1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

HAI đứa TRẺ CHÍ PHÈO 2018

39 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 57,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HAI ĐỨA TRẺ- CHÍ PHÈO THẠCH LAM-NAM CAO Các đề liên hệ, so sánh xung quanh: ĐỀ 1 : Anh/ chị hãy phân tích chi tiết tiếng sáo trong đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài trích Vợ chồng A phủ – Tô

Trang 1

HAI ĐỨA TRẺ- CHÍ PHÈO

THẠCH LAM-NAM CAO

Các đề liên hệ, so sánh xung quanh:

ĐỀ 1 : Anh/ chị hãy phân tích chi tiết tiếng sáo trong

đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài (trích Vợ chồng A phủ – Tô Hoài), từ đó liên hệ với chi tiết bát cháo hành của Thị Nở mang cho Chí Phèo ( trích Chí

Phèo– Nam Cao) để làm rõ vai trò của chi tiết nghệ

thuật trong truyện ngắn

– Chi tiết nghệ thuật chính là “các tiểu tiết của tác phẩm mang

sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng” (Từ điển thuật ngữ văn

học) trong tác phẩm văn học Chi tiết nghệ thuật được biểu hiện

phong phú, có thể là một nét chân dung nhân vật, một hành vi lời

nói, một biểu hiện cử chỉ, phản ứng nội tâm, một nét phong cảnh,

môi trường, một biểu hiện sinh hoạt, một khâu quan hệ nào đó

trong đời sống của nhân vật…

– Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Đặc điểm của truyện

ngắn phải ngắn gọn, cô đúc, kiệm lời, dung lượng nhỏ nhưng sức

chứa lớn Các chi tiết được lựa chọn đưa vào truyện ngắn phải

độc đáo, giàu ý nghĩa nghệ thuật

+ Chi tiết tiếng sáo trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ là một nét

0,5

Trang 2

vẽ rất thực về cảnh Tây Bắc, trực tiếp đưa người đọc vào không

khí náo nức, rộn ràng, khơi gợi nhiều khát khao của con người

những đêm tình mùa xuân.

+ Chi tiết bát cháo hành trong truyện ngắn Chí phèo là biểu hiện

tình người ấm nóng nơi làng Vũ Đại khô khát yêu thương, khơi

dậy tình thương trong con người.

→Trong tác phẩm văn học, chi tiết đóng vai trò quan trọng góp

phần làm nên nét độc đáo trong nội dung tư tưởng và hình thức

nghệ thuật của tác phẩm

* Phân tích :

* Chi tiết tiếng sáo trong đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài.

– Hình tượng tiếng sáo nằm ở phần giữa tác phẩm, đó là những

thanh âm của tiếng sáo vùng núi cao Tây Bắc trong đêm tình mùa

xuân Sau những chuỗi ngày sống chỉ mang ý nghĩa của sự tồn

tại, tê liệt, chai lì cái nồng nàn của lửa, của men rượu, cái tươi vui rộn rã của mùa xuân Hồng Ngài đã đánh thức tâm hồn Mị, tiếng

sáo đã vọng đến đôi tai Mị Tiếng sáo được miêu tả từ xa đến

gần, với những cung bậc khác nhau: khi tiếng sáo lấp ló ngoài

đầu núi, tiếng sáo văng vẳng gọi bạn đầu làng, tiếng sáo lửng lơ bay ngoài đường, trong đầu Mị , rập rờn tiếng sáo, tiếng sáo

đưa Mị đi theo những cuộc chơi

+ Trước hết, đây là chi tiết có ý nghĩa tả thực về nét đẹp văn hóa

của miền núi cao Tây Bắc.

∟Tiếng sáo vang lên với những cung bậc khác nhau, khi xa khi

gần, khi trầm bổng khoan thai, khi rập rờn, khi lấp ló…

∟Âm thanh tiếng sáo vang lên những ca từ mộc mạc thể hiện lẽ

sống hồn nhiên, yêu đời, phóng khoáng của những con người nơi đây

→ Tiếng sáo mang đến chất thơ, làm dịu mát cuộc sống trăm

đắng ngàn cay với nỗi đời cơ cực của con người nơi đây, khiến

mảnh đất Tây Bắc vốn xa lạ, hoang vu trở nên gần gũi, thơ mộng.

+ Không dừng lại ở ý nghĩa tả thực, chi tiết tiếng sáo góp phần

diễn tả vẻ đẹp tâm hồn Mị trong đêm tình mùa xuân.

∟Tiếng sáo lay thức tâm hồn Mị, khiến lòng Mị thiết tha, bổi hồi,

1,5

Trang 3

nhẩm thầm bài hát của người đang thổi và những kí ức đẹp đẽ

nồng nàn của người con gái đã trở về.

∟Tiếng sáo đã làm bừng lên khát vọng sống, Mị ý thức hiện tại

mình vẫn còn trẻ, Mị ý thức về quyền hạnh phúc.

∟Tiếng sáo khiến Mị quên đi thực tại khổ đau: khi Mị định ăn lá

ngón để chết ngay chứ không muốn nghĩ về ngày trước nữa thì

tiếng sáo lửng lơ ngoài đường lại đưa Mị trở về với niềm khát

sống, khi bị trói đứng cả đêm, tâm hồn Mị vẫn bay bổng cùng

tiếng sáo, tiếng sáo đưa Mị theo những cuộc chơi.

→Tiếng sáo trở thành biểu tượng đẹp đẽ cho khát vọng tự do,

khát vọng sống, khát vọng tình yêu trong tâm hồn Mị Chi tiết

tiếng sáo trong đêm tình mùa xuân đã góp phần thể hiện tư tưởng,

thái độ của nhà văn và thành công của ngòi bút Tô Hoài Đó là

tấm lòng nâng niu trân trọng của nhà văn đối với nét đẹp văn hóa

của và vẻ đẹp tâm hồn con người Tây Bắc Chi tiết giàu chất thơ,

lai láng dư vị trữ tình có sức sống lâu bền trong tâm hồn người

đọc.

* Chi tiết bát cháo hành khi Thị Nở mang cho Chí Phèo

– Bát cháo hành xuất hiện ở gần cuối thiên truyện Khi Chí Phèo

uống rượu nhà Tự Lãng đã không về túp lều của mình mà ra

thẳng bờ sông Ở đó, Chí bắt gặp Thị Nở – người đàn bà ngớ

ngẩn, xấu ma chê quỷ hờn, đi kín nước nhưng ngủ quên ở bờ

sông Khung cảnh hữu tình cùng với hơi men của rượu đã đưa

đến mối tình Chí Phèo – Thị Nở Sau đêm đó, Chí bị cảm, Thị Nở

thương tình, sau một đêm trằn trọc suy nghĩ, Thị chạy đi tìm gạo

và nấu cháo hành mang sang cho Chí.

+ Bát cháo hành – biểu tượng của tình người rất thật, rất hồn

nhiên, vô tư, không vụ lợi mà Thị Nở dành cho Chí.

+ Bát cháo hành – vị thuốc giải cảm cho Chí Ăn bát cháo hành

hơi nóng nghi ngút đã làm cho Chí “vã mồ hôi ra như tắm” Bát

cháo tưởng vặt vãnh đã trở thành liều thuốc giải cảm hữu hiệu

cho Chí.

+ Bát cháo hành – vị thuốc giải độc cho cuộc đời Chí Không chỉ

giải cảm, bát cháo hành – tình người duy nhất đã gợi thức phần

1,0

Trang 4

lương tri ngủ quên trong lốt “con quỷ dữ Chí Phèo” Từ ăn năn,

hối hận, Chí bỗng thấy thèm lương thiện, thèm trở về cuộc sống

ngày trước Bát cháo hành đã dẫn đường cho hi vọng hoàn lương

+ Bát cháo hành cũng chính là chi tiết đẩy bi kịch của Chí lên tới

đỉnh điểm, dẫn tới một kết thúc thảm thương đầy đau đớn.

→Bát cháo hành – một chi tiết nghệ thuật mang đầy dụng công

của Nam Cao Nó góp phần thể hiện tư tưởng nghệ thuật của nhà

văn: Điều mà chúng ta thiếu đó chính là lòng tốt – một lòng tốt

rất bình thường cũng có thể cứu rỗi con người Và kết cục của

Chí Phèo thể hiện một niềm tin của nhà văn: dẫu có bị bầm dập

về nhân hình lẫn nhân tính, lương thiện trong con người đặc biệt

là những người nông dân cũng không mất đi, nó chỉ cần đợi có cơ

hội là sẽ bùng lên mạnh mẽ Qua chi tiết nó cũng cho ta thấy một

hiện thực mà nhà văn đau đáu: đó là những định kiến làng xã

nông thôn đã tước đi quyền được sống của con người… Qua đó

nhà văn cũng gióng lên một hồi chuông khẩn thiết đòi thay máu

cho xã hội để ít nhất con người được sống lương thiện.

* Đánh giá chung:

Như vậy, việc lựa chọn chi tiết “đắt giá” đưa vào truyện ngắn

không chỉ thể hiện tài quan sát, tài vận dụng đồng thời còn là

quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người, về cuộc sống

Chính vì thế có ý kiến cho rằng Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn.

0,5

c KB: Khẳng định lại vai trò của chi tiết nghệ thuật làm nên sức

lâu bền của tác phẩm và sự thành công của nhà văn.

ĐỀ 2 : Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Mị trong đêm cứu A

Phủ (Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài, Ngữ văn 12 – Tập 2,NXB GD

Việt Nam 2016) Từ đó, liên hệ với tâm trạng của hai chị em

Liên trong cảnh đợi tàu (Hai đứa trẻ –Thạch Lam, Ngữ văn 11

tập 1, NXB GD Việt Nam 2016) để nhận xét về cách nhìn và

tình cảm của nhà văn đối với người lao động trong xã hội cũ./.

Dàn ý đáp án.

Trang 5

* Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm, đoạn trích. 0.25

* Cảm nhận nhân vật Mị trong đêm cởi trói cho A

Phủ:

– Nội dung:

+ Lúc đầu : Khi nhìn thấy A Phủ bị trói Mị vẫn thờ ơ, lạnh lùng, vô

cảm, vẫn “thản nhiên thổi lửa, hơ tay” vì cảnh trói người ở nhà

thống lí Pá Tra đã quá quen thuộc và chính Mị cũng từng bị trói

như thế Hay vì ở lâu trong cái khổ tâm hồn Mị đã trở nên chai sạn,

vô cảm trước nỗi đau của người khác cho nên “ Nếu A Phủ là cái

xác chết đứng đấy, cũng thế thôi”.

+ Sau đó : Mị nhìn thấy “ dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai

hõm má đã xám đen lại của A phủ.:

++ Lòng Mị chợt bồi hồi nhớ lại cảnh mình cũng bị A Sử trói đứng

thế kia, có nhiều lần khóc nước mắt rơi xuống miệng, xuống cổ

không lau đi được Mị chợt nhận ra người ấy giống mình về cảnh

ngộ, mà những người cùng cảnh ngộ rất dễ cảm thông cho nhau

++ Mị nhớ lại những chuyện thật khủng khiếp lúc trước kia,

“chúng nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở trong

cái nhà này” Lý trí giúp Mị nhận ra “Chúng nó thật độc ác” Việc

trói người đến chết còn ác hơn cả thú dữ trong rừng.

++ Nhớ đến những chuyện ngày trước, trở về với hiện tại, Mị đau

khổ cay đắng cho thân phận của mình: “Ta là thân đàn bà chúng nó

đẵ bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết chờ ngày rũ xương

ở đây thôi” Nghĩ về mình, Mị lại nghĩ đến A Phủ “có chừng này,

chỉ đêm nay thôi là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải

chết Người kia việc gì mà phải chết như thế A Phủ… Mị phảng

phất nghĩ như vậy”.

++ Trong đầu Mị bỗng nhiên nghĩ đến cảnh A Phủ bỏ trốn và chính

Mị sẽ là người chết thay cho A Phủ trên cái cột tưởng tượng đó.

-> Từ thương mình chuyển sang thương người, hình thành sợi dây

đồng cảm Mị đã cắt dây cởi trói cho A Phủ.

++ Sau khi cắt dây cởi trói cho A Phủ, Mị thì thào lên một tiếng “đi

ngay” rồi Mị nghẹn lại A Phủ vùng chạy đi, còn Mị vẫn đứng lặng

2.0

Trang 6

trong bóng tối Thế là cuối cùng sức sống tiềm tàng đã thôi thúc Mị

phải sống và Mị vụt chạy theo A Phủ Trời tối lắm nhưng Mị vẫn

băng đi Thế là Mị và A Phủ dìu nhau chạy xuống dốc núi.

=> Có thể nói tình thương, sự đồng cảm giai cấp và niềm khát khao

tự do, sức sống mãnh liệt đã thôi thúc Mị cắt dây cởi trói cho A

phủ Hành động ấy bất ngờ nhưng tất yếu mang tính logic của một

sức sống đã được hồi sinh mãnh liệt Mị cởi trói cho A Phủ cũng

chính là tự cởi trói cho chính mình.

– Nghệ thuật:

+ Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo.

+ Cách trần thuật uyển chuyển, linh hoạt, ngắn gọn; dẫn dắt tình

tiết khéo léo.

+ Ngôn ngữ sinh động, chọn lọc và sáng tạo…

* Liên hệ với tâm trạng của hai chị em Liên

trong cảnh đợi tàu:

– Liên chờ tàu không phải để bán hàng cũng không phải sự hiếu kì

mà là nhu cầu tinh thần hàng đêm Bởi vậy, An mặc dù đã buồn

ngủ díu cả mắt vẫn cố dặn chị “tàu đến chị đánh thức em dậy

nhé” ” Hai chị em Liên chời đợi tàu trong tâm trạng háo hức, bồi

hồi bởi đó là chuyến tàu từ Hà Nội về – gợi những kí ức về cuộc

sống tươi đẹp trong quá khứ; chuyến tàu giúp Liên và An được cảm nhận cuộc sống dù là trong một giây lát.

– Đoàn tàu đến trong sự mong chờ của chị em Liên Liên và An

hướng cả tâm hồn mình vào đoàn tàu khi còn ở xa “tiếng còi đã rít

lên và tàu rầm rộ đi tới với những toa hạng sang, mạ kền và mạ

đồng lấp lánh, các cửa kính sáng ” Con tàu đã đem đến một thế

giới khác đi qua, một thế giới rực rỡ, vui vẻ, huyên náo- một thế

giới khác hẳn với sự nghèo khôt hàng ngày.

– Đoàn tàu chỉ xuất hiện trong một khoảnh khắc rất ngắn rồi vụt

qua đi vào đêm tối Ta bắt gặp phía sau đoàn tàu một nguồn ánh

sáng nhỏ nhoi chỉ chực tan hòa vào bóng tối An nhận ra tàu hôm

nay “kém sáng hơn”, nhưng Liên vẫn “lặng theo mơ tưởng” Đoàn

tàu không làm thay đổi cuộc sống nơi phố huyện nhưng sự xuất

1.0

Trang 7

hiện của nó đủ để lại niềm khao khát cho những con người nơi đây

“chừng ấy con người…của họ”.

– Nghệ thuật:

+ Truyện ngắn Hai đứa trẻ là một truyện không có truyện, không có những biến cố căng thẳng dồn nén, những xung đột gay gắt, những tình tiết căng thẳng, thời gian ngắn, nhân vật không nhiều.

+ Nghệ thuật phân tích tâm lí của ngòi bút Thạch Lam tạo nên sự thành công của thiên truyện.

+ Thủ pháp nghệ thuật đối lập.

+ Ngôn ngữ văn xuôi giàu chất thơ

* Nhận xét cách nhìn và tình cảm của nhà văn đối với con người:

+ Qua đó thể hiện cái nhìn hiện thực và nhân đao sâu sắc của

Thạch Lam và Tô Hoài.

– Khác nhau:

+ Trong truyện ngắn Hai đứa trẻ Thạch Lam thể hiện cái nhìn xót thương cho cuộc đời số phận quẩn quanh, tối tăm và bế tắc của những người dân nơi phố huyện nghèo – những con người không bao giờ được biết đến ánh sáng và hạnh phúc, sống mòn mỏi trong nỗi buồn chán và sự vô nghĩa đến ước mơ cũng chỉ là chờ một chuyến tàu đêm đi qua.

+ Trong Vợ chồng A Phủ nhà văn Tô Hoài đã khẳng định bằng sức sống mãnh liệt những người lao động như Mị và A Phủ đã tự giải phóng mình khỏi cuộc sống tối tăm để hướng đến cuộc sống và tương lai tốt đẹp đó là con đường đến với cách mang.

-> Đây là nét hiện thưc mới cũng là nhân đạo mới của văn học

1945 – 1975 so với văn học 1930 – 1945.

Trang 8

Đề 3: Cảm nhận của anh/chị về sức sống tiềm tàng của nhân

vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài (Ngữ Văn 12,

tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam 2016) Từ đó liên hệ với nhân vật

Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻcủa Thạch Lam (Ngữ Văn 11, tập 1,

NXB Giáo dục Việt Nam 2016) để nhận xét quan niệm của hai nhà văn về sức sống của con người.

Dàn ý đáp án

a Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận

Mở bài giới thiệu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết

b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Cảm nhận về sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong tác phẩm

Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài Liên hệ với nhân vật Liên trong tác

phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam để bàn về sức sống của con

c Triển khai vấn đề nghị luận

Vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và

dẫn chứng.

* Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm và sức sống tiềm tàng

của nhân vật Mị.

* Cảm nhận về sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị

Thí sinh có thể cảm nhận theo nhiều cách nhưng cần đảm bảo các

nội dung sau:

– Khái quát lại cuộc đời Mị từ trước và sau khi về làm dâu trừ nợ

nhà thống lí PáTra

+ Trước khi làm dâu gạt nợ, Mị là một cô gái hầu như tập trung

được những vẻ đẹp tiêu biểu của người phụ nữ miền núi: Mị vừa

đẹp người, vừa đẹp nết, cần cù, đảm đang, hiếu thảo, giàu đức hi

Trang 9

sinh vị tha, ham sống, yêu đời và rất mực tài hoa.

+ Khi về làm con dâu cho nhà thống li, dưới mấy tầng áp bức của cường quyền, thần quyền, những hủ tục phong kiến nơi miền núi,

Mị gần như tê liệt hết về sức sống, Mị trở thành con người cam

phận sống cuộc sống “thân phận con rùa”, “Mỗi ngày Mị càng

không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”.

– Sức sống tiềm tàng của Mị

+ Khi mùa xuân đến

Mùa xuân về trên rẻo cao, đặc biệt là đêm tình mùa xuân với tiếng sáo, tiếng khèn của trai làng gọi bạn tình có ý nghĩa như một hoàn cảnh điển hình làm cho sức sống tiềm tàng trong con người Mị trỗi dậy một cách mãnh liệt.

Ngày Tết, Mị cũng uống rượu Với những tác động của ngoại cảnh và men rượu, Mị đã thoát khỏi tâm trạng dửng dưng bấy lâu

để trở thành con người thức tỉnh, vươn tới những ý nghĩ và khát vọng đẹp đẽ Chú ý phân tích diễn biến tâm lí của Mị trong đêm

tình mùa xuân: “Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng” -> lòng Mị đang phơi phới sống về những ngày trước Mị thấy “trong

lòng đột nhiên vui sướng… Mị trẻ lắm… Mị muốn đi chơi” -> Ý

thức về bản thân trỗi dậy, Mị phẫn uất mãnh liệt và thấm thía nỗi tủi nhục của mình, Mị muốn chết -> trong khi đó, tiếng sáo, biểu tượng của khát vọng tự do và tình yêu tuổi trẻ “đang rập rờn” trong đầu Mị -> Mị khêu to ngọn đèn cho sáng như thể khêu ngọn lửa của lòng ham sống, của sự khát khao -> Hành động: “Mị quấn lại tóc, với tay lấy chiếc váy hoa” chuẩn bị đi chơi ngày Tết Nhưng giữa lúc lòng ham sống trong Mị trỗi dậy thì cũng là lúc Mị bị vùi dập một cách khắc nghiệt, lạnh lùng A Sử, chồng Mị thản nhiên

“trói đứng Mị vào cột nhà” -> “Như không đang biết mình đang sợ

bị trói… Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi”,

quên mọi đau đớn về thể xác, “Mị đã vùng dậy bước đi”.

+ Khi chứng kiến cảnh A Phủ bị trói

Bên cạnh bếp lửa, nhìn thấy A Phủ bị trói đứng một cách thảm khốc, mấy đêm đầu Mị vẫn thản nhiên vì chuyện đánh người, trói nguời ở nhà Pá Tra xảy ra như cơm bữa Vả chăng, Mị cũng chỉ là

Trang 10

một nạn nhân bất lực Nhưng trông thấy hai hàng nước mắt “lấp

lánh” bò xuống hai hõm má đã “xám đen lại của A Phủ”, Mị càng

thương mình, càng thương người Tình thương, niềm đồng cảm giữa những con người cùng cảnh ngộ ấy đã lấn át nỗi sợ và cái chết, nó đã dẫn đến hành động táo bạo: cắt dây trói giải thoát cho A Phủ, cùng nhau trốn khỏi Hồng Ngài.

Đây là hành động tuy tự phát nhưng là kết quả của một quá trình,

nó minh chứng sức sống tiềm tàng, âm ỉ không ngừng trong con người Mị Nó là một bước ngoặt trong tính cách và cuộc đời Mị.

* Liên hệ với nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ của

Thạch Lam để nhận xét quan niệm của hai nhà văn về sức sống của con người.

– Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam là một cô bé nhà nghèo, sớm phải lo toan vất vả Cuộc sống của Liên và những

người dân nơi phố huyện chìm đắm trong không gian tù túng, ngột ngạt, đơn điệu và đầy bóng tối Vì tuổi thơ từng sống ở Hà Nội nên Liên ý thức rất rõ cuộc sống hiện tại Nhưng bằng tất cả sức sống của một tâm hồn trẻ thơ tươi sáng, Liên đã không chịu “khuất

phục” cái bóng tối dày đặc, ánh mắt em luôn thiết tha kiếm tìm những nguồn sáng Ánh sáng rực rỡ của con tàu mang hình ảnh chứa đựng khát vọng về tương lai, đánh thức sức sống mãnh liệt của tâm hồn Liên.

– Cả Thạch Lam và Tô Hoài không chỉ phản ánh chân thực cuộc sống nghèo khổ, bế tắc của người lao động trong xã hội cũ mà còn trân trọng và ngợi ca sức sống mãnh liệt trong tâm hồn của con người dù phải sống trong hoàn cảnh nào Đây chính là chiều sâu nhân đạo của tác phẩm Nhưng Thạch Lam với cảm quan lãng mạn chưa cho phép nhà văn đi xa hơn trong việc tìm thấy con đường giải thoát thực sự cho người lao động Còn Tô Hoài vốn am hiểu phong phú sâu sắc về đời sống của những người nông dân vùng cao

và viết chân thực về cuộc đời của họ Không khí của cuộc cách mạng trên mảnh đất Tây Bắc đã khiến nhà văn phản ánh được sức sống mãnh liệt của họ và quá trình tự đấu tranh đến với cách mạng

để thay đổi cuộc sống của mình.

Trang 11

ĐỀ 4: Cảm nhận của anh/ chị về niềm khao khát muốn đi chơi của nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài) Từ đó, liên hệ với niềm mong đợi chuyến tàu đêm đi qua phố huyện của chị em Liên, An (Hai đứa trẻ – Thạch Lam) và nhận xét quan niệm của mỗi nhà văn về cuộc sống có ý nghĩa.

Dàn ý đáp án

1 Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm (0,5 điểm)

2 Cảm nhận về niềm khao khát muốn đi chơi của nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân (2,25 điểm)

– Giới thiệu sơ lược về đặc điểm con người và số phận đau khổ của Mị trong nhà Pá Tra.

– Vài nét về bối cảnh nhân văn của thiên nhiên và cuộc sống, sinh hoạt ở Hồng Ngài trong mùa xuân.

– Diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật Mị: nhẩm

thầm bài hát – uống rượu và say – sống dậy những ngày quá khứ tươi đẹp và thức tỉnh tình cảnh thê thảm ở thực tại – muốn chết

và muốn đi chơi.

– Niềm khao khát được đi chơi là biểu hiện cho sức sống, khao khát tự do, ý thức làm người bấy lâu bị tê liệt nay đã hồi sinh ở Mị.

3 Liên hệ với niềm mong đợi chuyến tàu đêm đi qua phố huyện của chị em Liên, An (1,0 điểm)

– Hai chị em Liên An từng có những ngày tuổi thơ tươi đẹp ở

Hà Nội, nay vì gia cảnh sa sút mà phải sống buồn lặng, tăm tối ở phố huyện nghèo Mỗi ngày, hai chị em chỉ có một niềm vui duy nhất: ngắm nhìn chuyến tàu đêm từ Hà Nội qua phố huyện.

Trang 12

– Điểm giống nhau: Các nhân vật đều khao khát thoát khỏi thực tại buồn chán, tăm tối trói buộc sự sống; đều khao khát được đổi thay, được sống có ý nghĩa hơn.

– Với Tô Hoài: Viết về đề tài cuộc sống của người lao động trong xã hội cũ nhưng có cách nhìn, cách lí giải mới gắn với đổi thay trong tư tưởng của nhà văn, vì thế, cuộc sống có ý nghĩa là cuộc sống được tự do, được sống trong niềm vui sống của tuổi trẻ.

5 Đánh giá (0,25 điểm)

– Về nhân vật Mị

– Về giá trị nhân đạo của hai tác phẩm.

Đề 5: Cảm nhận của anh/chị về giá trị nhân đạo của

truyện ngắn Vợ nhặt (Kim Lân) Từ đó, liên hệ đến truyện ngắn Chí Phèo (Nam Cao) và làm rõ sự tương đồng, khác

Trang 13

biệt trong tư tưởng nhân đạo của mỗi nhà văn.

Dàn ý

* Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, vấn đề cần nghị luận

– Kim Lân là một trong những cây bút xuất sắc của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại Ông viết nhiều và viết hay về người nông dân và đề tài nông thôn

– Vợ nhặt là một trong những sáng tác tiêu biểu của Kim Lân.

– Giới thiệu vấn đề cần nghị luận (giá trị nhân đạo của truyện ngắn)

* Cảm nhận về giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ nhặt

– Giải thích sơ lược về khái niệm “giá trị nhân đạo”:

+ Nhân đạo: lòng yêu thương con người

+ Giá trị nhân đạo (trong văn chương) được biểu hiện ở: thái độ ngợi ca vẻ đẹp (cả thể chất và tâm hồn) của con người; thấu hiểu, đồng cảm với nỗi đau khổ của con người đồng thời lên án, phê phán các thế lực phi nhân tính chà đạp lên quyền sống của con người; bênh vực con người nhỏ bé…

– Giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ nhặt:

+ Thấu hiểu, đồng cảm, xót xa, đau đớn trước thân phận rẻ rúng và hoàn cảnh éo lecủa con người (anh cu Tràng vì quá nghèo mà không lấy được vợ, thân phận rẻ rúng của người “vợ nhặt”, “đám cưới” ngày đói…), từ đó gián tiếp tố cáo tội ác của bè lũ thực dân – phát xít

+ Ngợi ca tình người (lòng vị tha anh cu Tràng dành cho người vợ nhặt; lòng yêu con của bà cụ Tứ; tấm lòng nhân hậu bà cụ Tứ dành cho người vợ nhặt); ngợi ca khát vọng sống của con người (trong hoàn cảnh cận kề cái chết, con người vẫn vươn lên sự sống, vẫn yêu thương, đùm bọc nhau; tinh thần lạc quan của bà cụ Tứ)

+ Khác biệt:

ŸVợ nhặt: Kim Lân đặc biệt ngợi ca sức mạnh của tình người.

Trang 14

ŸChí Phèo: Nam Cao thể hiện niềm tin tưởng mãnh liệt vào nhân tính, vào bản

chất lương thiện của người nông dân

Làm phong phú hơn cho giá trị nhân đạo của văn học Việt Nam

* Lý giải sự tương đồng, khác biệt: do hoàn cảnh sáng tác, khuynh hướng sáng tác

và cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn

ĐỀ 6: Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Tràng khi gặp

thị và quyết định đưa thị về làm vợ (Vợ nhặt- Kim Lân)

Từ đó liên hệ với nhân vật Chí Phèo khi gặp thị Nở (Chí Phèo – Nam Cao) để thấy được ước mơ tốt đẹp của người nông dân nghèo trong tác phẩm văn học.

– Ngoại hình: Tràng có ngoại hình xấu xí và thô kệch, là một người nông dân bình

dị, nghèo khổ lại xấu xí Trong nạn đói khủng khiếp Tràng lại lấy được vợ mà nói cho chính xác hơn thì Tràng “nhặt được vợ”

– Hạnh phúc đến quá tình cờ khiến Tràng choáng váng “Mới đầu anh chàng cũng

chợn” nhưng ngay sau đó lại “tặc lưỡi một cái: – Chật, kệ!” Tấm lòng thương

người và sâu xa bên trong là niềm khao khát hạnh phúc, đã khiến Tràng dám liều lĩnh thách thức với cái đói (dẫn người đàn bà về nhà, mua dầu thắp…)

– Kim Lân đã diễn tả rất hay tâm lí của Tràng trước cái hạnh phúc tình cờ nhặt được

+ Đoạn văn miêu tả cảnh Tràng đưa vợ về nhà đã thể hiện chân thực tâm trạng của một anh chàng dở hơi mà bỗng nhiên có vợ Niềm hạnh phúc bộc lỗ rõ nét mặt và

cử chỉ của nhân vật: “Mặt hắn có một vẻ gì phớn phở khác thường Hắn tủm tỉm

cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”; thấy bọn trẻ con chạy ra

đón, “Tràng vội vàng nghiêm nét mặt, lắc đầu ra hiệu không bằng lòng” vì sợ

Trang 15

chúng đùa dai như mọi khi; biết mọi người trong xóm đang chăm chú nhìn mình,

hắn thích ý và “cái mặt cứ vênh lên tự đắc với mình”; lúc chỉ có hai người trên quãng đường vắng, “hắn định nói với thị một câu rõ tình tứ mà chẳng biết nói thế

nào Hắn cứ lúng ta lúng túng, tay nọ xoa xoa vào vai kia đi bên bạnh người đàn bà” Vì e thẹn, ngượng nghịu, nên cuộc đối thoại giữa Tràng và người đàn bà thật

rời rạc, toàn những lời nhát gừng, cộc lốc Hạnh phúc đến quá bất ngờ, đến nỗi hai người đi bên nhau mà vẫn chưa kịp hết xa lạ với nhau Xúc động nhất là đoạn văn

miêu tả trực tiếp những cảm giác trong lòng Tràng: “Trong một lúc Tràng hình như

quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, nên cả những tháng ngày trước mặt Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy Nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa

hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng” Cái cảm giác mà Tràng không biết gọi

là gì ấy, chính là hạnh phúc

+ Cho đến sáng hôm sau, lúc hai người đã thực sự là vợ chồng rồi, Tràng vẫn còn

ngỡ ngàng: “Trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra Việc

hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngơ ngàng như không phải”.

+ Sức mạnh kì diệu của hạnh phúc đã làm thay đổi hẳn con người Tràng Không còn cái dáng đi “từng bước mệt mỏi” bây giờ đã cái dáng đi đàng hoàng và tỉnh

táo: “Hắn chắp hai tay sau lừng lững thững bước ra sân”,và sau đó lại cái

dáng “xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu

sửa lại ngôi nhà” Sự thay đổi của dáng vẻ bên ngoài nói lên sự thay đổi lớn lao

của tâm hồn Nhìn cảnh người mẹ đang dọn vườn, người vợ đang quét sân, Tràng

vô cùng xúc động “Cảnh tượng ấy thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn

lại rất thấm thía cảm động Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng Hắn đã có một gia đình Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng Một nguồn vui sướng phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn

có bổn phận lo lắng cho vợ con sau này” Người đàn ông dở hơi ấy đến lú này đã

trở nên tỉnh táo “nên người”, có ý thức sâu sắc về tình cảm và trách nhiệm gia

đình, đồng thời cũng biết nghĩ đến tương lai

* Liên hệ với nhân vật Chí Phèo khi gặp thị Nở (Chí

Phèo – Nam Cao) để thấy được ước mơ tốt đẹp của

Trang 16

người nông dân nghèo trong tác phẩm văn học.

Giống nhau: Cả hai nhận vật Tràng và Chí Phèo đều là những người nông dân nghèo, có ước mơ bình dị và khát vọng tốt đẹp ở tương lai

+ Tràng: Niềm khát khao tổ ấm gia đình, cũng là khát khao hạnh phúc của nhân vậtTràng là khát khao mãnh liệt dẫu rất thô sơ, chất phác, hồn nhiên Khát vọng đó đã vượt qua cả những nỗi lo âu, sợ hãi và toan tính trước nạn đói và trước cái chết.+ Chí Phèo: Cứ tưởng Chí Phèo sống mãi kiếp thú vật rồi kết thúc cuộc đời bằng cách vùi xác tại một bờ bụi nào đó Nhưng không, một bước ngoặt lớn đã diễn ra trong cuộc đời Chí Kể từ khi gặp thị Nở, Chí Phèo đã thức tỉnh Đầu tiên là tỉnh rượu rồi mới đến tỉnh ngộ Sau đó là niềm hy vọng : Ước mơ lương thiện trở về, Chí thấy thèm lương thiện và muốn làm hòa với mọi người… Chí đặt hy vọng lớn

vào thị Nở: “thị Nở sẽ mở đường cho hắn Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao

người khác lại không thể được… Họ sẽ lại nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện” Chí hình dung về tương lai tươi đẹp khi

chung sống cùng với thị Nở Rồi Chí ngỏ lời với thị

– Khác nhau :

+ Cuộc đời của Tràng tiêu biểu cho số phận của người dân nghèo trước cách mạng tháng Tám Khi chưa có nạn đói thì nghèo đến nỗi không lấy nổi vợ, trong nạn đói lại lấy vợ, niềm hạnh phúc đan xen với bất hạnh

+ Chí Phèo điển hình cho tầng lớp nông dân bị bần cùng hóa, lưu manh hóa không

có lối thoát trong xã hội cũ, cho số phận bi thảm của những con người khổ nghèo, tăm tối dưới ách áp bức bóc lột tàn bạo, xảo quyệt của giai cấp thống trị ở nước ta trước Cách mạng tháng Tám

* Ước mơ tốt đẹp của người nông dân nghèo trong tác phẩm văn học.

Sự sâu sắc của các tác giả khi thể hiện niềm khát khao hạnh phúc của người nông dân khốn khổ là ở chỗ nhá văn đã cho ta thấy: người dân lao động, dẫu đứng trước cái chết hay rơi vào bi kịch vẫn luôn nghĩ tới cuộc sống và họ không ngừng tìm kiếm hạnh phúc Đó là giá trị nhân bản sâu sắc nhất của tác phậm văn học

ĐỀ 7: Cảm nhận của anh/ chị về hai chi tiết “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá Tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá.Tiếng của mấy người đàn bà đi

Trang 17

chợ về” (Chí Phèo – Nam Cao) với ” Tiếng sáo vọng về tha thiết nồi hồi” (Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài)

Dàn ý

1 Về chi tiết “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá Tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá.Tiếng của mấy người đàn bà đi chợ về” (Chí Phèo – Nam Cao)

+ Tiếng sáo xuất hiện nhiều lần

+ Mị lấy hũ rượu uốc ừng ực từng bát một Cô uống như dồn nén uất hận, như quên đi thực tại

+ Mị xắn mỡ bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng Mị quấn lại tóc Mị với tay lấy váy hoa…

– Về nghệ thuật:

+ Là một trong những chi tiết góp phần làm thay đổi trạng thái tâm lý của nhân vật.+ L ảnh thiên nhiên hiện ra với những nét phong tục sinh hoạt rất riêng, đọc đáo, góp phần bộc lộ chủ đề tư tưởng của tác phẩm

3 So sánh:

Trang 18

– Sự tương đồng

+ Đó là những âm thanh hết sức kì lạ, nó len lỏi vào tận sâu tâm hồn vốn tưởng như đã chết của nhân vật để khơi dậy trong họ niềm ham sống và khát khao sống mãnh liệt

+ Là những chi tiết góp phần tô đậm giá trị nhân đạo cho 2 tác phẩm

– Sự khác biệt

+ Ở tác phẩm CP là những âm thanh quen thuộc của cuộc sống xung quanh, âm thanh ấy hôm nào cũng có Nhưng hôm nay Chí mới nghe thấy vì chỉ đến hôm hay Chí mới hoàn toàn tỉnh táo, các giác quan mới trở lại hoạt động bình thường

+ Chi tiết trong VCAP là tác nhân quan trọng nhất đã giúp cho Mị từ 1 con người

tê dại, vô cảm về tâm hồn giờ đã muốn đi chơi Nghĩa là muốn phá phách, muốn nổi loạn, để quên đi thực tại phũ phàng, nghiệt ngã, quay về với những tháng năm xưa êm đềm, hạnh phúc của tuổi trẻ và tình yêu

– Lí giải sự khác nhau:

+ Do phong cách sáng tác của nhà văn

+ Do văn chương luôn đòi hỏi sự sáng tạo, khám phá điều mới mẻ

ĐỀ 8 : Cảm nhận của anh/chị về hai hình ảnh cái lò gạch

cũ trong truyện ngắn Chí Phèo (Nam Cao, theo Ngữ văn 11, tập

một) và rừng xà nu trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn

Nguyễn Trung Thành (theo Ngữ văn 12, tập hai) ?

– Cả hai hình ảnh đều tạo nên kết cấu đặc sắc đầu cuối tương xứng

– Cả hai đều được hiểu theo hai nghĩa, tả thực và ẩn dụ tượng trưng

– Cả hai đều rất ấn tượng, ám ảnh, là dụng ý nghệ thuật của nhà văn, có ý nghĩa sâu sắc, góp phần thể hiện nội dung tư tưởng chủ đề tác phẩm

2.2 Khác nhau

1 Hình ảnh cái lò gạch cũ

Trang 19

* Nghĩa tả thực : Cái lò nung gạch đã cũ, không còn sử dụng, bỏ không, trước đây

xuất hiện nhiều ở những vùng quê

* Nghĩa ẩn dụ tượng trưng :

+ Hình ảnh cái lò gạch cũ xuất hiện ở phần đầu tác phẩm khi một anh đi thả ống

lươn nhặt được Chí Phèo trần truồng và xám ngắt trong một cái váy đụp để bên cái lò gạch bỏ không và xuất hiện ở phần cuối tác phẩm khi Chí Phèo chết, thị

Nở nhớ lại những lúc ăn nằm với hắn… rồi nhìn nhanh xuống bụng và đột nhiên

thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người lại qua… ẩn dụ cho cái vòng luẩn quẩn của những kiếp Chí Phèo Chí Phèo bố chết đi

rất có thể sẽ lại có một Chí Phèo con ra đời và cuộc đời, số phận của nó cũng sẽ giống như bố nó, cũng sẽ lại rơi vào con đường lưu manh tha hoá… Từ đó, tác giả muốn khẳng định : Chí Phèo không phải là hiện tượng cá biệt mà đây là hiện tượng

có tính phổ biến, qui luật trong xã hội cũ Khi nào còn tồn tại chế độ áp bức bóc lộtcủa thực dân phong kiến thì khi đó còn tồn tại những kiếp Chí Phèo

+ Hình ảnh thể hiện cái nhìn bi quan, bế tắc của Nam Cao đối với số phận người nông dân

à Hình ảnh cái lò gạch cũ tập trung thể hiện giá trị hiện thực tố cáo của tác phẩm vàbộc lộ hạn chế của Nam Cao

Hình ảnh rừng xà nu

* Ý nghĩa tả thực :

+ Đoạn văn mở đầu tác phẩm giới thiệu với người đọc gần như đầy đủ các thông tin về một loài cây ở Tây Nguyên, đó là cây xà nu :

– Hình dáng : Khi còn nhỏ hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời ; khi đã trưởng

thành cành lá sum sê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ

– Đặc điểm : Sinh trưởng rất khoẻ, một cây ngã xuống có bốn năm cây con mọc

lên để thay thế (cấp số nhân) ; ưa ánh sáng mặt trời đến kì lạ, phóng lên rất nhanh

để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp ; có nhựa, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn.

+ Rải rác trong suốt tác phẩm, hình tượng cây xà nu trở đi trở lại với ý nghĩa tả thực tác dụng của nó đối với đời sống con người : Gỗ xà nu làm củi ở mỗi bếp ; khói xà nu làm đen bảng để trẻ con học chữ ; nhựa xà nu làm đuốc để thắp sáng…

à Cây xà nu gắn bó thân thiết với đời sống dân làng Xô Man

* Ý nghĩa ẩn dụ tượng trưng :

+ Rừng xà nu như một nhân vật tham gia vào kết cấu câu truyện :

– Mở đầu tác phẩm là đoạn văn miêu tả rừng xà nu trong bom đạn của kẻ thù Kết

thúc đoạn văn là hình ảnh : Những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời.

– Kết thúc tác phẩm là hình ảnh : Những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời.

à Như vậy, rừng xà nu tạo nên kết cấu vòng tròn đầu cuối tương xứng Đây cũng là

lí do giải thích vì sao tác phẩm có tên là Rừng xà nu.

Ngày đăng: 17/01/2021, 21:25

w