Tuy nhiên cũng cần phải nhìn nhận rằng, bên cạnh sự cố gắng nỗ lực của tập thể cán bộ và giảng viên trong suốt nhiệm kì qua, đặc biệt trong 3 năm với nhiều thay đổi bứt phá về mở rộng [r]
Trang 1ĐÀO TẠO GẮN VỚI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẤT NƯỚC, VÀ ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH CHO PHÁT TRIỂN NGÀNH GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN
1 Bối cảnh giáo dục Việt Nam
Yêu cầu giải quyết vấn đề nguồn nhân lực, đào tạo được đội ngũ nhân lực có chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đang là vấn đề trung tâm, thách thức to lớn đối với Việt Nam hiện nay Yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những vấn đề lớn nhất trong cuộc cách mạng 4.0 do những thiếu hụt lớn về nguồn nhân lực trong thị trường kỹ thuật số, theo dự báo trong những năm tới Việt Nam sẽ thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực, trong lĩnh vực công nghệ thông tin nói chung và công nghệ cao nói riêng, Việt Nam sẽ thiếu hụt khoảng
78 nghìn nhân lực mỗi năm và đến năm 2020 sẽ thiếu hơn 500 nghìn nhân lực, chiếm 78% tổng nhu cầu nhân lực công nghệ thông tin
Cần đổi mới định hướng và chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo tại Việt Nam trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và sự hình thành nền kinh tế số Muốn vậy, về mặt nhận thức quan điểm phải thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, từ đó xây dựng các cơ chế chính sách phù hợp, với lộ trình, bước đi hợp lý, khoa học Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn liền với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với tiến bộ khoa học - công nghệ, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động Thực hiện mục tiêu trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng, phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục của Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực: Đổi mới chương trình, nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, phù hợp với mọi lứa tuổi, trình độ, ngành nghề, theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, phải học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, đảm bảo dân chủ thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng
Trang 2Bối cảnh đó đặt ra nhiệm vụ cho các trường đại học ở Việt Nam cần nâng cao chất lượng chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao, trước đòi hỏi của thực tiễn, phát triển chương trình đào tạo ngành nghề mới phù hợp
xu thế phát triển, xuất hiện trong thời kỳ kỷ nguyên số, các chương trình đào tạo mở, liên thông, mang tính đa ngành, liên ngành và xuyên ngành đáp ứng yêu cầu đa dạng của thị trường lao động
2 Các yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển các chương trình đào tạo
Ngày 04 tháng 11 năm 2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Nghị quyết đã đề ra những giải pháp quan trọng liên quan đến đào tạo nguồn nhân lực cho giáo dục: Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan; Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng, Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo
Thông tư số 16/2017/TT-BGDĐT hướng dẫn danh mục khung vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục phổ thông công lập, tại điều 3 khoản 2b quy định nhóm vị trí việc làm gắn với công việc hỗ trợ phục vụ về công nghệ thông tin; tại Điều 9, khoản b đã quy định vị trí giáo viên kiêm nhiệm làm công tác tư vấn cho học sinh ở trường phổ thông có thể sử dụng từ 03 đến 08 tiết để thực hiện nhiệm vụ tư vấn tùy thuộc vào quy mô và địa bàn của trường học Thông
tư số 31/2017/TT-BGDĐT về Hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm lí cho học sinh trong trường phổ thông quy định nhà trường có tổ tư vấn và bố trí giáo viên kiêm nhiệm để thực hiện công tác tư vấn tâm lí cho học sinh Chuẩn nghề nghiệp giáo viên các cấp và cán bộ quản lý đã được ban hành là tiền đề xây dựng chuẩn đầu ra của các chương trình đào tạo trong lĩnh vực đào tạo giáo viên và khoa học giáo dục, phát triển chương trình đáp ứng yêu cầu chuẩn nghề nghiệp
Theo quy định tại Điều 72 Luật Giáo dục năm 2019, từ ngày 01/7/2020, giáo viên phải đáp ứng điều kiện mới về chuẩn trình độ đào tạo, cụ thể: Giáo viên mầm non phải có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm trở lên; Giáo viên tiểu học phải có bằng cử nhân ngành đào tạo giáo viên trở lên; Giáo viên trung học cơ sở phải có bằng
cử nhân ngành đào tạo giáo viên trở lên Điều này đòi hỏi các trường đào tạo giáo viên phát triển chương trình đào tạo giáo viên theo yêu cầu mới
Đối với giáo dục, cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 với những tác động mạnh mẽ của nó đã bắt đầu có những ảnh hưởng đến nền giáo dục hiện hành và định hình cho tương lai của giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng của hầu hết các nước trên thế giới Để nắm bắt những cơ hội, hạn chế những thách thức của cuộc cách mạng này, nền giáo dục trong các quốc gia cũng có những chuyển đổi tương ứng, tạo thành
Trang 3một hình thái mới mà nhiều người gọi là nền giáo dục 4.0 Đứng trước những thách thức cũng như cơ hội của Giáo dục 4.0, Trường ĐHGD đã và đang có những đổi mới nhất định nhằm thích ứng và đáp ứng theo nhu cầu xã hội trên tất cả các phương diện hoạt động Nhà trường phấn đấu không ngừng đổi mới và sáng tạo để có thể dần ứng dụng các sản phẩm của nền giáo dục thông minh trong thời đại 4.0 vào giảng dạy, học tập và quản lý giáo dục, nhằm phát triển Nhà trường theo định hướng đại học nghiên cứu, với mô hình đại học thông minh mang những đặc trưng của nền giáo dục trong
kỷ nguyên mới, đó là: sáng tạo - liên ngành - kết nối - công nghệ giáo dục Một trong những đặc thù của trường học thông minh là phát triển các chương trình đào tạo mang tính xuyên ngành, giáp ranh giữa các lĩnh vực Do đó, định hướng của Nhà trường là
ưu tiên phát triển các chương trình đào tạo mới, đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiến bộ của thời đại
Chương trình và SGK phổ thông mới của Việt Nam sẽ áp dụng cho các cấp học
từ năm học 2021-2022 có các môn mới như Khoa học tự nhiên, Lịch sử và Địa lí, Kinh tế và Pháp luật… Để dạy học môn tích hợp đòi hỏi mỗi GV phải thay đổi cách dạy từ chỗ tiếp cận đơn môn sang liên môn và đa môn bằng cách trước mắt là tự học,
tự nghiên cứu kiến thức khoa học ở mức độ phổ thông, tiếp đó là qua các khóa bồi dưỡng nâng cao trình độ các môn khoa học liên quan Về việc dạy học các môn này, mỗi GV cần phải biên soạn các bài dạy ở mức độ sâu hơn đối với kiến thức môn của mình đồng thời có sự lồng ghép với kiến thức các môn học liên quan trên tinh thần coi bài dạy của GV là “bài học” của học sinh (HS) Nhu cầu đào tạo bồi dưỡng giáo viên từ đơn môn sang tích hợp và đào tạo mới giáo viên các môn học này rất lớn
3 Các giải pháp nâng cao chất lượng chất lượng
Để đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực trình độ cao để thích ứng với các yêu cầu của đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo cần những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo:
3.1 Đổi mới hoạt động đào tạo
Bao gồm: đổi mới công tác tuyển sinh; nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và nhà quản lý giáo dục; đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá
- Đổi mới tuyển sinh:
+ Nghiên cứu, tham khảo các giải pháp, hình thức tổ chức tuyển sinh của các nước tiên tiến để đề xuất giải pháp, hình thức tổ chức tuyển sinh phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam;
+ Cải tiến, mở rộng mô hình tổ chức thi tuyển sinh theo phương thức đánh giá năng lực mà Đại học Quốc gia Hà Nội đã triển khai thí điểm thành công trong những năm 2016, 2017, và hiện nay đang được thực hiện hiệu quả tại Đại học Quốc gia TP
Hồ Chí Minh và Đại học Bách khoa Hà Nội
+ Nhà trường đang triển khai hệ thống đánh giá thích ứng, đây là một phương pháp đánh giá hiện đại đảm bảo tin cậy, triển khai diện rộng phù hợp dạy học theo hướng cá nhân hoá
Trang 4- Đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá:
+ Dạy học theo hướng cá nhân hóa: Chú trọng đặc điểm cá nhân của người học,
có những phương pháp dạy học khác nhau tương ứng với các nhóm đối tượng/cá nhân khác nhau
+ Đào tạo kết hợp (Blended Learning): kết hợp giữa đào tạo trực tuyến (E-learning/ online learning), đào tạo di động (M-Learning) và đào tạo trực tiếp với sự ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin
+ Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và các công nghệ giáo dục hiện đại trong giảng dạy và kiểm tra đánh giá
+Tiến hành điều tra, khảo sát, lấy ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà hoạch định chiến lược - chính sách, các nhà sử dụng lao động, người học, tham khảo kinh nghiệm và các chương trình đào tạo của các nước tiên tiến…để xây dựng chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo đáp ứng: tính hiện đại, nhu cầu thực tiễn, đào tạo các kiến thức, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp theo yêu cầu của xã hội Mạnh dạn loại bỏ những chương trình đào tạo, những môn học lạc hậu, có chuẩn đầu ra không còn phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước;
+ Thiết kế các chương trình đào tạo theo hướng Module hóa, người học được lựa chọn các Module khác nhau để hoàn thành và được cấp bằng hoặc cấp chứng nhận theo chuẩn đầu ra đã đạt được
+ Tăng cường tính linh hoạt trong công tác tổ chức và triển khai đào tạo, không hạn chế thời gian tham gia đào tạo của người học, tạo cơ hội cho người học được học tập suốt đời Theo dõi và quản lý quá trình dạy và học của giảng viên và người học bằng hệ thống Quản trị đào tạo (Learning Management System - LMS)
3.2 Tái cấu trúc hệ thống, thu hút, nâng cao trình độ cán bộ, giảng viên
Để thực hiện triển khai chương trình đào tạo mới theo định hướng chiến lược phát triển, năm học 2017-2018 tái cấu trúc bộ máy thành lập khoa mới: Khoa Công nghệ giáo dục, Khoa Quản trị chất lượng, tái cấu trúc lại với 20 bộ môn thuộc các Khoa Nhà trường quyết liệt và nhân văn trong rà soát tinh giảm bộ máy hành chính tinh gọn và chuyên nghiệp, giảng viên chất lượng cao và hội nhập; thực hiện nhiều chính sách chế
độ thu hút và trọng dụng nhân lực có trình độ và khả năng hội nhập với 3GS, 5 PGS,
13 TS, 7 Ths Bên cạnh đó công tác đánh giá, bồi dưỡng năng lực đội ngũ cũng được chú trọng từ các hoạt động tự bồi dưỡng bên trong, đến cử cán bộ tham gia các khoá bồi dưỡng trong và ngoài nước Tuy nhiên cũng cần phải nhìn nhận rằng, bên cạnh sự cố gắng nỗ lực của tập thể cán bộ và giảng viên trong suốt nhiệm kì qua, đặc biệt trong 3 năm với nhiều thay đổi bứt phá về mở rộng lĩnh vực đào tạo khoa học giáo dục; đội ngũ của Nhà trường vẫn còn đối mặt với những thách thức mới có thể đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chiến lược của Trường Đại học Giáo dục định hướng và tầm nhìn trong giai đoạn mới
Thực hiện tốt việc rà soát, đánh giá, phân loại đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản
lý làm cơ sở để đề ra các giải pháp xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
Trang 5giáo dục theo hướng chuẩn hóa, nâng cao chất lượng về trình độ chuyên môn, trình
độ quản lý, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp Thống kê nhu cầu cần được bồi dưỡng, nâng chuẩn được đào tạo để lập kế hoạch tổng thể về thời gian và bố trí kinh phí thực hiện; Dự báo nhu cầu nguồn nhân lực trong thời gian tới để giao chỉ tiêu đào tạo cho các cơ sở đào tạo đội ngũ nhà giáo và nhà quản lý giáo dục Tính đến thời điểm hiện tại, với đội ngũ 130 cán bộ giảng viên, với tỉ trọng đội ngũ hành chính tin gọn (khoảng 30%), tỉ lệ GV có trình độ tiến sĩ thuộc nhóm cao trong các trường (80% tổng số giang viên); duy trì đồng đều trong các năm liên tiếp
3.3 Tăng cường cơ sở vật chất phục vụ đào tạo
Trong 5 năm qua, Trường ĐHGD đã được đầu tư hệ thống phòng học thông minh (bảng tương tác, màn hình tương tác đa điểm), 3 phòng thực hành dạy học thí nghiệm Vật lí, Hóa học, Sinh học, bước đầu tiến hành sản xuất các bài giảng điện
tử có tính tương tác, ứng dụng các công nghệ mới trong dạy học và nghiên cứu theo hướng tương tác mạnh và cá nhân hóa việc học tập Vì tính cấp thiết của vấn đề trong nghiên cứu và đào tạo, trường ĐHGD đầu tư một số dự án PTN chuyên đề: Phòng thực nghiệm tâm trắc và hướng nghiệp, Phòng Đánh giá trong giáo dục Phòng ứng dụng công nghệ và phát triển học liệu số Trường có 1 trường THPT thực hành trực thuộc, 14 trường phổ thông là cơ sở vệ tinh, nơi thực hành của sinh viên theo mô hình đào tạo theo mô hình a+b và nhiều trường tiểu học, mầm non, các cơ sở giáo dục là
cơ sở thực hành cho những ngành mới mở của nhà trường Đây là tiền đề quan trọng
để triển khai phát triển các chương trình đào tạo
3.4 Gắn nghiên cứu khoa học với hoạt động đào tạo
Nhà trường chủ động đổi mới chính sách khoa học công nghệ đối với người học, giảng viên Tập trung hướng nghiên cứu lớn cho khoa học, công nghệ giáo dục ứng dụng trong đào tạo giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục Gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học Giáo dục hòa nhập: nghiên cứu đề xuất những mô hình, chiến lược làm việc hiệu quả với trẻ có từng rối loạn phổ tự kỷ khác nhau trong môi trường giáo dục hòa nhập; Phát triển năng lực chuyên môn của giáo viên để làm việc với trẻ khuyết tật Bậc học tiểu học, mầm non: Nghiên cứu đề xuất các mô hình giáo dục hiện đại cho các bậc học mầm non, tiểu học đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
Có chính sách nghiên cứu khoa học cho người học: người học có thể đăng ký nghiên cứu khoa học tại bất kỳ thời điểm nào, các nghiên cứu tốt được tài trợ, hỗ trợ
để ra sản phẩm cuối cùng
4 Các giải pháp phát triển các chương trình đào tạo của trường ĐHGD
4.1 Xây dựng các chương trình đào tạo mới đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và nhu cầu xã hội
Trong giai đoạn vừa qua Nhà trường đã xây dựng và triển khai chương trình đào tạo mới với 9 ngành cử nhân, 2 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ, 2 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ Nhiều ngành là duy nhất tại Việt Nam như: Quản trị trường học, Quản trị chất lượng giáo dục; Quản trị Công nghệ giáo dục; Đo lường và Đánh giá trong giáo dục;
Trang 6Quản trị chất lượng giáo dục, Tham vấn học đường, Khoa học giáo dục Để đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới, trường đã xây dựng các chương trình đào tạo như: Sư phạm Khoa học Tự nhiên; Sư phạm Lịch sử và Địa lý; Lý luận, phương pháp và công nghệ dạy học; Đáp ứng nhu cầu đội ngũ giáo viên đạt chuẩn được đào tạo theo Luật Giáo dục, Trường đã xây dựng các chương trình đào tạo như: Giáo dục Tiểu học; Giáo dục Mầm non Ngoài ra, Trường cũng đã xây dựng mới các chương trình đào tạo mới như Khoa học Giáo dục; Tham vấn học đường; Quản trị chất lượng giáo dục; Quản trị công nghệ giáo dục…đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho việc đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo
4.2 Phát triển các chương trình đào tạo truyền thống
Ngoài việc phát triển các chương trình đào tạo mới Trường cũng đã tổ chức điều chỉnh, cập nhật các chương trình đào tạo truyền thống theo triết lý tăng cường tính liên thông giữa các ngành/nghề đào tạo; từng bước tạo điều kiện cho người học được học theo triết lý giáo dục khai phóng, cá nhân hóa và học tập suốt đời Sinh viên đươc học kiến thức chung đại cương căn bản năm thứ nhất đảm bảo đủ rộng trong các lĩnh vực của khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên Các học phần thực hành được thiết kế tăng thời lượng nhằm mục tiêu cho người học có cơ hội ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn
và rèn nghề Đổi mới đào tạo học phần khoá luận tốt nghiệp theo hướng tích lũy hồ
sơ dạy học Bổ sung học phần quy tắc đạo đức nghề nghiệp, điều chỉnh học phần kỹ năng bổ trợ theo hướng là dự án rèn kỹ năng mềm, kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên
4.3 Phát triển các chương trình đào tạo mô hình a+b
Mô hình đào tạo a+b trong 20 năm qua đã có những đóng góp đáng kể trong việc đào tạo đội ngũ giáo viên phổ thông; xây dựng một mô hình đào tạo giáo viên hiệu quả, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho giáo dục nước nhà
Theo mô hình đào tạo a+b, về cơ bản sự phối hợp đào tạo cử nhân sư phạm được thực hiện giữa 7 khoa khoa học cơ bản của 2 Trường ĐHKHTN và ĐHKHXH&NV với Trường ĐHGD, ĐHQGHN trong những năm qua được thực hiện khá tốt Cấu trúc chương trình đảm bảo tính liên thông chặt chẽ, việc tham gia biên soạn và thẩm định chương trình đều có sự đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, chuyên gia, cán
bộ quản lí thuộc đơn vị phối hợp đào tạo, khối kiến thức M3, M4 đều được xây dựng trên cơ sở kế thừa, tích hợp lựa chọn từ chương trình đào tạo ngành tương ứng của các đơn vị kết hợp đào tạo v.v
Tuy nhiên, bối cảnh giáo dục Việt Nam gần đây có đổi mới liên quan đến đào tạo giáo viên cần thiết phải điều chỉnh phương thức tổ chức và quản lý các chương trình đào tạo cử nhân sư phạm theo mô hình a+b ở ĐHQGHN, cụ thể: Trường ĐHGD đã chuyển đổi chương trình đào tạo sư phạm theo hướng tăng tính tích hợp liên môn, liên ngành, tổ chức tuyển sinh theo nhóm ngành, sinh viên năm thứ nhất học các môn chung của ĐHQGHN, của ĐHGD và phân ngành sau khi kết thúc năm học thứ nhất nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới đào tạo giáo viên
Các trường tham gia đào tạo giáo viên theo mô hình a+b thống nhất điều chỉnh phương thức quản lý đào tạo theo hướng Trường ĐHGD quản lý đào tạo toàn bộ, phối hợp với các trường cử giảng viên tham gia đào tạo theo lịch trình, kế hoạch của Nhà trường
Trang 74.4 Xây dựng các chương trình đào tạo bằng kép
Đào tạo bằng kép đã tạo cho sinh viên của các Trường Đại học Giáo dục cơ hội được cấp bằng đại học thứ hai của một đơn vị đào tạo khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội Trong những năm qua, Nhà trường chủ động điều chỉnh chương trình theo quy định, tăng tính liên thông giữa các chương trình đào tạo trong và ngoài trường thuẩn lợi cho sinh viên học một lúc hai bằng Hiện tại Nhà trường đang có các chương trình đào tạo bằng kép trong các ngành đào tạo trong trường, với Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Ngoại ngữ; Trường đang tích cực phối hợp với Trường Đại học Công nghệ và Khoa Luật để xây dựng các chương trình đào tạo bằng kép Ngoài ra, sinh viên Trường ĐHGD có thể đăng ký theo học một số học phần trong các chương trình đào tạo của Trường Đại học Kinh tế để tích lũy thêm kiến thức
5 Đề xuất chính sách
Sớm ban hành điều lệ các trường đại học cao đẳng trong đó các quy định có tính đột phá như về cơ cấu tổ chức để thúc đẩy nâng cao hiệu quả, chất lượng của các chương trình đào tạo
Trao, thực hiện quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học để Luật đưa được vào thực tiễn, giải phóng sức sáng tạo của các trường đại học, các trường thành viên tại ĐHQGHN
Đổi mới tuyển sinh theo tinh thần của Luật Giáo dục, thành lập một số trung tâm khảo thí lớn, hiện đại để triển khai hoạt động khảo thí
Thực hiện Luật Sửa đổi một số điều của Luật Giáo dục Đại học ngày 19/11/2018 Triển khai năm học mới, Nhà trường đề xuất Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chính phủ khẩn trương ban hành Nghị định quy định về chính sách hỗ trợ tiền đóng học phí, chi phí sinh hoạt đối với học sinh, sinh viên Sư phạm
Đầu tư trọng điểm trong giáo dục: đầu tư phát triển ĐHQGHN ở Hoà Lạc sớm làm tiền đề phát triển đại học Việt Nam trong giai đoạn mới
Quy định mở về mã ngành nghề, vị trí việc làm trong lĩnh vực giáo dục theo nhu cầu của thực tiễn, các cơ sở giáo dục
ĐHQGHN thay đổi cơ chế quản lý sinh viên theo mô hình a+b (QĐ số 3169/ TB-ĐHQGHN ngày 09/9/2014 của Giám đốc ĐHQGHN) và chính sách học phí mới dành cho sinh viên Sư phạm ĐHQGHN cần sự thống nhất, đồng bộ trong quản
lý đào tạo và quản lý sinh viên cũng như có chính sách tài chính phù hợp cho các chương trình đào tạo này