Câu hỏi 1: Anh (chị) hãy nêu theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, thềm lục địa được tính như thế nào? Thềm lục địa có phải là bộ phận lãnh thổ quốc gia hay không? Quy chế pháp lý của thềm lục địa là gì? Theo Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, Việt Nam có những vùng biển nào? Trả lời: Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982: Thềm lục địa bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý khi bờ ngoài của rìa lục địa ở khoảng cách gần hơn. Thềm lục địa không phải là bộ phận lãnh thổ của quốc gia ven biển. Quốc gia ven biến chỉ thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đối với thềm lục địa về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên. Khi tiến hành khai thác thềm lục địa ngoài 200 hải lý, quốc gia ven biển phải đóng góp một khoản theo quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982. Quy chế pháp lý của thềm lục địa được thể hiện qua các quyền của quốc gia ven biến. Đó là việc thực hiện quyền chủ quyền đối với việc thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên trên thềm lục địa. Ngoài ra, quốc gia ven biển còn có quyền tài phán về nghiên cứu khoa học biến trên thềm lục địa của mình; quyền đối với các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình trên thềm lục địa; quyền bảo vệ và gìn giữ môi trường biển. Các quốc gia khác có quyền lắp đặt các dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa và cần được sự thỏa thuận của quốc gia ven biển. Quyền chủ quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa là quan trọng nhất, thể hiện ở chỗ: + Đây là quyền chủ quyền của quốc gia ven biển (không phải chủ quyền) trên chính thềm lục địa của mình. + Quyền này có tính chất đặc quyền, nghĩa là “ trường hợp quốc gia ven biển không thăm dò hoặc không khai thác tài nguyên
Trang 1BÀI DỰ THI Cuộc thi viết “Tìm hiểu về chủ quyền biên giới đất liền, biển đảo Việt Nam”
Câu hỏi 1: Anh (chị) hãy nêu theo Công ước của Liên hợp quốc về
Luật biển năm 1982, thềm lục địa được tính như thế nào? Thềm lục địa có phải là bộ phận lãnh thổ quốc gia hay không? Quy chế pháp lý của thềm lục địa là gì? Theo Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, Việt Nam
có những vùng biển nào?
Trả lời:
- Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982: Thềm lục địabao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia venbiển, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó chođến bờ ngoài của rìa lục địa hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộnglãnh hải 200 hải lý khi bờ ngoài của rìa lục địa ở khoảng cách gần hơn
- Thềm lục địa không phải là bộ phận lãnh thổ của quốc gia ven biển Quốcgia ven biến chỉ thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đối với thềm lục địa về mặtthăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên Khi tiến hành khai thác thềm lục địangoài 200 hải lý, quốc gia ven biển phải đóng góp một khoản theo quy định củaCông ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982
- Quy chế pháp lý của thềm lục địa được thể hiện qua các quyền của quốcgia
ven biến Đó là việc thực hiện quyền chủ quyền đối với việc thăm dò và khai tháctài nguyên thiên nhiên trên thềm lục địa Ngoài ra, quốc gia ven biển còn có quyềntài phán về nghiên cứu khoa học biến trên thềm lục địa của mình; quyền đối vớicác đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình trên thềm lục địa; quyền bảo vệ và gìn giữmôi trường biển Các quốc gia khác có quyền lắp đặt các dây cáp và ống dẫn ngầm
ở thềm lục địa và cần được sự thỏa thuận của quốc gia ven biển Quyền chủ quyềncủa quốc gia ven biển đối với thềm lục địa là quan trọng nhất, thể hiện ở chỗ:
+ Đây là quyền chủ quyền của quốc gia ven biển (không phải chủ quyền)trên chính thềm lục địa của mình
+ Quyền này có tính chất đặc quyền, nghĩa là “ trường hợp quốc gia ven biểnkhông thăm dò hoặc không khai thác tài nguyên thiên nhiên trên thềm lục địa, thì
Trang 2không ai có quyền tiến hành các hoạt động như vậy, nếu không có sự thỏa thuậncủa quốc gia đó”.
+ Quyền này tồn tại đương nhiên và ngay từ đầu, quốc gia ven biển khôngcần phải chiếm hữu thực sự hay danh nghĩa và không cần phải tuyên bố
- Theo Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, Việt Nam cónhững vùng biển là: Nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyềnkinh tế và vùng thềm lục địa Phạm vi và chế độ pháp lý của các vùng biển và thềmlục địa Việt Nam được quy định chi tiết trong Luật Biển Việt Nam và các văn bảnquy phạm pháp luật khác
Câu hỏi 2 Anh (chị) hãy nêu vị trí và tiềm năng của biển, đảo Việt
Nam? Liên hệ thưc tiễn bản thân?
Trả lời:
- Vị trí địa kinh tế và địa lý, chính trị của biển Việt Nam:
+ Việt Nam nằm bên bờ biển Đông, có vùng biển rộng trên 1 triệu km2 bờbiển
+ Việt Nam dài trên 3.260 km ở cả ba hướng: Đông, Nam và Tây Nam,trung bình khoảng 100 km2đất liền có 1 km bờ biển (Cao gấp 6 lần tỷ lệ này củathế giới), không một nơi nào trên đất nước ta lại cách xa biển hơn 500 km Ven bờ
có khoảng 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ các loại, chủ yếu nằm ở Vịnh Bắc Bộ, với diệntích khoảng 1.700 km2, trong đó, có 3 đảo có diện tích lớn hơn 100 km2, 23 đảo códiện tích lớn hơn 10 km2, 82 đảo có diện tích lớn hơn 1 km2và khoảng trên 1.400đảo chưa có tên Vì vậy, biển đã gắn bó mật thiết và ảnh hưởng lớn đến sự pháttriển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường của mọimiền đất nước Biển Đông được bao bọc bởi 10 nước và vùng lãnh thổ là ViệtNam, Trung Quốc, Philippin, Inđônêxia, Brunây, Malayxia, Xingapo, Thái Lan,Campuchia và Đài Loan
Theo ước tính sơ bộ, biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống củakhoảng 300 triệu dân của các nước và vùng lãnh thổ này Biển Đông được coi làcon đường chiến lược về giao lưu và thương mại quốc tế giữa Ẩn Độ Dương vàThái Bình Dương, ở cả bốn phía đều có đường thông ra Thái Bình Dương và Ấn
Độ Dương qua các eo biển Hầu hết các nước trong khu vực châu Á - Thái BìnhDương đều có các hoạt động thương mại hàng hải rất mạnh trên biển Đông Trongtổng số 10 tuyến đường biển lớn nhất trên thế giới hiện nay, có 5 tuyến đi qua biểnĐông hoặc có liên quan đến Biển Đông Biển Đông (trong đó có vùng biển Việt
Trang 3Nam) có vị trí địa kinh tế và chính trị quan trọng như vậy nên từ lâu đã là nhân tốkhông thể thiếu trong chiến lược phát triển không chỉ của các nước xung quanhBiển Đông mà còn của một số cường quốc hàng hải khác trên thế giới Đó cũng là
lý do quan trọng dẫn đến những tranh chấp ở vùng biển này
Vùng biển và ven biển Việt Nam nằm án ngữ trên các tuyến hàng hải vàhàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương,giữa châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khuvực Biển Đông đóng vai trò là chiếc “cầu nối” cực kỳ quan trọng, là điều kiện rấtthuận lợi để giao lưu kinh tế, hội nhập và hợp tác giữa nước ta vối các nước trênthể giới, đặc biệt là với các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, khuvực phát triển kinh tế năng động và có một số trung tâm kinh tế lớn của thế giới.Biển và vùng ven biển là cửa mở lớn, là “mặt tiền” quan trọng của đất nước đểthông ra Thái Bình Dương và mở cửa mạnh mẽ ra nước ngoài So với các vùngkhác trong nội địa, vùng ven biển gồm hầu hết các đô thị lớn có kết cấu hạ tầngkhá tốt; có các vùng kinh tế trọng điểm của cả nưóc đang được đầu tư phát triểnmạnh; có nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng, trong đó một số loại có thể trởthành mũi nhọn để phát triển; có nguồn lao động dồi dào và hệ thống giao thôngđường sắt, đường thuỷ, đường bộ thuận tiện; là môi trường hết sức thuận lợi để tiếpnhận các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, tiếp thu công nghệ tiên tiến vàkinh nghiệm quản lý hiện đại của nước ngoài, từ đó lan toả ra các vùng khác trongnội địa Có thể nói, vùng ven biển nước ta là vùng có nhiều lợi thế hơn hẳn cácvùng khác để phát triển kinh tế nhanh Sự hình thành mạng lưới cảng biển cùng cáctuyến đường bộ, đường sắt dọcven biến và nối với các vùng sâu trong nội địa (đặcbiệt là các tuyến đường xuyên Á) sẽ cho phép vùng biển và ven biển nưóc ta cókhả năng chuyển tải hàng hoá xuất, nhập khẩu tới mọi miền của Tổ quốc, đồngthời thu hút cả vùng Tây - Nam Trung Quốc, Lào, Đông Bắc Thái Lan vàCampuchia Hiện nay, các nước trong khu vực đang tích cực khởi động chươngtrình phát triển Tiểu vùng Mê Kông, ViệtNam và Trung Quốc đang hợp tác xâydựng và thực hiện chương trình Vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ, coi đó là một cựctăng trưởng mới trong khuôn khổ của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - TrungQuốc (CAFTA)
- Tiềm năng tài nguyên biển
+ Tiềm năng tài nguyên về sinh vật gồm các loại hải sản, chim biển, độngvật biển, thực vật biển
Trang 4+ Tiềm năng tài nguyên phi sinh vật: Dầu khí, quặng thiếc, quặng sa khoáng,
có triển vọng băng cháy lớn
+ Tiềm năng tài nguyên về giao thông vận tải
+ Tiềm năng tài nguyên về du lịch
Ưu điểm trong phát huy giá trị biển, đảo Việt Nam
Trong những năm gần đây, nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của biểnđối với đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đưa ra nhiều chiến lược, chínhsách, kế hoạch phát triển Đánh giá về thực trạng kinh tế biển thời gian qua chothấy, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận Cho dù bối cảnh chungcủa thế giới và khu vực có nhiều biến động khó lường, nhưng kinh tế biển ViệtNam vẫn tiến triển tốt
Thực trạng phát triển kinh tế biển Việt Nam hiện nay cho phép nhận diệnmột số kết quả quan trọng đã đạt được như sau
Thứ nhất, kinh tế ven biển và thuần biển đã có đóng góp quan trọng vào tổng
GDP của cả nước, và cùng với đó, thu nhập bình quân của người dân ven biểnđang tăng nhanh Số liệu thống kê cho biết, trong 10 năm gần đây, đóng góp của
28 tỉnh, thành phố ven biển vào GDP cả nước luôn đạt trên 60%, trong đó có sựtham gia của các khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển Ngoài ra, đóng góp củakinh tế thuần biển cũng đạt khoảng 10% GDP cả nước Đặc biệt, du lịch biển vàkinh tế đảo đã thu hút được nhiều nhà đầu tư lớn cả trong nước và nước ngoài, gópphần nâng cao một bước chất lượng hạ tầng kinh tế biển và tăng doanh thu từ cáchoạt động này Việc phát triển tốt kinh tế hải đảo còn có đóng góp quan trọng chođảm bảo quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc gia
Thứ hai, các tỉnh, thành phố ven biển đã có tốc độ tăng trưởng tương đối
nhanh và hình thành các hoạt động kinh tế biển gắn với thu hút mạnh đầu tư và dulịch Số liệu thống kê cho thấy, tổng vốn đầu tư vào 28 tỉnh, thành phố ven biểnluôn đạt khoảng 50% tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong suốt giai đoạn 2007 - 2017.Cùng với đó, lượng khách du lịch vào Việt Nam tăng rất nhanh qua các năm vàmột bộ phận lớn khách quốc tế đến Việt Nam đều gắn với các hoạt động du lịchbiển
Thứ ba, đã hình thành và phát triển được nhiều khu kinh tế, khu công nghiệp
ven biển để tạo động lực mạnh hơn nữa cho phát triển kinh tế biển Số liệu của Bộ
Kế hoạch và Đầu tư cho biết đến hết năm 2017, cả nước đã có 17 khu kinh tế ven
Trang 5biển với tổng diện tích 845 nghìn hécta Ngoài ra cả nước còn có 58 khu côngnghiệp tập trung ven biển với tổng diện tích đất công nghiệp 13,6 nghìn hécta,chiếm 36,5% diện tích đất công nghiệp11 Kinh tế biển gắn với phát triển cácngành công nghiệp đã góp phần quan trọng đảm bảo tính bền vững và đem lại giátrị đóng góp thực cho nền kinh tế.
Biển và yêu cầu phát triển bền vững đang là chủ đề nhận được sự quan tâmsâu rộng của rất nhiều quốc gia trên thế giới Hệ sinh thái biển khỏe mạnh, vùng bờbiển được bảo vệ tốt, sử dụng hợp lý luôn đóng vai trò quan trọng giúp tăng trưởngkinh tế bền vững, xóa nghèo đói, tạo việc làm cho người dân ven biển
Việt Nam là một quốc gia biển, có rất nhiều lợi thế từ biển Động lực pháttriển nhanh và bền vững đất nước trong tương lai có một phần hết sức quan trọng
là từ biển Đảng và Nhà nước Việt Nam đã sớm nhận thức được điều này và đưa ranhiều chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế, xã hội dựa vào biển và đảm bảoquốc phòng, an ninh trên biển Dù vậy, trong bối cảnh mới khi đòi hỏi về phát triểnbền vững biển ngày càng tăng lên ở cả cấp độ quốc gia và toàn cầu, thì Việt Namvẫn tiếp tục phải nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, thay đổi cách làm để có tiếpcận tổng thể, toàn diện hơn tới biển và khai thác, sử dụng bền vững các nguồn lực
từ biển Nói cách khác, để phát triển bền vững, phát triển Việt Nam cần phải giải
quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển gần hơn và phát triển xa hơn trong tiếp cận tới biển Để phát triển gần hơn, phải quản lý bờ biển, bố trí nguồn lực ven
biển, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển, vì mọi hoạt động của chiến lược biển,
xét đến cùng, đều xuất phát từ bờ biển Để phát triển xa hơn, phải có tầm nhìn dài
hạn, nâng cao năng lực mọi mặt để có thể vươn ra xa hơn nữa ra ngoài đại dương,khai thác những nguồn lực to lớn hơn phục vụ phát triển đất nước, mà trước hết làphục vụ phát triển bền vững kinh tế biển
Hạn chế trong phát huy giá trị biển đảo Việt Nam
Một là, nhận thức về vai trò, vị trí của biển và kinh tế biển của các cấp, các
ngành, các địa phương ven biển và người dân còn chưa đầy đủ; quy mô kinh tếbiển còn nhỏ bé, chưa tương xứng với tiềm năng; cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý;chưa chuẩn bị điều kiện để vươn ra vùng biển quốc tế Đầu tư xây dựng các khukinh tế ven biển còn tràn lan, thiếu trọng tâm trọng điểm
Trang 6Hai là, cơ sở hạ tầng các vùng biển, ven biển và hải đảo còn yếu kém, lạc
hậu, manh mún, thiết bị chưa đồng bộ nên hiệu quả sử dụng thấp như các cảngbiển, thiếu hệ thống đường bộ cao tốc chạy dọc ven biển để nối liền các thànhphố, khu kinh tế, khu công nghiệp, sân bay ven biển nhỏ bé thành một hệ thốngkinh tế biển liên hoàn
Ba là, hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học - công nghệ biển đào tạo
nguồn nhân lực cho kinh tế biển; các cơ sở quan trắc, dự báo, cảnh báo biển, thiêntai biển, các trung tâm tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, ở ven biển còn nhỏ bé, trang bịthô sơ
Bốn là, tình hình khai thác, sử dụng biển và hải đảo chưa hiệu quả, thiếu bền
vững do khai thác tự phát, không tuân thủ quy hoạch biển, đảo, làm nảy sinh nhiềumâu thuẫn lợi ích trong sử dụng đa ngành ở vùng ven biển, biển và hải đảo.Phương thức khai thác biển chủ yếu vẫn dưới hình thức sản xuất và đầu tư nhỏ, sửdụng công nghệ lạc hậu
Năm là, môi trường biển bị biến đổi theo chiều hướng xấu Ngày càng nhiều
chất thải không qua xử lý từ các lưu vực sông và vùng ven biển đổ ra biển, một sốkhu biển ven bờ bị ô nhiễm, hiện tượng thủy triều đỏ xuất hiện ngày càng nhiềuvới quy mô rộng,
Sáu là, đa dạng sinh học biển và nguồn lợi thủy hải sản giảm sút Các hệ
sinh thái biển quan trọng (RSH, RNM, TCB) bị suy thoái, bị mất habitat và bị thuhẹp diện tích Các quần đảo có xu hướng di chuyển ra xa bờ hơn do thay đổi cấutrúc hoàn lưu ven biển, thay đổi tương tác sông - biển ở vùng cửa sông ven bờ, domất đến 60% các nơi cư trú tự nhiên quan trọng
Bảy là, đến nay biển, đảo và vùng ven biển nước ta vẫn chủ yếu được quản
lý theo cách tiếp cận mở kiểu "điền tư, ngư chung" và chủ yếu quản lý theo ngànhthông qua các luật pháp, chính sách ngành như nói trên Điều này dẫn đến sựchồng chéo về quản lý giữa khoảng 15 bộ ngành về biển, chính sách quản lý thiếuđồng bộ, trong các luật hiện có không ít điểm chồng chéo, hiệu lực thi hành thấp
Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào tiến trình quản lý còn rất thụ động,chưa làm rõ vấn đề sở hữu sử dụng đất ven biển và mặt nước biển cho người dânđịa phương ven biển Công tác kiểm tra, kiểm soát, cấp và thu hồi giấy phép sử
Trang 7dụng, khai thác tài nguyên biển, chậm được triển khai để quản lý hiệu quả hoạtđộng khai thác, sử dụng biển, hải đảo.
Tám là, ngoài thiên tai biển xảy ra thường xuyên, Việt Nam còn là một trong
5 nước chịu tác động mạnh mẽ nhất của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, trướchết là vùng ven biển và các đảo nhỏ
Những thách thức nói trên đã, đang và nếu không sớm khắc phục sẽ ảnhhưởng lớn đến phát triển kinh tế biển hiệu quả và bền vững, và khả năng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa các ngành kinh tế biển ở Việt Nam trong thời gian tới
Liên hệ trách nhiệm, hành động của bản thân:
Là một Đảng viên, là lái xe văn phòng HĐND và UBND huyện Quang Bình tôi luôn ý thức được rằng biển đảo là một phần máu thịt rất thiêng liêng của Tổ quốc, bản thân tôi nhận thấy mình cần phải nghiên cứu và nhận thức sâu sắc về ý nghĩa thiêng liêng chủ quyền biển đảo và giá trị to lớn chủ quyền mà ông cha ta đã
đổ xương máu để xây dựng; về lịch sử Việt Nam đặc biệt là lịch sử địa lý liên quanđến chủ quyền biển đảo, về lịch sử hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa… tìm hiểu
rõ chính sách ngoại giao nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề biển đông cũng như nội dung của luật pháp, chế độ pháp lý của các vùng biển theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982
- Nỗ lực học tập và rèn luyện để trở thành công dân tốt, đảng viên tốt cống hiến cho đất nước
- Thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng Tránh những cám
dỗ vật chất mà các thế lực phản cách mạng sử dụng để dụ dỗ và để làm giảm lòng tin của chúng ta vào Đảng, cách mạng
- Điều quan trọng nữa là không ngừng tu dưỡng phẩm chất người Việt Nam mới, tích cực tham gia xây dựng đất nước giàu mạnh, có định hướng lý tưởng yêu nước và đoàn kết thì chúng ta sẽ kết nối khối sức mạnh lớn đủ sức bảo vệ chủ
Trang 8quyền biển đảo Bên cạnh đó sẵn sàng chuẩn bị tinh thần tham gia trực tiếp vào công cuộc giữ gìn biển đảo quê hương bằng tất cả những gì mình có thể.
Câu hỏi 3: Anh (chị) hãy nêu Nghị quyết số 09-NQ/TW của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng (khoá X) về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” đã đưa ra những giải pháp gì để thực hiện chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020?
Nghị quyết số 09 - NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về
“Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” đã đưa ra những giải pháp sau để thựchiện chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020:
- Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của biển đối với sự nghiệp xây dựng
và vệ tổ quốc:
Trước hết, tuyên truyền, giáo dục làm cho mọi người dân, nhất là đội ngũcán bộ chủ chốt các cấp, các ngành, các địa phương nắm vững các quan điểm củaĐảng trong phát triển kinh tế biển Nhận thức rõ vùng biển, hải đảo và ven biển làđịa bàn chiến lược có vị trí quyết định đối với sự phát triển của đất nước ta Kinh tếbiển và kinh tế đất liền có liên quan chặt chẽ với nhau, tác động và thúc đẩy lẫnnhau cùng phát triển Tiếp đó tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức, trách nhiệmcông dân trong việc quản lý, bảo vệ chủ quyền vùng biển, đảo Biển, đảo là một địabàn chiến lược có tính chất đặc thù và có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là nơi hằng ngày diễn ra công cuộc xây dựng và đấutranh rất phức tạp, căng thẳng, nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền, quyền tài phánquốc gia thiêng liêng của Tổ quốc Vì vậy, nội dung bảo đảm quốc phòng, an ninhtrên biển, đảo đang đặt ra những yêu cầu mới, với sự chuẩn bị kỹ càng về mặt tưtưởng, nhận thức và bảo đảm vật chất cho các lực lượng quốc phòng, an ninh làmnhiệm vụ quản lý, thực thi pháp luật, bảo vệ chủ quyền và lực lượng khai thác kinh
tế biển, đảo Về mặt tư tưởng, cần tuyên truyền, giáo dục cho các cấp, các ngành,toàn dân và lực lượng vũ trang nhận thức sâu sắc quan điểm của Đảng và Nhànước ta là phát triển kinh tế biển, đảo phải đi đôi với với bảo đảm quốc phòng, anninh; phát triển kinh tế biển, đảo là tạo cơ sở, nền tảng xây dựng nền quốc phòngtoàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên biển,đảo ngày càng vững mạnh
Trang 9- Xây dựng lực lượng mạnh để bảo vệ vững chắc chủ quyển và an ninh trênbiển: Sức mạnh bảo vệ chủ quyền biển, đảo là sức mạnh tổng hợp quốc gia, baogồm và có sự kết hợp chặt chẽ tất cả các mặt trận, các lĩnh vực hoạt động: quốcphòng, an ninh, kinh tế, chính trị, ngoại giao, pháp lý Trong đó, sức mạnh quốcphòng, an ninh giữ vai trò đặc biệt quan trọng Do vậy, phải xây dựng thế trận quốcphòng toàn dân, an ninh nhân dân trên biển vững chắc, thế bố trí chiến lược các lựclượng có chiều sâu, liên hoàn bờ - biển - đảo, sẵn sàng chuyển hóa thành thế trậnchiến tranh nhân dân khi có xung đột Xây dựng các lực lượng quản lý, bảo vệbiển, đảo, dự bị động viên, dân quân, tự vệ biển mạnh, có chất lượng tổng hợp vàsức chiến đấu cao, trong đó Hải quân là lực lượng nòng cốt, cần tiếp tục được ưutiên xây dựng tiến lên chính quy, hiện đại, ngang tầm nhiệm vụ Chỉ có trên cơ sởphát huy cao độ sức mạnh tổng hợp và tập trung của toàn Đảng, toàn dân, toànquân, trong đó Hải quân làm nòng cốt mới có thể bảo đảm được khả năng bảo vệchủ quyền, duy trì hòa bình, ổn định lâu dài trên biển.
- Đẩy mạnh điều tra cơ bản và phát triển khoa học - công nghệ biển: Thúcđẩy đổi mới, sáng tạo, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến; đẩymạnh nghiên cứu, xác lập luận cứ khoa học cho việc hoạch định, hoàn thiện chínhsách, pháp luật về phát triển bền vững kinh tế biển Ưu tiên đầu tư cho công tácđiều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực biển;hình thành các trung tâm nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học biển, khai thácđáy biển sâu, công nghệ vũ trụ trong giám sát biển đạt trình độ tiên tiến trong khuvực Đánh giá tiềm năng và lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, hệ sinh thái
và các ngành, lĩnh vực kinh tế biển như hàng hải, khai thác, nuôi trồng, chế biếnthuỷ, hải sản, năng lượng tái tạo, thông tin và công nghệ số, sinh dược học biển,thiết bị tự vận hành ngầm… Xây dựng và thực hiện có hiệu quả Chương trìnhtrọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; mở rộng nângcao hiệu quả hợp tác quốc tế trong điều tra, nghiên cứu ở các vùng biển quốc tế.Đầu tư đội tàu nghiên cứu biển tiên tiến, thiết bị ngầm dưới biển có khả năngnghiên cứu ở các vùng biển sâu
- Quản lý Nhà nước có hiệu lực và hiệu quả với các vấn đề liên quan đếnbiển: Rà soát, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về biển theo hướng pháttriển bền vững, bảo đảm tính khả thi, đồng bộ, thống nhất, phù hợp với chuẩn mựcluật pháp và điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia Tạo hành lang pháp lý thuậnlợi để huy động các nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư xây dựng hạ tầng,phát triển khoa học, công nghệ, nguồn nhân lực và chuyển giao tri thức về biển
Trang 10Tích cực tham gia và chủ động thúc đẩy hình thành cơ chế toàn cầu và khu vựcliên quan đến biển và đại dương.
Kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất vềbiển từ Trung ương đến địa phương bảo đảm hiện đại, đồng bộ; xây dựng đội ngũcán bộ có năng lực, chuyên môn cao Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơquan, giữa Trung ương với địa phương về công tác biển, đảo Kiện toàn cơ quanđiều phối liên ngành chỉ đạo thống nhất việc thực hiện Chiến lược phát triển bềnvững kinh tế biển do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu; tăng cường năng lực cho BộTài nguyên và Môi trường thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ là cơ quan thườngtrực giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quản lý nhà nước tổng hợp và thốngnhất về biển, đảo
Kiện toàn mô hình tổ chức, nâng cao năng lực quản lý các đảo, quần đảo vàvùng ven biển Thực hiện bố trí dân cư trên các đảo gắn với chuyển đổi mô hình tổchức sản xuất theo hướng thân thiện với biển và môi trường biển
Rà soát, bổ sung và xây dựng mới đồng bộ các chiến lược, quy hoạch, kếhoạch liên quan đến biển, đảo theo hướng quản lý tổng hợp, phù hợp với hệ sinhthái biển, bảo đảm sự gắn kết hài hoà, đồng bộ giữa bảo tồn và phát triển các vùngđất liền, vùng ven bờ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Khẩn trương xâydựng Quy hoạch không gian biển quốc gia, Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụngbền vững tài nguyên vùng bờ
- Xây dựng đầy đủ, đồng bộ hệ thống luật pháp và cơ chế, chính sáchkhuyến khích đầu tư phát triển: xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp với điều kiệnhiện nay nhằm khai thác tiềm năng và các lợi thế về biển, đồng thời tăng cườngbảo vệ chủ quyền biển, đảo, tạo nên sự gắn kết chặt chẽ hoạt động của các lĩnh vựckinh tế biển với quốc phòng – an ninh để trở thành một thể thống nhất trên phạm vi
cả nước và từng địa phương, tạo điều kiện cho các địa phương nhất là những địaphương ven biển phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ vùng trời, vùng biển của đấtnước Các chủ trương về thực hiện Chiến lược biển dựa trên các căn cứ khoa học,hiện đại, các cơ sở dữ liệu, được đánh giá một cách toàn diện về thực trạng pháttriển biển, những thuận lợi, thế mạnh và cả những khó khăn, thách thức mà ViệtNam phải đối mặt… Mở rộng chính sách, liên kết làm ăn kinh tế ở vùng biển thuộcquyền chủ quyền của ta với những nước phát triển trong khu vực và trên thế giới,nhằm tạo ra những đối tác đan xen lợi ích trong phát triển kinh tế biển
- Phát triển nguồn nhân lực biển đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hộivùng biển và ven biển: Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, kiến thức, hiểu
Trang 11biết về biển, đại dương, kỹ năng sinh tồn, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biểndâng, phòng, tránh thiên tai cho học sinh, sinh viên trong tất cả các bậc học, cấphọc Phát triển nguồn nhân lực biển chất lượng cao phù hợp với nhu cầu thị trường;
có cơ chế, chính sách đặc biệt thu hút nhân tài, từng bước hình thành đội ngũ cácnhà quản lý, nhà khoa học, chuyên gia đạt trình độ quốc tế, có chuyên môn sâu vềbiển và đại dương Có cơ chế hỗ trợ, nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển mạnglưới cơ sở đào tạo nguồn nhân lực biển đạt trình độ tiên tiến trong khu vực Thựchiện có hiệu quả công tác đào tạo nghề, đáp ứng yêu cầu lao động của các ngànhkinh tế biển và việc chuyển đổi nghề của người dân
- Tăng cường công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển:
Tuyên truyền góp phần đẩy mạnh cuộc đấu tranh về pháp lý và ngoại giao,tạo dư luận quốc tế ủng hộ ta trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo và quyền lợiquốc gia trên biển Nhu cầu về hợp tác cũng như đấu tranh trên biển giữa các nướcngày càng lớn Do các vấn đề về biển có quan hệ trực tiếp đến hầu hết các lĩnh vựccủa đời sống quốc gia trong mối quan hệ với các quốc gia khác của cộng đồngquốc tế và luật pháp quốc tế, vai trò đấu tranh pháp lý và đặc biệt là “ngoại giaobiển” cũng ngày càng tăng Để tạo dư luận quốc tế ủng hộ ta trong việc bảo vệ chủquyền, quyền lợi quốc gia trên biển, thềm lục địa và các đảo, quần đảo, công táctuyên truyền, giáo dục cần được tiến hành thường xuyên, làm cho các cấp, cácngành, toàn dân và lực lượng vũ trang nhận thức sâu sắc về quan điểm, lập trườngcủa Đảng và Nhà nước ta đối với các vấn đề liên quan đến Biển Đông, đến cácquần đảo, hải đảo của ta Đồng thời thông qua việc tuyên truyền, giới thiệu nhữngtài liệu, tư liệu, chứng cớ pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối vớicác vùng biển, thềm lục địa và các đảo, quần đảo của nước ta Đấu tranh kịp thời,kiên quyết với những âm mưu và hành động của nước ngoài vi phạm chủ quyềncủa Việt Nam ở Biển Đông Tổ chức thông tin thường xuyên, kịp thời về tình hình,những tiến bộ và kết quả đạt được trong các cuộc đàm phán về biên giới, lãnh hảigiữa nước ta với các nước có liên quan Trên cơ sở nhận thức rõ những quan điểmcủa Đảng và Nhà nước, từng lực lượng hoạt động trên biển và toàn dân nâng caotrách nhiệm xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trên biển; quản
lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng biển, đảo, góp phần thực hiện thắng lợi hainhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong thời kỳmới
- Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh: Đẩy mạnh thu hút nguồn lực từcác thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.Chủ động thu hút các nhà đầu tư lớn, có công nghệ nguồn, trình độ quản lý tiên
Trang 12tiến từ các nước phát triển Ưu tiên đầu tư ngân sách nhà nước cho phát triển cáchuyện đảo, xã đảo tiền tiêu, xa bờ; xã hội hoá đầu tư kết cấu hạ tầng biển, đảo, cáckhu kinh tế, khu công nghiệp ven biển Khuyến khích phát triển các doanh nghiệpthuộc mọi thành phần kinh tế, các tập đoàn kinh tế biển mạnh hoạt động sản xuấtkinh doanh trên biển, đặc biệt là ở các vùng biển xa bờ, viễn dương Tiếp tục cơcấu lại doanh nghiệp nhà nước thuộc các ngành kinh tế biển, bảo đảm nâng caonăng lực quản trị, hiệu quả sản xuất kinh doanh, sức cạnh tranh.
Câu hỏi 4: Anh (chị) hãy cho biết Việt Nam đã chiếm hữu và thực thi
quyền chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như thế nào?
Nhà nước Việt Nam là nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu và thựcthi chủ quyền của minh đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, khichúng còn là đất vô chủ, ít nhất từ thế kỷ XVII Việc chiếm hữu và thực thi chủquyền này là thật sự và liên tục, hòa bình và rõ ràng Việt Nam hoàn toàn có cơ sởpháp lý và chứng cứ lịch sử để khẳng định và bảo vệ chủ quyền họp pháp củamình
- Nhà nước phong kiến Việt Nam đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền đốivới quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa: Nhà nước Đại Việt thời chúaNguyễn đã thành lập và hoạt động thường xuyên, liên tục của đội Hoàng Sa nhằmquản lý, bảo vệ, khai thác hai quần đảo Hoàng Sa và Truông Sa Đội Hoàng Sa, vềsau lập thêm đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản; Nhà nước Đại Việt thời TâySơn mặc dù chiến tranh nhiều trên đất liền cũng như ngoài Biển Đông nhưng lựclượng Chúa Nguyễn, Chúa Trịnh, Tây Sơn luôn có đội được giao nhiệm vụ hoạtđộng trong Biển Đông và đã làm chủ được từng khu vực lãnh thổ thuộc phạm vimình quản lý
Thời Minh Mạng, năm 1833, 1834, 1836 đã chỉ thị cho Bộ Công phái người
ra Hoàng Sa để dựng bia chủ quyền, đo đặc thủy trình, vẽ bản đồ Như vậy, suốtthời chúa Nguyễn đến thời nhà Nguyễn, đội Hoàng Sa, kiêm quản đội Bắc Hải đã
đi làm nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường
Sa Những hoạt động này đã được các văn bản nhà nước ghi nhận như: Châu bảncủa triều đình nhà Nguyễn, các văn bản của chính quyền địa phương (tờ lệnh, tờthư, băng câp ) hiện được được lưu trữ tại các cơ quan lữu trữ nhà nước Tronggiai đoạn lịch sử này, có một chứng cứ hết sức quan trọng chứng minh nhà nướcphong kiên Việt Nam đã quản lý thực sự, hiệu quả đối với hai quần đảo này Đó làviệc tô chức đơn vị hành chính của Hoàng Sa trong hệ thống tổ chức hành chínhlúc bây giờ Thời chúa Nguyễn, Hoàng Sa thuộc Thừa Tuyên Quảng Nam hayQuảng Nghĩa (Quảng Ngãi), lúc là phủ khi thì trấn, trong Toản tập Thiên nam tứ
Trang 13chí lộ đô thư viêt đây là: “Bãi Cát vàng trong phủ Quảng Nghĩa”; sang thời TâySơn, phủ Quảng Nghĩa đôi thành phủ Hòa Nghĩa Thời nhà Nguyễn, Hoàng Sathuộc tỉnh Quảng Ngãi.
- Với tư cách là đại diện của nhà nước Việt Nam về đối ngoại, Cộng hòaPháp đã tiếp tục thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa Theo Hiệp ước Pa - tơ - nốt năm 1884, Chính quyền thuộc địa Pháp
đã tiến hành các hoạt động đại diện cho Nhà nước Việt Nam trong việc tiếp tục bảo
vệ, quản lý và khắng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa thông qua nhiều hoạt động chủ yếu và có giá trị pháp lý như: Tổchức các cuộc nghiên cứu, khảo sát tại thực địa của các nhà khoa học và nhữngtrao đổi giữa những chính khách Pháp có liên quan đến quần đảo Hoàng Sa vàquần đảo Trường Sa; dựng bia chủ quyền, đóng giữ đảo Trường Sa và các đảo, đá,bãi phụ thuộc và thông báo ngoại giao cho các cường quốc về sự kiện đóng giữquần đảo Trường Sa theo đúng thủ tục Ngày 11/01/1931, Thống sứ Nam kỳ thôngbáo cho toàn quyền Đông Dương về việc sáp nhập quần đảo Trường Sa và tỉnh BàRịa Vũng Tàu Năm 1938, Pháp phái các đơn vị bảo an đến đồn trú trên các đảo vàxây dựng một hải đăng, một trạm khí tượng được Tổ chức Khí tượng thế giới chođăng ký với số hiệu 48859 ở đảo Phú Lâm, một trạm vô tuyến điện TSF trên đảoHoàng Sa Ngày 15/6/1938, Pháp xây xong trạm khí tượng ở đảo Ba Bình, quầnđảo Trường Sa Ngày 30/3/1938, vua Bảo Đại ký Dụ số 10 sáp nhập Hoàng Sa vàotỉnh Thừa Thiên Huế Ngày 15/6/1938, toàn quyền Đông Dương Jules Brevie kýNghị định 156-S-V thành lập đơn vị hành chính cho quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnhThừa Thiên Huế
Tháng 6/1938, một đơn vị lính bảo an Việt Nam được phái ra đồn trú tạiquần đảo Hoàng Sa Một bia chủ quyền đã được dựng tại đảo Hoàng Sa Trongchiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản tuyên bố sáp nhập các quần đảo trong BiểnĐông vào các vùng lãnh thổ mà Nhật đã chiếm đóng Ngày 4/4/1939, Chính phủPháp gửi Công hàm phản đối các quyết định nói trên của Nhật và bảo lưu quyềncủa Pháp tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.Ngày 26/11/1943, tuyên
bố Cario về kết thúc chiến tranh với Nhật và giải quyết các vấn đề chiến tranh,trong đó có vấn đề lãnh thổ khác bị Nhật chiếm đóng từ khi bắt đầu cuộc chiếntranh thế giới thứ I năm 1914.Tháng 7/1945, Tuyên bố Posdam khẳng định cácđiều khoản của Tuyên bố Cario sẽ được thực hiện Ngày 15/8/1945, Nhật thua trậnphải rút khỏi Đông Dương và ngày 26/8/1945, quân đội Nhật phải rút khỏi quầnđảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa
Trang 14- Thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa vàHoàng Sa Trong hoàn cảnh lịch sử cuối năm 1946 đầu năm 1947, mặc dù Việt
tuyên bố độc lập ngày 02/9/1945, không còn ràng buộc vào Hiệp ước Pa- tơ- nốt
1884, song Pháp cho rằng theo Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946, Việt Nam Dân chủCộng hòa còn nằm trong khối Liên hiệp Pháp, về ngoại giao vẫn thuộc Pháp, nênPháp có nhiệm vụ thực thi quyền đại diện Việt Nam trong vấn đề chống lại mọixâm
phạm chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.Theo Hiệp định ngày 8/3/1949, Pháp dựng lên chính quyền thân Pháp, gọi làQuốc gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu Tuy nhiên, trong thực tế quânđội Pháp vẫn làm chủ Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và TrườngSa
Năm 1949, tổ chức Khí tượng thế giới OMM đã chấp nhận đơn xin đăng kýdanh sách các trạm khí tượng do Pháp xây dựng tại quần đảo Trường Sa và Hoàng
Sa vào danh sách các trạm khí tượng thế giới: Trạm Phú Lâm, sổ hiệu 48859, TrạmHoàng Sa số ký hiệu 48860, Trạm Ba Bình số hiệu 48419 Ngày 8/3/1949, Pháp kývới Bảo Đại Hiệp định Hạ Long trao trả độc lập cho chính phủ Bảo Đại, tháng4/1949, Hoàng Thân Bửu Lộc, tuyên bố khẳng định lại chủ quyền của Việt Namđối với Hoàng Sa Ngày14/10/1950, Tổng trấn Trung phần Phan Văn Giáo đã chủtrì việc bàn giao quản lý quần đảo Hoàng Sa giữa Chính phủ Pháp và Chính phủBảo Đại
Năm 1951, Hội nghị San Fransico có đại diện của 51 nước tham dự để kýkết Hòa nước với Nhật Tại phiên họp toàn thể mở rộng, ngày 5/9/1951, với 48phiếu
chống, 3 phiếu thuận, đã bác bỏ đề nghị của ngoại trưởng Gromưco (Liên Xô cũ)về
việc tu chỉnh khoản 13 của Dự thảo Hòa ước, trong đó có nội dung: Nhật thừa nhậnchủ quyền của CHND Trung Hoa đối với quần đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơnnữa về phía Nam Ngày 7/9/1951, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng của Chính phủquôc gia Việt Nam Trân Văn Hữu đã long trọng tuyên bố hai quần đảo Hoàng Savà
Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam, không có một đại biểu nào trong Hội nghị cóbình luận gì về tuyên bố này Ngày 8/9/1951, Hòa ước với Nhật được ký kết Điều
2, Đoạn 7 của Hòa ước đã ghi: Nhật Bản từ bỏ chủ quyền, danh nghĩa và thamvọng đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Ngày 20/7/1954, Hiệp ước Giơ