truyền thuyết thể hiện thái độ và cách đánh giá của nhân dân đối với các sự kiện và nhân vật lịch sử được kể.. Những Truyền thuyết về thời các vua Hùng vẽ nên một bức tranh hoành tráng v
Trang 1Ngày soạn: 14/9/2014
Ngày giảng: 15/9/2014
1 Bài tập 1: Luyện chính tả
- Quy tắc viết hoa: Đầu câu (đầu dòng viết lùi một ô và viết hoa, sau dấu chấm), danh
từ riêng: tên người, tên địa phương, (tên nhân vật trong văn học, trong bài văn mặc dù
đó là danh từ chung nhưng khi đưa vào tác phẩm hay bài văn thì nó đại diện cho loàinên vẫn viết hoa) Gv đưa ví dụ…
Yêu cầu: Chép theo trí nhớ 2 bài thơ mà em thích nhất ?
3 Bài tập 3: Viết bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về ngày 20/11.
HS thực hiện theo yêu cầu của Gv
Gv nhận xét bài tập của Hs
Gv đọc bài tham khảo cho HS nghe
Tiết trời trở lạnh sang đông Ngày 20-11 lại đến Những kỷ niệm về công ơn Thầy Cô giáo bỗng trỗi dậy trong tiềm thức khiến mỗi chúng ta lại nao nao xúc động.Nhanh thật! Mới đó mà gần 6 năm đã trôi qua kể từ ngày đầu tiên em cắp sách đi học.Gần 6 năm em đến trường được Thầy Cô giảng dạy, 6 năm mà tình nghĩa của Thầy
Cô ngọt ngào quyện theo mỗi bước tiến của em Và bây giờ đây chúng em đang ở ngôi trường Thanh An thân yêu, học lớp 6 A với thầy cô mới nhưng 2 tháng qua cũng
đã là quá đủ để chúng em cảm nhận được tình yêu thương mà các thầy các cô đã dànhcho chúng em Và chúng em cảm thấy chúng em đã lớp 6 rồi mà vẫn như là học sinh lớp 1, mới bẽn lẽn bước vào lớp
Điều mà em đón nhận được ở tất cả các vị Thầy Cô ấy là tình thương bao la vô bờ bến Đã bao lần em bắt gặp ở Thầy Cô nét phiền muộn ưu tư khi chúng em chưa ngoan Và cũng bao lần em nhìn thấy những nụ cười rạng rỡ làm Thầy Cô trẻ hẳn lại mỗi lúc chúng em cố gắng trong học tập Cao cả thay những kỹ sư tâm hồn!
Thầy Cô đã vì chúng em mà có quản ngại chi Vậy mà đôi lúc chúng em nào có hiểu
ra điều đó làm cho Thầy Cô phiền lòng Chúng em đã từng không chuẩn bị bài khi đến lớp, và viện lý là bài khó học Nhưng tại sao chúng em không hiểu rằng để giảng dạy cho dễ hiểu, Thầy Cô đã tốn bao công sức chuẩn bị giáo án hằng đêm
Tại sao chúng em không biết rằng có những đêm mất điện, trong lúc chúng em ngủ say thì Thầy Cô còn thức bên ngọn đèn chấm bài, sửa từng câu, từng chữ Còn biết bao câu hỏi tại sao, chúng em thật nông nổi và đáng trách Nhưng Thầy Cô bao giờ cũng sẵn sàng tha thứ bằng tình thương yêu học trò nồng thắm Ôi Thầy Cô của chúng em!
Trang 2Rồi khi em được công nhận là học sinh giỏi, cha mẹ, bạn bè và người xung quanh đềukhen ngợi Nhưng em hiểu rằng, đằng sau thành tích đó là những giọt mồ hôi và hơi
ấm tình thương của Cô Em như một bông hoa, còn Cô là lòng đất Hoa phải nhờ đất nuôi sống, nhờ đất lớn lên và xinh đẹp tô điểm cho đời Thế nhưng người ta chỉ khen hoa đẹp, mấy ai nhớ đến nguồn gốc đã nuôi sống bông hoa
Song, đất không bao giờ phiền lòng về điều đó, vẫn tháng tháng ngày ngày nuôi sống
vẻ đẹp cho đời Cô cũng vậy, như dòng nước chảy xuôi, dạy dỗ chúng em mà không
hề toan tính Cho nên chúng em - những bông hoa phải biết cội nguồn cho mình sức sống, mà tỏ lòng biết ơn đối với Thầy Cô Dù biết là nhớ ơn thế nào cho đủ, nhưng cũng phải tỏ chút gì để thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn Lòng biết ơn đôi khi chỉ là việc đến thăm viếng Thầy Cô mỗi dịp Tết, lễ nhưng nó sẽ động viên Thầy Cô rất nhiều trong việc giảng dạy
Một mùa Xuân mới lại sắp về Chúng em thêm một tuổi, và tóc Thầy Cô cũng thêmnhiều sợi bạc Tóc Thầy Cô đã bạc đi cho mùa Xuân quê hương mãi mãi tươi xanh Thầy Cô, đó là tấm gương sáng tuyệt vời, là ngọn đuốc thiêng liêng soi đường cho chúng em bước tới Rồi mai kia khi chúng em đã rời xa quê hương Em đã vào đại học, tiếp tục con đường học vấn của mình Bước đường tương lai rộng mở trước mắt
em Con đường ấy chính Thầy Cô là người khai mở Vì thế, cho dù đã trưởng thành đến mấy, dù giữ vị trí nào trong xã hội, thì những hình bóng kính yêu của Thầy Cô mãi mãi ở bên em như nhắc nhở, động viên em trong suốt cuộc đời Hôm nay đây, với sự họp mặt đầy đủ của các thành viên trong lớp 6A, chúng em xin được kinh tặng
cô những bông hoa tươi thắm nhất, không chỉ là tấm lòng mà chúng em giành cho cô
mà còn là một lời hứa chân thực nhất chúng em muốn nói với cô: Chúng em sẽ cố gắng chăm ngoan hơn để không phụ lòng cô đã mong mỏi ở chúng em.Ngoài mẹ cha , thầy cô là tất cả ,
Đã cho em đôi cánh bước vào đời
Trong lòng em mãi luôn thầm nhủ :
"Nhớ ơn thầy cô đến trọn đời!"
4 Bài tập 4: Viết đoạn văn trình bày cảm xúc của em khi bước vào cấp II.
- GV hướng dẫn học sinh viết
- Giáo viên chỉnh sửa, nhận xét
Trang 3Ngày soạn: 15/9/2014
Ngày giảng: 18/9/2014
BUỔI 2: ÔN TẬP PHẦN VĂN HỌC
Ôn tập về truyện dân gian
* Liệt kê các truyện dân gian đã học theo bảng sau:
Là loại truyện dân gian kể về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến
lịch sử thời quá khứ, thường có yếu tố tưởng tượng kỳ ảo truyền thuyết thể hiện thái
độ và cách đánh giá của nhân dân đối với các sự kiện và nhân vật lịch sử được kể.
2 Những đặc trưng thể loại truyền thuyết.
a Đề tài: Là những truyện dân gian về lịch sử, bao gồm những sự kiện lịch sử
và nhân vật lịch sử Ngoài ra có những truyền thuyết về nguồn gốc địa danh
Truyền thuyết Việt Nam có thể chia thành 2 nhóm:
- Những truyền thuyết về thời các vua Hùng.
Truyền thuyết về thời các vua Hùng tập chung vào một chủ đề lớn - đó là
giải thích nguồn gốc chung của người Việt và ca ngợi công cuộc dựng nước giữ nướccủa các vua Hùng ở buổi bình minh của lịch sử dân tộc Từ bao đời nay ba truyện
Con Rồng cháu Tiên; Sơn Tinh, Thuỷ Tinh và Thánh Gióng vẫn được coi là ba truyện
đứng đầu pho truyền thuyết này
Những Truyền thuyết về thời các vua Hùng vẽ nên một bức tranh hoành tráng về sự nghiệp mở nước của các đấng tổ tiên người Việt (Lạc Long Quân và Âu
Cơ), về công cuộc dựng nước thể hiện ở đời sống văn hoá phong phú và có quy củ,
có bản sắc riêng của một cộng đồng người hàng ngàn năm đã làm chủ riêng một bờ
cõi Đây là một bằng chứng về sự tồn tại của thời đại Hùng Vương.
- Những truyền thuyết đời sau.
Trang 4Có phần khác với truyền thuyết thời cổ Những truyền thuyết đời sau đã thực sự
hướng hẳn vào những quá trình lịch sử cụ thể, những sự kiện và nhân vật cụ thể,trong đó nổi bật hơn cả là:
Những cuộc khởi nghĩa và những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm với nhânvật trung tâm là những anh hùng dân tộc ( như chuỗi truyền thuyết về Lê Lợi, Hai BàTrưng, Bà Triệu )
b Chức năng: Ghi giữ và biểu thị thái độ của nhân vật và lịch sử đã thu hút sự
chú ý của nhân dân
c Nghệ thuật.
Truyền thuyết không có những kiểu cốt truyện đặc sắc, không có sức khái quátcao về mặt nghệ thuật Về đại thể, cốt truyện của truyền thuyết khá đơn điệu và mangdáng dấp của lược đồ ba phần:
+ Hoàn cảnh xuất hiện nhân vật chính( anh hùng, danh nhân, )
+ Sự nghiệp của nhân vật ( chiến công, công trạng, )
+ Chung cục thân thế nhân vật ( với những chi tiết về sự vinh phong, giaphong, , về sự thờ cúng; nếu là trường hợp người anh hùng hi sinh thì có thể có đoạn
kể tiếp về sự hiển linh hiển thánh, tiếp tục giúp dân, giúp nước, )
Nhân vật chính của truyền thuyết là trung tâm của sự kiện lịch sử được kể lại Thông thường mỗi truyền thuyết kể về một sự kiện lịch sử Nhưng có những sựkiện lịch sử lớn được kể lại bằng một chuỗi truyền thuyết Những truyền thuyết nhưthế bao gồm nhiều sự kiện liên hoàn, trong đó mỗi sự kiện nhỏ có thể nổi lên mộtnhân vật chính ( ví dụ chuỗi truyền thuyết về Lê Lợi gồm hàng chục mẩu chuyện,như chuyện về Trao gươm thần với các nhân vật Long Quân – Lê Thận – Lê lợi –Rùa Vàng, chuyện về hai ông bà lão bắt cá và Lê Lợi, chuyện về cô gái chồn và LêLợi ), nhưng nhân vật trung tâm của sự kiện lớn vẫn là nhân vật xuyên suốt cảchuỗi
Lời kể trong truyền thuyết chỉ có thể khai thác ở một số chi tiết, hình ảnh tiêubiểu về sự kiện và nhân vật trong truyện
2 Các văn bản truyền thuyết đã học 2.1 Con Rồng, cháu Tiên
a Cốt lõi lịch sử (những sự kiện và con người có thực): Hình ảnh của tổ tiên ta trong
những ngày đầu khai thiên lập địa mang vẻ đẹp phi phàm, dũng cảm, tài năng
b Yếu tố hoang đường, kì lạ -
Cơ sở lịch sử: cốt lõi sự thật lịch sử chỉ là cái nền, cái “phông” cho tác phẩm Lịch sử
ở đây đã được nhào nặn lại, đã được kì ảo hóa để khái quát hóa, lý tưởng hóa nhân vật
và sự kiện, làm cho câu chuyện trở lên hấp dẫn từ đó nâng cao giá trị để khẳng định dòng dõi cao quý đẹp đẽ và linh thiêng của dân tộc.
- Hình ảnh LLQ và AC: Hội tụ vẻ đẹp tinh túy nhất, cao sang nhất vẻ đẹp của hồn thiêng sông núi đất trời.
+ AC: thuộc họ thần Nông xinh đẹp, tâm hồn lãng mạn đầy cảm xúc, trái tim nhân ái với
cuộc sống.
+ LLQ: nòi Rồng, tài năng, dũng mãnh, phi thường-> dòng dõi cao quý, tài năng, đẹp đẽ và
nhân hậu<=> Dân tộc VN được sinh ra từ những con người đẹp đẽ như vậy
-> Tự hào, tự tôn nguồn gốc của chính mình
c Chi tiết có ý nghĩa “Bọc trăm trứng nở người con khỏe mạnh”.
+ Yếu tố đậm chất thần thoại hoang đường: DT VN có dáng dấp Rồng Tiên nên khỏe mạnh, đẹp đẽ.
Trang 5(Nguyễn Khoa Điềm Mặt đường khát vọng)
- Từ những vần thơ trên, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 15 câu) bày tỏ suy nghĩ tình
cảm của em đối với nguồn gốc nòi giống của mình.
* Yêu cầu: Cần làm nổi bật những nội dung:
+ Nơi chốn: Chim Rồng: thần tiên, đẹp đẽ > thanh cao.
+ LLQ - AC: vị thần tiên tài hoa, lịch lãm.
+ Nhân duyên: bọc trăm trứng > ý nghĩa nguyện đoàn kết.
=> Cảm xúc của mình:
Niềm tự hào về dòng dõi.
Tôn kính đối với các bậc tổ tiên.
Tâm trạng, ý nguyện của mình trước lời nhắn nhủ c
Bài về nhà:
Vua Hùng thứ nhất kể về nguồn gốc của mình cho các con nghe Hãy tưởng tượng mình là vua Hùn
g và viết lại lời kể đó Chữa bài tập về nhà:
* Yêu cầu:
Nhập vai vua Hùng thứ nhất (tức người con trưởng được tôn lên làm vua) để kể lại.
Kể sáng tạo nhưng phải tôn trọng cốt truyện với những diễn biến chính của sự
việc và nhân vật.
Kể ở ngôi thứ nhất, ở quan hệ giữa người kể và người nghe là qh cha con.
2.2 Bánh chưng, bánh giầy Cốt lõi
lịch sử: thời kì vua Hùng, tục làm bánh chưng bánh giầy vào dịp tết * ý nghĩa của một số chi tiết hoang đường:
Lang Liêu nằm mộng gặp thần và được thần giúp đỡ: người nghèo tốt bụng thì được thần
linh giúp đỡ.
- Lời dạy của thần: đề cao giá trị hạt gạo, đề cao sức lao động của con người.
- Lời vua nói về ý nghĩa của hai thứ bánh:
+ Tài năng và tấm lòng của vua, của Lang Liêu.
+ Khẳng định phong tục và truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
Giải thích nguồn gốc, phong tục làm bánh chưng bánh giầy vào dịp lễ Tết.
Đề cao lao động, sản phẩm của nông nghiệp.
> Sáng tạo văn hóa (phong tục tập quán rất đẹp), phong phú thêm đời sống tinh thần Bài tập:
trong vai Lang Liêu hãy kể lại truyện Bnhs chưng bánh giầy
2.3 Thánh Gióng.
a yếu tố hoang đường: giẫm vào vết chân về có thai, 3 tuổi đòi đi đánh giặc, ăn khoẻ, áo vừa mặc
đã căng đứt chỉ, vươn vai thành tráng sĩ mình cao hơn trượng, thắng giặc bay về trời.
b Cốt lõi lịch sử, hiện thực: Chống
giặc Ân xâm lược
Công cuộc chống ngoại xâm, giữ nước thời các vua Hùng.
Thời đại của nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước thô sơ và khả năng chế tạo vũ khí
chống giặc ngoại xâm bằng chất liệu kim loại (sắt).
Sức mạnh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước của toàn dân tộc.
c ý nghĩa của một số chi tiết tiêu biểu trong truyện
* Tiếng nói đầu tiên của cậu bé lên ba là tiếng nói đòi đi đánh giặc.
- Ca ngợi tinh thần yêu nước của dân tộc VN Đề cao ý thức trách nhiệm của mỗi người
Trang 6dân đối với đất nước.
- Truyền thống dân tộc, dòng máu yêu nước, ý chí quyết tâm của một dân tộc
không bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù.
- Hình ảnh cậu bé làng Gióng là h/a của nhân dân lao động VN cần cù, lam lũ
- Họ lặng lẽ làm ăn, nhưng khi có giặc ngoại xâm thì họ dũng cảm đứng lên, trở thành anh hùng.
* Bà con dân làng vui lòng góp gạo nuôi Gióng
Gióng sinh ra từ nhân dân, được nhân dân nuôi dưỡng > kết tinh sức mạnh yêu nước,đoàn
kết, chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước của nhân dân=> Niềm tin đánh thắng giặc
* Gióng lớn nhanh như thổi, vươn vai thành tráng sĩ
Hình ảnh kì vĩ, đẹp đẽ, phi thường của Gióng đã thể hiện sức bật mạnh mẽ của nhân dân- Khi vận mệnh dân tộc bị đe dọa, con người VN vươn lên với một tầm vóc phi thường.
- Quan niệm của cha ông về người anh hùng: khổng lồ về thể xác, oai phong lẫm liệt,
mạnh mẽ về tài trí, phi thường về nhân cách.
* Roi sắt gãy, Gióng nhổ tre bên đường đánh giặc.
Vũ khí của người anh hùng làng Gióng không chỉ là roi sắt, ngựa sắt, áo giáp sắt hiện đại
mà còn là vũ khí thô sơ, vốn rất quen thuộc với nhân dân như tre ngà Với lòng yêu nước
những gì có thể giết giặc đều được biến thành vũ khí Ngợi ca sức mạnh của Gióng -
Đánh giặc xong, Gióng cởi áo giáp sắt để lại, rồi bay thẳng về trời-> Hình ảnh khung cảnh đẹp, nên thơ, là sự thăng hoa trong trí tưởng của người xưa -> Gióng là người anh hùng không đòi hỏi công danh, lợi lộc Chàng đã hoàn thành sứ mệnh dẹp giặc và ra đi -> nâng cao vẻ đẹp của người anh hùng, đó cũng là phẩm chất chung vĩ đại của người anh hùng.Trong quan niệm dân gian, những cái gì tốt đẹp, cao quý thì không mất đi mà trở thành bất tử Gióng bay về trời là vì nguồn gốc cao đẹp của mình và chỉ nơi đó mới xứng đáng với người anh hùng m Nhân dân ngưỡng mộ, trân trọng sống mãi với non sông =>Xây dựng một nhân vật anh hùng có nguồn gốc kì lạ, vẻ đẹp siêu phàm, lớn mạnh
Bài tập:
Bài 1: Hình ảnh nào của Gióng đẹp nhất trong em? Vì sao? HS có thể chọn một trong những hình ảnh đẹp giàu ý nghĩa: Gióng vươn vai thành tráng sĩ Gióng nhổ tre quật vào giặc Gióng cưỡi ngựa bay lên trời Bài 2: Hình tượng Thánh Gióng cho em những suy nghĩ gì về quan niệm và ước mơ của nhân dân TG là hình ảnh cao đẹp, lý tưởng của người anh hùng đánh giặc giữ nước theo quan niệm của nhân dân Gióng vừa rất anh hùng, vừa thật bình dị - TG là ước mơ của nhân dân về sức mạnh tự cường của dân tộc Hình ảnh TG hiện lên kì vĩ phi thường, rực rỡ là biểu tượng cho lòng yêu nước, sức quật cường của dân tộc ta trong buổi đầu lịch sử chống ngoại xâm
Bài về nhà:1 “Ôi sức trẻ! Xưa trai Phù Đổng
Vươn vai, lớn bổng dậy nghìn cân Cưỡi lưng ngựa sắt bay phun lửa
Nhổ bụi tre làng đuổi giặc Ân!”
(Tố Hữu) Dựa vào nội dung đoạn thơ, phát biểu cảm nghĩ của em về người anh hùng làng Gióng Bài 2 Trong vai bà mẹ em hãy kể lại truyện Thánh Gióng Dàn bài: Thể loại: tự sự nội dung: tưởng tượng mình là bà mẹ Thánh Gióng Phạm vị: truyện thánh Gióng Mở bài: giới thiệu về thời gian, không gian và hoàn cảnh gia đình, sự mong muốn của hai vợ chồng
thân bài: Kể về con trai: + Thụ thai, tâm trạng khi mang thai, khi sinh con
+ Ngạc nhiên trước sự thay đổi của con khi nghe tiếng sứ giả và từ sau khi gặp sứ giả + Việc đi đánh giặc và thắng giặc Kết bài:
kể kết thúc câu chuyện nỗi nhớ và niềm tự hào về con trai 2.4 Sơn Tinh, Thủy Tinh.
Trang 7a Hoang đường: Mượn câu chuyện tình kì lạ, lãng mạn và nên thơ của Sơn Tinh và Thủy Tinh.
b Hiện thực: Công cuộc giữ nước của người Việt cổ trong việc chế ngự thiên tai.
Thủy Tinh: kì ảo hóa tượng trưng cho hiện tượng thiên tai, lũ lụt có tính chu kì (tháng 7, 8
ở đông bằng sông Hồng), sức công phá ghê gớm thảm họa khủng khiếp của loài người.
Sơn Tinh: sức mạnh, sự kiên quyết, bền bỉ chống đỡ cơn giận của TT Đó chính là hình
ảnh người Việt cổ trong công cuộc chế ngự, chinh phục thiên tai.
c Chi tiết có ý nghĩa.
“Nước sông dâng cao…bấy nhiêu”-> Kì lạ, hoang đường
+ NT: so sánh, ẩn dụ.
=> Cảnh đánh nhau dữ dội và quyết liệt giữa ST, TT.
+ Cả hai đều thể hiện uy lực sức mạnh vô biên: Sự tàn phá khủng khiếp của thiên tai -> Nỗ lực sống còn, kiên cường, bất khuất của nhân dân trong việc bảo vệ cuộc
sống của mình Khúc tráng ca về công cuộc kháng chiến dựng nước, giữ nước của ông cha.
2.5 Sự tích Hồ Gươm.
a Hoang đường: gươm thần, rùa vàng
b Hiện thực: cuộc khởi nghĩa đầy hào khí của nghĩa quân Lam Sơn chống lại
giặc Minh do Lê Lợi đầu thị kỉ 15.
c Thanh gươm thần Sự xuất hiện kì lạ-> Yếu tố quan trọng làm nên chiến thắng.
* ý nghĩa:
+ Sức mạnh đoàn kết.
+ Tính chất chính nghĩa của cuộc k/n Niềm tin, đề cao người anh hùng áo vải đất Lam Sơn.
+ Thanh gươm không chỉ để giải thích tên gọi hồ Hoàn Kiếm mà nó là công cụ, là vũ khí
chiến đấu, vùng lên đánh giặc ngoại xâm của nhân dân ta + Ánh sáng của thanh gươm le lói trên mặt hồ.
+ Hào quang, niềm kiêu hãnh, tự tin.
+ Khí thế quyết tâm, lời răn đe đối với quân thù.
Bài tập: Trong các văn bản đã học, em thích nhất văn bản nào? Hình ảnh chi tiết nào gây ấn tượng
sâu đậm trong em? Vì sao?
* Gợi ý:
Nên chọn những chi tiết, hình ảnh có ý nghĩa.
Bài về nhà: Kể lại một câu chuyện tổng hợp về thời vua Hùng bằng cách xâu
chuỗi các câu chuyện, sự việc chính của các truyện
Chữa bài về nhà:
Gợi ý: Mở bài: Giới thiệu cuộc sống của người Việt cổ.
Thân bài: + Nguồn gốc cao quý, đẹp đẽ (CRCT)
+ Sự nghiệp chống ngoại xâm Thánh Gióng
+ Sự nghiệp chế ngự, chinh phục thiên tai để bảo vệ cuộc sống bình yên (Sơn Tinh, Thuỷ Tinh) + Sáng tạo văn hóa: phong tục tập quán đẹp (Bánh chưng bánh giầy) Kết bài: + Trang sử hào hùng- > kiêu hãnh, tự tôn.
+ Tiếp tục phát huy truyền thống dân tộc
*Bài viết: tóm tắt truyện Thánh Gióng
Truyện kể rằng: vào đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng, có hai vợ chồng ông lão, tuy làm
ăn chăm chỉ, lại có tiếng là phúc đức nhưng mãi không có con Một hôm, bà vợ ra đồng ướm chân vào một vết chân lạ, về nhà bà thụ thai: Mười hai tháng sau bà sinh ra một cậu con trai khôi ngô tuấn tú Nhưng lạ thay! Tới ba năm sau, cậu bé vẫn chẳng biết nói, biết cười, cứ đặt đâu nằm đấy Bấy giờ, giặc Ân tràn vào bờ cõi nước ta Thế giặc mạnh lắm! Vua Hùng bèn sai người đi khắp nước rao cầu hiền tài giết giặc Nghe tiếng rao, cậu bé bỗng cất tiếng nói xin được đi đánh giặc Từ đấy cậu bé lớn nhanh như thổi, cơm ăn mất cũng chẳng no.
Tráng sĩ Gióng mặc áo giáp sắt, cưỡi ngựa sắt rồi cầm roi sắt xông ra diệt giặc Roi sắt gẫy,
Trang 8Gióng bèn nhổ cả những bụi tre bên đường để quét sạch giặc thù.
Giặc tan, Gióng một mình một ngựa lên đỉnh núi Sóc rồi bay thẳng về trời, ở đó nhân dân lập đền thờ, hàng năm lại mở hội để tưởng nhớ Ngày nay các ao hồ và những bụi tre ngà vàng óng đều
là dấu ấn xưa về trận đánh và là nơi ông Gióng đã đi qua.
3 Định hướng phân tích nội dung truyền thuyết.
Công việc phân tích truyền thuyết không phải là công việc tìm ra “cái lõi là
sự thật lịch sử” trong câu truyện kể Mà là công việc tìm hiểu “con người và sự thật
về họ” đã trở thành huyền sử như thế nào và vì sao
Nhân vật chính của truyền thuyết là trung tâm của sự kiện được kể lại Khiphân tích truyền thuyết cần gắn nhân vật với sự kiện
Nội dung công việc phân tích:
+ Tóm tắt truyện kể về một sơ đồ để làm rõ diễn biến của nó Từ đó, có thểvừa có cái nhìn bao quát cả câu truyện vừa hướng sự phân tích tập trung và một số sựkiện Như vậy, sơ đồ cốt truyện không được bỏ sót những sự kiện chính, vì việc nàychắc chắn dẫn tới những thiếu sót hoặc sai lầm trong cách hiểu về nhân vật chính
+ Phân tích nhân vật theo diễn biến của các sự kiện
+ Đặt truyền thuyết vào môi sinh của nó
Công việc phân tích truyền thuyết, không nên chỉ dựa vào văn bản trần trụi.Tìm hiểu ý nghĩa của truyền thuyết trong mối quan hệ của nó với văn hoá dân gianđịa phương, ta sẽ nhận rõ hơn không chỉ cái lõi là sự thật lịch sử mà cả những tâm
tình thiết tha của nhân dân, cả chất “thơ và mộng” trong bộ phận lung linh nhất của
truyền thống là truyền thuyết, tập tục và tín ngưỡng dân gian Và ta sẽ thấy, với nhân
dân ta, truyền thuyết không chỉ hướng về quá khứ ; nó cần cho cả người đang sống và
là di sản thiêng liêng dành cho đời sau
TRUYỆN CỔ TÍCH
1 Định nghĩa.
2 Những đặc trưng của thể loại truyện cổ tích.
a Đề tài: Truyện cổ tích là những truyện kể về những câu chuyện tưởng tượng xung quanh số phận cuộc đời một số kiểu nhân vật nhất định:
+ Kiểu nhân vật bất hạnh và kiểu nhân vật kỳ tài.
+ Kiểu nhân vật xảo trá và kiểu nhân vật khờ khạo, kiểu nhân vật xấu xa và kiểu nhân vật đức hạnh.
+ kiểu nhân vật là loài vật.
b Chức năng: cùng với thần thoại, sử thi cổ tích có chức năng giáo huấn ( tức là
chức năng răn dạy)
c Nghệ thuật:
- Về cốt truyện: Đặc điểm nổi bật nhất của cổ tích là tính chất tưởng tượng của câu truyện kể
- Về nhân vật: Nhân vật trong truyện cổ tích được thể hiện hành động Qua hành
động của nhân vật trong suốt câu truyện kể, ta có thể dễ dàng đọc ra tính cách của nó Nhân vật trong truyện cổ tích cũng chỉ gồm một số kiểu dạng nhất định, đó là
những kiểu nhân vật
Trang 9* Các yếu tố cố định kết thành câu chuyện kể.
Ngoài các dạng hành động của các nhân vật, truyện cổ tích thường sử dụngmột số yếu tố cố định để kết thành câu chuyện kể đó là những chi tiết nghệ thuật cómặt trong nhiều truyện cổ tích của nhiều dân tộc
Ví dụ : Mô típ “ nồi cơm ăn hết lại đầy” ở truyện Thạch Sanh của người Khơ
d Những câu văn vần xen kẽ.
Thường xuất hiện vào những lúc mâu thuẫn xung đột, những tình huống có vấn đề để
nhấn mạnh, khắc sâu cốt truyện đồng thời cũng tạo đà, đưa đẩy cho cốt truyện diễn tiến mộ
t cách tự nhiên.
VD: Bống bống bang bang , Vàng ảnh vàng anh , Kẽo cà kẽo kẹt
e Thời gian và không gian nghệ thuật.
Thời gian và không gian trong truyện cổ tích mang tính chất phiếm chỉ, tượng
trưng: ngày xửa ngày xưa, một hôm, bữa nọ, ở đâu cũng vậy, lúc nào cũng như
thế > Người đọc, người nghe tự mình hình dung và tưởng tượng theo sự cảm nhận,
kinh nghiệm của bản thân.
=> Cổ tích vừa có cái nét mộc mạc dân gian lại vừa thực vừa hư.
3 Định hướng phân tích nội dung truyện cổ tích.
- Công việc phân tích truyện cổ tích cần tập trung vào nhân vật cốt truyện
- Cách phân tích nhân vật và cốt truyện đơn giản nhất là phân tích nhân vật theo cấutrúc tự nhiên của cốt truyện cổ tích Đó là cách phân tích chuỗi hành động của nhânvật qua mấy hoàn cảnh dọc theo cốt truyện, từ đó gợi ra những nhận xét, những suynghĩ về nhân vật và ý nghĩa của câu truyện Cách phân tích này đòi hỏi có sự phân
tích các hoàn cảnh để chia truyện thành một số chặng Truyện Sọ Dừa là một ví dụ Truyện này có thể chia thành 3 chặng: 1/ Sự ra đời kỳ lạ và đặc điểm xấu hình dị
dạng của Sọ Dừa; 2/ Sọ Dừa đi ở cho phú ông và lấy cô út con gái phú ông; việc chăn bò - cách cư sử của hai cô chị và cô út đối với Sọ Dừa việc Sọ Dừa lấy cô út; 3/ Sọ Dừa đi thi đỗ trạng - việc hai cô chị hại cô út để tranh lấy ông Trạng – bí ẩn của việc Sọ Dừa đưa cho vợ “ con dao, hòn đá lửa và đôi trứng gà” khi đi sứ được sáng tỏ - đoàn viên và tự sử.
- Thế giới cố tích là thế giới của giấc mơ, ở đó những nguyện vọng và mong ước củanhân dân về sức mạnh của mình, về chiến thắng cuối cùng của mình đối với mọi lựclượng thù địch
- Chuyện cổ tích kể chuyện “ ngày xưa” nhưng chính là để người ta suy ngẫm vềcuộc đời đang sống Nó coi nền đạo đức xã hội cổ xưa là một thứ kiểu mẫu Nó kểchuyện ngày xưa mà khiến người ta hướng tới tương lai Nó nuôi dưỡng niềm tin vàomột cuộc sống tốt đẹp hơn Đó chính là ý sâu xa của những nội dung răn dạy khôngbao giờ cũ trong truyện cổ tính Nó khuyên người ta tin vào điều thiện và yêu điềuthiện; ghét cái ác, tránh cái ác; nó nêu lên kinh nghiệm thiết thực về đối nhân xử thế,
về đạo làm người
* Luyện tập.
Trang 10Bài tập 1 So sánh sự giống và khác nhau giữa các thể loại truyền thuyết và cổ tích? Bài tâp 2: Nêu các đặc điểm về nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa của các văn bản truyền
Người ta chia truyện cười thành hai tiểu loại:
- Truyện hài hước ( hoặc truyện khôi hài)
- Truyện châm biếm ( hoặc truyện trào phúng).
* Những đề tài của truyện cười dân gian Việt Nam.
- Những thói xấu thuộc về bản chất bộc lộ chủ yếu ở những hành vi buồn cười trongsinh hoạt của các nhân vật tiêu biểu của xã hội phong kiến: Vua chúa, quan lại, sainha, hào lý, địa chủ, phú ông và các loại “ thày bà”, cả thần thánh
- Những thói xấu “ thông thường” ở người bình dân bộc lộ ở những hành vi buồncười trong sinh hoạt của họ
- Những hiện tượng buồn cười do hiểu lầm, do lầm lỡ, hớ hênh mà thường tình, aicũng có thể có lúc mắc phải, hoặc do những nhược điểm những khuyết tật không gâytổn hại cho ai
b Chức năng.
- Truyện cười là truyện kể để cười, tức là để gây ra cái cười:
+ Cái đáng cười là cái gây ra cái cười, là những hiện tượng ở đó có một cái gì đó
ngược đời
+ Cái cười là hành động cười, do cái đáng cười gây ra và do trí óc ta phát hiện ra cái
đáng cười Như vậy, tất nhiên phải có cái đáng cười thì mới có cái cười Nhưng có cáiđáng cười mà trí óc ta không phát hiện ra nó, tức là không phát hiện ra cái ngược đời
ở hiện tượng thì cũng không có cái cười
2 Định hướng phân tích nội dung truyện cười.
Trang 11- Người đọc truyện cười phải hiểu được họ cười cái gì, vì sao mà cười, rồi suy nghĩ
tiếp về cái đáng cười, về những điều nằm ở phía sau hành vi gây ra cái cười cùng thói xấu mà hành vi đó đã để lộ ra.
- Biện pháp nghệ thuật quan trọng nhất của thể loại này là cách cấu tạo truyện, chonên công việc phân tích cũng thường có thể tiến hành theo 3 phân đoạn của hoàncảnh:
+ Phân tích đoạn đầu
Ngay từ đầu câu chuyện, nhân vật có thói xấu hay tính cách dẫn đến hành vibuồn cười đã được giới thiệu không úp mở:
- Có anh tính hay khoe của ( lợn cưới, áo mới).
Cũng ngay đầu câu chuyện, nhân vật ấy được đặt vào một tình thế khiến cho
nó trở thành một hiện tượng có mâu thuẫn tiềm tàng:
- Anh có tính hay khoe của may được cái áo mới, liền đem ra mặc từ sáng
đến chiều chả thấy có ai hỏi cả (lợn cưới, áo mới).
+ Phân tích đoạn nút:
Đến đây, mâu thuẫn từ thế tiềm tàng đã phát triển rất mau lẹ tới điểm nút:
- Anh “ áo mới” đang tức vì đứng hóng mãi chưa có ai để khoe thì anh “ lợn
cưới” chạy đến nhưng lại bị anh này khoe trước (lợn cưới, áo mới).
Đoạn nút có thể gọi là tình thế gay cấn.Phân tích tình huống gay cấn là gợiđiểm lại diễn tiến của sự việc từ tình thế mở đầu đến điểm nút, nhận ra mâu thuẫn cụthể ở tình thế gay cấn ( ví dụ: anh “ áo mới” vớ phải anh” lợn cưới”, chưa kịp khoe đã
bị anh này vừa hỏi vừa khoe )
thông tin cần thiết” : “ Từ lúc tôi mặc cái áo mới này ” (lợn cưới, áo mới).
Tìm hiểu đoạn kết là tự mình tìm ra cái đáng cười, tự mình chỉ rõ cái đángcười bất ngờ bộc lộ ở hành vi, lời nói của nhân vật trực tiếp gây ra cái cười, tức là chỉ
rõ hành vi, lời nói đó có cái gì ngược đời Thực hiện được yêu cầu này có nghĩa là đãtrả lời được câu hỏi “ Vì sao mình cười ? ”, “ Mình cười cái gì ? “
+ Phân tích ý nghĩa cái cười
Cái cười, trong bản chất của nó, luôn luôn có ý nghĩa phê phán
TRUYỆN NGỤ NGÔN
1 Định nghĩa.
a Đề tài : Truyện ngụ ngôn là loại truyện kể, bằng văn xuôi hoặc văn vần, mượn chuyện về loài vật, đồ vật hoặc về chính con người để nói bóng gió, kín đáo chuyện con người, nhằm khuyên nhủ, răn dạy người ta bài học nào đó trong cuộc sống.
b Đặc điểm nghệ thuật truyện ngụ ngôn.
Trang 12- Nhân vật chính trong truyện ngụ ngôn thường là loài vật Nhìn bề ngoài, cáccon vật trong truyện ngụ ngôn không có có gì khác các con vật trong truyện cổ tích
về loài vật : chúng cũng nói năng, ứng xử và có tâm tính như người và cũng gồm đủ
cả thú, chim, cá, côn trùng
- Xung đột tiêu biểu trong truyện ngụ ngôn là xung đột giữa cái đúng và cái sai
; xung đột này biểu hiện ở những lý lẽ hành động, ở triết lý ứng xử của nhân vật.
- Kết cấu của truyện ngụ ngôn: Truyện ngụ ngôn không phải là câu truyện kể
về số phận cuộc đời của một nhân vật như truyện cổ tích; cũng không phải là câutruyện kể về sự tích của một nhân vật, kết tinh ở phần đời chói lọi nhất của nhân vậtnày, như ở truyền thuyết lịch sử Truyện ngụ ngôn chỉ nêu ra một tình huống, mộthoàn cảnh, trong đó diễn ra một hành động của một hoặc một vài nhân vật, nhằmminh hoạ cho một điều răn dạy nào đó
- ở truyện ngụ ngôn, câu truyện kể hoàn toàn là sản phẩm của hư cấu
- Lời kể của truyện ngụ ngôn có hai đặc điểm:
+ Tính chất cô đúc như câu tục ngữ
+ Tính chất châm biếm trong giọng điệu lời kể
Nước Đại Việt ta vốn là một nước văn hiến Và ở nước ta đã có một lịch sử lâu đời Trong kho tàng lịch sử âý, những tác phẩm văn học dân gian là kho báu về trí tuệ, tâm hồn và thẩm mĩ cao đẹp của nhân dân Văn học dân gian là một trong những nguồn gốc là cơ sở kết tinh của văn học dân tộc.
2 Luyện tập.
Bài tập 1 So sánh sự giống và khác nhau giữa các thể loại.
- Giữa truyện ngụ ngôn và truyện cười
Bài tập 2 : Nêu đặc điểm cơ bản về nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa của các văn bản
ngụ ngôn, truyện cười đã học
Bài tập 3 : Viết đoạn văn phát biểu cảm nghĩ của em về một trong các truyện ngụ
ngôn, truyện cười đã học
Ngày soạn: 22/9
Ngày giảng: 25/9
Buổi 4 + 5 PHẦN II: TIẾNG VIỆT
Trang 13Trong tiếng việt, các biện pháp tu từ rất phong phú, đa dạng Do khả năngbiểu đạt, biểu cảm đặc biệt, các biện pháp tu từ rất được chú trọng sử dụng trongnhững văn bản nghệ thuật Với một văn bản nghệ thuật, người ta có thể sử dụng mộthoặc nhiều biện pháp tu từ khác nhau và thậm chí, có thể khai thác tối đa sức mạnhnghệ thuật của vài biện pháp tu từ nào đó Điều này góp phần tạo nên dấu ấn cá nhânđộc đáo trong nghệ thuật sử dụng các biện pháp tu từ.
Trong chương trình tiếng việt ở tiểu học và lớp 6 Trung học cơ sở, các em đã
được làm quen với các biện pháp tu từ thông dụng như so sánh, ấn dụ, hoán dụ,
nhân hoá Biện pháp so sánh, ẩn dụ và nhân hoá là những biện pháp tu từ ngữ nghĩa
gần nhau ẩn dụ là một biến thể của so sánh hay còn gọi là biện pháp so sánh ngầm.
Nhân hoá lại là một biến thể của ẩn dụ nhằm làm cho đối tượng được nói đến ( là
vật) trở nên dễ hiểu, gần gũi với con người hơn Khi dùng ẩn dụ, các vế của phép sosánh chỉ còn một sự vật, hiện tượng, trạng thái được so sánh và cũng không còn các
từ so sánh như, giống như, tựa, tựa như, như là, bằng, hơn, kém…Nếu như so sánh
có tác dụng tạo ra những hình ảnh cụ thể, sinh động, gợi cảm thì ẩn dụ lại làm cho ýnghĩa của từ ngữ trở nên trìu tượng hơn, sâu xa hơn và dễ làm rung động lòng người
hơn Trong cách nói hàng ngạy, người Việt hay dùng so sánh ví von : đẹp như tiên
giáng trần, hôi như cú, vui như tết, xấu hơn ma, sướng hơn tiên… khiến lời nói vừa
có hình ảnh vừa thấm thía Còn trong văn bản nghệ thuật, so sánh được dùng như
một biện pháp tu từ với thế mạnh đặc biệt khi gợi hình gợi cảm Đôi khi có những sosánh rất bất ngờ, thú vị, góp phần cụ thể hoá được những gì hết sức trìu tượng, khócân đong đo đếm Một cảm giác khó nói được cụ thể hoá :
Thấy em như thấy mặt trời
Chói chang khó ngỏ trao lời khó trao.
Một cung bậc tình cảm được hiện hữu sinh động :
Tình anh như nước dâng cao
Tình em như dải lụa đào tẩm hương.
Những cung bậc âm thanh khác nhau trong tiếng đàn ‘‘làu bậc ngũ âm’’ củaThuý Kiều được Nguyễn Du miêu tả rất cụ thể qua những so sánh mang tính pháthiện mới mẻ Nhà thơ đã so sánh độ trong đục, độ nhanh chậm của âm thanh tiếngđàn với những sự vật hiện tượng vừa cụ thể vừa chính xác :
Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.
Thế mạnh của biện pháp so sánh là góp phần gợi ra trong trí tưởng tượng củangười đọc những hình ảnh cụ thể, những liên tưởng thú vị , chính xác đối tượng đượcnói đến Thế mạnh của ẩn dụ là làm cho lời thoại giàu tính biểu cảm (ví dụ cách nói
ấn tượng : Nghe câu chuyện ngọt ngào làm sao ).Trong ngôn ngữ văn chương, ẩn
dụ là một phương tu từ được sử dụng khá phổ biến Ví dụ, cùng thể hiện hình tượngBác Hồ, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, văn học có nhiều cách nói ẩn dụ :
Người Cha mái tóc bạc
Đốt lửa cho anh nằm
(Minh Huệ , Đêm nay Bác không ngủ ) Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Trang 14Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
( Viễn Phương, Viếng lăng Bác)
ở cách nói đầu, từ những quan sát về hành động, thái độ của Bác trong một đêmchiến dịch giữa rừng Việt Bắc , nhà thơ Minh Huệ đã thốt lên những lời nói cảmđộng về ‘‘Người Cha mái tóc bạc’’ Cách nói này đã thể hiện được lòng biết ơn, lòngkính trọng của nhà thơ đối với Bác và hơn thế nữa đã góp phần gợi tả một cách rấtsinh sộng tình cảm, sự chăm sóc ân cần của Bác đối với các chiến sĩ Bác không chỉ
là vị lãnh tụ vĩ đại, linh hồn của cuộc kháng chiến mà còn là một Người Cha già gần
gũi , tận tuỵ lo lắng cho giấc ngủ đêm đông của những đứa con Từ Người Cha đã
xoá đi khoảng cách (chắc chắn là có) giữa một vị lãnh tụ với quần chúng khiến hìnhảnh Bác càng trở nên gần gũi hơn, thân thương hơn
ở cách nói sau, tác giả hai lần nói đến từ mặt trời Nếu như mặt trời ở câu thơ
thứ nhất được dùng với nghĩa gốc chỉ mặt trời thật đang ngày ngày toả sáng trên bầu
trời thì mặt trời ở câu thứ hai là ẩn dụ biểu thị sự cao đẹp , vĩnh hằng, sự toả sáng từ
con người Bác Bác đang yên tĩnh trong lăng nhưng Bác vẫn mãi mãi là ánh sáng kì diệu luôn toả sáng chói lọi và rực rỡ.Sự so sánh lí thú và độc đáo của nhà thơ ViễnPhương xuất phát từ liên tưởng tương đồng về sự toả sáng của hai mặt trời : mặt trời
tự nhiên và mặt trời Bác
Do có chức năng nhận thức và biểu cảm đặc biệt nên ẩn dụ nhân hoá được sử
dụng rộng rãi trong các văn bản văn học.Chẳng hạn các từ anh hùng, hi sinh vốn chỉ dùng cho người lại được dùng để ca ngợi cây tre Việt Nam : ‘‘Tre hi sinh để bảo vệ
con người Tre anh hùng lao động ! Tre anh hùng chiến đấu !’’ Nhờ ẩn dụ nhân hoá
người ta có thể tâm tình giãi bày tình cảm với loài vật, với các vật vô tri vô giác như
là những người bạn thân thiết gần gũi : ‘‘ Trâu ơi ta bảo trâu này’’ ‘‘Núi cao chi mấy
núi ơi’’ Đọc Dế Mèn phiêu lưu kí các em rất thích bởi nghệ thuật nhân hoá đã làm
cho một con vật bé nhỏ bình dị trở thành một ‘‘chú bé người’’ Dế Mèn sinh động, cónhững thói quen sinh hoạt, có nhiều trò dại dột, có những nếp nghĩ và đặc biệt lànhững nét tính cách như một cậu bé trai hiếu động, tinh nghịch
Trong văn bản nghệ thuật nhiều khi các biện pháp tu từ trên cũng được dùngtrong một ngữ cảnh và tạo nên hiệu quả tu từ đặc biệt Câu ca dao sau là một ví dụ :
Đôi ta là bạn thong dong
Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng
Bởi chưng thầy mẹ nói ngang
Cho nên đũa ngọc mâm vàng xa nhau.
Đũa ngọc mâm vàng ở câu trên là so sánh, ở câu sau là ẩn dụ Cùng là một từ
ngữ nhưng đũa ngọc mâm vàng ở câu sau gợi liên tưởng sâu sắc hơn, gợi cảm hơn về
một sự oan trái trớ trêu lẽ ra không nên có
Bên cạnh những biện pháp trên Trong các văn bản nghệ thuật, biện pháp hoán
dụ được sử dụng nhiều với tác dụng khắc sâu, nhấn mạnh một đặc điểm tiêu biểu nào
đó của đối tượng được nói trong văn bản Ví dụ khi tái hiện lại cảnh chia tay lưuluyến giữa nhân dân Việt Bắc Với người cán bộ kháng chiến nhà thơ Tố Hữu viết :
áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.
Trang 15Từ áo chàm đã được dùng theo lối hoán dụ, lấy tên một loại áo thông dụng của người Việt Bắc để chỉ người Việt Bắc Sự chuyển đổi nghĩa của từ áo chàm đã mở ra
trong liên tưởng người đọc, người nghe hình ảnh những con người Việt Bắc chânphương, mộc mạc nhưng cũng rất đỗi gần gũi, thân thương
Một đặc biệt khác của ẩn dụ và hoán dụ tu từ được dùng trong văn bản nghệ
thuật là một biện pháp ước lệ tượng trưng Chúng là những ẩn dụ và hoán dụ tu từ
được dùng quá nhiều lần trong văn bản nên trở thành phổ biến, quen thuộc, thậm chí
đã là những ước lệ xã hội có ý nghĩa tượng trưng phổ biến Chẳng hạn nói đến con
cò là người ta liên tưởng đến những thân phận vất vả lam lũ, nói đến bèo dạt mây trôi là người ta nghĩ đến những số phận lênh đênh vô định nay đây mai đó, nói đến tùng, trúc là người ta liên tưởng tới cốt cách của đấng nam nhi , nói đến hoa là người
ta liên tưởng tới vẻ đẹp của người con gái … cũng liên quan tới biện pháp ước lệtượng trưng còn phải kể đến nghệ thuật sử dụng các điển cố trong văn học trung đạicác nhà thơ, nhà văn trung đại đã nâng nghệ thuật sử dụng điển cố lên thành đặcđiểm phổ quát của văn học thời đại mình Chúng là những từ ngữ cố định đã trởthành những uớc lệ tượng trưng , nhắc đến nó là người ta có thể liên tưởng đến mộtcâu chuyện, một bài
học của đời trước Việc dùng điển cố có tác dụng gợi nhiều liên tưởng làm cho câuvăn, câu thơ thêm sâu sắc trong biểu đạt , biểu cảm
Ví dụ : Cụm từ ông Đào trong hai câu thơ sau : ‘‘Nhân hứng cũng vừa toan cất
bút- Ngẫm ra lại thẹn với ông Đào’’ của Nguyễn Khuyến là một điển cố cụm từ
không nhắc đến một ông Đào cụ thể mà có tác dụng gợi lại câu chuyện về ĐàoTiềm , một nho sĩ nổi tiếng của Trung Quốc xưa đã treo ấn từ quan từ hồi còn trẻ, xalánh vinh hoa trở về với vui với cuộc sống thôn dã Nhờ những liên tưởng này ta mới
có thể thấm thía tâm trạng đau xót của Nguyễn Khuyến ông tự trách mình còn có gì
đó chưa được tỉnh táo bằng người xưa, đã từ bỏ con đường làm quan hơi muộn
Ước lệ tượng trưng có khả năng gợi nhiều hơn tả , ý tứ hàm xúc và rất phù hợp
với kiểu ‘‘lời ít ý nhiều’’ hay ‘‘ ý ở ngoài lời’’ Khi tiếp xúc với các văn bản văn
chương trung đại các ta sẽ gặp nhiều biện pháp tu từ này bởi sử dụng ước lệ tượngtrưng đã trở thành một trong những thi pháp quen thuộc, phổ biến của văn chương
thời đó.
Lên lớp 7,8 các em sẽ được giới thiệu thêm một số phương tiện tu từ ngữ nghĩa,
phương tiện tu từ cú pháp khác như : Điệp ngữ, liệt kê, nói quá, nói giảm nói tránh
Điệp ngữ không những nhằm mục đích nhấn mạnh ý, mở rộng ý, gây ấn tượng mạnh
hoặc gợi ra những xúc cảm trong lòng người đọc, người nghe mà còn có cơ sở ở quyluật tâm lý: một vật kích thích xuất hiện nhiều lần sẽ làm cho người ta chú ý
Đây là một dạng của điệp ngữ, trong đó những từ ngữ được lặp lại trực tiếp đứngbên nhau nhằm tạo nên ấn tượng mới mẻ có tính chất tăng tiến:
Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết.
Thành công, thành công, đại thành công.
( Hồ Chí Minh )
Trang 16Cũng là để gây ấn tượng nhưng nói quá ( còn gọi: phóng đại, khoa trương, thậm
xưng, ngoa ngữ, cường điệu) là dùng từ ngữ hoặc cách diễn đạt để nhân lên những
thuộc tính của đối tượng nhằm làm bật bản chất của đối tượng cần miêu tả, gây ấntượng đặc biệt mạnh mẽ làm người nhận hiểu được nội dung và ý nghĩa đến mức tốiđa
Người sao một hẹn thì nên
Người sao chín hẹn thì quên cả mười.
( Ca dao )
Tóm lại, trong khi đọc - hiểu hoặc tạo lập văn bản, cần chú ý :
- Các biện pháp tu từ tiếng Việt rất đa dạng, phong phú Nếu sử dụng chúngmột cách đứng đắn thì sẽ làm tăng sức biểu đạt, biểu cảm cho các văn bản
- Trong một văn bản, người viết có thể sử dụng một hoặc nhiều biện pháp tu từ
- Khi phân tích một đoạn hoặc một văn bản cần phát hiện các biện pháp tu từnhưng quan trọng hơn là chỉ ra được vai trò, tác dụng của biện pháp đó trong việc thểhiện nội dung, tư tưởng của tác phẩm
* Tổng hợp về biện pháp tu từ
Biện pháp tu từ
So sánh
ẩn dụ Nhân hóa Hoán dụ
Chơi chữ
Đối ngữ Liệt kê
Nói quá
Điệp ngữ Tương phản
Trang 17( Gv lưu ý HS 1 số biện pháp tu từ sẽ được học ở các lớp trên)
c Khi phân tích một tác phẩm văn bản nghệ thuật có sử dụng nhiều biện pháp
tu từ cần lưu ý điều gì?
Bài tập 2 : Tìm và phân tích các biện pháp tu từ có trong những phần trích sau :
1 Ngoài thềm rơi cái lá đa
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng
( Trần Đăng khoa)
2 Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngàyQuê hương là đường đi học Con về rợp bướm vàng bay
( Đỗ Trung Quân)
7 Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công
( Hồ Chí Minh)
8 Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt , đắng cay muôn phần
( Ca dao)
Bài tập 3 : Phân tích những hình ảnh và biện pháp so sánh trong đoạn thơ sau :
‘‘ Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
Trang 18Như trẻ thơ đói lòng gặp sữa mẹ.
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa
( Chế Lan Viên)
Bài tập 4 : Phát hiện và phân tích giá trị của biện pháp tu từ trong những đoạn
thơ sau :
a Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh
Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây
Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh
Soi sáng đường chiến sĩ giữa ngàn cây…
b Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim
( Từ ấy, Tố Hữu)
c Vì sương nên núi bạc đầu
Biển lay bởi gió hoa sầu vì mưa
( Ca dao)
d Chúng chị là hòn đá tảng trên trời
Chúng em chuột nhắt cứ đòi lung lay
( Ca dao)
Bài tập 5 Phép so sánh sau đây có gì đặc biệt:
Mẹ già như chuối và hương
Như xôi nếp một, như đường mía lau.
( Ca dao)
Bài tập 6 Trong câu ca dao:
Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa, như ngồi đống than.
a Từ bổi hổi bồi hồi là từ láy có gì đặc biệt?
b Giải thích nghĩa từ láy bổi hổi bồi hồi.
c. Phân tích cái hay của câu thơ do phép so sánh đem lại
Bài tập7 trình bày tác dụng của phép so sánh trong đoạn thơ dưới đây của Tố
Hữu:
Ta đi tới, trên đường ta bước tiếp Rắn như thép, vững như đồng Đội ngũ ta trùng trùng điệp điệp Cao như núi, dài như sông Trí ta lớn như biển Đông trước mặt !
Bài tập 8 Viết một đoạn văn tả cảnh trong đó có sử dụng bốn phép so sánh trở lên Bài tập 9
a Tìm năm câu ca dao trong đó mỗi câu có một phép nhân hoá
b Nêu rõ tác dụng cụ thể của mỗi phép nhân hoá trong câu ca dao vừa tìm
Bài tập 10 Trong bài thơ Kính gửi cụ Nguyễn Du, nhà thơ Tố Hữu viết:
Song còn bao nỗi chua cay
Trang 19Gớm quân Ưng Khuyển, ghê bầy Sở Khanh Cũng loài hổ báo, ruồi xanh
Cũng phường gian ác hôi tanh hại người.
Đây có phải phép nhân hoá không? Vì sao?
Bài tập 11 Viết một đoạn văn tả cảnh, hay làm một bài thơ bốn hoặc năm chữ có
sử dụng phép nhân hoá
Bài tập 12 Trong đoạn thơ sâu đâycủa Tố Hữu:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lý chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim.
a Tìm các phép so sánh và ẩn dụ trong đoạn thơ
b Tác dụng của phép so sánh, ẩn dụ trong đoạn thơ
Bài tập 11 cho đoạn thơ sau của Tố Hữu:
Còi máy gọi bến tàu hầm mỏ Hòn gai kêu Đất Đỏ đấu tranh
áo nâu liền với áo xanh Nông thôn liền với thị thành đứng lên.
Tìm và nêu tác dụng của các biện pháp tu từ vừa tìm được
2 Tổ chức thảo luận nhóm trao đổi các bài tập cụ thể nêu trong tài liệu
3 Luyện tập thực hành sử dụng một số biện pháp tu từ tiếng Việt trong tácphẩm văn học
Ngày soạn: 15/11/2012
Ngày giảng: 17 + 24/11/2012
Buổi 6 + 7 PHẦN II :TẬP LÀM VĂN
I PHẦN VĂN TỰ SỰ
1 Chủ đề trong văn Tự sự
2 Sự việc và nhân vật trong văn Tự sự
a Sự việc trong văn Tự sự
Sự việc trong văn Tự sự được trình bày một cách rõ ràng, đảm bảo 6 yếu tố:
- Trong thời gian cụ thể
- Ở địa điểm cụ thể
Trang 20- Do nhân vật cụ thể thực hiện
- Có nguyên nhân, diễn biến và kết quả
Chẳng hạn truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh, 6 yếu tố đó là:
- Thời gian: Đời vua Hùng thứ mười tám
- Địa điểm: Thành Phong Châu
- Nhân vật: Sơn Tinh và Thủy Tinh
- Nguyên nhân: Thủy Tinh tức giận không lấy được Mị Nương
- Diễn biến: Hai chàng trai tài giỏi cùng muốn lấy Mị Nương, Thủy Tinh thuacuộc, Thủy Tinh và Sơn Tinh đánh nhau quyết liệt
- Kết quả: Thủy Tinh thất bại
Sự việc trong văn Tự sự phải được chọn lọc, sắp xếp theo một trật tự, một diễnbiến hợp lý thì mới có ý nghĩa, mới bộc lộ rõ ràng nhất tư tưởng mà người kể muốnthể hiện
Truyện cổ tích Sọ Dừa, cũng như bao truyện cổ tích khác, Sọ Dừa cũng nhằm
thể hiện ước mơ của nhân dân ta về một cuộc sống hạnh phúc cho những con ngườinghèo khổ nhưng tốt bụng, có thực tài Câu chuyện là một bài ca đẹp nhằm đề cao giátrị chân chính của con người và tình thương đối với người bất hạnh Để tỏa sáng ýnghĩa nhân văn sâu sắc ấy, tác giả dân gian đã rất khéo léo trong việc sắp xếp, bố trícác sự việc, tình tiết một cách hợp lý
b Nhân vật trong văn tự sự:
vật chính; hai ông bà lão, sứ giả, nhà vua, dân làng là nhân vật phụ
3 Ngôi kể và lời kể trong văn tự sự:
a Ngôi kể:
b Lời kể:
Đây là lời kể ở ngôi thứ ba:
Sứ giả vừa kinh ngạc, vừa mừng rỡ , vội vàng về tâu vua Nhà vua truyền cho thợ ngày đêm làm gấp những vật chú bé dặn.
Càng lạ hơn nữa, từ sau hôm gặp sứ giả, chú bé lớn nhanh như thổi, Cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc xong đó căng chỉ Hai vợ chồng làm ra bao nhiêu
Trang 21cũng không đủ nuôi con, đành phải chạy nhờ bà con, hàng xóm Bà con đều vui lũng gom góp gạo nuôi chú, vì ai cũng mong chú giết giặc, cứu nước.
Giặc đã đến chân núi Trâu Thế nước rất nguy, người người hoảng hốt Vừa lúc đó, sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong, lẫm liệt mặc ỏo giỏp sắt cầm roi nhảy lờn mỡnh ngựa Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc.
4 Kể chuyện tưởng tượng.
- Kể chuyện tưởng tượng là kể lại một câu chuyện theo trí tưởng tượng củangười kể, không có sẵn trong sách vở hay trong thực tế
- Sự tưởng tượng đó không thể tùy tiện mà phải dựa vào những điều có thậttrong cuộc sống đời thường rồi bổ sung, tưởng tượng thêm nhằm đưa đến sự hấp dẫn,
sự thú vị cho truyện
5 Dàn bài của văn tự sự:
a Mở bài:
- Có thể giới thiệu nhân vật và tình huống xảy ra câu chuyện
Ví dụ: Cách mở bài của các truyện cổ dân gian con rồng cháu tiên, Sơn tinh
thủy tinh, Thánh Gióng, Thạch Sanh
- Cũng có lúc bắt đầu từ một sự cố nào đó, hoặc từ kết cục câu chuyện, số phậnnhân vật rồi ngược lên kể lại từ đầu
Ví dụ: Cái tin thằng Ngỗ bị chó cắn rách cả bắp chân, được băng bó ở trạm y
tế xó đến chiều nay đó truyền đi khắp xóm.
(Sau sự cố Ngỗ bị chó cắn, tác giả mới ngược lên kể lại những chuyện xảy ralúc trước liên quan tới chuyện thằng Ngỗ hay đánh lừa mọi người, để cuối cùng phải
tự chuốc lấy hậu quả: Khi bị chó cắn thật, kêu cứu thì chẳng ai ra cứu vì cứ nghĩ Ngỗlại lừa như mọi lần)
b Thân bài:
- Lần lượt kể các tình tiết làm nên câu chuyện
- Nếu tác phẩm có nhiều nhân vật thì các tình tiết lồng vào nhau, đan xen nhautheo diễn biến của câu chuyện
c Kết bài:
- Câu chuyện đi vào kết thúc
- Sự việc kết thúc, tình trạng và số phận nhân vật được nhận diện khá rõ
*.Kể lại và kể mới cốt truyện có sẵn.
Trang 22Đề 1: Thay lời nhân vật Thạch Sanh, kể lại cho các cháu nghe về cổ tích Thạch Sanh.
Đề 2: Vừa lòng với lễ vật dâng cúng tiên vương của Lang Liêu, vua Hùng đã
chọn chàng làm người nối ngôi Trong buổi lễ đăng quang Lang Liêu đã kể cho mọingười nghe về sự ra đời của hai loại bánh: bánh chưng và bánh giầy Hãy ghi lại lời
kể ấy
Đề 3: Thay lời bà lão trong truyện truyền thuyết Thánh Gióng để kể lại câu
chuyện ấy
*Kể chuyện đời thường.
Đề 4: Từ một học sinh bình thường, nhờ sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ
của mọi người, em đã vươn lên để trở thành một học sinh khá Hãy kể lại quá trìnhphấn đấu ấy
Đề 5: Kể lại một kỉ nhiệm đáng nhớ thể hiện sự gắn bó thân thiết giữa em và
những con người ở làng quê (ngõ phố), nơi em đang sống
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Hãy kể một câu chuyện có nội dung như câu ca dao trên
Đề 7: Trong quãng đời đi học, em có rất nhiều những kỷ niệm gắn bó với mái
trường thân yêu Hãy kể lại một kỉ niệm làm em xúc động và nhớ mãi
* Kể chuyện tưởng tượng.
Đề 8: Khi Thánh Gióng ra trận, người mẹ đã đến bên ngựa sắt để tiễn chàng.
Hãy viết một bài văn ngắn kể lại cuộc chia tay đầy xúc động ấy
Đề 9: Từ ngày Sơn Tinh trở thành rể vua Hùng, nhân dân hết sức phấn khởi vì
họ đã có một vị thần tài giỏi có thể giúp họ chiến thắng thần nước Hàng ngàn nămtrôi qua, niềm tin ấy vẫn vững vàng Nhưng thời gian gần đây, vị thần nước hung dữlại có phần thắng thế, gây ra biết bao nhiêu tai hoạ cho con người Họ cầu cứu thầnnúi Sơn Tinh đã hiện lên, chỉ rõ cho con người thấy được nguyên nhân của nạn lũ lụt
và giúp họ chuẩn bị tinh thần chống lại Thuỷ Tinh Hãy hình dung và kể lại câutruyện ấy
Đề 10: Lời tâm sự của một bức tường loang lổ những vết xước và những hình
vẽ
- GV hướng dẫn học sinh lập dàn bài sau đó thực hành kể trên lớp
- GV nhận xét, chỉnh sửa cho học sinh
Trang 23Ngày soạn: 30/11/2012
Ngày giảng: 1+ 8/12/2012
Buổi 8 + 9
ÔN TẬP VỀ CÁC TỪ LOẠI, CỤM TỪ TIẾNG VIỆT
I Ôn tập về các từ loại tiếng Việt - Cụm từ tiếng Việt đã học
- Liệt kê các từ loại đã học theo bảng sau:
- Liệt kê cụm từ tiếng việt đã học theo bảng sau:
b Đặc điểm của danh từ.
- Danh từ có ý nghĩa khái quát chỉ sự vật ( bao gồm các thực thể như người, động vật,
đồ vật, cây cối, các vật thể tự nhiên, các hiện tượng và cả các khái niệm trừu tượngthuộc phạm trù tinh thần )
- Danh từ có khả năng kết hợp với các từ chỉ số lượng ở trước và các từ chỉ định ởsau để tạo nên một cụm từ mà nó là trung tâm nói cách khác, danh từ có khả năngđóng vai trò trung tâm trong một cụm từ chính phụ
Trang 24Tuy nhiên các tiểu loại danh từ không bộc lộ các đặc điểm trên một cách đồng đều,
mà ở mức độ đậm nhạt khác nhau
Có một cách nhận diện danh từ đơn giản và tường minh Đó là căn cứ vào khả năng
kết hợp với từ nghi vấn nào để cấu tạo câu hỏi Có thể xác định như sau: Danh từ là những từ có thể kết hợp với từ nghi vấn nào ở sau để cấu tạo một câu hỏi Những từ
có khả năng đó đều là danh từ Các từ không có khả năng đó không phải là danh từ
Ví dụ: Học sinh nào ? Nhà máy nào ? Tư tưởng nào ? Thắng ( tên riêng ) nào ?
Lưu ý: + Cần phân biệt từ nghi vấn nào với từ nào chỉ hành động thúc dục Từ sau có
thể kết hợp với các từ không phải danh từ: Đi nào ! ; Ăn nào ! ( câu cầu khiến)
+ Phân biệt từ nghi vấn nào và các từ nghi vấn thế nào, như thế nào các từ sau
có thể kết hợp với các từ không phải danh từ:
Ăn như thế nào ?
Đẹp như thế nào ?
c.Phân loại danh từ trong tiếng Việt.
Danh từ trong tiếng Việt được chia làm hai loại: danh từ chỉ đơn vị, danh từ chỉ sựvật
* Danh từ chỉ đơn vị:
đặc điểm của danh từ chỉ đơn vị là có thể kết hợp trực tiếp với các số từ
Ví dụ: Hai chàng đều vừa ý ta, nhưng ta chỉ có một người con gái, biết gả cho người
nào ?
Danh từ chỉ đơn vị được chia làm hai loại cơ bản là danh từ chỉ đơn vị tự nhiên vàdanh từ chỉ đơn vị quy ước
- Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên được gọi là loại từ đứng
sau lượng từ toàn bộ và lượng từ phân phối đứng trước danh từ chỉ sự vật Loại từ có
ý nghĩa khái quát về sự vật hơn cả danh từ chỉ vật Do đó có ý nghĩa khái quát vềdanh từ, loại từ có hai đặc điểm chính sau đây:
+ Các danh từ có ý nghĩa khái quát khi đứng trước một danh từ chỉ sự vật cụ thể sẽchuyển thành loại từ:
Ví dụ:
Một người ở vùng núi Tản Viên có tài lạ : Vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồnbãi ; vẫy tay về phía tây, phía tây mọc lên từng dãy núi đồi
- Hai chàng đều vừa ý ta, nhưng ta chỉ có một người con gái, biết gả cho người nào
( Sơn Tinh, Thuỷ Tinh) Trong ví dụ đầu người là danh từ chung chỉ sự vật Trong ví dụ sau người đứng trước
con gái là danh từ có ý nghĩa cụ thể hơn nên người chuyển thành loại từ.
+ Do ý nghĩa thực nghèo nàn nên các loại từ như con, cái, bức, tấm, sự, việc, cuộc,
có thể kết hợp với động từ, tính từ, để trở thành cụm từ mang ý nghĩa danh từ
Ví dụ: Cái ăn, cái ngủ, sự học hành, cuộc chiến tranh,
- danh từ chỉ đơn vị quy ước.
Danh từ chỉ đơn vị quy ước đứng trước danh từ chỉ sự vật để nói rõ về đơn vị đo
lường như cân, mét, lít, tạ, thúng, ; đơn vị tập thể như bộ, cặp, tụi, bọn, ; đơn vị thời gian như giờ, phút, giây, tháng, ngày, ; đơn vị sự việc như lần lượt, phen, cú,
cuộc, ; đơn vị hành chính nghề nghiệp như xã, xóm, huyện, tổ,lớp, trường, tiểu đội, đại đội,
Danh từ chỉ đơn vị quy ước được chia làm hai loại cơ bản:
Trang 25- Danh từ chỉ đơn vị chính xác như: cân, lít, tạ, mét, thúng,
- Danh từ chỉ đơn vị ước chừng như: nắm , vốc, mớ, đàn, bọn, tụi, lũ, dãy, bó,
bộ, cặp.
* Danh từ chỉ sự vật.
Danh từ chỉ vật có hai loại cơ bản là danh từ chung và danh từ riêng
- Danh từ chung:
Danh từ chung là những danh từ gọi tên chung của một loại sự vật như nhà, giường,
tủ, cá, chim, công nhân, con gái, nhà máy, Dựa theo ý nghĩa danh từ chung có thể
tách thành một số tiểu loại như sau:
+ Danh từ chỉ vật thể Loại này gồm những danh từ chỉ người, động vật, thực vật, đồ
vật.
+ Danh từ chỉ vật liệu như nước, gạo, muối, đường, dầu, sắt, thép
+ Danh từ trừu tượng là danh từ biểu thị khái niệm trừu tượng, các sự vật trong tư
tưởng như thói quen, tính nết, thái độ, tư tưởng, tình cảm,
- Danh từ riêng:
Danh từ riêng là tên gọi riêng của một người, một sự vật riêng lẻ, một địaphương, Danh từ riêng bao gồm tên người, tên đất, tên tổ chức
+ Tên người, tên đất Vệt Nam viết hoa tất cả các tiếng
+ Tên người, tên đất nước ngoài phiên âm qua âm Hán Việt, viết hoa chữ cái đầu tiêncủa mỗi bộ phận tạo thành tên riêng và gạch nối các tiếng trong cùng bộ phận
+ Tên tổ chức thường là cụm từ bao gồm nhiều bộ phận Theo thói quen, ta viết hoatất cả các chữ đầu tiên của mỗi bộ phận tạo thành từ đó, ví dụ: Hội Cựu chiến binh,Trường Trung học cơ sở Him Lam
- Động từ cũng như tính từ ít có khả năng kết hợp với : này, nọ, kia, ấy.
- Động từ đảm nhiệm chức năng của các thành phần câu, thành phần phụ cũng nhưthành phần chính Riêng chức năng vị ngữ, động từ có thể đảm nhiệm một cách trựctiếp
Ví dụ: Nó đi.
VN
Những người công nhân xây dựng đang thiết kế cây cầu.