1. Trang chủ
  2. » Hoá học lớp 10

Đề thi thử văn thpt quốc gia 2019 - Thạc Sỹ Nguyễn Thành Huân - Đề 20 | Ngữ văn, Đề thi đại học - Ôn Luyện

8 150 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 18,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nó không những soi sáng cho con người trong thiên lương mà còn cảm hóa và thanh lọc tâm hồn con người đến đời sống văn minh, trong sạch hơn.[r]

Trang 1

Ths Nguyễn Thành Huân ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2019

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 20

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:

Số báo danh:

I ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:

Chắc có lẽ trong mỗi chúng ta ai cũng luôn đi tìm cho mình một câu trả lời về đất nước Đất nước vốn là khái niệm trừu tượng, mà thoạt đầu con người khó có thể cắt nghĩa cho thật gãy gọn, rõ ràng Nhưng những người thân như ông bà, cha mẹ… thì lại vô cùng cụ thể và được mỗi người cảm nhận trong những mối quan hệ cũng vô cùng cụ thể Đó là mối quan hệ gắn bó máu thịt hình thành ngay từ khi ta cất tiếng khóc chào đời

và sẽ đi theo ta suốt cuộc đời với biết bao biến cố, thăng trầm, buồn vui, hi vọng…

Từ cái nôi gia đình, mỗi người đều có một tuổi thơ gắn liền với kỉ niệm về cây đa, bến nước, sân đình, lũy tre, mái trường, thầy cô, bè bạn Theo thời gian, những kỉ niệm ấy dần dần trở thành sợi dây tình cảm neo giữ tình yêu của mỗi con người với gia đình, quê hương… và có thể nói, chính tình yêu đối với gia đình

và quê hương sẽ khơi nguồn cho tình yêu đất nước.

(Theo http://vanhay.edu.vn/de-thi-thu-thpt-quoc-gia)

Câu 1: Nêu nội dung và xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên?

Câu 2: Hãy tìm câu chủ đề của đoạn văn Từ đó, cho biết đoạn văn được triển khai theo phương pháp

nào?

Câu 3: Tại sao tác giả lại nói: “Đất nước vốn là khái niệm trừu tượng, mà thoạt đầu con người khó có thể

cắt nghĩa cho thật gãy gọn, rõ ràng” Phân tích cấu trúc ngữ pháp của câu sau: “Từ cái nôi gia đình, mỗi người đều có một tuổi thơ gắn liền với kỉ niệm về cây đa, bến nước, sân đình, lũy tre, mái trường, thầy cô, be bạn”

Câu 4: Từ văn bản trên, anh (chị) hãy nêu suy nghĩ về trách nhiệm của thanh niên với đất nước (Trình

bày khoảng 6 đến 8 dòng)

II LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm): Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến:

“Gia đình và quê hương là chiếc nôi nâng đỡ cuộc đời con”

Câu 2 (5,0 điểm): Đọc đoạn trích dưới đây:

Bàn về hình tượng người lái đò trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân có ý kiến cho rằng: “Đó là người lao động đầy trí dũng trên sông nước Đà giang” Ý kiến khác lại khẳng định: “Đó là người nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật vượt tác leo ghềnh” Từ cảm nhận của mình về hình tượng người lái đò sông Đà, anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên Từ đó, anh (chị) hãy liên hệ đến cảnh cho chữ trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân (Ngữ văn 11, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019) và bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du (Ngữ văn 10, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019) để nêu nhận xét về phẩm

Trang 2

chất cao đẹp của người nghệ sĩ.

HẾT

-HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

I ĐỌC-HIỂU (3,0 điểm)

Câu 1:

- Nội dung chính: Bàn về vấn đề tình yêu đất nước được bắt nguồn từ tình yêu gia đình, yêu quê hương

- Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Nghị luận

Câu 2:

- Câu chủ đề nằm ở cuối đoạn

- Đoạn văn triển khai theo phương pháp quy nạp

Câu 3:

- Tại sao tác giả lại nói: “Đất nước vốn là khái niệm trừu tượng, mà thoạt đầu con người khó có thể cắt nghĩa cho thật gãy gọn, rõ ràng” Bởi:

+ Đất nước là những gì hiện hữu quanh ta, là tất cả từ vật chất đến tâm hồn

+ Khái niệm về đất nước được mỗi người hiểu theo một khía cạnh khác nhau Với người này là sông, đồng, bể… với người khác là cha mẹ, ông, bà…

+ Thoạt đầu chính ta cũng khó mà định nghĩa cho trọn vẹn về khái niệm đất nước

+ Trong trái tim của mỗi người dân đất Việt có dòng máu Lạc Hồng đang chảy và ngân vang muôn điệu về dòng giống Rồng tiên cha Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ

- Phân tích cấu trúc ngữ pháp:

+ “Từ cái nôi gia đình”: Trạng ngữ

+ “Mỗi người”: Chủ ngữ

+ “Đều có… be bạn”: Vị ngữ

Câu 4: Học sinh có thể trình bày suy nghĩ riêng của mình về trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay với đất

nước viết đoạn văn đảm bảo các ý:

- Vì sao thế hệ trẻ lại cần phải có trách nhiệm với đất nước

- Trách nhiệm đó là gì?

- Để thực hiện trách nhiệm đó cần phải làm gì?

II LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1: (2,0 điểm)

A Về kĩ năng

- Viết về một văn bản nghị luận xã hội với độ dài đúng quy định

- Bài viết có bố cục chặt chẽ; lập ý sáng tạo; vận dụng linh hoạt các thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận…; hành văn mạch lạc, trôi chảy, có cảm xúc; không mắc lỗi dùng từ, chính tả

B Về kiến thức

Bài làm có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các ý sau:

Trang 3

1 Mở đoạn

Quê hương là con diều biếc Tuổi thơ con thả trên đồng Quê hương là con đò nho

Êm đềm khua nước ven sông.

(Quê hương, Đỗ Trung Quân)

- Nguồn cội yêu thương của mỗi con người chính là gia đình và quê hương, đó là điều không thể thiếu trong cuộc đời của bất kì ai, nguồn cội ấy sẽ là chiếc nôi bình yên nâng đỡ suốt cuộc đời mỗi người

2 Giải thích

- “Gia đình” là nơi có mẹ, có cha, có những người thân yêu ruột thịt của chúng ta Đó là nơi bao bọc, che chở, nâng đỡ mỗi con người trên bước đường đời trưởng thành

- “Quê hương” là nơi chôn nhau cắt rốn của mỗi con người khi chào đời Nơi đó có mọi người ta quen biết thân thiết, có cánh diều vi vu, có những kỉ niệm thơ mộng bên bạn be, người thân…

- “Chiếc nôi nâng đỡ” nghĩa là từ thưở còn nằm trong nôi, mỗi người đều được ươm ủ trong những câu hát ru à ơi đầy yêu thương của mẹ, của bà Không những thế “chiếc nôi” ấy còn là sự bao bọc, chở che cho con người sau hành trình dài lưu lạc khi tìm về chốn cũ thân thương…

 Như vây: Gia đình và quê hương chính là nguồn cội, là nơi bắt đầu để hình thành nên tình yêu thương trong mỗi người

3 Bàn luận

- Gia đình từ xưa đến nay vẫn luôn được coi là “chiếc nôi” của trẻ thơ Ở nơi ấy có đầy ắp tình thương và niềm tin trao gửi Ở nơi ấy, đứa trẻ được lớn lên trong sự thương yêu đùm bọc, chở che Một gia đình trong đó cha mẹ luôn yêu thương, chăm sóc và tôn trọng nhau sẽ để lại dấu ấn tuyệt đẹp trong đời sống tâm lí của trẻ

- Gia đình và quê hương là bến đỗ bình yên cho mỗi con người Dù ai đi đâu, về đâu cũng sẽ luôn tự nhắc nhở phải nhớ về quê hương bởi nó theo bước hành trình của ta suốt cuộc đời

- Mỗi người chỉ có một cội nguồn, vì vậy chúng ta phải biết trân trọng, yêu quý tình cảm của gia đình, quê hương, bên cạnh đó cần phát huy những giá trị đẹp đẽ của quê hương, gia đình bởi đó chính là cội nguồn yêu thương của mỗi con người

- Nguồn cội của mỗi con người là gia đình và quê hương, rộng hơn nữa đó không chỉ là nơi ta sinh ra và lớn lên, mà đó còn là Tổ quốc Chúng ta phải biết yêu quý, trân trọng để giúp cội nguồn ấy đẹp hơn trong mắt ta cũng như trong mắt mọi người

4 Bài học nhận thức và hành động

- Gia đình từ xưa đến nay vẫn luôn được coi là “chiếc nôi” của trẻ thơ Ở nơi ấy có đầy ắp tình thương và niềm tin trao gửi Ở nơi ấy, đứa trẻ được lớn lên trong sự thương yêu đùm bọc, chở che

- Mỗi con người trong cuộc đời đều cần có nơi tìm về sau mỗi lần thất bại hay mỗi khi bị gục ngã để được chắp cánh thêm niềm tin, để tiếp tục sống và vươn lên – nơi ấy là gia đình!

- Mỗi con người trong cuộc đời đều cần có nơi tìm về sau mỗi lần thất bại hay mỗi khi bị gục ngã để được chắp cánh thêm niềm tin, để tiếp tục sống và vươn lên Nơi ấy là gia đình, là những người thân yêu Ơi gia đình mến thương, hãy thực sự là chiếc nôi hạnh phúc để: “Vương vấn bước chân ta đi Ấm áp trái tim quay về”, để nâng đỡ con trẻ vượt qua khó khăn, thử thách trên mỗi chặng đường đời

Trang 4

- Có thái độ phê phán trước những hành vi: phá hoại cơ sở vật chất Những suy nghĩ chưa tốt về quê hương: chê quê hương ngheo khó, chê người quê lam lũ, lạc hậu, không muốn nhận quê hương mình…

Câu 2: (5,0 điểm)

1 Mở bài

- Giới thiệu vấn đề nghị luận

+ “Niềm vui của nhà văn chân chính là niềm vui của những người dẫn đường đến xứ sở của cái đẹp” (Pautôpxki) Nguyễn Tuân là một nhà văn như thế Ông quan niệm: “Văn chương trước hết phải là văn

chương, nghệ thuật trước hết phải là nghệ thuật và đã nghệ thuật thì phải có phong cách độc đáo ” Với tùy bút Người lái đò sông Đà, ngòi bút Nguyễn Tuân như nở hoa trong sự hòa phối kì diệu giữa cái đẹp của ngôn

từ với ánh sáng tuyệt mĩ của chiều sâu hình ảnh dẫn đến vẻ đẹp hung bạo và trữ tình của thiên nhiên Tây Bắc nhất là chất vàng mười nơi tâm hồn con người

- Dẫn ra vấn đề nghị luận

+ Bàn về hình tượng người lái đò trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân có ý kiến cho rằng:

“Đó là người lao động đầy trí dũng trên sông nước Đà giang” Ý kiến khác lại khẳng định: “Đó là người nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh” Đó là hai vẻ đẹp nổi bật mang đặc điểm chung của cá

tính Nguyễn Tuân

2 Thân bài

2.1 Khái quát chung

- Nguyễn Tuân là nhà trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc Lòng yêu nước của nhà văn thường không được phát biểu một cách trực tiếp mà ẩn đằng sau những bức tranh thiên nhiên, những giá trị văn hóa cổ truyền Nguyễn Tuân là nhà văn tài hoa và uyên bác Thể hiện sự tài hoa, Nguyễn Tuân thường nhìn nhận và khám phá mọi sự vật, hiện tượng ở phương diện thẩm mĩ và miêu tả con người ở góc độ tài hoa nghệ sĩ Thể hiện sự uyên bác, văn Nguyễn Tuân đầy ắp những hiểu biết phong phú, đa dạng về nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống từ các bộ môn nghệ thuật (hội họa, điện ảnh…) cho đến lịch sử, địa lí, quân sự, thể thao… Nguyễn Tuân còn là người có cá tính mạnh mẽ và phóng khoáng Ông không thích những cái gì bằng phẳng, nhợt nhạt cũng như không ưa mọi khuôn phép gò bó Trái lại, nhà văn luôn có hứng thú với những biểu hiện mạnh mẽ, phi thường của tạo vật và con người Với cá tính của mình, Nguyễn Tuân tìm đến với tùy bút như một lẽ tất yếu

- Người lái đò sông Đà được trích trong Tùy bút sông Đà (1960) Đây là kết quả của chuyến đi thực tế lên

Tây Bắc năm 1958 Mục đích chính của chuyến đi tới Tây Bắc cũng là cảm hứng chủ đạo của cả tập tùy bút là tìm kiếm chất vàng của thiên nhiên Tây Bắc và nhất là chất vàng mười – thứ vàng mười đã qua thử lửa ở tâm hồn những con người lao động, chiến đấu trên miền núi sông hùng vĩ và thơ mộng Viết về sông Đà nhà thơ muốn đề thơ, phổ nhạc vào sông nước quê hương Cảm hứng sông Đà đã thành nghệ thuật, “thành một gợi cảm mênh mang” về sông quê, về con người Việt Nam Và ông cũng là một “Đà giang độc bắc lưu” trên bình diện nghệ thuật

2.2 Giải thích ý kiến

- “Người lao động đầy trí dũng” – người lao động với những phẩm chất cao đẹp, đáng trân trọng đặc biệt là

tài trí tuyệt vời và lòng dũng cảm vô song trong nghề lái đò vượt sông Đà hung dữ Nguyễn Tuân là người tài hoa, uyên bác luôn tiếp cận mọi sự vật ở mặt văn hóa thẩm mĩ để từ đó say mê truy tìm vẻ đẹp độc đáo của con người và cuộc sống Với người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân lại say mê đi tìm vẻ đẹp độc đáo của con người và cuộc sống Nguyễn Tuân có những cảm nhận về người lái đò mang nét độc đáo từ vẻ đẹp ngoại

Trang 5

hình đến phẩm chất bên trong, không chỉ là người lao động khỏe khoắn từng trải nơi sông nước mà còn là một vị tướng tài ba trong những trận chiến với con nước hung dữ

- “Nghệ sĩ tài hoa” là khái niệm để ca ngợi những người làm trong ngành nghệ thuật có tài năng xuất chúng,

có phẩm chất hơn người được xã hội công nhận và tôn vinh Người lái đò được ca ngợi là “người nghệ sĩ tài hoa” bởi tài năng đã đạt tới trình độ thuần thục, điêu luyện trong nghề lái đò vượt thác Nguyễn Tuân luôn nhìn con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ để đối lập với những con người tầm thường, phàm tục Với Nguyễn Tuân những con người bình thường khi thực hiện những công việc bình thường trong phạm vi nghề nghiệp của mình nếu đạt đến độ tinh xảo khéo léo mà người khác khó lòng theo kịp thì được coi là một người tài hoa

2.3 Cảm nhận

- Vẻ đẹp nghệ sĩ của ông lái đò không phải là một người lái đò thông thường mà là một nghệ sĩ trong nghệ thuật sông nước như một nhạc sĩ tài hoa chỉ huy dàn nhạc trên con thuyền để vượt qua bản trường ca sông nước ào ạt kia Sự tài hoa đến từng động tác thuần thục của ông lái đò mà Nguyễn Tuân gọi đó là “tay lái ra hoa”:

+ Trước Cách mạng, Nguyễn Tuân tách rời cái đẹp khỏi cái có ích, đề cao cái đẹp thuần túy nhưng đó là cái đẹp của quá khứ Ông tìm đến những con người tài hoa thiên về lĩnh vực văn hóa nghệ thuật

+ Sau cách mạng, Nguyễn Tuân không còn say sưa chắt chiu cái đẹp cho một thế giới nhỏ bé, tù túng, nhà văn cảm nhận được cái rộng rãi bao la của đất trời, cái nhìn của nhà văn trở nên đôn hậu hơn Ông đi tìm cái đẹp của những người lao động bình thường vì vậy quan niệm về cái đẹp của ông bớt đi sự phù phiếm từng bước đến với cái đẹp chân chính tiến bộ

- Nguyễn Tuân đã không đặt cho nhân vật của mình một cái tên riêng mà gọi bằng một danh từ chung là:

“người lái đò” hoặc “ông đò” Từ một con người nhà văn muốn người đọc nghĩ đến rất nhiều người đang lặng lẽ âm thầm cống hiến trí tuệ và sức lực của mình cho đất nước

- Người lái đò có ngoại hình khá đặc biệt: thân hình “cao to, gọn quánh như chất sừng chất mun, tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông khuỳnh khuỳnh như kẹp lấy một cuống lái trong tưởng tượng, giọng nói ào ào như tiếng nước trước một ghềnh sông” Nhà văn không chỉ miêu tả ngoại hình mà còn nhấn mạnh vào sự gắn

bó tình yêu với nghề sông nước của con người ấy Đó là một linh hồn muôn thưở của sông nước này

- Người lái đò sông Đà là một con người giàu trải nghiệm Đó là một tay đò lão luyện đã xuôi ngược trên sông Đà hơn một trăm lần rồi và chính tay ông giữ lái khoảng độ sáu chục lần Ông hiểu sông Đà như hiểu chính mình, nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào tất cả những luồng nước của những con thác hiểm trở Ông nắm

chắc binh pháp của thần sông, thần đá và “sông Đà như một trường thiên anh hùng mà ông đã thuộc từng dấu chấm câu, từng dấu chấm than và cả những đoạn xuống dòng” Cuộc đời của người lái đò sông Đà cũng

giống như một bản anh hùng ca hào hùng lãng mạn đến lạ kì

- Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân, mỗi một hòn đá là một tên lính thủy hung tợn, tên nào trông cũng ngỗ ngược, nhăn nhúm và sẵn sàng giao chiến Cả một trận địa đá với những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm đã được bày ra để sẵn sàng dìm chết con thuyền Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn, để chúng phối hợp thành ba trùng vi nguy hiểm:

+ Trùng vi thứ nhất: sông Đà bày ra năm cửa trận, có bốn cửa tử, một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông Hàng tiền vệ, có hai hòn canh một cửa đá trông như là sơ hở, thực chất chúng đóng vai dụ chiếc thuyền vào tuyến giữa Ở trùng vi thứ nhất này sóng nước đóng vai trò chính để tiêu diệt chiếc thuyền Vừa

vào trận chúng tấn công chiếc thuyền tới tấp: “Mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào mà bẻ gãy cán

Trang 6

chèo võ khí trên cánh tay mình Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền Có lúc chúng đội cả thuyền lên Nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt”.

+ Trùng vây thứ hai: “Tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn… Dòng nước hùm beo hồng học tế mạnh trên sông đá đánh khuýp quật vu hồi chiếc thuyền” Tại trận đánh giáp la cà này, chúng quyết sinh quyết tử với ông lái đò Khi chiếc thuyền đã vượt qua, bọn sông nước cửa tử “vẫn không ngớt khiêu khích, mặc dầu cái thắng đá tướng đứng chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh là thất vọng” Đúng là bọn đá sóng nước hiểm độc!

+ Trùng vi thứ ba: “ít cửa hơn, bên trái bên phải đều là luồng chết cả Cái luồng sống ở chặng ba này lại ở giữa ngay bọn đá hậu vệ của con thác” Tại đây những boong-ke chìm và pháo đài đá nổi ở đầu chân thác

phải đánh tan cái thuyền Làm ta liên tưởng đến một trận đấu bóng quyết liệt Chiếc thuyền như một cầu thủ

phải “phóng thẳng, chọc thủng cửa giữa, vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, và như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được”, tiến về phía khung thành và

cuối cùng đã hết thác

- Từ cuộc chiến đấu ác liệt với thác dữ sông Đà, từ sự bình dị của những con người lái đò sau chiến thắng (không lưu danh tên tuổi, chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua), có thể thấy Nguyễn Tuân đã khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp của những người lao động bình thường, ầm thầm, giản dị nhưng đã và đang làm nên những kì tích lớn lao trong cuộc chiến với thiên nhiên hung dữ nơi ải nước sông Đà

2.4 Nhận xét và đánh giá

- Thế giới nhân vật của Nguyễn Tuân là thế giới nhân vật của nghệ sĩ Nghệ sĩ uống trà, nghệ sĩ đao phủ, nghệ sĩ tử tù, những anh bộ đội trực chiến giữa cánh rừng nở đầy hoa đào Như vậy với Nguyễn Tuân người nghệ sĩ đâu phải chỉ ở những lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật mà còn ở những lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống

- Người lái đò điêu luyện, thuần thục đến tài tử trong nghề vượt thác Ông xử lí các tình huống, những thách thức của thiên nhiên khéo léo và linh hoạt, mỗi động tác của người lái đò như một đường cọ trên bức tranh thiên nhiên sông nước, khi thì dũng mãnh và quyết đoán, khi thì mềm mại uyển chuyển

- Người lái đò còn có một tâm hồn cao đẹp, phong thái ung dung của những đấng tài hoa tài tử Sau cuộc

vượt thác, “Sông nước Đà giang xèo xèo tan trong trí nhớ và không ai bàn thêm một lời nào về chuyện vừa qua nơi cửa ải nước Họ chỉ bàn tán về cá dầm xanh, cá anh vũ và những ống cơm lam trong hang đá”.

Người lái đò sông Đà coi việc đối mặt với sông nước hung bạo là chuyện thường tình, không có gì đáng nói, những hồi ức về sự hiểm nguy đều không có mà tất cả đều là sự lãng mạn ngọt ngào Đó là khí chất nghệ sĩ ở mỗi con người bình thường luôn ung dung thanh thản sau những thác lũ cuộc đời, nó làm nên sự khác biệt với những người bình thường khác

- Có thể nói khả năng làm chủ ngôn ngữ của Nguyễn Tuân thật phi thường muốn “vẫy gió tuôn mưa”, “hô phong hoán vũ” để từ đó dựng cảnh cho người lái đò xuất hiện với tất cả sự tài hoa của người nghệ sĩ lái đò – một nhân vật đạt đến đỉnh cao của sự toàn mĩ trong công việc của mình

- Người lái đò trí dũng và tài hoa trên dòng sông hung bạo và trữ tình Vẻ đẹp của những người lái đò – vẻ đẹp bình dị, thầm lặng nhưng đầy trí tuệ và sức mạnh, đầy ý chí và nghị lực, tài năng và tài hoa có khả năng chinh phục thiên nhiên, bắt nó phải phục vụ con người dựng xây đất nước chính là “chất vàng mười” của con người Tây Bắc nói riêng và người lao động Việt Nam nói chung trong thời kì mới

2.5 Liên hệ

Trang 7

a Cảnh cho chữ trong Chữ người tử tù

- “Cảnh tượng xưa nay chưa từng có” chứng minh cho sự thăng hoa của tài năng nghệ Huấn Cao, giúp nhân vật được tỏa sáng Ở cảnh này Nguyễn Tuân đã gia công kĩ lưỡng bằng thủ pháp nghệ thuật đối lập: ánh sáng – bóng tối, nhà tù – tự do, cao cả – tầm thường… tất cả đều chứng minh cái đẹp đã thống trị trong cảnh huống này

- Một cảnh tượng giàu ý nghĩa bởi mọi ranh giới và quyền lực của sự tăm tối bị xóa mờ, thay vào đó là cái đẹp lên ngôi Nó không còn là hình ảnh của người tử tù, thầy thơ lại, quản ngục mà chỉ còn lại những người bạn tri âm tri kỉ được tận hiến trong không gian nghệ thuật

- Cảnh cho chữ của Nguyễn Tuân khẳng định được giá trị bất tận của cái đẹp nó không những soi sáng cho con người trong thiên lương mà còn cảm hóa và thanh lọc tâm hồn con người đến đời sống văn minh, trong sạch hơn Rõ ràng, cảnh cho chữ diễn ra trong nhà tù, nhưng mọi rào cản của tù tội đã biến mất

- Kết thúc cảnh cho chữ Huấn Cao đã khuyên quản ngục chuyển chỗ ở để giữ thiên lương cho lành vững và

quản ngục đã bái lĩnh trong niềm xúc động nghẹn ngào: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” Điều đó chứng minh

cho giá trị của nghệ thuật: cảm hóa và hướng thiện cho con người

 Bằng đam mê và khát vọng săn tìm cái đẹp, Nguyễn Tuân đã khẳng định được vị thế của nó đối với con người và xã hội Tuy nó không có sức mạnh, không có quyền lực nhưng nó lại mang tính thống trị, có thể hóa giải mọi khổ đau, tăm tối trong cuộc đời này

b Bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí

- Đọc Tiểu Thanh kí là bài thơ gửi gắm tâm sự đồng cảm dành cho những người phụ nữ có tài, có sắc nhưng

có số phận đau khổ Cùng với Tiểu Thanh, đó là Dương Quý Phi, là nàng Đạm Tiên, là Thúy Kiều, là người phụ nữ gảy đàn ở Thăng Long…

- Bốn câu đầu là tiếng khóc người, thương người, là lệ dành cho Tiểu Thanh Nguyễn Du đến với Tiểu Thanh

trong một hoàn cảnh có phần giống Kiều đến với Đạm Tiên Nấm mồ Đạm Tiên: “Sè sè nấm đất bên đường/ Dàu dàu ngọn co nửa vàng nửa xanh” gợi lên ở Kiều bao mối thương tâm Cái gò hoang nơi chôn Tiểu

Thanh gợi lên ở Nguyễn Du bao điều thổn thức

- Thế giới của văn chương và người đời hoàn toàn khác nhau, không thể nào hàn gắn cho văn chương cùng một số mệnh với người làm ra nó Đó là một điều tất yếu xưa nay Thế mà nàng Tiểu Thanh tội nghiệp đến cả những tác phẩm của mình cũng bị người đời ghen ghét đốt đi, tàn nhẫn và lạnh lùng đến vô cùng Còn gì đau đớn hơn thế nữa, xót xa hơn thế nữa Nguyễn Du đã khóc cho nàng và bật lên những tiếng nói căm hờn

- Nguyễn Du tự coi mình là người cùng hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã Như vậy là bằng chính sự thể nghiệm của bản thân, Tố Như thấu hiểu nỗi đau oan khốc của Tiểu Thanh và ngược lại từ Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã “một lời là một vận vào” bản thân để tự hận, tự thương

- Với Tiểu Thanh, ba trăm năm sau đã có một Nguyễn Du “thổn thức bên song” trước “mảnh giấy tàn” Còn với Nguyễn Du, ba trăm năm sau liệu có ai “khóc Tố Như chăng”? “Bất tri” – chưa biết được

 Có thể nói Nguyễn Du là nhà thơ thuộc thế hệ những nhà đầu tiên của Việt Nam nghĩ về thân phận những người nghệ sĩ trong xã hội phong kiến Ông bắt đầu quan tâm đến con người ở phương diện tinh thần, con người với tư cách là chủ nhân của những giá trị tinh thần như thi ca, âm nhạc, hội họa… Chia sẻ thân phận bất hạnh của họ, Nguyễn Du thực chất đã đòi xã hội phải biết trân trọng tài năng, trân trọng những người làm

ra các giá trị văn hóa tinh thần

2.6 Đánh giá và nhận xét

- Cả ba đoạn trích và tác phẩm đều đề cập đến vẻ đẹp và tài năng của những người nghệ sĩ – những con

Trang 8

người đem cái tài của mình để điểm tô cho cuộc đời.

- Ở ba đoạn trích và tác phẩm ca ngợi cái tài và cái tâm của những người nghệ sĩ nhưng lại có sự khác nhau về cách nhìn:

+ Nhân vật ông lái đò trong Người lái đò sông Đà là một anh hùng sông nước, một chiến binh quả cảm giữa

cuộc sống bình dị, đời thường là “chất vàng mười” đã qua thử lửa của con người vùng đất Tây Bắc mà Nguyễn Tuân đã chắt lọc và nâng niu trên trang viết cuộc đời

+ Trong cảnh cho chữ ở truyện ngắn Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân tìm cái đẹp vang bóng một thời đã lùi

vào quá khứ, ở các bậc siêu phàm – tài nghệ của Huấn Cao là những “bông hoa cuối mùa còn vương xót lại của một thời kì huy hoàng – một quá khứ vàng son trong lịch sử dân tộc.”

+ Đọc Tiểu Thanh kí – tiếng khóc của người đa tình Nguyễn Du là tiếng thơ của một tấm lòng nhân ái mênh

mông không biên giới Suốt đời ông khóc cùng người đời, nói lên tiếng nói cảm thương vô hạn cùng thân phận của người đời bằng trái tim xót đau và nhạy cảm Và trong ông, cái day dứt ấy không bao giờ nguôi ngoai vẫn cứ còn bật lên tiếng khóc thầm, lặng lẽ ủ kín trong nỗi đau đớn, khắc khoải của nhân gian dài dặc

- Nguyễn Tuân và Nguyễn Du – hai người nghệ sĩ sống cách nhau hơn hai thế kỉ nhưng ở họ có chung một điểm gặp gỡ đó là tiếng nói tri âm với những con người có tâm hồn nghệ sĩ

3 Kết bài

- Bằng ngòi bút tài hoa của mình, tác giả Nguyễn Tuân và Nguyễn Du đã mang đến cho tác phẩm Người lái đò sông Đà, Chữ người tử tù và Đọc Tiểu Thanh kí một nội dung và nghệ thuật đặc sắc Đặc biệt qua hình

tượng nhân vật ông lái đò; nhân vật Huấn Cao trong cảnh cho chữ, nàng Tiểu Thanh tài sắc vẹn toàn Vẻ đẹp ấy của các nhân vật đã tôn thêm giá trị của tác phẩm

- Cảm ơn nhà văn Nguyễn Tuân và nhà thơ Nguyễn Du – người đã “cắm một cây sào sáng tạo” để đưa tác

phẩm Người lái đò sông Đà, Chữ người tử tù và Đọc Tiểu Thanh kí – tác phẩm văn học của lòng nhân, của

đức tin và của giá trị sống về phía những con người chân – thiện – mĩ

Ngày đăng: 17/01/2021, 01:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w