Mạch Chẩn Phần 2 5.- Mạch và Ngũ hành Dùng Ngũ Hành áp dụng vào mạch ta có : Bên trái : Thận Thủy Bộ Xích sinh Can Mộc Quan, Can Mộc sinh Tâm Hỏa Thốn.. 6.- Mạch Và Khí Huyết Xét về khí
Trang 1Mạch Chẩn (Phần 2)
5.- Mạch và Ngũ hành
Dùng Ngũ Hành áp dụng vào mạch ta có :
Bên trái : Thận Thủy (Bộ Xích) sinh Can Mộc (Quan), Can Mộc sinh Tâm Hỏa (Thốn)
Bên phải : Mệnh Môn (Thận dương - bộ Xích) sinh Tỳ Thổ (Quan), Tỳ Thổ sinh Phế Kim (Thốn)
6.- Mạch Và Khí Huyết
Xét về khí huyết với Mạch ta có :
Bên trái thuộc huyết : Thận, Can và Tâm Thận sinh huyết Tỳ thống huyết
và Tâm chủ huyết như thế, bên trái liên hệ với huyết
Bên phải gồm Phế, Tỳ, Mệnh môn, Tam tiêu, Phế chủ khí, Tỳ là Trung khí Tam tiêu là đường dẫn đến Nguyên khí, do đó bên phải liên hệ với khí
Trang 27.- Mạch Và Tạng Phủ
Mỗi tạng phủ đều có 1 mạch riêng, theo đặc tính mà tạng phủ đó biểu lộ :
- Tạng Tâm chủ Hỏa, Hỏa thường bùng lên như ngọn lửa bùng lên, vì thế mạch của Tâm là mạch Hồng
- Tạng Can : tính của Can là cang cường, thẳng, giống như dây đàn, dây cung căng cứng, vì thế mạch của Can là mạch Huyền
- Tạng Tỳ, là trung tâm, là nơi vận chuyển điều hòa cho cơ thể, vì thế, mạch của Tỳ là mạch Hoãn
- Tạng Phế : Phế chủ sự buồn phiền, buồn phiền thì ngừng trệ lại, do đó, mạch của Phế là mạch Sáp
- Tạng Thận : Thận chủ xương, Thận có vị mặn, đi xuống, do đó, mạch của Thận là mạch Trầm
8.- Mạch Và Mùa
Mỗi 1 mùa ứng với 1 tạng nhất định dù mùa đó chi phối toàn thể các mạch khác trong suốt mùa đó
Mùa Xuân : Cây cối xanh tốt, ứng với màu của Can do đó có mạch Huyền
Trang 3Mùa Hè : Cây cối lớn lên, sức nóng của mùa hè bùng lên, thiêu đốt vạn vật như lửa bùng lên, do đó mạch của mùa Hè là mạch Hồng
Mùa Thu : Mọi vật bắt đầu thu lại, lá cây khô đi và rơi rụng giống như lông,
do đó mạch của mùa Thu là mạch Mao
Mùa Đông : Mọi vật thu giữ lại, tàng trữ tất cả những khả năng mạnh mẽ của m1h để sống qua cái lạnh, vì thế mạch của mùa Đông là mạch Thạch
Tứ qúy : Tứ qúy là chuyển tiếp giữa các mùa,do đó thường mang đặc tính
ôn hòa, vì thế, mạch của Tứ qúy là mạch Hoãn
Từ những tương ứng của mạch đối với mùa, có thể suy rộng ra :
- Mộc sinh Hỏa, Hỏa thuộc tạng Tâm, chính ra mạch của Tâm là mạch Hồng, nay bắt thấy mạch Tâm là Huyền thì có thể suy đoán bệnh tuy ở Tâm nhưng
do Mộc sinh nên tức là do Phong gây nên, bệnh ở tạng Mẹ truyền sang
- Thủy khắc Hỏa, bệnh ở Tâm, bắt được mạch Trầm của Thận, là Thủy khắc Hỏa, bệnh nặng hơn
9 Mạch Và Nguyên Nhân Gây Bệnh
a) Nguyên nhân ngoài :
Hàn thương Thận vì vậy có mạch Khẩn
Trang 4Thử thương Tâm vì vậy có mạch Hư Táo thương Phế vì vậy có mạch Sáp Thấp thương Tỳ vì vậy có mạch Nhu Phong thương Can vì vậy có mạch Phù Nhiệt thương Tâm vì vậy có mạch Nhược
b) Nguyên nhân trong (Thất tình) :
Hỷ thương Tâm gây nên mạch Hư
Tư thương Tỳ gây nên mạch Kết
Ưu thương Phế gây nên mạch Sáp
Nộ thương Can gây nên mạch Nhu
Khủng thương Thận gây nên mạch Trầm Kinh thương Đởm gây nên mạch Động
Bi thương Bào lạc gây nên mạch Khẩn
10 Mạch Thai
Trang 5Giai đoạn thai mới thành hình, rất khó biểu hiện nơi mạch, nhưng từ 3 tháng trở lên mạch thai biểu hiện rất rõ, có thể căn cứ trên mạch để không những đoán biết tuổi thai mà còn biết được thai tượng hình trai hay gái Đây là 1 điểm khá độc đáo của ngành YHCT
Thai 3 tháng, thường chú trọng vào 2 bộ mạch ở Tâm và Thận tức Tả Thốn
và Tả Xích Tâm chủ huyết, Thận chủ bào thai, bào thai sống được là nhờ tinh huyết nuôi dưỡng, do đó cần để ý đến 2 tạng này
Khi có thai, thường mạch ở 2 tạng này nhảy mạnh hơn các mạch ở tạng khác, Thận và Tâm là Tạng, lại cùng thuộc kinh Thiếu âm, do đó liên hệ đến huyết Mạch đập mạnh là biểu hiện của dương Như vậy mạch 2 bộ Tâm và Thận đập mạnh là dấu hiệu huyết vượng Bào thai sống nhờ huyết nên huyết vượng là dấu có thai