Chính những đặc điểm cơ bản này đã tạo cho dân ca Quan họ những nét riêng, không thể pha trộn với các loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian khác; đồng thời cũng tạo nên sức số[r]
Trang 1D
MỘT SỐ
VẤN ĐỀ VỀ VĂN HÓA QUAN HỌ
DƯƠNG VĂN SÁU
Văn hóa Quan họ là một tổng thể, bao gồm văn hóa cộng đồng và văn hóa cá nhân thể hiện trong đời sống sinh hoạt (phong tục, tín ngưỡng, vui chơi), mang sắc thái riêng của người dân vùng Kinh Bắc xưa Văn hóa Quan họ bao gồm dân ca Quan họ, tín ngưỡng Quan họ, lễ hội Quan họ, văn hóa ứng xử Quan họ và trang phục Quan họ, trong đó dân ca Quan họ là cốt lõi Văn hóa Quan họ là một di sản văn hóa quý giá của riêng vùng Kinh Bắc, biểu hiện những quan niệm đẹp đẽ, trong sáng, chất phác của người dân lao động sống trên mảnh đất Kinh Bắc xưa Tất cả hợp lại thành mảnh đất tốt để dân ca Quan họ ra đời, phát triển và tồn tại cho đến ngày nay
Từ khóa: Dân ca quan họ, văn hóa quan họ
Abstract
“Quan ho” culture is a whole, including community culture and personal culture expressed in daily life (customs, beliefs, entertainments), bearing the nuance of the Kinh Bac people “Quan ho” culture includes “Quan ho” folk songs, “Quan ho” religion, “Quan ho” festival, “Quan ho” behavior culture and Quan ho costumes, in which “Quan ho” folk songs are the core “Quan ho” culture is a valuable cultural heritage of the Kinh Bac area itself, expressing the beautiful, clear and simple concepts of working people living in the ancient Kinh Bac area All of them combined into a good land for “Quan ho” folk songs to develop and last until to day
Keyword: “Quan ho” folk songs, “Quan ho” culture
ân ca Quan họ Bắc Ninh là một loại hình dân ca đồng bằng Bắc Bộ, tập trung ở vùng văn hóa Kinh Bắc, xung quanh khu vực ven sông Cầu Có khá
nhiều tên gọi về loại hình dân ca này: Quan
họ Bắc Ninh, dân ca Quan họ Bắc Ninh, dân ca
Quan họ, dân ca Quan họ Bắc Giang, Quan họ
Kinh Bắc, dân ca Quan họ Kinh Bắc Tuy nhiên,
tên gọi dân ca Quan họ Bắc Ninh hay nói vắn
tắt Quan họ Bắc Ninh là tên gọi phổ biến nhất
Ngay trong Bằng công nhận Di sản văn hóa
thế giới của UNESCO cũng ghi rõ: Quan Ho Bac
Ninh Folklore sings.
Văn hóa Quan họ là một tổng thể, bao gồm văn hóa cộng đồng và văn hóa cá nhân
thể hiện trong đời sống sinh hoạt (phong tục,
tín ngưỡng, vui chơi), mang sắc thái riêng của
người dân vùng Kinh Bắc xưa Dân ca Quan họ là cốt lõi của văn hóa quan họ Nghiên cứu Dân ca
Quan họ không thể không đặt nó trong mối liên quan với các thành tố khác của văn hóa Quan họ
1 Vùng văn hóa Quan họ
Sở dĩ có tên gọi phổ biến là Quan họ Bắc Ninh (mặc dù loại hình dân ca này tồn tại trên
địa bàn hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang hiện nay)
là vì chủ thể văn hóa trên vùng đất này vốn là
cư dân nằm trong một khối thống nhất về địa giới có tên gọi là trấn Kinh Bắc dưới thời Lê Trấn Bắc Ninh và sau đó là tỉnh Bắc Ninh ra đời sau, dưới thời Nguyễn Đến năm 1895, theo nghị định do Toàn quyền A.Rousseau ký, Bắc Giang mới được tách ra khỏi Bắc Ninh, trở
Trang 2thành một tỉnh độc lập Đây cũng là thời kỳ mà
các học giả người Pháp quan tâm nghiên cứu
bước đầu về Quan họ nên họ gọi là Quan họ Bắc
Ninh Tên gọi này phổ biến cho đến hôm nay
Trong suốt chiều dài lịch sử, Quan họ Bắc Ninh sinh ra từ làng, tồn tại và phát triển trong
các làng Quan họ Theo các nghiên cứu truyền
thống, một làng để được coi là làng Quan họ,
phải đáp ứng 2 tiêu chí sau đây: Thứ nhất, có
Quan họ đi kết bạn và hát với Quan họ nơi khác
liên tục từ 2 hoặc 3 thế hệ trở lên; thứ hai, được
các Quan họ nơi khác thừa nhận Trên cơ sở này,
trước năm 1945 đã có 49 làng Quan họ trên
vùng Kinh Bắc Dựa vào vị trí địa lý của 49 làng
Quan họ, chúng ta thấy vùng văn hóa Quan họ
có điểm giới hạn phía bắc là khu vực Sen Hồ
(thuộc Việt Yên tỉnh Bắc Giang); phía nam là khu
vực Tiên Sơn (Bắc Ninh); phía tây là khu vực Yên
Phong (Bắc Ninh) và phía đông là khu vực Khắc
Niệm (tên nôm là Ném) trước là Tiên Sơn, nay
thuộc địa bàn thành phố Bắc Ninh
Trong phạm vi công nhận chính thức của UNESCO, vùng Quan họ chỉ gồm có 49 làng Quan
họ gốc đang tồn tại (Bắc Ninh 44 làng, Bắc Giang
05 làng) Hiện nay các làng Quan họ tồn tại nhiều
ở các huyện: Yên Phong, Từ Sơn, Tiên Du, thành
phố Bắc Ninh (tỉnh Bắc Ninh) và một số làng
thuộc huyện Việt Yên (tỉnh Bắc Giang)
Thị xã Từ Sơn và Tiên Du gồm 14 làng: Duệ Ðông, Lũng Giang, Lũng Sơn, Ngang Nội, Hoài
Thị, HoàngTrung,Vân Khám, Bái Uyên, Ném Ðoài,
Ném Sơn, Ném Tiền, Tiêu, Tam Sơn, Hạ Giang
Huyện Yên Phong gồm 16 làng: Hữu Chấp, Viêm Xá, Ðẩu Hàn, Xuân Ái, Xuân Ðồng, Xuân
Viên, Thượng Ðồng, Thụ Ninh, Ðặng Xá, Khúc
Toại, Trà Xuyên, Châm Khê, Đào Xá, Dương Ổ,
Ông Mơi, Ðông Yên
Thành phố Bắc Ninh gồm 14 làng: Cổ Mễ, Phúc Sơn, Y Na, Thị Cầu, Thanh Sơn, Niềm Xá,
Yên Mẫn, Yên Thị Trung, Vệ An, Ỗ Xá, Xuân Ổ,
Hòa Đình, Khả Lễ, Bồ Sơn
Tỉnh Bắc Giang có 5 làng: Giá Sơn, Hữu Nghi, Nội Ninh, Mai Vũ, Sen Hồ (thuộc huyện
Việt Yên) Ngoài ra ở 13 làng (Đình Cả, Đông
Long, Khả Lý Thượng, Núi Hiếu, Mật Ninh, Quang Biểu, Tam Tầng, Thần Chúc, Tiên Lát Hạ, Tiên Lát Thượng, Thổ Hà, Trung Đồng, Vân Cốc) thuộc huyện Việt Yên của tỉnh Bắc Giang, dân ca Quan họ cũng được thực hành Đây là những làng nằm trong vùng lan tỏa của di sản văn hóa này
họ nằm trong khu vực ven các con sông Cầu, Ngũ Huyện Khê và sông Tiêu Tương Đây là những dòng sông hiền hòa, mềm mại uốn quanh những cánh đồng phì nhiêu, màu mỡ với nhiều ngọn đồi, núi thấp, thoai thoải nằm yên bình trên cánh đồng lúa thẳng cảnh cò bay Trên những đồi núi thấp ấy là những ngôi chùa cổ kính, trầm mặc rêu phong trong tiếng
gà eo óc buổi ban trưa vọng lên từ những làng quê cổ kính ven chân đồi phía xa
Cư dân vùng Quan họ chủ yếu sống bằng nông nghiệp; hệ tư tưởng - tinh thần chiếm vai trò chủ đạo là Phật giáo - một tôn giáo “âm tính” - kết hợp với hệ thống tín ngưỡng dân gian, trong đó việc thờ cúng thủy thần chiếm vai trò chủ đạo… Tất cả đã kết tinh, cô đọng lại, tạo nên một nét mềm mại, mượt mà, sâu lắng trong những giai điệu và lời ca Quan họ
2 Những yếu tố cấu thành văn hóa quan họ
2.1 Dân ca Quan họ
Dân ca Quan họ được coi là trung tâm, là cốt lõi, là đỉnh cao của đời sống văn hóa, là phương tiện thể hiện văn hóa quan họ một cách rõ nét nhất Dân ca Quan họ từ lâu đã nổi tiếng ở Việt Nam, là niềm tự hào của người dân vùng Kinh Bắc nói riêng và Việt Nam nói chung Với âm điệu và nội dung lời ca phong phú, dân ca Quan họ là bức tranh phản ánh sâu sắc đời sống tâm hồn, tình cảm của người dân vùng Kinh Bắc Dân ca Quan họ được hát
tự nhiên trong sinh hoạt hằng ngày, hát trong
lễ hội và lễ thờ, hát tiếp khách trong nhà và đặc biệt là hát thi Dù hát dưới hình thức nào thì nội dung câu hát cũng đều mang những đặc điểm
chung: Có âm điệu riêng biệt; có bố cục chặt chẽ; cân đối trong kết cấu âm nhạc; đồng hóa nhiều loại ca hát khác; yêu cầu đổi mới không ngừng
Trang 3Chính những đặc điểm cơ bản này đã tạo cho dân ca Quan họ những nét riêng, không thể
pha trộn với các loại hình văn hóa nghệ thuật
dân gian khác; đồng thời cũng tạo nên sức sống
mãnh liệt để Dân ca Quan họ truyền từ thế hệ
này sang thế hệ khác, được người dân trong
vùng yêu thích, người dân trong cả nước và bạn
bè quốc tế mến mộ, thừa nhận
2.2 Lễ hội Quan họ
Kinh Bắc là miền đất của những lễ hội dân gian truyền thống làm say đắm lòng người, tạo
nên nét đặc sắc của một vùng văn hóa Các lễ
hội truyền thống là môi trường thể hiện văn
hóa Quan họ Phần lễ, phần hội đều xoay xung
quanh dân ca Quan họ Hầu như tất cả các lễ
hội ở trong vùng văn hóa quan họ đều có hát
Quan họ Đây là một đặc trưng nổi bật bởi hát
Quan họ là yếu tố không thể thiếu trong các
lễ hội này Lễ hội Quan họ thì nhiều, song có
hai lễ hội quan trọng nhất là lễ hội đền thờ Vua
Bà - Thủy tổ Quan họ - ở làng Viêm Xá, xã Hòa
Long, thành phố Bắc Ninh (mồng 6 tháng hai
âm lịch) và Hội Lim (13 tháng giêng âm lịch)
Nơi đây, một năm có tới 4 tiết lệ: Hội Chùa (ngày
rằm tháng giêng), hội Tát giếng (mồng 3 tháng 3)
và hội Đình (mồng 6 tháng 8); nhưng sôi nổi và
thu hút đông đảo khách thập phương nhất vẫn
là ngày hội Đền thờ Vua Bà (mồng 6 tháng hai)
2.3 Tín ngưỡng quan họ
Tín ngưỡng Quan họ là những ứng xử văn hóa của cư dân đối với Thủy tổ Quan họ: đức
Vua Bà và người có công trong việc khôi phục
dân ca Quan họ là Hiển Trung Hầu tướng công
Nguyễn Diễn Tín ngưỡng Quan họ cũng thể
hiện đức tin của con người vào tình cảm chân
thật, tình người, nghĩa cử, tình bạn, phong
cách sống thanh bạch, trong sáng trong các
mối quan hệ của người dân trên quê hương
Quan họ Tín ngưỡng Quan họ còn thể hiện
qua lời hát kể hạnh Phật trong chùa Lim (Hồng
Ân tự) hay hát cửa đình ở các ngôi đình trong
vùng Kinh Bắc Ngoài ra, các hình thức ca hát
chỉ có ở các bọn Quan họ nam nữ trong nội
bộ một làng với nhau, như các hoạt động phục
vụ lễ sự của làng vào mùa thu: Quan họ trùm đầu, Quan họ cầu đảo ở làng Viêm Xá, Quan họ lấy nước tắm Phật ở Châm Khê, Quan họ rước
bà Đống ở Hòa Đình, Quan họ hiếu ở làng Tam Sơn và Lũng Giang…
2.4 Tục kết chạ, ngủ bọn Quan họ
Các làng Quan họ thường có tục kết chạ hoặc kết ước với nhau Sở dĩ có tục này vì giữa các làng có thờ chung Thành hoàng làng Khi kết ước, kết chạ, dân các bên đối xử với nhau rất trọng vọng, quí mến, có sự gắn bó khăng khít,
hỗ trợ lẫn nhau Trong quan hệ kết chạ thì dân
làng này gọi dân làng kia là chạ anh, dân anh, cụ anh, ông anh, cụ cả, bà cả… và xưng em Ngược
lại, dân bên kia cũng gọi và xưng như vậy Đôi khi, trong quá trình giao hảo, kết chạ, hai làng
sẽ thoả ước với nhau là trai gái hai làng không bao giờ lấy nhau Tuy nhiên, những điều này không phải bao giờ cũng được thực hiện triệt
để Người Việt có câu: “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”! Điều đó là nguyên nhân để hai từ
“chung chạ” với ý nghĩa tốt đẹp ban đầu đã trở thành từ để chỉ ý nghĩa xấu trong quan hệ nam
nữ không chỉ trong các mối quan hệ giữa các làng Quan họ Tục kết chạ giữa Quan họ nam nữ hai làng là một tục mà tất cả các làng Quan họ đều thực hiện Tục này thường xuất hiện ban đầu trong các lễ hội vùng Quan họ Khi đi dự hội,
họ sẽ tìm nhau theo nguyên tắc“nam tòng nữ” Người nam sẽ mời trầu, ngỏ lời trước với người
nữ mà mình định kết bạn Sau đó, tùy theo câu hát, đường ăn, ý ở mà Quan họ nam ngỏ ý kết bạn, nếu được người nữ đồng ý, Quan họ nam
sẽ hẹn ngày đến ngỏ lời chính thức Đúng hẹn, người đại diện Quan họ nam đến nhà người đại diện Quan họ nữ có cả cha mẹ người này ngỏ lời xin kết bạn Sau khi đã kết bạn, chọn ngày, Quan
họ nam sửa cơi trầu, tuần hương, xin với cụ đám làm lễ ở đình rồi sau đó Quan họ nữ sẽ sang thăm Quan họ nam theo lời mời hẹn Việc sang thăm này sẽ do bên Quan họ nam thu xếp thời gian, đón tiếp trọng vọng, thân tình và sẽ
có canh hát thâu đêm Sự kết bạn Quan họ làm hình thành
Trang 4các liền anh, liền chị; hình thành các bọn Quan
họ Tục kết chạ là biện pháp sinh hoạt, giao lưu
kết nghĩa, là cách tốt nhất cho sự tồn tại, thăng
hoa của dân ca Quan họ
2.5 Văn hóa ứng xử Quan họ
Nề nếp Quan họ đòi hỏi mọi người, khi đã đến với Quan họ đều phải lịch sự, trang nhã từ
trang phục, cử chỉ, ngôn ngữ (khi ăn, khi nói, lúc
đứng, lúc ngồi…) cho đến miếng trầu, chén
nước Cho nên giao tiếp là một mảng giá trị đẹp
trong văn hóa Quan họ
Mời và tiếp khách Quan họ: Một nhóm Quan
họ này muốn mời một nhóm Quan họ khác
đến nhà mình ca hát một canh thì cũng phải
mời theo đúng lề lối Sau khi đã hẹn trước
ngày sẽ sang mời, nhóm đi mời thường ít nhất
hai người, mang theo một cơi trầu đến làng
Quan họ bạn Khi đến nơi, bên chủ nhà thường
đã tụ họp đủ cả nhóm Quan họ để đón Trong
nhóm Quan họ chủ nhà, thường có cả thầy mẹ
của anh Hai hoặc chị Ba Quan họ khách đặt
cơi trầu lên bàn rồi trang trọng nói “…Năm,
năm mới, tháng, tháng xuân, trước là thăm thày,
thăm mẹ, chúc thày, chúc mẹ sống lâu, giàu bền;
sau là thăm anh Hai, anh Ba, anh Tư,… Quan
họ chúng em chúc đương Quan họ liền anh năm
mới thêm tài, thêm lộc, sau nữa là ngỏ lời xin
phép thày mẹ, mời anh Hai, anh Ba, anh Tư…
đương Quan họ liền anh, tới ngày … tháng …,
đến vui hội cùng làng em, cùng chúng em ca
vui một canh cho vui dân, vui hội, cho chúng
em được học đòi đôi lối, đôi câu…” Thường là
Quan họ bạn nhận lời, làm cơm thết bạn và thế
nào tối hôm đó cũng “ca dăm câu” để mừng
cuộc hội ngộ, sau đó, bên được mời ân cần tiễn
đưa bên đi mời một đoạn đường dài khỏi làng
mình mới trở lại Sau khi biết bạn nhận lời, bên
đi mời về tấp nập sửa soạn: luyện tập ca hát, lo
xếp đặt, trang hoàng căn nhà sẽ là nơi gặp gỡ,
lo đóng góp tiền nong, mua sắm thức ăn, thức
uống, lo người nấu nướng v.v…
Đúng hẹn khách đến, bên chủ nhà phải ra tận đầu làng đón khách với nét mặt hồ hởi,
hân hoan, thái độ ân cần niềm nở Chủ nhà lấy thau, khăn mặt mời khách đi rửa mặt, chân tay rồi đón khách vào nhà Trong nhà, bàn, ghế, giường phản sạch sẽ, gọn gàng, có đông đảo các bậc cha mẹ, bạn bè cùng mừng vui đón khách Chủ mời khách uống nước, xơi trầu, chuyện trò thăm hỏi thân tình thắm thiết Sau khi mời trầu, nước, Quan họ bắt đầu vào canh hát Đến chừng nửa đêm, Quan họ chủ thường mời Quan
họ khách ăn tiệc mặn hoặc tiệc ngọt hoặc cả hai Các Quan họ chủ chia nhau ân cần mời mọc
Quan họ khách: “năm, năm mới, tháng, tháng xuân, mỗi năm có một lần vui hội… thôi thì, bây giờ canh đã quá khuya, anh em chúng em xin mời chị Hai, chị Ba, chị Tư, chị Năm… quan họ uống chén rượu mừng xuân, mừng hội, vui bầu, vui bạn… rồi sau đây lại ca sướng cho tan canh màn võ, cho tàn đêm… đấy ạ” Những làng có
tục mời Quan họ bạn uống rượu thì thường mỗi người bưng một chén rượu nhỏ đi mời từng người, vừa mời vừa hát Những nơi không mời Quan họ bạn uống rượu thì dù bữa ăn có sửa soạn to đến đâu, cũng chỉ gọi là cơm Quan họ
mà không gọi là cỗ Quan họ Xưa tục không mời uống rượu khi ăn, khi hát được các Quan họ ở làng Diềm và Bịu giữ thành lệ Quan họ giã bạn (chia tay) vào khoảng canh tư (gần sáng)
Các Quan họ không phải chỉ cư xử với nhau như vậy vào những dịp hội làng mà cả mỗi khi
có những việc vui mừng nào đó Khi trong những nhóm Quan họ đã kết bạn có người đau yếu, hoạn nạn, họ cũng thường rủ nhau
đi thăm hỏi, quà cáp, có thể giúp đỡ cả về tiền Trong sinh hoạt văn hóa Quan họ, thật sự tồn tại một tình người thắm thiết, thủy chung Cùng với sự bình đẳng, tương thân, tương ái, người quan họ rất coi trọng những người lớp trước, biết ứng xử có trước, có sau, có trên, có dưới Những việc làm, những lời răn bảo, khuyên can, chỉ dẫn… của người lớp trước thường được tôn trọng Sự có mặt của các quan
họ lớp trước trong mọi cuộc ca sướng thường
là niềm tự hào, niềm vui của Quan họ
Trang 5lớp trẻ Bao giờ các bậc đi trước cũng được đối
xử một cách quý trọng, chân thành Mối quan
hệ này liên quan chặt chẽ đến sự bảo tồn và
phát triển văn hóa quan họ
Ngôn ngữ, cử chỉ trong giao tiếp:
Ngôn ngữ của người Quan họ giàu chất thi
ca, đây đó lấp lánh ca dao, tục ngữ, truyện
nôm, nhất là Truyện Kiều Ví như nói “Bây giờ
gặp mặt nhau đây mà cứ ngỡ như là chuyện
chiêm bao…” Ngôn ngữ giao tiếp của người
Quan họ tuy mềm mại, khéo léo, tinh tế, nhiều
khi bóng bẩy, lững lờ… nhưng không gợn lên
những ẩn ý dối trá, lừa lọc mà đậm đà tình
người Sự tôn trọng giữa người và người luôn
hướng tới những nét giàu đẹp của ngôn ngữ
Vì vậy, người Quan họ không thích, không
chấp nhận sự thô kệch, vụng về trong lời nói
Cho nên, khi các anh, chị rủ các em bé ngủ bọn
để tập luyện ca hát thì cũng hướng dẫn các em
“học ăn, học nói, học gói, học mở” để sau này
giao tiếp trong Quan họ
Người Quan họ rất coi trọng sự lịch thiệp, thanh nhã trong cử chỉ giao tiếp Từ việc đỡ ô,
đỡ nón khi đón bạn, nâng cơi giầu (trầu), chén
rượu mời bạn … đến dáng đi, dáng đứng, thế
ngồi, cái miệng, đôi mắt, tư thế trò chuyện …,
gần như đều có chuẩn mực Như thế này là
phải, là duyên; như thế kia là không phải, vô
duyên Có những người, những nhóm hát hay,
thuộc nhiều bài, nhưng cử chỉ giao tiếp kém,
cũng không có nhiều bạn muốn hát cùng hoặc
không muốn kết bạn, thậm chí kết bạn rồi
cũng lại nhạt dần rồi thôi Một chùm hoa bưởi
đặt trong cơi trầu, một nhánh hoa sói cài trên
mái tóc, nép kín vào vành khăn hoặc dấu trong
khăn tay… vốn là sự tinh tế của người quan họ
2.6 Trang phục Quan họ
Văn hóa Quan họ được thể hiện qua trang phục Quan họ Sinh hoạt ca hát Quan họ
thường được tổ chức vào các dịp hội hè hoặc
những cuộc họp mặt mừng vui (khao, cưới…)
Trong các sinh hoạt này, những chuẩn mực văn
hóa dần dần được hình thành, tồn tại và phát
triển Thêm nữa, từ lâu đời, cư dân vùng Quan
họ sớm tạo được cho mình một mức sống kinh
tế tương đối dễ chịu, cho nên đã tham gia ca hát thì dù đời riêng có giàu nghèo khác nhau, các bọn Quan họ cũng thường đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, cố gắng để sao cho trang phục khi đi ca hát của nam nữ đều giữ được sự sang trọng, lịch sự theo nề nếp và truyền thống chung
Trang phục liền anh Quan họ: Khi hát Quan
họ truyền thống, liền anh mặc áo dài 5 thân,
cổ đứng, có lá sen, viền tà, gấu to, dài tới quá đầu gối Thường bên trong mặc một hoặc hai
áo cánh, sau đó đến hai áo dài Chất liệu để may áo cánh và áo dài thường là các loại vải màu trắng như diềm bâu, vải cát bá, vải phin, vải trúc bâu hoặc bằng sồi, lụa nếu ở vùng có trồng dâu nuôi tằm Riêng áo dài bên ngoài thường màu đen, chất liệu là lương, the, hoặc đối với người khá giả hơn thì may bằng đoạn mầu đen Cũng có người, áo dài phủ ngoài, may hai lần: lần ngoài bằng lương hoặc the, đoạn; lần trong bằng lụa mỏng màu xanh cốm, xanh lá mạ non, màu vàng chanh gọi là áo kép Quần của liền anh là quần dài trắng, ống rộng, may kiểu chân què, dài tới mắt cá chân, chất liệu may quần cũng bằng diềm bâu, phin, trúc bâu, hoặc lụa truội màu mỡ gà Có thắt lưng nhỏ để thắt chặt cạp quần
Đầu liền anh đội nhiễu quấn hoặc khăn xếp Cùng với quần, áo, khăn xếp, dép…, các liền anh thường có thêm nón chóp với các dạng chóp lá thường hoặc chóp dứa, có quai lụa màu mỡ gà Ngoài ra, cũng thường thấy các liền anh dùng ô đen Các phụ kiện khác là khăn tay, lược, những “xa xỉ phẩm” theo quan niệm thời xưa Khăn tay bằng lụa hoặc bằng vải trắng rộng, gấp nếp và gài trong vành khăn, thắt lưng hoặc trong túi trong
Trang phục liền chị Quan họ thường được
gọi là “áo mớ ba mớ bảy”, nghĩa là liền chị có thể mặc ba áo dài lồng vào nhau (mớ ba) hoặc bảy áo dài lồng vào nhau (mớ bảy) Tuy nhiên trong thực tế, các liền chị thường mặc áo mớ
ba Về cơ bản, trang phục bao gồm các thành phần sau:
Trang 6Trong cùng là một chiếc yếm có màu sắc rực rỡ, thường làm bằng lụa truội nhuộm Yếm
thường có hai loại là yếm cổ xẻ (dùng cho trung
niên) và yếm cổ viền (dùng cho thanh nữ) Yếm
thường nhuộm màu đỏ (xưa gọi là yếm thắm),
vàng thư (hoa hiên), xanh da trời (thiên thanh),
hồng nhạt (cánh sen), hồ thủy (xanh biển)…
Cũng đôi khi bắt gặp yếm màu trắng Các liền
chị Quan họ dường như không muốn những
chiếc yếm, chiếc áo của mình bị che kín hoàn
toàn nên đã gẩy một chút màu tươi sáng từ
chiếc yếm và chiếc viền áo năm thân lật trái ra
ngoài Giải yếm trên thắt vòng quanh cổ, buông
ngoài lưng áo; giải yếm dưới thắt vòng quanh eo
rồi thắt múi phía trước cùng với bao và thắt lưng
Bên ngoài yếm là một chiếc áo cánh màu trắng, vàng, ngà, là những màu nhẹ nhàng,
nền nã
Ngoài cùng là những lượt áo dài năm thân, cách phối màu cũng tương tự như ở bộ trang
phục nam nhưng màu sắc tươi hơn Áo dài năm
thân của nữ, có cài khuy, khác với kiểu tứ thân
thắt hai vạt trước mà thời xưa con gái thường
mặc trong hội hè, cưới hỏi hoặc hiện nay các
diễn viên nghệ thuật thường mặc Chất liệu để
may áo đẹp nhất thời trước là the, lụa Áo dài
ngoài thường mang màu nền nã như màu nâu
già, nâu non, đen, cánh dán; áo dài trong
thường nhuộm các màu khác nhau: cánh sen,
hoa hiên, thiên thanh, hồ thuỷ, vàng chanh,
vàng cốm…
Liền chị mặc váy sồi, váy lụa, đôi khi có người mặc váy kép: váy trong bằng lụa, lương, the,
đoạn, thường nhuộm màu; váy ngoài bằng the,
lụa, có màu đen Người biết mặc váy là không
để váy hớt trước, không để váy quây tròn lấy
người như mặc quần mà phải thu xếp sao cho
phía trước, váy rủ hình lưỡi trai xuống gần tới
mu bàn chân, phía sau hơi hớt lên chớm tầm
đôi con khoai phía gót chân
Liền chị mang dép cong làm bằng da trâu thuộc theo phương pháp thủ công, có một
vòng tròn bằng da trên mặt dép để xỏ ngón
chân thứ hai (bên cạnh ngón chân cái) khiến
khi đi lại, không rơi được dép Mũi dép uốn
cong và người thợ làm dép phải biết nện, thuộc cho mũi dép cứng, như một lá chắn nhỏ, che dấu đầu các ngón chân
Người Quan họ xưa đội khăn đen bằng vải láng hoặc the thâm Muốn đội khăn, trước tiên phải biết quấn tóc trong một khăn vấn tóc; vòng khăn vấn tròn lại, đặt trên đầu, hơi xệ về phía gáy, ghim lại Khăn vuông gấp chéo thành hình tam giác, đặt lên vòng khăn tóc đã vấn, bẻ hình
mỏ quạ ở chỗ ứng với chính giữa đường rẽ ngôi tóc, bắt hai góc khăn về hai phía tai, rồi thắt múi lại đằng sau gáy Sau khi đội khăn xong, khuôn mặt người con gái trắng hồng sẽ nổi lên giữa màu đen của khuôn khăn mỏ quạ và hai mớ tóc mai đôi bên bờ má, tạo nên hình búp sen hồng
Ðể mỏ quạ cụp xuống thấp quá trước trán, sẽ làm khuôn mặt tối tăm đần độn, cho nên đội khăn là một trong những nghệ thuật làm đẹp rất quan trọng của cô gái Quan họ và phụ nữ Việt Nam một thời
Nón ba tầm là nón của phụ nữ Việt trước đây nhưng lại được làm đẹp, làm duyên hơn khi gắn với cô gái Quan họ Nón làm bằng lá cọ có độ tuổi vừa phải Lá cọ già, màu vàng sẫm, được chọn để làm nón Mọi người, cả đàn ông, đàn
bà, đều dùng nón che mưa nắng khi lao động
Lá chọn để làm nón ba tầm đẹp nhất là khi khô kiệt, màu không sẫm quá, cũng không vàng trắng như nón bài thơ xứ Huế mà mang một màu vàng sáng, hơi đanh mặt, khiến khi kết thành nón, hình tròn của khung và các đường cạnh của lá chạy ra từ tâm điểm đến bờ nón giống như sự toả sáng, làm người ta nghĩ tới những tia nắng mặt trời Một số khách nước ngoài đã liên tưởng: “những cô gái xứ mặt trời, mang vành nón mặt trời”, hát những bài ca mặt trời
Mặt phía trong của nón, càng về sau này, người ta càng hay trang trí hình hoa, hình bướm, hình chim loan, chim phượng mỏ cắp phong thư… bằng giấy trang kim màu vàng hoặc bạc
Quai nón được se bện bằng tơ tằm, cũng có khi bằng tơ dứa màu vàng, trắng; đôi đầu quai mỗi bên có 2 hoặc 3 thao tua được kết, bện một
Trang 7cách nghệ thuật Quai nón ba tầm còn được gọi
là quai thao Làng Triều Khúc (Thanh Oai, Hà Nội),
là nơi trước đây có nghề dệt thao nổi tiếng, dùng
để gắn vào nón Có thể có mối liên hệ nào đó
giữa Triều Khúc và vùng Kinh Bắc xưa?
Gắn liền với trang phục ngày hội, các cô gái Quan họ xưa cũng yêu đồ trang sức như
khuyên bạc, khuyên vàng, hoa vàng đeo tai;
nhẫn bạc, nhẫn vàng đeo ngón tay; dây xà tích
có ống vôi hình quả đào bằng bạc và túi dựng
trầu (giầu) bằng lụa đeo ở thắt lưng; khăn tay
lụa gài ở vành khăn hoặc bao tượng
Toàn bộ trang phục kể trên là sự ghi nhận được ở đầu thế kỷ XX Trang phục này không
phải chỉ riêng cho người Quan họ mà là trang
hỏi người chơi phải am tường tiêu chuẩn, tuân thủ lề luật Điều này đã cắt nghĩa cho nhu cầu
“chơi Quan họ” vốn chỉ tồn tại nguyên nghĩa tại 49 làng Quan họ gốc – những làng thuộc các vùng quê được gọi là “địa linh nhân kiệt” Văn hóa Quan họ là một di sản văn hóa quý giá của riêng vùng Kinh Bắc, biểu hiện những quan niệm đẹp đẽ, trong sáng, chất phác của người dân lao động sống trên mảnh đất Kinh Bắc xưa Tất cả hợp lại thành mảnh đất tốt để dân ca Quan họ ra đời, phát triển và tồn tại cho đến ngày nay
D.V.S
(TS, Trưởng khoa Văn hóa du lịch, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội)
hội hè đình đám, ngày vui Nhưng người Quan
họ may mặc trau chuốt hơn, đồng đều hơn, lại
gắn liền với nhiều người đẹp, nhiều cử chỉ đẹp,
ngôn ngữ đẹp, ca hát hay nên họ cứ trội lên
như một vẻ đẹp đặc trưng, đạt chuẩn mực cao
của một vùng văn hiến
Kết luận
Kinh Bắc là nơi khởi nguồn văn hóa Quan
họ Nói đến Quan họ là nói đến nền văn hóa
tổng thể hợp thành từ nhiều yếu tố văn hóa
nghệ thuật dân gian trong một quá trình lịch
sử lâu dài Chỉnh thể văn hóa ấy có nhiều tầng
nhiều lớp, gắn bó với làng xã, thu hút và biểu
hiện những ước mơ, những nguyện vọng,
những khao khát của con người xứ Bắc từ
nhiều đời về quyền sống, quyền hưởng hạnh
phúc Nền văn hóa Quan họ là tổ hợp các biểu
hiện của người Quan họ trên đất Quan họ Nền
văn hóa này do cộng đồng xây dựng nên, luôn
luôn được cộng đồng sàng lọc trong dòng chảy
lịch sử Như thế, để tìm hiểu, khai thác, thưởng
thức dân ca Quan họ, cần quan tâm đến cả
không gian Quan họ rộng lớn, nhiều mặt chứ
không chỉ là ca hát Chính“cái nôi văn hóa” này
đã sản sinh ra dân ca Quan họ với những làn
điệu trữ tình, đằm thắm Hình thức tổ chức
sinh hoạt văn hóa Quan họ mang tính chất
dân gian, nhưng lại nghiêm ngặt, khắt khe, đòi
Tài liệu tham khảo
1 Nhiều tác giả (2006), Không gian văn hóa Quan họ Bắc Ninh – Bảo tồn và phát huy, Viện Văn
hóa Thông tin – Sở Văn hóa Thông tin Bắc Ninh, Hà Nội, 868 trang
2 Lê Danh Khiêm (chủ biên, 2006), Không gian văn hóa Quan họ, Trung tâm Văn hóa thông
tin tỉnh Bắc Ninh, 456 trang
3 Sở Văn hóa Thông tin Bắc Ninh (2006), Quan
họ Bắc Ninh: thực trạng và giải pháp bảo tồn, Bắc
Ninh, 310 trang
4 Sở Văn hóa Thông tin Bắc Ninh (2004), Hội Lim: truyền thống và hiện đại, Kỷ yếu hội thảo
khoa học, Bắc Ninh, 296 trang
5 Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Bắc Ninh –
Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam (2008), Làng và nghệ nhân Quan họ Bắc Ninh, Hà Nội, 580 trang.
6 Ty Văn hóa Hà Bắc (1972), Một số vấn đề về Dân ca Quan họ, Hà Bắc, 286 trang.
Ngày nhận bài: 26 - 12 - 2016 Ngày phản biện, đánh giá: 15 - 3 - 2017 Ngày chấp nhận đăng: 25 - 3 - 2017