Đây là một vịnh nông, nơi sâu nhất chỉ khoảng 80 m Đảo Phú Quốc là đảo lớn nhất của Việt Nam, diện tích 567 km2.
Vịnh Thái Lan có nhiều nguồn lợi hải sản (trữ lượng cá của Việt Nam khoảng 51 vạn tấn) và có tiềm năng dầu khí lớn mà hiện nay các nước liên quan đang tiến hành thăm dò, khai thác
1.2.3 Các đảo và quần đảò
Vùng biển ven bờ Việt Nam có khoảng 2.773 hòn đảo lớn, nhỏ, chủ yếu nằm ở Vịnh Bắc Bộ, sổ còn lại phân bố ở khu vực biển Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ
và Tây Nam Ngoài ra, có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa ở giữa Biển Đông
Căn cứ vị trí chiến lược và các điều kiện địa lý, kinh tế, dân cư người ta có thể chia các đảo, quần đảo thành các nhóm:
- Hệ thống đảo tiền tiêu, có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trên các đảo có thể lập những căn cứ kiểm soát vùng biển, vùng trời nước ta, kiểm tra hoạt động của tàu, thuyền, bảo đảm an ninh quốc phòng, xây dựng kinh tế, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Đó là các đảo, quần đảo: Hoàng Sa, Trường Sa, Chàng Tây, Thổ Chu, Phú Quốc, Côn Đảo, Phú Quý, Lý Sơn, cồn
Cỏ, Bạch Long Vĩ
11
Trang 12- Các đảo lớn có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh té - xã hội Đó là các đảo như: Cát Bà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc
- Các đảo ven bờ gần đất liền, có điều kiện phát triển nghề cá, du lịch và cũng là căn cứ để bảo vệ trật tự, an ninh trên vùng biển và bờ biển nước ta Đó là các đảo thuộc huyện đảo Cát Bà (Hải Phòng), huyện đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), huyện đảo Phú Quý (Bình Thuận), huyện đảo Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu), huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang) v.v
* Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa
Quần đảo Hoàng Sa là một quần đảo san hô, phân bố rải rác trong một phạm vi từ khoảng kinh tuyến 111° Đông đến 113° Đông; từ vĩ tuyến 15°45’Bắc đến 17°15’ Bắc, ngang với Huế và Đà Nang, phía ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, ở khu vực phía Bắc Biển Đông, trên con đường biển quốc tế từ châu Âu đến các nước ở phía Đông và Đông Bắc Á và giữa các nước châu
Á với nhau
Quần đảo Hoàng Sa gồm trên 37 đảo, đá, bãi cạn, chia làm hai nhóm: nhóm phía Đông có tên là nhóm An Vĩnh, gồm khoảng 12 đảo, đá, bãi cạn, trong đó có hai đảo lớn là Phú Lâm và Linh Côn, mỗi đảo rộng khoảng 1,5 km2; nhóm phía Tây gồm nhiều đảo xếp vòng cung nên gọi là nhóm Lưỡi Liềm, trong đó có đảo Hoàng Sa (diện tích gần 1 km2), Quang Ánh, Hữu Nhật, Quang Hòa, Duy Mộng, Chim Yến, Tri Tôn
Trang 13Cách quần đảo Hoàng Sa khoảng 200 hải lý về phía Nam
là quần đảo Trường Sa, bao gồm hơn 100 đảo, đá, bãi ngầm, bãi san hô, khoảng từ vĩ tuyến 6°30’ Bắc đến 12° Bắc và khoảng từ kinh tuyến 111°30’ Đông đến 117°20’ Đông, cách Cam Ranh 248 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) 595 hải lý
Quần đảo Trường Sa được chia làm tám cụm: Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm, Bình Nguyên Song Tử Tây là đảo cao nhất (cao từ 4 đến 6m lúc triều xuống); Ba Bình là đảo rộng nhất (0,6 km2).Điều kiện tự nhiên và khí hậu vùng này rất khắc nghiệt: nắng gió, giông bão thường xuyên, thiếu nước ngọt, nhiều đảo không có cây Quần đảo Trường Sa không chỉ là vị trí quân sự chiến lược án ngữ phía Đông Nam nước ta mà còn là một vùng có trữ lượng tài nguyên khá lớn, có nhiều loại động thực vật phong phú, đa dạng
Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vị trí hết sức quan trọng đối với đất nước ta Trước hết, hai quần đảo này nằm giữa Biển Đông, nơi có những tuyến đường hàng hải quan trọng nhất của thế giới đi qua Ngoài ra, do vị trí nằm trải dài theo hướng bờ biển Việt Nam, Hoàng Sa và Trường
Sa là những vị trí tiền tiêu bảo vệ sườn đông của đất nước,
cũng như các vùng biển và bờ biển của Việt Nam v ề kinh tế,
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên sinh vật và khoáng sản phong phú, đa dạng, đặc biệt là nguồn tài nguyên dầu khí
13
Trang 14Đào Hừu Nhật (Quần đảo Hoàng Sa)
Trang 15Đảo Lười Liềm (Quần đảo Hoàng Sa)
\5
Trang 16Cột hải đăng trên đảo Hoàng Sa (1937)
2 Vai trò của biển, đảo Việt Nam
2.1 Biển, đảo là nguồn tài nguyên vô giá để phát triển đất nước
2.1.1 Tài nguyên sinh vật
Biển Đông có nguồn tài nguyên sinh vật phong phú và
đa dạng, có đến trên 160.000 loài, gần 10.000 loài thực vật
và 260 loài chim sống ở biển Trữ lượng các loài động vật ở biển ước tính khoảng 32,5 tỷ tấn, trong đó, các loài cá chiếm 86% tổng trữ lượng
Biển Việt Narri có trên 2.458 loài cá gồm nhiều bộ, họ khác nhau, trong đó có khoảng 110 loài có giá trị kinh tế cao
Trang 17Trữ lượng cá ở vùng biển nước ta khoảng 5 triệu tấn/năm, trữ lượng cá có thể đánh bắt hàng năm khoảng 2,3 triệu tấn Các loài động vật thân mềm ở Biển Đông có trên 1.800 loài, trong đó có nhiều loài là thực phẩm được nhiều người ưa thích như: mực, hải sâm
Chim biển: Các loài chim biển ở nước ta cũng vô cùng phong phú: hải âu, bồ nông, chim rẽ, hải yến.:*
Ngoài động vật, biển Việt Nam còn cung cấp cho con hgười nhiều loại rong biển có giá trị Đây là nguồn thực phẩm êiàu dinh dưỡng và là nguồn dược liệu phong phú Biển nước
ta có khoảng 638 loài rong biển Các loại rong biển dễ gây trông, ít bị mất mùa và cho năng suất thu hoạch cao nên nó sẽ
là nguồn thực phẩm quan trọng của loài người trong tương lai Hiện nay, trên thế giới trồng và khai thác khoảng 2 triệu tấn tong biển tươi
2.1.2 Tài nguyên phi sinh vật
Dầu khí là tài nguyên lớn nhất ở thềm lục địa nước ta có tâm chiến lược quan trọng Đến nay, chúng ta đã xác định dược tổng tiềm năng dầu khí tại các bể trầm tích: Sông Hồng, t*hú Khánh, Nam Côn Sơn, Cửu Long, Malay - Thổ Chu, Vũng Tư - Vũng Mây khoảng 10 tỷ tấn quy dầu Ngoài ra,
Việt Nam còn có khí đốt với trữ lượng khai thác khoảng 3.000
tỷ m3/năm Trữ lượng đã được xác minh là gần 550 triệu tấn dầu và trên 610 tỷ m3 khí Trữ lượng khí đã được thẩm lượng, dang được khai thác và sẵn sàng để phát triển trong thời gian tới vào khoảng 400 tỷ m3
Trang 18Với các biện pháp đồng bộ, đẩy mạnh công tác tìm kiếm - thăm dò, khoảng từ 40 đến 60% trữ lượng nguồn khí thiên nhiên của nước ta sẽ được phát hiện đến năm 2010 Hiện nay, ngành Dầu khí nước ta đang khai thác dầu khí chủ yếu tại sáu khu mỏ bao gồm: Bạch Hổ, Đại Hùng, Rồng, Hồng Ngọc, Rạng Đông, và PM3 (Bunga Kekwa).
Vùng biển nước ta nằm gọn trong phần phía Tây của vành đai quặng thiếc Thái Bình Dương, có trữ lượng thiếc lớn, ngoài ra ven biển Việt Nam chứa đựng một tiềm năng to lớn
về quặng sa khoáng như: titan, zircon, thiếc, vàng, đất hiếm trong đó cát nặng, cát đen là nguồn tài nguyên quý giá, chúng được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau, sa khoáng titan, sa khoáng ilmenit, sa khoáng cát đen Điều cần lưu ý là lĩnh vực ứng dụng các nguyên tố đất hiếm rất phong phú và đa dạng Trong luyện kim người ta chế tạo những vật liệu đặc biệt cho ngành hàng không, vũ trụ và cho các lò phản ứng hạt nhân Trong điện tử tin học, trong kỹ thuật điện và ánh sáng (phát quang), trong các ngành gốm, sứ, hoá chất đều có sử dụng đất hiếm
2.1.3 Tài nguyên giao thông vận tài
-Lãnh thổ nước ta có đường bờ biển chạy theo hướng Bắc
- Nam dọc theo chiều dài đất nước, lại nằm kề trên các tuyến đường biển quốc tế quan trọng của thế giới, có những vụng sâu kín gió là điều kiện thuận lợi để phát triển giao thông vận tải biển và mở rộng giao lưu với bên ngoài
Trang 19Biển Đông được coi là con đường chiến lược về giao lưu
và thương mại quốc tế giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, ở cả bốn phía đều có đường thông ra Thái Bình Dương và Án Độ Dương qua các eo biển Từ các hải cảng ven biển của Việt Nam thông qua eo biển Ma-lắc-ca để đi đến
An Độ Dương, Trung Đông, Châu Âu, Châu Phi; qua eo biển Dasi có thể đi vào Thái Bình Dương đến các cảng của
^hật Bản, Nga, Nam Mỹ và Bắc Mỹ; qua các eo biển giữa
^hi-lip-pin, In-đô-nê-xia, Xin-ga-po đến ôtx-trây-lia và
Di Lân Hầu hết các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình
u ương đêu có các hoạt động thương mại hàng hải rât mạnh tfên Biển Đông Trong tổng số 10 tuyến đường biển lớn nhất
*rên thế giới hiện nay, có 5 tuyến đi qua Biển Đông hoặc có liên quan đến Biển Đông
ỉ 4 Tài nguyên du lịch
Bờ biển dài có nhiều bãi cát, vịnh, hang động tự nhiên
là tiềm năng về du lịch lớn của nước ta
Do đặc điểm kiến tạo khu vực, các dãy núi đá vôi vươn
ra sát bờ biển tạo nhiều cảnh quan thiên nhiên sơn thủy rất đa
^ậng, nhiều vụng, vịnh, bãi cát trắng, hang động, các bán đảo
và cáp đảo lớn nhỏ liên kết với nhau thành một quần thể du
^ch hiếm có trên thế giới như di sản thiên nhiên Hạ Long đlíỢc UNESCO xếp hạng
Hệ thống gần 82 hòn đảo ven bờ có diện tích trên 01 km2, tr°ng đó 24 đảo có diện tích trên 10 km2 (10 - 320 km2), cách
Trang 20bờ không xa là những hệ sinh thái đảo hấp dẫn Ở đây không khí trong lành, nước biển trong và sạch, bãi cát trắng mịn.Các thắng cảnh trên đất liền nổi tiếng như Phong Nha, Bích Động, Non Nước Các di tích lịch sử và văn hoá như
Cố đô Huế, phố cổ Hội An, Tháp Chàm, nhà thờ đá Phát Diệm, phân bố ngay ở vùng ven biển
Các trung tâm kinh tế thương mại, các thành phố du lịch nằm ven biển hoặc cách bờ biển không xa như Hạ Long, Hải Phòng, Vinh, Đà Nang, Quy Nhơn, Nha Trang, Vũng Tàu, Hà Tiên, Hà Nội, Sài Gòn, Hệ thống đường bộ, đường xe lửa xuyên Việt và liên vận quốc tế chất lượng cao được xây dựng dọc bờ biển
Biển Việt Nam có đầy đủ điều kiện để phát triển các loại hình du lịch hiện đại như:
+ Nghỉ ngơi, dưỡng bệnh, tắm biển, tham quan có thể ở đất liền, có thể ở ngoài đảo
+ Du lịch sinh thái nghiên cứu khoa học vùng ven bờ, hải đảo, ngầm dưới nước
+ Du lịch thể thao: bơi, lặn sâu, lướt ván, nhảy sóng, đua thuyền , có thể tổ chức các loại thi đấu thể thao quốc gia và quốc tế quanh năm
+ Dịch vụ hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế
2.2 Biển, đảo đóng vai trò quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, truyền thuyết về Lạc Long Quân dẫn 50 người con
Trang 21Xuống biển nói lên rằng: từ xa xưa tổ tiên ta không chỉ gắn bó với đất liền mà còn gắn bó với biển khơi Đó là tư duy sơ khai
vê quá trình chinh phục biển của người Việt cổ Hình thuyền khắc trên trống đồng Đông Sơn khẳng định từ lâu dân tộc ta 'hì gắn bó với sông nước, lấy thuyền làm phương tiện làm ăn Slnh sông Quan tài hình thuyền trong những ngôi mộ cổ được thtt thấy ở Tràng Kênh - Việt Khê (Hải Phòng) với hơn 100 hiện vật tùy táng bằng đồng thau, trong đó có trống đồng đã chứng minh điều ấy
Thực chất của quá trình dựng nước đầu tiên ở nước ta là
^ ộ t quá trình lấn biển theo hai hướng: từ núi xuống (lấn biển)
và ngược lại, từ hướng biển lên (biển lấn) Có những nhóm nẽười thời biển tiến toàn là cư dân ven biển, nhưng sang đến thời kỳ cách đây 4.000 - 5.000 năm, theo đà biến thoái, họ đã Nghiễm nhiên trở thành cư dân nội địa, cư dân của vùng đồng
L ì
°ang trù phú, phì nhiêu Đó là một trong những nét độc đáo thể hiện tính chất bản địa của những nhóm cư dân thời dựng thrớc, trong đó có cư dân của nước Văn Lang
Vào khoảng trước và sau công nguyên, với những thành tựu chinh phục mặt nước biển, những cư dân cuối cùng của 'luận Nhật Nam với sự bảo tồn được độc lập, tự do qua sự thành lập nước Lâm Ắp, đã có những mối giao lưu rộng rãi với Án Độ Cư dân của Óc Eo đã có những mối liên hệ xa hằng đường biển đến tận vùng Địa Trung Hải Trong tình trạng bị nô dịch bởi các thế lực phong kiến phương Bắc có ưu
21
Trang 22thế về sức mạnh biển, những cư dân ven biển ở phía Bắc cũng biến thành những người lao công tủi nhục, bị bóc lột nặng nề Thời Ngô Quyền và sau này là Đinh Tiên Hoàng, 3 ừong 7 quận của nước ta đã khôi phục được nền độc lập, tự chủ, mở đầu cho kỷ nguyên Đại Việt Nhà Trần hùng mạnh, ba lần đánh tan quân Nguyên đã khởi dựng được sự nghiệp từ những người đánh cá ven biển Nam Định - Ninh Bình ngày nay Nhà Mạc với sự phát huy cao độ yếu tố dân gian trong nền văn hóa dân tộc cũng bắt đầu sự nghiệp của mình từ những cư dân làm nghề đánh cá ven biển Hải Phòng hiện nay Những vương triều phong kiến được xây dựng từ những cư dân và nghề đánh cá ở ven biển phải chăng là một hiện tượng độc đáo của Việt Nam.
Các triều đình phong kiến nước ta đã chăm lo đến việc bảo vệ và thực thi chủ quyền và các quyền của Việt Nam đối với các vùng biển và hải đảo của mình Thời Lý đã thiết lập những Trang, thời Trần thiết lập những Trấn, thời Lê (năm 1426) đặt Tuần Kiểm ở các xứ cửa biển, các đồn, các đảo để quản lý biển, thu thuế của các tàu thuyền nước ngoài qua lại vùng biển của ta Thời chúa Nguyễn đã thành lập các Đội Hoàng Sa Hàng năm, triều đình thường chọn 70 suất dân ở
Cù Lao Ré sung vào Đội này nhận nhiệm vụ của Vua giao ra Hoàng Sa để bảo vệ, quản lý và khai thác
Thủy quân Lạc Việt đã từng đứng vào bậc nhất, nhì ở Đông Nam Châu Á Trong suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn
Trang 23năm của dân tộc Việt Nam, trên sông biển đã hình thành nên tthừng trận thủy chiến oanh liệt như: chống giặc Quỳnh Châu
từ phía Bắc, diệt Hồ Tôn từ phía Nam (thời Hùng Vương); 9uân thủy Lê Chân làm khiếp đảm quân thủy địch ở vùng biển Tải Phòng ngày nay (thời Hai Bà Trưng); chặn đánh Trần Bá Tiên ở Tô Lịch, Hồ Điển Triệt, Đầm Dạ Trạch (thời Lý Nam Tế); đánh quân Đường, vây thành Đại La (thời Mai Thúc Toan); trận Bạch Đằng lần thứ nhất - năm 938 (thời Ngô Quyền); trận Bạch Đằng lần thứ hai - năm 981 (thời Lê Toàn); náo động Châu Khâm, Châu Liêm - năm 1075, chặn tìửng quân địch ngoài biển - năm 1077 (thời Lý) Đặc biệt, là trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba - năm Ỉ288, quân và dân ta dưới sự chỉ huy của Trần Quốc Tuấn thiên tài, đã lập được chiến công vang dội nhất trên dòng sông Tạch Đằng lịch sử, tiêu diệt toàn bộ đạo quân thủy sáu vạn tên, bắt các tướng Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ, buộc Thoát Hoan phải rút quân chạy trốn về nước Những nhân vật lài giỏi về hoạt động trên sông biển như Trần Khánh Dư, Yết Tiêu, Dã Tượng, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Nguyễn Thoái đã lập công xuất sắc, làm rạng rỡ nền nghệ thuật thủy chiến của dân tộc ta
Thế kỷ thứ XVI, XVII và những năm đầu thế kỷ thứ
9uân xâm lược của chủ nghĩa tư bản châu Âu như đánh thắng hạm đội của thực dân Tây Ban Nha năm 1595, hai lần đánh thắng hạm đội của thực dân Hà Lan trong các năm 1642,
Trang 241643; đánh thắng hạm đội của thực dân Anh năm 1702 Thời
kỳ Tây Sơn (thế kỷ XVIII), Nguyễn Huệ đã tổ chức phát triển mạnh kinh tế biển, xây dựng được một đội quân thủy hùng mạnh vào bậc nhất ở Đông Nam Á Quân thủy Tây Sơn đã nhiều lần vào Nam ra Bắc đánh đổ hai tập đoàn phong kiến là nhà Trịnh (Đàng Ngoài) và nhà Nguyễn (Đàng Trong), chấm dứt cảnh đất nước bị chia cắt hơn 200 năm Năm 1785, Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy quân thủy tiến công và chiến thắng quân Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút trong trận quyết chiến chiến lược lịch sử Các chiến binh Việt Nam thuộc các triều đại có truyền thống chiến đấu giỏi ở trên biển, trên sông
và luôn có sự phối họp chặt chẽ giữa lực lượng dưới nước và lực lượng trên bờ Những trận thủy chiến ở trên sông, biển đã diễn ra hét sức oanh liệt mà ngày nay đã được khái quát là
"truyền thống Bạch Đằng" chống ngoại xâm
Thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, đặc biệt từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, để bảo vệ chủ quyền nước
ta, các tổ chức dân quân ở các làng xóm, thôn xã ven biển được khẩn trương xây dựng Quân và dân ta vừa bám sông, bám biển, đánh chìm nhiều tàu thuyền của địch, vừa lợi dụng sông biển để tổ chức vận tải phục vụ kháng chiến Dọc tuyến vận tải ven biển, những đơn vị chuyên làm nhiệm vụ vận tải đường biển được tổ chức, nhất là đội vận tải đường biển của Liên khu V trong những năm cuối của cuộc kháng chiến đã phát triển đến 200 người với 130 chiếc thuyền, trong đó có khoảng một nửa là thuyền lớn - chở được 15 đến 20 tấn Từ
Trang 25năm 1948 đến 1954, đội vận chuyển được gần 3.000 tấn hàng hóa các loại cho các tỉnh Nam Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ.
Trong sự nghiệp chống Mỹ cửu nước (thế kỷ XX), quân
và dân ta đã liên tiếp giành được những thắng lợi to lớn cả trên đất liền và trên sông biển, tiến tới giải phóng miền Nam, thông nhất đất nước Hải quân nhân dân Việt Nam thực sự là lực lượng nòng cốt của chiến tranh nhân dân trên chiến trường hiển, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang và nhân hân ven biển hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao Đường
Hồ Chí Minh trên Biển Đông đã góp phần chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, đã trở thành huyền thoại sống mãi với dân tộc Việt Nam
Biển Việt Nam là một không gian chiến lược đặc biệt quan trọng đối với quốc phòng - an ninh của đất nước Với một vùng biển rộng lớn, bờ biển dài, địa hình bờ biển quanh
co, khúc khuỷu, có nhiều dãy núi chạy lan ra biển, chiều ngang đất liền có nơi chỉ rộng khoảng 50 km (tỉnh Quảng Hình), nên việc phòng thủ từ hướng biển luôn mang tính chiến lược Mạng lưới sông ngòi chằng chịt chảy qua các miền của đất nước, chia cắt đất liền thành nhiều khúc, cắt ngang các tuyến giao thông chiến lược Bắc - Nam Ở nhiều nơi, núi chạy lan ra sát biển, tạo thành những địa hình hiểm trở, những vịnh kín, xen lẫn với những bờ biển bằng phẳng, thuận tiện cho việc trú đậu tàu thuyền và chuyển quân bằng đường biển Hệ
Trang 26thống quần đảo và đảo trên vùng biển nước ta cùng với dải đất liền ven biển thuận lợi cho việc xây dựng các căn cứ quân sự, điểm tựa, pháo đài, trạm gác tiền tiêu, hình thành tuyến phòng thủ nhiều tầng, nhiều lóp, với thế bố trí chiến lược hợp thế trên bờ, dưới nước, tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển của nước ta Đổng thời, đây cũng là những lợi thế để bố trí các lực lượng, vũ khí trang bị kỹ thuật của các lực lượng hoạt động trên biển, ven biển phối hợp chặt chẽ với các lực lượng khác trên bờ, tạo thành thế liên hoàn biển - đảo - bờ trong thế trận phòng thủ khu vực.
Biển, đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển đời đời của dân tộc ta Lấn biển để dựng nước và thông qua biển để giữ nước là một nét độc đáo Việt Nam trong quá khứ Đó cũng chính là nét độc đáo của bản sắc văn hóa Việt Nam, cần được giữ vững và phát huy hơn nữa trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của khoa học kỹ thuật, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Càng tự hào và trân trọng
di sản quá khứ, chúng ta càng phải khai thác, khơi dậy nguồn sức mạnh của bao thế hệ người Việt Nam trong sự nghiệp giữ vững chủ quyền vùng biển, đảo, thềm lục địa thiêng liêng của
Tổ quốc, thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Ngày trước ta chi có đêm và rừng Ngày nay ta có ngày,
có trời, có biển Bờ biển ta dài, tươi đẹp Ta phải biết giữ gìn lấy nó".
Trang 27Bản vẽ kỹ thuật thuyền buồm
và một sổ vật dụng dùng để đi Hoàng Sa
Trang 28Toàn cảnh cơ sở hành chỉnh và kỹ thuật trên đảo Hoàng Sa (1938)
Đơn vị lính bảo an người Việt được cử ra trấn đóng tại đảo Hoàng Sa (1938)
Trang 29Đảo Nam Yết (Quần đảo Trường Sa)
Đảo Song Tử Tây (Quần đảo Trường Sa)
Trang 30Đảo Song Tử Đông (Quần đảo Trường Sa)
Trang 31Bia thời Chính quyền Sài Gòn xây dựng (1956)
tại Quần đảo Trường Sa
Ịị
31
Trang 33Chương 2
BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM
TỪ GÓC NHÌN LỊCH sử VÀ VĂN HÓA
1 Biển, đảo trong tâm thức Việt Nam
Việt Nam nằm bên bờ Thái Bình Dương, ôm trọn phần phía Đông của bán đảo Đông Dương (Indochina), tiếp liền với
&iển Đông Trong suốt dọc dài lịch sử, biển đảo không chỉ là chiến lũy thiên nhiên mà còn là một bộ phận hữu cơ của tổng thể lịch sử và văn hóa Việt Nam
Từ nghìn xưa, phần nhiều các cộng đồng tộc người sinh sông ừên lãnh thổ Việt Nam hiện nay vẫn coi biển, đảo như một Phần không thể tách rời, cả trong đời sống và tâm thức của tttình Tuy biển cả không phải lúc nào cũng hiền hòa và hải đảo
có phần xa xôi, nhưng lóp lớp các thế hệ người Việt Nam từ xưa dến nay vẫn nương tựa và hòa hợp với thiên nhiên để sinh tồn và Phát triển
Cũng như ở rất nhiều các quốc gia khác trên thế giới, lịch
sử Việt Nam cũng bắt đầu bằng những câu chuyện thấm đẫm yếu tố huyền hoặc, với các huyền thoại, huyền tích, ký ức dân gian Để tìm hiểu về những thời kỳ xa xưa của lịch sử, các lớp
y nghĩa được bóc tách từ trong những huyền thoại, huyền tích,
33
Trang 34tri thức bản địa và ký ức dân gian là một phần quan trọng, ẩn chứa nhiều thông tin quý giá.
Từ rất xa xưa, nhân dân ta đã có sự gắn bó mật thiết với biển, đảo trong công cuộc dựng nước và giữ nước lâu dài,
gian lao của mình Bởi vậy, những dấu ấn của “biển” hiện
diện phổ biến và bền vững trong cuộc sống của tổ tiên người Việt Nam Đó là những hình trang trí trên mặt và tang các trống đồng Đông Sơn Đó là tâm thức biển qua câu chuyện khởi nguồn Lạc Long Quân - Âu Cơ, trong đó vị thủy tổ của người Việt là Lạc Long Quân có nguồn gốc Rồng ở biển Sau
đó, ngay trong buổi đầu dựng nước, sau khi kháng chiến thất bại trước cuộc tiến quân xâm lược của Triệu Đà, An Dương vương Thục Phán đã được Thần Kim Quy rẽ nước để trờ vê trong lòng biển cả bao la Đó còn là chuyện người xưa xăm hình thuồng luồng (giao long) trên cơ thể Đó là những ngôi nhà hình thuyền và hình ảnh các trận hải chiến được mô tả trong nhiều bản trường ca của đồng bào một số tộc người thiểu số ở Trường Sơn - Tây Nguyên vốn sinh sống rất xa bờ biển Những huyền tích này càng nói lên nhiều điều hơn nữa khi giới khảo cổ học đã phát hiện được ở nhiều hải đảo trên Biển Đông có dấu tích con người sinh sống từ hàng ngàn năm trước Công nguyên
Huyền thoại khởi nguyên luận của người Việt cổ là truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên”, “con Lạc cháu Hồng” Cân
chuyện này đã dược ghi lại thành văn bản lần đầu tiên à
Trang 35“Truyện họ Hồng Bàng” trong sách Lĩnh Nam chích quáf * l) từ
thời Trần (thế kỷ XIII-XIV) Đến thời Lê (thế kỷ XV-XVIII), huyền thoại này chính thức được đưa vào chính sử của quốc
gia Đại Việt trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư^2\ Theo huyền
thoại này, Âu Cơ là Tiên ở trên núi xuống, đã kết duyên với
Lạc Long Quân từ dưới biển lên, sinh ra bọc trăm trứng, trăm
trứng nở ra trăm người con trai, về sau chia đôi, 50 con trai theo mẹ lên núi và tôn người con trai trưởng lên làm vua (tức
là vua Hùng đầu tiên), lập ra nước Văn Lang - quốc gia cổ đại
Sơ khai của người Việt; còn 50 người con trai khác theo cha Xuống lập nghiệp nơi miền biển cả Ngay từ buổi khởi đầu, một nửa của dân tộc (50 người con trai và bố Lạc Long Quân)
đã đi về phía biển, chọn biển, đảo làm nơi đứng chân, sinh sống, lập nghiệp
Huyền thoại khởi nguyên luận của người Mường là câu chuyện nàng Hưu Ngu và chàng Cá Câu chuyện này kể rằng nàng Hưu Ngu (Âu Cơ) kết duyên với chàng cá (Long Vương) sinh ra 100 người con, về sau 50 người con theo mẹ lên núi sinh ra dòng vua áo Chàm (tức người Mường), 50 người con theo cha xuống biển sinh ra dòng vua áo Vàng (tức người Kinh)(3)
Trang 36Huyền thoại khởi nguyên luận của người Tày - Thái cổ là câu chuyện về cặp đôi Chim/Rắn, cũng có những nét tưomg đồng kỳ lạ với huyền thoại khởi nguyên của người Việt và người Mường(1).
Tiến xa hơn về phía Nam, truyền thuyết của người dân Khadé trên dãy Trường Sơn - Tây Nguyên kể rằng sau thời kỳ đất run với trời (làn mbliư hông adrê), đất tách làm nhiều mảnh, có mảnh bị chìm, họ có nhiều bà con bơ vơ trên các mảnh đất giữa trùng dương (plao k’si) Những người Ê Đê trên dãy Trường Sơn két bè bằng tre nứa, thả xuống biển, theo dòng nước trôi đi, tìm thân bằng quyến thuộc Có những người theo dòng nước ngược trở về Có những người thích ở lại hải đảo(2)
Truyền thuyết lập quốc của các cư dân Phù Nam cổ (Nam Bộ) cho biết rằng một người có tên là Hỗn Điền (Kaundinya)
đi thuyền đến bờ biển Phù Nam, thể hiện uy lực của mình rồi kết hôn với Liễu Diệp (Nagi Soma) là con gái của Naga, nữ vương người bản địa Sau đó, Hỗn Điền (Kaundinya) và Liễu Diệp (Soma) trở thành thủy tổ của dòng các vua thống trị
B iến v ớ i n gư ờ i Việt cô (cái nhìn v ề biển thời tiền sử và s ơ sử của cá c cư dân trên đ ấ t Việt N am tro n g b ố i cảnh đ ạ i đ ồn g văn Đ ô n g Nam Á ), N x b V ă n h ó a
1 9 7 5 , t r 4 1 - 5 3
Trang 37Vương quốc Phù Nam, cũng là tổ tiên của những cư dân bản địa trên vùng đất Nam Bộ Việt Nam hiện nay.
Giáo sư Trần Quốc Vượng cho biết giới nghiên cứu huyền thoại học thế giới khi nghiên cứu về huyền thoại khởi ttguyên luận của các dân tộc đã chứng minh rằng mô-típ huyền thoại này có cốt lõi chung cho cả miền châu Á - Thái Bình thương, kéo dài cho đến tận châu ú c (Ôtx-trây-lia) xa xôi(1)
Trong tác phẩm Au pays des rites et des superstitions
(Vào xứ dị đoan và nghi lễ), học giả Baudesson khẳng định tăng tri thức bản địa của những người dân tộc thiểu số ở Trường Sơn (Việt Nam) cho thấy họ thực sự biết đến sự hiện hữu của các dòng hải lưu trên Biển Đông (Les primitifs connaissent 1’existence des courants marins)(2)
Đồng thời, khi nghiên cứu về các tộc người trong khu vực E^ông Nam Á, các nhà nghiên cứu nhân chủng học đã có một Phát hiện quan trọng là tộc người Dayak ở các vùng Boméo, (gorote, Iíugao (Phi-líp-pin) có huyết thống gần gũi với cộng tiông dân tộc thiểu số ở Trường Sơn (Việt Nam)(3)
Ngoài ra, giữa ngôn ngữ của đồng bào một số dân tộc ở Tây Nguyên (Việt Nam) với các dân tộc khác trên những quốc đảo ở Thái Bình Dương còn có nhiều điều tương đồng lý thú
j T r ầ n Q u ố c V ư ợ n g , Việt Nam - Đ ôn g Nam Ả - A ustralỉa: m ột tiếp cận văn hóa
h ọc, b à i i n t r ê n b á o Thế thao văn hỏa n g à y 7 t h á n g 1 0 n ă m 1 9 8 9 , t r 1 4
2) Tập san S ử Đ ịa, s ố 2 9 (Đ ặc khảo v ề H oàng Sa và Trường S a) , t h á n g 3 n ă m
1 9 7 5 , t r 4 1 - 5 3
) Tập san S ử Đ ịa, s ố 2 9 , S đ d , t r 4 1 - 5 3
Trang 38Trong cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975), một số người Phi-líp-pin đến làm việc ở Phan Rang, nghe người Chăm, người Thượng ở đây nói chuyện, bỗng dưng hiểu được, rồi họ trực tiếp đối thoại với nhau một cách dễ dàng Một sự việc lạ lùng khác là những nhà khoa học người Pháp khảo cứu ngôn ngữ Rhadé ở Tây Nguyên (Việt Nam) nhận thấy rằng trong vốn ngôn ngữ của tộc người này có những từ ngữ chuyên môn
về hàng hải mà ngày nay chính bản thân những người Rhadé cũng không còn biết dùng vào việc gì(1) Gần đây, Yngông Niekdam, Nguyên Chú nhiệm ủ y ban Dân tộc của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã từng nói chuyện với một nhân viên hàng không In-đô-nê-xiabằng chính tiếng Êđê của mình(2)
Từ những câu chuyện xa xưa được lưu truyền trong thẳm sâu tâm thức cộng đồng dân tộc Việt Nam có thể nhận thấy cư dân sống trên dải đất hình chữ s này từ rất lâu đã quen thuộc với biển, đảo Những sự tương đồng về huyền thoại khởi nguyên luận, đặc điểm ngôn ngữ và nhân chủng của nhiều tộc người trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay, cũng như sự gần gũi với những tộc người thuộc nhiều quốc gia Đông Nam Á cho thấy từ rất xa xưa đã có những dòng người di cư từ đất liền ra biển và từ biển vào sâu trong đất liền, mà vùng duyên hải Việt Nam là một tâm điểm của những hoạt động chuyển
<u Tập san S ừ Đ ịa , s ố 2 9 , S đ d , t r 4 1 - 5 3
i2> N g ô V ă n M i n h , Biên, d á o tron g lịch sứ dự n g nước và g iữ nước cùa dân tộ c Việt Nam, T ạ p c h í L ị c h s ử q u â n s ự , s ố 3 n ă m 2 0 0 9
Trang 39cư đó(1) Sự giao lưu này đã được phản ánh và lưu truyền trong ký ức dân gian, trở thành các huyền thoại, ăn sâu vào trong tâm thức của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Đồng thời, sự tồn tại và phát triển của nghề đi biển, các hoạt động' đánh cá, đóng thuyền và giao thương quốc tế trên biển của các cộng đồng tộc người Việt Nam trong hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước càng khẳng định rõ ràng vai trò, vị trí
và ý nghĩa quan trọng của biển, đảo đối với lịch sử và văn hóa
T r ầ n Q u ố c V ư ợ n g , C a o X u â n P h ổ ( C h ủ b i ê n ) , Biến vớ i người Việt cổ (cái nhìn về biến th ờ i tiền sừ và s ơ sử của các cư dân trên đ ă t Việt Nam tron g b ô i cảnh đ ạ i đ ồ n g văn Đ ôn g Nam Ả), S đ d , t r 2 9 8
39
Trang 40Thấu hiểu những dấu ấn của biển, đảo ừong lịch sử - văn hóa Việt Nam, cũng như nhận thức được vai trò, vị trí và ý nghĩa của biển, đảo trong thực tế lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc sẽ là một nền tảng tinh thần quan trọng, là vốn quý để người Việt Nam hôm nay tin tưởng, tiếp nối truyền thống của bao lớp người đi trước trong quá trình nhận thức và hành động nhàm đưa Biển Đông trở thành một cầu nối để Việt Nam nhanh chóng và đĩnh đạc hội nhập vào cộng đồng khu vực
và quốc tế như ông cha ta đã từng làm được trong quá khứ
2 Quá trình vươn ra và làm chủ biển* đảo que hương
2 1 Từ tầm nhìn và cách úng xfe với biển, đảo quê hương cùa người Việt Nam
Cư dân Việt cổ từ xa xưa đã cỏ mối quan hệ gần gũi với biển đảo Những phát hiện gần đây của các ngành nhân chủng học ngôn ngữ học và khảo cổ học đã chứng thực khá rõ ràng điều này
Những cuộc khai quật khảo cổ học cho thấy “Trống đồng Đông Sơn” của các cộng đồng người Việt cổ với nhiều họa tiết minh họa các tri thức về biển đã được tìm thấy ngày càng nhiều không chỉ trong lục địa Đông Nam Á (Lào, Campuchia, Thái Lan), phía Nam Trung Quốc, mà còn tìm thấy ở vùng Đông Nam A hải đảo (Ma-lai-xia, In-đô-nê-xia ) cho đến tận đảo paques xa ngoài khơi Thái Bình Dương Tât
cả những điều này cho thây mối quan hệ gàn gũi, sự giao lưu