1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

Danhgia-nangluc-01

347 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 347
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dự án điều tra nghiên cứu đánh giá năng lực của cán bộ tư pháp cấp tỉnh về quản lý, hướng dẫn công tác hoà giải ở cơ sở, trên cơ sở đó xác định nhu cầu đào tạo, nâng cao trình độ, năng[r]

Trang 1

CHÍNH PHỦ VIỆT NAM - UNDP - DANIDA

Dự án VIE/02/015

“HỖ TRỢ THỰC THI CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG

PHÁP LUẬT VIỆT NAM”

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CÁN BỘ TƯ PHÁP CẤP TỈNH

VỀ QUẢN LÝ, HƯỚNG DẪN CÔNG TÁC HOÀ GIẢI Ở CƠ SỞ

Trang 2

Chủ biên:

TS Uông Chu Lưu

Tham gia biên soạn

Trang 3

LỜI GIỚI THIỆU

Hòa giải ở cơ sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội Đây là một truyền thống, đạo lý của dân tộc Việt Nam; mang đậm tính nhân văn Mục đích, ý nghĩa của hòa giải ở cơ sở là rất cao đẹp, tác dụng của nó là rất to lớn, và vì vậy luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, động viên, khuyến khích, được nhân dân đồng tình ủng

hộ

Chính từ ý nghĩa xã hội cao đẹp của hoạt động hòa giải mà việc nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động của Tổ hòa giải là một yêu cầu cấp thiết đặt ra không chỉ cho ngành Tư pháp - với chức năng giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở mà còn cho các ban, ngành, các tổ chức đoàn thể và toàn xã hội

Dự án điều tra nghiên cứu đánh giá năng lực của cán bộ tư pháp cấp tỉnh về quản lý, hướng dẫn công tác hoà giải ở cơ sở, trên cơ sở đó xác định nhu cầu đào tạo, nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ này trong thực thi nhiệm vụ hòa giải ở địa phương là một trong các hoạt động nhằm góp phần tăng cường năng lực cho các tổ hòa giải và hòa giải viên ở cơ sở

Trên cơ sở Báo cáo đánh giá do nhóm chuyên gia là các cán bộ thuộc

Bộ Tư pháp và các cơ quan hữu quan thực hiện, được sự đồng ý của Ban quản lý Dự án VIE/02/015 và Vụ Hợp tác quốc tế - Bộ Tư pháp, Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản thành cuốn sách: “Báo cáo đánh giá năng lực cán bộ

t ư pháp cấp tỉnh về quản lý, hướng dẫn công tác hoà giải ở cơ sở”

Trang 4

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc

Tháng 9 n ăm 2005

Nhà xuất bản Tư pháp

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Ph ần I

GIỚI THIỆU VỀ CUỘC KHẢO SÁT 9

2929

Ph ần II

KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TỔ CHỨC

VÀ HOẠT ĐỘNG HOÀ GIẢI Ở CƠ SỞ

28

I Tình hình tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở và công tác

Trang 6

II Quản lý nhà nước về công tác hoà giải ở cơ sở 38

III Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ tư pháp cấp

tỉnh trong quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn công tác hoà giải ở cơ

I Thực trạng đội ngũ cán bộ tư pháp cấp tỉnh thực hiện quản

lý, chỉ đạo, hướng dẫn công tác hoà giải ở cơ sở 48

II Thực trạng công tác quản lý nâng cao năng lực đội ngũ

cán bộ tư pháp cấp tỉnh thực hiện quản lý, chỉ đạo, hướng

dẫn công tác hoà giải ở cơ sở

Trang 7

Ph ần I

GIỚI THIỆU VỀ CUỘC KHẢO SÁT

I GIỚI THIỆU CHUNG

Hoạt động hòa giải đã góp phần quan trọng giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, phát huy tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, gắn bó trong nội bộ quần chúng nhân dân Đồng thời, hoà giải là một hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật gắn với từng vụ việc cụ thể, vì vậy có hiệu quả trực tiếp, thiết thân đến người dân, giúp cho mỗi công dân thấy rõ trách nhiệm của mình trước lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội

Tuy nhiên, một trong những hạn chế của công tác hòa giải hiện nay là năng lực của các tổ hòa giải và các hòa giải viên trong việc thực hiện công tác hòa giải còn hạn chế do thiếu sự hiểu biết về pháp luật và nghiệp vụ thực hiện còn yếu nên hiệu quả hoạt động chưa cao

Theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 160/1999/NĐ-CP ngày 18/10/1999 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở thì các cơ quan Tư pháp địa phương có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp quản lý về công tác hòa giải Cụ thể, trách nhiệm của cơ quan Tư pháp cấp tỉnh được quy định như sau:

“Sở Tư pháp có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý công tác hòa giải ở địa phương, cụ thể: Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về công tác hòa giải trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành; hướng dẫn thực hiện các quy định về tổ chức và hoạt động hòa giải trong phạm vi địa phương; tổ chức bồi dưỡng và hướng dẫn Phòng Tư pháp tổ

Trang 8

chức bồi dưỡng về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao nghiệp vụ hòa giải cho người làm công tác hòa giải…” Chính vì vậy, năng lực của cán bộ tư pháp cấp tỉnh trong việc thực thi

nhiệm vụ hòa giải ảnh hưởng đến việc nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ tư pháp cấp huyện, cấp xã, các tổ hòa giải và hòa giải viên ở cơ

sở, cũng như chất lượng và hiệu quả của công tác hòa giải nói chung

Một trong những điểm quan trọng của Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ từ năm 2003 đến năm 2007 là kiện toàn Tổ hòa giải ở các thôn, bản, tổ dân phố, cụm dân cư; nâng cao vai trò của hòa giải viên trong việc tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân Đồng thời, Chương trình hành động của ngành Tư pháp giai đoạn 2002 -

2007 cũng đề ra mục tiêu: xây dựng Tổ hòa giải ở 100% các thôn, xóm, bản, làng, khu dân cư; tăng số việc hòa giải thành trên 80% số vụ việc hòa giải Để đạt được những mục tiêu trên, giải pháp cần thiết và rất quan trọng

là tăng cường năng lực cho các cán bộ tư pháp cấp tỉnh trong việc thực thi nhiệm vụ liên quan đến công tác hòa giải cơ sở Trước hết, cần khảo sát, đánh giá năng lực đội ngũ cán bộ này nhằm xác định trình độ pháp luật, chuyên môn nghiệp vụ, xác định nhu cầu đào tạo, nâng cao trình độ cho họ

Từ đó, tiến hành xây dựng tài liệu tập huấn một cách phù hợp, giúp họ thực thi tốt nhiệm vụ trên

II MỤC ĐÍCH CỦA CUỘC KHẢO SÁT

- Phân tích, đánh giá các quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối

với công tác hòa giải ở cơ sở, những thuận lợi và những vướng mắc, những bất hợp lý, các đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định này

- Đánh giá năng lực, trình độ pháp luật, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ tư

pháp cấp tỉnh trong quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn công tác hòa giải ở cơ sở, thực trạng công tác quản lý đội ngũ cán bộ này, những ưu điểm và hạn chế,

Trang 9

tồn tại, nguyên nhân của những tồn tại đó, đề xuất phương hướng và giải pháp kiện toàn và nâng cao năng lực hoạt động

- Qua việc đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ tư pháp cấp tỉnh trong quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn công tác hòa giải ở cơ sở để kiện toàn, củng cố, xác định nhu cầu, nội dung, hình thức và biện pháp nâng cao năng lực công tác cho đội ngũ cán bộ này

III NỘI DUNG KHẢO SÁT

Nội dung Chương trình khảo sát bao gồm 4 nhóm thông tin sau:

- Thông tin cơ bản về tổ chức đội ngũ cán bộ tư pháp cấp tỉnh thực hiện

quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn công tác hòa giải (bộ máy, số lượng, trình độ…)

- Thông tin về năng lực thực hiện nhiệm vụ quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn công tác hòa giải ở cơ sở: tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, chất lượng hoàn

thành công việc

- Thông tin về hoạt động quản lý, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ

tư pháp cấp tỉnh thực hiện công tác hòa giải

- Các thông tin liên quan đến nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao

kiến thức pháp luật, nghiệp vụ hướng dẫn công tác hòa giải của đội ngũ cán

bộ tư pháp cấp tỉnh thực hiện quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động hòa giải

IV NHIỆM VỤ CỦA NHÓM NGHIÊN CỨU

Để có thể đạt được những mục tiêu nói trên, các chuyên gia thuộc nhóm nghiên cứu, đánh giá đã tiến hành thực hiện các công việc chủ yếu sau đây:

- Thu thập, tập hợp, rà soát, phân tích, đánh giá các tài liệu, văn kiện, nghị quyết của Đảng liên quan đến công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nói

chung và công tác hòa giải ở cơ sở nói riêng;

- Thu thập, rà soát, phân tích, đánh giá các văn bản pháp luật hiện

Trang 10

hành của Nhà nước quy định về tổ chức và hoạt động hòa giải

ở cơ sở;

- Thu thập, đánh giá các bản báo cáo liên quan đến việc đánh giá thực

trạng đội ngũ cán bộ tư pháp cấp tỉnh và công tác hòa giải ở cơ sở

- Thu thập, đánh giá các đề xuất và ý kiến của các chuyên gia nghiên

nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ này

V PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT

1 Đối tượng điều tra khảo sát

Là cán bộ tư pháp, cán bộ các bộ, ngành, đoàn thể liên quan ở trung ương

và địa phương, hòa giải viên ở cơ sở, cụ thể như sau:

Ở trung ương:

- Các chuyên gia từ các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp bao gồm: Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật, Vụ Tổ chức cán bộ, Viện Khoa học pháp lý, Cục Trợ giúp pháp lý, Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế…;

- Các chuyên viên, cán bộ của các bộ, ngành liên quan như: Văn phòng trung ương Đảng, Văn phòng Chính phủ, Bộ Nội vụ, Bộ Tài nguyên - Môi trường, Ban Dân vận trung ương, Thanh tra Nhà nước, Trung ương Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam, Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh…;

Trang 11

- Các trường đại học, viện nghiên cứu, học viện: Trường Đại học Luật

Hà Nội, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Tư pháp

Ở địa phương:

- Cơ quan Tư pháp, cán bộ tư pháp cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã;

- Các cán bộ ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã: Uỷ ban nhân dân, Hội đồng nhân dân, Sở Nội vụ, Sở Tài nguyên - Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên;

- Hòa giải viên ở cơ sở

2 Phạm vi tiến hành khảo sát

Cuộc khảo sát được thực hiện trên phạm vi toàn quốc (64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương), trong đó tiến hành điều tra trực tiếp tại 18 tỉnh, thành phố đại diện cho 3 khu vực Bắc, Trung, Nam, có miền núi, đồng bằng,

đô thị:

Miền Bắc: Hà Nội, Hà Nam, Yên Bái, Cao Bằng, Quảng Ninh, Hưng

Yên;

Miền Trung và Tây Nguyên: Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Kon

Tum, Gia Lai;

Miền Nam: thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Trà Vinh, Bình

Phước, Đồng Nai, Sóc Trăng, Bạc Liêu

VI PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN KHẢO SÁT

Phương pháp thực hiện khảo sát được kết hợp giữa việc nghiên cứu tài

li ệu và khảo sát thực tế

1 Nghiên cứu tài liệu

1.1 M ục đích:

Trang 12

+ Thu thập, nghiên cứu các tài liệu liên quan tới chức năng, nhiệm vụ và việc thực thi nhiệm vụ quản lý, hướng dẫn, chỉ đạo công tác hòa giải ở cơ sở của đội ngũ cán bộ tư pháp cấp tỉnh;

+ Thu thập, nghiên cứu các thông tin, các báo cáo nghiên cứu trước đây liên quan tới công tác hòa giải và việc quản lý công tác hòa giải ở cơ sở, cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ tư pháp địa phương trong việc quản lý công tác hòa giải để tham khảo, củng cố kinh nghiệm trước đây

1.2 Các tài li ệu được thu thập:

Các chuyên gia thu thập, hệ thống hóa, nghiên cứu, phân tích các tài liệu liên quan đến đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ tư pháp địa phương, đến công tác quản lý hoạt động hòa giải ở cơ sở (như: các văn kiện, nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp luật, các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của Bộ Tư pháp, các báo cáo, số liệu, thông tin hiện có…) Cụ thể như sau:

- Các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở:

+ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;

+ Bộ luật dân sự năm 1995;

+ Luật đất đai năm 2003;

+ Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

+ Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở năm 1998

+ Nghị định số 160/NĐ-CP ngày 18/10/1999 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết một số điều của Pháp lệnh tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở + Các văn bản khác của Chính phủ và Bộ Tư pháp liên quan đến công tác cán bộ của ngành Tư pháp, công tác quản lý hoạt động hòa giải ở cơ sở: Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ từ năm 2003 -

2007, Chương trình hành động của ngành Tư pháp giai đoạn 2002 - 2007, Chương trình hành động quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý

Trang 13

thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm

2005 đến năm 2010, các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của Bộ Tư pháp…

- Các văn bản của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan

Tư pháp từ trung ương đến cơ sở:

+ Nghị định số 62/2003/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp, hướng dẫn, kiểm tra

về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở

+ Thông tư liên tịch số 04/2005/TTLT-TP-NV ngày 05 tháng 5 năm

2005 giữa Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức các cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân quản

lý nhà nước về công tác tư pháp ở địa phương

- Các bản báo cáo, các tài liệu liên quan đến việc đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ tư pháp cấp tỉnh và công tác hòa giải ở cơ sở:

+ Đề tài khoa học cấp Bộ về tổ chức và hoạt động của Ban Tư pháp xã, phường, thị trấn và Tổ hòa giải ở cơ sở trong quá trình hoàn thiện bộ máy nhà nước;

+ Tài liệu Hội nghị, Hội thi “Hòa giải viên giỏi” toàn quốc lần thứ nhất

+ Tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ công tác hòa giải ở cơ sở (Viện Khoa

học pháp lý - Bộ Tư pháp, năm 2000)

1.3 Ngu ồn thông tin:

Những thông tin nêu trên sẽ được thu thập theo các nguồn sau:

Trang 14

- Các cơ quan nhà nước, các tổ chức:

+ Văn phòng Quốc hội;

+ Các bộ và cơ quan ngang bộ (Văn phòng Chính phủ, Bộ Nội vụ, Bộ

Tư pháp…);

+ Các học viện và các trường đại học (Học viện Hành chính quốc gia, Trường Đại học Luật Hà Nội…);

- Nguồn công cộng:

+ Báo, tạp chí, Internet và các phương tiện thông tin đại chúng;

+ Tài liệu tham khảo từ Văn phòng Tổng cục Thống kê;

+ Các sách, tài liệu chuyên đề… trong thư viện Bộ Tư pháp, Thư viện quốc gia;

- Tìm hiểu thực tế hoạt động quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn công tác hòa giải ở cơ sở của đội ngũ cán bộ tư pháp cấp tỉnh trên toàn quốc

2.2 Ph ương pháp lựa chọn mẫu:

Phù hợp với mục tiêu và quy mô của Chương trình khảo sát mà việc chọn mẫu khảo sát được kết hợp giữa lựa chọn ngẫu nhiên và đại diện

Trang 15

- Theo địa phương:

Chọn các địa phương đại diện cho 3 miền Bắc, Trung, Nam, bao gồm các tỉnh, thành phố có điều kiện địa lý tự nhiên khác nhau: đồng bằng, miền núi, duyên hải, cao nguyên và với trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau:

Mỗi miền lựa chọn đại diện 2 - 3 tỉnh, thành phố;

Mỗi tỉnh, thành phố lựa chọn ngẫu nhiên 2 - 3 huyện, quận;

Mỗi quận, huyện lựa chọn ngẫu nhiên 4 - 6 xã, phường, thị trấn

- Theo đối tượng khảo sát:

Để đảm bảo có sự đánh giá chủ quan, khách quan theo cả chiều ngang (quan hệ phối hợp công tác) và chiều dọc (quan hệ quản lý), đối tượng khảo sát bao gồm:

+ Lãnh đạo 64 Sở Tư pháp tỉnh, thành phố tham gia quản lý, hướng dẫn công tác hoà giải; cán bộ tư pháp cấp tỉnh làm nhiệm vụ quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn công tác hòa giải ở cơ sở;

+ Cán bộ các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể hữu quan ở cả ba cấp tỉnh, huyện, xã như: Văn phòng Uỷ ban nhân dân, Công an, Tài nguyên - Môi trường, Nội vụ, Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên…;

+ Cán bộ tư pháp cấp huyện;

+ Cán bộ tư pháp cấp xã;

+ Hòa giải viên ở cơ sở

2.3 Ph ỏng vấn sâu

S ố người được phỏng vấn chuyên sâu: 50 người

C ơ cấu phỏng vấn chuyên sâu:

- Trung ương: 19 người

Trang 16

+ Văn phòng Chính phủ (Vụ Pháp chế, Vụ Xét khiếu tố): 2 người;

+ Bộ Tư pháp: Vụ Tổ chức cán bộ, Cục Trợ giúp pháp lý, Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế, Viện Khoa học pháp lý, Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật (5 người);

+ Bộ Tài nguyên - Môi trường: Vụ Pháp chế, Vụ Đất đai (2 người);

+ Ban Dân vận trung ương: 2 người;

+ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Ban Dân chủ pháp luật (2 người);

+ Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam: Ban Pháp luật và chính sách (2 người);

+ Thanh tra Chính phủ: Vụ Xét khiếu tố (2 người);

+ Trụ sở tiếp dân của Trung ương Đảng và Nhà nước (1 người);

+ Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh: Trung tâm Trợ giúp pháp lý cho thanh niên (1 người)

- Địa phương: 24 người Điều tra tại 3 tỉnh đại diện cho 3 miền Bắc,

Trung, Nam, mỗi tỉnh phỏng vấn sâu 8 người

+ Văn phòng Uỷ ban nhân dân (Bộ phận tiếp dân và giải quyết khiếu tố);

+ Sở Tư pháp;

+ Công an tỉnh;

+ Sở Nội vụ;

+ Sở Tài nguyên - Môi trường;

+ Toà án nhân dân tỉnh;

+ Viện kiểm sát nhân dân tỉnh;

+ Mặt trận Tổ quốc tỉnh;

+ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;

Trang 17

+ Các đoàn thể của tỉnh

- Các trường đại học, viện nghiên cứu: 7 người, bao gồm:

+ Trường Đại học Luật Hà Nội: 1 người;

+ Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh: 2 người;

+ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: 2 người;

+ Học viện Tư pháp: 2 người

Đối tượng phỏng vấn chuyên sâu:

- Thực hiện phỏng vấn sâu với các chuyên gia, cán bộ, công chức có kinh nghiệm về những vấn đề đang được nghiên cứu, đánh giá

- Người điều tra sẽ giải thích cụ thể mục đích của việc nghiên cứu và nguyên tắc phỏng vấn giữ kín thông tin về người trả lời, nêu các câu hỏi Người điều tra sẽ ghi băng toàn bộ nội dung của cuộc trả lời Người phỏng vấn là công chức nhà nước ở trung ương, địa phương và các trường đại học

N ội dung phỏng vấn sâu:

- Vị trí, vai trò của công tác hòa giải ở cơ sở;

- Hoạt động hòa giải ở cơ sở;

- Vai trò của cơ quan Tư pháp và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, các

tổ chức Hội, đoàn thể đối với công tác hòa giải ở cơ sở;

- Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác hòa giải;

- Trách nhiệm của cơ quan Tư pháp và Uỷ ban nhân dân các cấp về công tác hòa giải ở cơ sở;

- Năng lực quản lý của cán bộ tư pháp đối với công tác hòa giải;

- Năng lực quản lý công tác hòa giải của cán bộ đoàn thể;

- Những yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý công tác hòa giải ở cơ sở;

- Thực trạng công tác đào tạo cán bộ quản lý hòa giải hiện nay;

Trang 18

- Các giải pháp về chương trình đào tạo nâng cao năng lực quản lý hòa giải hiện nay;

- Chương trình đào tạo trong tương lai để nâng cao năng lực cán bộ tư pháp trong việc quản lý, hướng dẫn công tác hoà giải (nội dung, chương trình, phương pháp);

- Những nhận xét khác

2.4 Kh ảo sát qua phiếu

Để đánh giá đầy đủ và toàn diện về năng lực hoà giải của cán bộ quản lý

từ tỉnh đến cơ sở, ngoài việc trực tiếp phỏng vấn sâu các đối tượng trên, chúng tôi tổ chức điều tra qua bảng hỏi đối với cán bộ từ cấp tỉnh, huyện, xã đến các hoà giải viên trực tiếp tại cơ sở

S ố người được khảo sát qua phiếu: 3.227 người

S ố phiếu: 3.227 phiếu

C ơ cấu khảo sát qua phiếu:

- Đại diện lãnh đạo 64 Sở Tư pháp tỉnh, thành phố tham gia quản lý công tác hoà giải: 104 phiếu

- Cán bộ tư pháp cấp tỉnh quản lý, hướng dẫn công tác hoà giải: 185 phiếu

- Cán bộ tư pháp cấp huyện quản lý, hướng dẫn công tác hoà giải: 324 phiếu

- Cán bộ tư pháp cấp xã hướng dẫn công tác hoà giải: 176 phiếu

- Hoà giải viên: 1.300 phiếu

- Ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh: 270 phiếu

- Ban, ngành, đoàn thể cấp huyện: 234 phiếu

Trang 19

- Ban, ngành, đoàn thể cấp xã: 634 phiếu

Tiến hành tổ chức điều tra qua bảng hỏi đối với cán bộ từ cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã đến các hoà giải viên trực tiếp tại cơ sở

Địa điểm: miền Bắc, miền Trung và miền Nam

Điều kiện địa lý: đồng bằng, miền núi, duyên hải và cao nguyên

Tình hình kinh tế - xã hội: các tỉnh thành phát triển và chưa phát triển

N ội dung bảng câu hỏi điều tra:

- Các cán bộ tư pháp từ tỉnh tới xã:

+ Thông tin chung về các cán bộ tư pháp;

+ Tình hình hiện tại của các cán bộ tư pháp từ tỉnh đến xã quản lý, hướng dẫn thực hiện công tác hoà giải ở địa phương:

- Năng lực: trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn và các trình độ khác

về ngoại ngữ, tin học, kỹ năng và phương pháp hoàn thành công việc;

- Thời gian công việc;

- Chính sách xã hội

+ Việc tham gia của họ trong các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật, công tác hoà giải: thời gian, vị trí, hiệu quả cũng như khó khăn, tồn tại; + Chương trình đào tạo với các cán bộ tư pháp: nội dung, thời gian, phương pháp, hiệu quả;

+ Nhu cầu đào tạo nâng cao: nội dung, hình thức, phương pháp, thời gian;

+ Đánh giá về năng lực quản lý, hướng dẫn công tác hoà giải của cán bộ

tư pháp cấp tỉnh;

+ Các nhận xét khác

- Đối với hoà giải viên:

Trang 20

+ Thông tin về hoà giải viên;

+ Tình hình hiện tại của các hoà giải viên: năng lực, thời gian làm việc, chính sách xã hội;

+ Thực trạng hoạt động hòa giải;

+ Tình hình hiện tại về các khoá đào tạo luật và kiến thức chuyên môn cho hoà giải viên: thời gian, nội dung, hiệu quả;

+ Nhu cầu đào tạo;

+ Đánh giá, góp ý về năng lực quản lý, hướng dẫn công tác hoà giải của đội ngũ cán bộ tư pháp cấp tỉnh

- Với các cán bộ ban, ngành, mặt trận, đoàn thể:

+ Đánh giá về năng lực quản lý, hướng dẫn công tác hoà giải của cán bộ

tư pháp cấp tỉnh;

+ Đánh giá về sự phối hợp trong quản lý tổ chức và hoạt động hòa giải

ở cơ sở giữa cán bộ tư pháp và cán bộ mặt trận, đoàn thể;

Nhóm nghiên cứu sẽ trực tiếp tiến hành điều tra tại 9 tỉnh, đại diện cho

3 khu vực: Bắc, Trung, Nam, có miền núi, đồng bằng, đô thị Mỗi tỉnh chọn

2 huyện, mỗi huyện chọn 2 xã

- Đối tượng điều tra phỏng vấn:

+ Cấp tỉnh: cán bộ Sở Tư pháp, Sở Nội vụ, Sở Tài nguyên - Môi

trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Toà án, Viện kiểm sát, Uỷ

Trang 21

ban nhân dân, Hội Nông dân, Mặt trận Tổ quốc, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên;

Số lượng: 11 người/1 tỉnh

+ Cấp huyện: Phòng Tư pháp (nơi không có Phòng Tư pháp thì phỏng

vấn cán bộ tư pháp thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân), Toà án, Viện kiểm sát, Uỷ ban nhân dân, Hội Nông dân, Mặt trận Tổ quốc, Hội Liên hiệp phụ

nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên;

Số lượng: 7 người/1 huyện

+ Cấp cơ sở: cán bộ tư pháp, hoà giải viên, đối tượng được hoà giải

thành, Hội Nông dân cơ sở, Uỷ ban nhân dân, Hội đồng nhân dân;

Trang 22

- T ổ chức điều tra qua mạng lưới cộng tác viên của Trung tâm tại địa

ph ương

+ Số lượng: 900 phiếu

+ Tập huấn điều tra viên:

Đào tạo đội ngũ này trong một ngày và tại mỗi địa phương Những chuyên gia giảng về mục tiêu, những yêu cầu của cuộc điều tra, nội dung câu hỏi, kỹ năng phỏng vấn…

Sau khi tập huấn, cộng tác viên đạt chất lượng tiến hành nhiệm vụ theo

sự chỉ đạo của Trung tâm

- Trung tâm tr ực tiếp chỉ đạo các điều tra viên tiến hành điều tra 3

khu v ực: Bắc, Trung, Nam, tại 9 tỉnh gồm: Cao Bằng, Quảng Ninh, Hưng

Yên, Hà Tĩnh, Gia Lai, Bình Phước, Đồng Nai, Sóc Trăng, Bạc Liêu

+ Số lượng điều tra: 900 người

Trang 23

Đối với đại diện lãnh đạo 64 Sở Tư pháp tỉnh, thành phố tham gia quản

lý, hướng dẫn công tác hoà giải ở cơ sở

Điều tra đợt II

- Số lượng: 1.714 phiếu qua bảng hỏi

- Điều tra qua mạng lưới cộng tác viên của Trung tâm

+ Số lượng: 1.300 phiếu

+ Đối tượng: hoà giải viên

- Điều tra qua bảng hỏi bằng đường công văn:

40 phiếu điều tra đối với Lãnh đạo 64 Sở Tư pháp tỉnh, thành phố tham

gia quản lý, hướng dẫn công tác hoà giải ở cơ sở

Trang 24

185 phiếu điều tra cán bộ tư pháp cấp tỉnh trực tiếp quản lý, hướng dẫn

công tác hoà giải trên cả nước

189 phiếu điều tra cán bộ tư pháp cấp huyện quản lý, hướng dẫn công

tác hoà giải

Tổng số phiếu khảo sát là:

50 phỏng vấn sâu + 3.227 khảo sát qua bảng hỏi = 3.277 người

VII NỘI DUNG CỦA BÁO CÁO

Báo cáo bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

- Phần I: Giới thiệu về cuộc khảo sát

Nêu sự cần thiết của việc nghiên cứu, đánh giá, mục đích của báo cáo, phạm vi và đối tượng của báo cáo, phương pháp đánh giá…

- Phần II: Khái quát về công tác quản lý tổ chức và hoạt động hòa giải

ở cơ sở:

Nội dung chủ yếu là đánh giá chung về cơ sở pháp lý liên quan đến quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở (nhấn mạnh đến vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi, đối tượng quản lý của cơ quan Tư pháp và đội ngũ cán bộ tư pháp cấp tỉnh trong công tác hòa giải ở địa phương)

- Phần III: Phân tích kết quả khảo sát:

Dựa trên kết quả khảo sát, tiến hành đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ

tư pháp cấp tỉnh (về số lượng, trình độ, năng lực thực thi nhiệm vụ, hiệu quả hoạt động…) và công tác quản lý, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ này trong thực thi công tác hòa giải ở cơ sở (cơ cấu, tổ chức, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, chế độ chính sách…), nêu những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân tồn tại, các đề xuất và giải pháp cụ thể

Trang 25

- Phần IV: Kết luận và khuyến nghị

- Phần V: Phụ lục

Phụ lục 1: Điều khoản tham chiếu (TOR)

Phụ lục 2: Phiếu khảo sát

Phụ lục 3: Danh sách đối tượng khảo sát

Phụ lục 4: Bảng biểu số liệu kết quả khảo sát

Trang 26

Ph ần II

KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG HOÀ GIẢI Ở CƠ SỞ

I TÌNH HÌNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG HÒA GIẢI Ở CƠ

SỞ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HÒA GIẢI HIỆN NAY

1 Vị trí, vai trò công tác hoà giải

Công tác hòa giải dựa trên truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, có vai trò rất quan trọng để tăng cường tình đoàn kết trong nhân dân, xây dựng tình làng, nghĩa xóm đầm ấm, đùm bọc, giúp đỡ nhau trong xây dựng xã hội bình yên, giàu mạnh

Nhận thức rõ vị trí, vai trò và ý nghĩa to lớn của công tác hòa giải ở cơ

sở nên Đảng, Bác Hồ rất quan tâm đến công tác này, luôn coi việc khuyến khích, tăng cường công tác hòa giải là một chủ trương nhất quán trong nguyên tắc quản lý xã hội

Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa

VII đã chỉ rõ: “Coi trọng vai trò hòa giải của chính quyền kết hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở cơ sở”(1)

Nhà nước ta đã thể chế các chủ trương, chính sách của Đảng, tư tưởng của Hồ Chí Minh thành các quy định, các văn bản pháp luật về hòa giải

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần

thứ 8 (khoá VII), Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tr.30

Trang 27

Ngay từ ngày đầu thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật quy định về hòa giải trong nội bộ nhân dân

Theo Sắc lệnh số 13/SL ngày 17/4/1946 thì Ban Tư pháp xã có nhiệm vụ hòa giải tất cả các việc về dân sự, thương sự và phạt vi cảnh Đến năm 1964, Tổ

hòa giải được thành lập ở cơ sở là một tổ chức xã hội, không phân xử mà chỉ

giải thích, thuyết phục để giúp đỡ các bên tự nguyện giải quyết các xích mích, tranh chấp một cách có tình, có lý.

Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 đều khẳng định: “Ở cơ sở thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật”

Điều 11 Bộ luật dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể chế

hóa đường lối, chủ trương của Đảng, cụ thể hoá Hiến pháp năm 1992, đã coi việc hòa giải để giải quyết các tranh chấp dân sự là một trong những nguyên tắc

cơ bản của pháp luật dân sự Việt Nam: trong quan hệ dân sự, việc hòa giải giữa các bên phù hợp với quy định của pháp luật được khuyến khích Không ai được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong việc giải quyết tranh chấp dân sự Pháp lệnh số 09/1998/PL-UBTVQH10 ngày 25/12/1998 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở và Nghị định

số 160/1999/NĐ-CP ngày 18/10/1999 của Chính phủ quy định chi tiết một

số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở được ban hành, đánh dấu một bước phát triển quan trọng của pháp luật về công tác hòa giải, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với công tác này, khẳng định vị trí, vai trò không thể thiếu của công tác hòa giải trong đời sống cộng đồng Công tác hòa giải ngày càng giữ vị trí quan trọng, ngày càng được các cấp, các ngành quan tâm đặc biệt

2 Phạm vi, nguyên tắc hoà giải

2.1 Ph ạm vi hoà giải

Theo quy định của pháp luật thì hoà giải được tiến hành đối với các vụ việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư bao gồm:

Trang 28

- Mâu thuẫn xích mích giữa các thành viên trong gia đình do khác nhau

về quan niệm sống, lối sống, tính tình không hợp hoặc mâu thuẫn xích mích giữa các cá nhân trong quan hệ xóm giềng như: sử dụng lối đi qua nhà, sử dụng điện, nước sinh hoạt, giờ giấc sinh hoạt, gây mất vệ sinh chung…;

- Tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh từ các quan hệ về tài sản, quan

hệ hợp đồng dân sự, nghĩa vụ công dân, thừa kế, quyền sử dụng đất;

- Tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh từ quan hệ hôn nhân gia đình như:

thực hiện quyền và nghĩa vụ vợ chồng, quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con, nhận con nuôi, ly hôn, yêu cầu cấp dưỡng;

- Tranh chấp phát sinh từ những vi phạm pháp luật mà theo quy định của pháp luật, những vi phạm đó chưa đến mức xử lý bằng biện pháp hình sự hoặc biện pháp hành chính như: trộm cắp vặt, đánh chửi nhau, gây mất trật

tự công cộng, đánh nhau gây thương tích nhẹ, va quệt xe cộ gây thương tích nhẹ

Không được hoà giải các vụ việc sau:

- Các tội phạm hình sự;

- Hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý hành chính;

- Các vi phạm pháp luật và tranh chấp mà theo quy định của pháp luật không được hoà giải:

- Kết hôn trái pháp luật;

- Gây thiệt hại tài sản Nhà nước;

- Tranh chấp phát sinh từ giao dịch trái pháp luật;

- Tranh chấp về lao động

2.2 Nguyên t ắc hoà giải

Trang 29

- Phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội và phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân;

- Tôn trọng sự tự nguyện của các bên, không bắt buộc áp đặt các bên

tranh chấp phải tiến hành hoà giải;

- Khách quan, công minh, có lý, có tình, giữ bí mật thông tin đời tư

của các bên tranh chấp, tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng;

- Kịp thời, chủ động, kiên trì nhằm ngăn chặn vi phạm pháp luật, hạn

chế những hậu quả xấu khác có thể xảy ra và đạt được kết quả hoà giải

2.3 Quy trình th ực hiện hoà giải ở cơ sở:

Việc hoà giải do các tổ viên Tổ hoà giải tiến hành hoặc tổ chức tiến hành trong các trường hợp:

- Tổ viên Tổ hoà giải chủ động tiến hành hoà giải hoặc mời người ngoài Tổ hoà giải thực hiện việc hoà giải theo sáng kiến của mình trong trường hợp trực tiếp chứng kiến hoặc biết về việc tranh chấp;

- Theo sự phân công của Tổ trưởng Tổ hoà giải;

- Theo đề nghị của các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân;

- Theo yêu cầu của một bên hoặc các bên tranh chấp

Việc hoà giải được tiến hành vào thời gian mà các đương sự yêu cầu hoặc theo sáng kiến của tổ viên Tổ hoà giải Việc hoà giải có thể được tiến hành theo sáng kiến của tổ viên Tổ hoà giải ngay tại thời điểm xảy ra tranh chấp, nếu tổ viên Tổ hoà giải là người chứng kiến và xét thấy cần thiết phải hoà giải ngay

Tổ viên Tổ hoà giải lựa chọn địa điểm thuận lợi cho việc hoà giải, phù hợp với nguyện vọng của các bên

Việc hoà giải được kết thúc khi các bên đã đạt được thoả thuận và tự nguyện thực hiện thoả thuận đó

Trang 30

Trong trường hợp việc thực hiện thoả thuận có khó khăn, thì tổ viên Tổ hoà giải động viên, thuyết phục các bên thực hiện thoả thuận và có thể đề nghị Trưởng thôn, xóm, ấp, bản, tổ dân phố hoặc kiến nghị với Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn tạo điều kiện để các bên tự nguyện thực hiện thoả thuận

Trong trường hợp các bên không thể đạt được thoả thuận và việc tiếp tục hoà giải không thể đạt kết quả, thì tổ viên Tổ hoà giải hướng dẫn các bên làm thủ tục cần thiết để đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết

3 Về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở

Cho đến nay, trên toàn quốc có khoảng 120.000 Tổ hòa giải với khoảng 427.000 hòa giải viên là các Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn, đại diện Mặt trận

Tổ quốc, Hội viên Hội Phụ nữ, Hội viên Hội Cựu chiến binh, đoàn viên thanh niên, nông dân, cựu chiến binh, cán bộ hưu trí Đây là một lực lượng hùng hậu, chưa kể số cán bộ chính quyền, đoàn thể ở cơ sở, các cán bộ nghỉ hưu, các cựu chiến binh không phải là Tổ viên Tổ hòa giải nhưng đã và đang tham gia tích cực vào việc hòa giải như là một nhiệm vụ của mình

Theo báo cáo của 35 tỉnh, thành phố từ năm 1998 đến năm 2003, số vụ

việc tiến hành hòa giải là 235.720 vụ, trong đó đã hòa giải thành được 200.040 vụ, trung bình hàng năm Tổ hòa giải ở các tỉnh đã hòa giải hàng

nghìn vụ tranh chấp, mâu thuẫn nhỏ trong nhân dân và hòa giải thành từ 60 - 70% các vụ việc xảy ra ở cơ sở, một số địa phương hòa giải thành đạt trên 80% vụ việc(1) Trong đó chủ yếu là các vụ việc về dân sự, hôn nhân - gia đình, nhà đất và các lĩnh vực khác

Thực hiện Chỉ thị số 26/2001/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tạo điều kiện để Hội Nông dân các cấp tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo của nông dân, Hội Nông dân các cấp lấy hoà giải làm nhiệm vụ chủ yếu để tham gia giải quyết khiếu nại tố cáo Tìm hiểu số vụ việc khiếu kiện phức tạp

(1)Báo cáo tổng hợp 3 năm thực hiện Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở của Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật - Bộ Tư pháp

Trang 31

đông người, vượt cấp thì không ít vụ việc được hoà giải chưa thấu tình, đạt

lý, làm cho đối tượng được hoà giải bất bình, không tin tưởng, kéo lên các cấp chính quyền yêu cầu giải quyết Thực tế cho thấy, có những vụ việc nhỏ nếu được phát hiện và hoà giải kịp thời sẽ không phát sinh thành những vụ việc phức tạp Các cấp Hội đã phát huy thế mạnh của tổ chức hội, đó là vừa rộng, vừa gần, vừa sâu sát, vừa có uy tín với nông dân bằng phương pháp vận động quần chúng, nắm bắt kịp thời, đầy đủ, chính xác, chi tiết của vụ việc khiếu kiện và tâm lý của đối tượng để kiên trì vận động, thuyết phục, vận dụng nhiều hình thức hoà giải linh hoạt, vừa phân tích có lý, có tình, dựa trên tình làng nghĩa xóm, anh em thân tộc, bằng nhiều hình thức hoà giải phong phú như thông qua đối thoại trực tiếp, qua sinh hoạt chi, tổ, Hội, qua người có uy tín với đối tượng và phối hợp với chính quyền, các đoàn thể đã hoà giải thành, phần lớn vụ việc phát sinh ở thôn, ấp, bản, làng Ba năm qua,

các cấp Hội cơ sở đã hoà giải thành 136.270 vụ việc, trong đó nhiều tỉnh hoà

giải thành hàng chục ngàn vụ việc Nhiều vụ việc khiếu kiện phức tạp, kéo dài được Hội Nông dân công phu hoà giải thành như ở xã Hoà Hiệp, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu nông dân chiếm đất của nông trường Xuyên Mộc, gây mâu thuẫn giữa nông dân với nông trường kéo dài nhiều năm Ở xã EAQuang, huyện KrôngPắc, tỉnh Đắc Lắc là xã có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, nội bộ nhân dân có nhiều mâu thuẫn gay gắt, khiếu kiện vượt cấp lên tỉnh, trung ương, a dua với kẻ xấu đi biểu tình bạo loạn Xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai là xã có nhiều đồng bào theo đạo, khiếu kiện gay gắt vượt cấp nhiều năm Hội Nông dân tỉnh, huyện chỉ đạo Hội Nông dân cơ sở tích cực vận động nông dân, hoà giải các mâu thuẫn trong nội bộ, đến nay tình hình ổn định, kinh tế - xã hội phát triển(1) Như vậy, tác dụng hiệu quả của công tác hòa giải, lợi ích thiết thực mà

nó mang lại là rất lớn Với các tổ hòa giải được thành lập theo thôn, xóm, bản, ấp, cụm dân cư, tổ dân phố, các chợ cố định, tụ điểm văn hóa, du lịch,

(1)Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện Chỉ thị số 26 của Thủ tướng Chính phủ về việc tạo điều kiện để Hội Nông dân các cấp tham gia giải quyết khiếu nại tố cáo của nông dân của Hội Nông dân tỉnh Đồng Nai, Đắc Lắc, Bà Rịa Vũng Tàu

Trang 32

vui chơi, giải trí… mô hình của loại hình tổ chức mang tính tự quản, tự nguyện này rất đa dạng, phong phú, phù hợp với thực tiễn đời sống của từng cộng đồng dân cư Hoạt động hòa giải đã góp phần rất quan trọng để giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, phát huy tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, gắn bó trong nội bộ quần chúng nhân dân, giúp cho mỗi công dân thấy rõ trách nhiệm của mình trước lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội Chính nhờ hoạt động của các tổ hòa giải ở cơ sở

mà các vụ việc đưa ra cơ quan nhà nước giảm đi đáng kể, không những tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc của nhân dân mà còn giảm bớt gánh nặng chi tiêu cho ngân sách nhà nước Xét về tính chất, mức độ và phạm vi các tranh chấp, vi phạm, hòa giải ở cơ sở là một hình thức thích hợp để giải quyết tận gốc, mang tính giáo dục cao đối với những trường hợp chưa cần thiết phải đưa đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết

Hòa giải ở cơ sở là một hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật gắn với từng vụ việc cụ thể, và vì vậy có hiệu quả trực tiếp, rất thiết thân với người dân, nhưng thông qua từng vụ việc cụ thể phát sinh trong cuộc sống đời thường đó của người dân, pháp luật của Nhà nước được vận dụng hòa quyện với phong tục, tập quán, với các chuẩn mực đạo đức xã hội Một vụ việc được hòa giải thành giúp truyền tải, đưa pháp luật đến với người dân một cách tự nhiên, đời thường, thấm sâu trong nhận thức, tâm linh của người dân, trước hết trực tiếp đối với người được hòa giải Nhưng như thực

tế chỉ rõ, tác dụng cũng không chỉ riêng đối với họ mà còn với những người sống xung quanh Như vậy, tác động của hòa giải không chỉ là giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp của hai bên mà còn giúp giáo dục con người sống nhân ái, có trách nhiệm hơn, sống và làm việc theo pháp luật trong tinh thần hòa hợp, cộng đồng

4 Thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước trong công tác hòa giải

Chính từ đặc trưng cơ bản của Tổ hòa giải là tổ chức quần chúng, được nhân dân thành lập ở cơ sở, thực hiện hòa giải các tranh chấp nhỏ trong nội

Trang 33

bộ nhân dân mà đối với công tác hòa giải không thể thiếu sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và sự hỗ trợ của các tổ chức chính trị - xã hội

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác hòa giải trong phạm

vi cả nước Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở, chỉ đạo và hướng dẫn Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở địa phương Cơ quan Tư pháp địa phương giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp thực hiện công tác hòa giải

Ở các tỉnh, thành phố, tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân đều có nghị quyết, chỉ thị lên kế hoạch cụ thể, chỉ đạo tổ chức và hoạt động hòa giải Đặc biệt, sau khi có Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở

cơ sở, sự quan tâm của lãnh đạo địa phương ngày càng cụ thể hơn, hiệu quả hơn Chính nhờ sự quan tâm đó, mạng lưới Tổ hòa giải được củng cố, mở rộng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hòa giải ngày càng phức tạp Hàng năm, cơ quan Tư pháp các cấp thường xuyên chỉ đạo, hướng dẫn về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở; tập huấn, bồi dưỡng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao nghiệp vụ hòa giải cho người làm công tác hòa giải Trong điều kiện kinh tế có khó khăn, kinh phí từ ngân sách nhà nước không có cấp cho hoạt động hòa giải ở cơ sở, thì sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương càng có ý nghĩa to lớn trong việc động viên, tạo mọi điều kiện huy động và sử dụng nguồn lực tại chỗ để đẩy mạnh công tác hòa giải

Bên cạnh vai trò nòng cốt trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở của cơ quan Tư pháp các cấp còn có sự phối hợp hiệu quả của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong việc xây dựng, củng cố Tổ hòa giải, góp phần thúc đẩy và nâng cao chất lượng hoạt động hòa giải ở cơ sở Trong những năm qua, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp chủ động tham gia tích cực trong việc kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động hòa giải ở cơ sở, cử

Trang 34

cán bộ phối hợp thực hiện công tác rà soát, củng cố, kiện toàn tổ chức, theo dõi, kiểm tra tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở; qua đó, giới thiệu những người có thành tích trong công tác hòa giải để đề nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp khen thưởng; phối hợp tổ chức các hội nghị sơ kết, tổng kết công tác hòa giải ở cơ sở; tạo điều kiện cho các thành viên của mình tham gia tích cực vào công tác hòa giải; động viên nhân dân tích cực tham gia xây dựng, củng cố tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở; gắn hoạt động hòa giải với việc xây dựng và thực hiện các phong trào quần chúng ở địa phương

5 Khó khăn trong công tác hòa giải ở cơ sở

- Mạng lưới hòa giải còn chưa đều, chưa đủ sức đảm đương hết công việc Trong khi đó, những mâu thuẫn, xích mích, những tranh chấp nhỏ trong

cuộc sống thường ngày xảy ra có chiều hướng gia tăng theo đà gia tăng dân

số, sức ép của việc làm, nơi ăn chốn ở và tính phức tạp, mặt trái của cơ chế thị trường

- Việc kiện toàn, mở rộng tổ chức và hoạt động của các tổ hòa giải ở một số nơi tiến hành còn chậm

- Kinh phí cấp cho công tác hòa giải còn hạn chế, chưa có sự hướng

dẫn thống nhất trong cả nước Nhiều nơi hòa giải viên tự bỏ tiền túi ra mua sách, báo, tài liệu, chi phí đi lại Vì vậy, không động viên, khuyến khích được hoạt động hòa giải, hoạt động hòa giải thời gian qua chủ yếu dựa trên lòng nhiệt tình của người làm công tác hòa giải

Do thiếu kinh phí hoạt động nên cán bộ tư pháp, cán bộ hòa giải chưa được thường xuyên cung cấp tài liệu pháp luật, tài liệu nghiệp vụ phục vụ công tác của mình Nhiều nơi, công tác hòa giải cũng chưa được tổ chức sơ kết, tổng kết kịp thời để rút kinh nghiệm, thi đua khen thưởng công tác hoà giải

Trang 35

- Kiến thức pháp luật của các tổ viên Tổ hòa giải còn hạn chế, việc tổ

chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật và hướng dẫn nghiệp vụ cho Tổ hòa giải của các cơ quan Tư pháp địa phương chưa thường xuyên

- Các cơ quan Tư pháp ở một số địa phương chưa quan tâm kiện toàn đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ theo dõi, chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động hòa

giải ở cơ sở

- Thực tế cho thấy, hoạt động hòa giải còn chưa đồng đều, một số tổ hòa

giải hoạt động còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao

- Ở một số địa phương, sự phối hợp giữa cơ quan Tư pháp với Mặt trận

và các ban, ngành, đoàn thể liên quan còn chưa được chặt chẽ, thường xuyên Cơ chế phối hợp quản lý công tác hòa giải giữa cơ quan Tư pháp và

các tổ chức chính trị - xã hội chưa được xác định rõ ràng

6 Nguyên nhân của những tồn tại

- Một số quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của Tổ hòa giải chưa cụ thể, phân công trách nhiệm giữa cơ quan Tư pháp và Mặt trận,

các tổ chức chính trị - xã hội khác trong phối hợp hoạt động chưa rõ ràng dẫn đến sự phối hợp chưa đạt hiệu quả cao

- Sự nhận thức của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội từ trung ương đến địa phương về vai trò của công tác hòa giải ở cơ sở không đồng đều nên chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành, đoàn thể

các cấp trong quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động hòa giải

- Cấp uỷ, chính quyền ở một số địa phương chưa thật sự quan tâm kiện

toàn, củng cố các cơ quan Tư pháp đủ sức chỉ đạo công tác hòa giải ở địa phương, chưa quan tâm kiện toàn tổ chức các Tổ hòa giải, chưa tạo điều kiện

về cơ sở vật chất, kinh phí cho Tổ hòa giải hoạt động

- Cơ quan Tư pháp các cấp được giao nhiệm vụ quản lý, chỉ đạo và

hướng dẫn hoạt động hòa giải ở cơ sở, nhưng một số địa phương còn chưa thực sự quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn thường xuyên, kịp thời

Trang 36

II QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ

1 Cơ sở pháp lý

Việc quản lý nhà nước về công tác hòa giải được quy định rõ tại Điều 6 Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở; Điều 5, Điều 6 Nghị định số 160/1999/NĐ-CP ngày 18/10/1999 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở Đây là

cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện nhiệm

vụ quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn công tác hòa giải, xây dựng cơ chế phối hợp quản lý giữa cơ quan quản lý nhà nước với các tổ chức chính trị - xã hội,

nhằm kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổ hòa giải

2 Nội dung quản lý nhà nước

Theo quy định của pháp luật thì nội dung quản lý nhà nước về công tác hoà giải bao gồm:

- Ban hành văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động hoà giải;

- Hướng dẫn về tổ chức và hoạt động hoà giải;

- Tổ chức bồi dưỡng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao nghiệp vụ hoà giải cho người làm công tác hoà giải;

- Sơ kết, tổng kết công tác hoà giải

3 Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước

Các cơ quan quản lý nhà nước về công tác hoà giải ở cơ sở bao gồm: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác hoà giải trong phạm

vi cả nước Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác hoà giải ở cơ sở; chỉ đạo và hướng dẫn Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về công tác hoà giải ở địa phương

Cụ thể như sau:

Trang 37

3.1 B ộ Tư pháp có trách nhiệm

- Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động hoà giải

trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền;

- Hướng dẫn về tổ chức và hoạt động hoà giải trong phạm vi cả

nước;

- Tổ chức bồi dưỡng và hướng dẫn các Sở Tư pháp tổ chức bồi dưỡng

về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao nghiệp vụ hoà giải cho người làm công tác hoà giải;

- Sơ kết, tổng kết công tác hoà giải của Tổ hoà giải trong phạm vi cả

nước;

3.2 U ỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về công tác hoà

gi ải ở địa phương theo sự chỉ đạo và hướng dẫn của Bộ tư pháp

Căn cứ tình hình cụ thể và khả năng ngân sách của địa phương, Uỷ ban nhân dân các cấp tạo điều kiện, hỗ trợ về kinh phí cho việc kiện toàn tổ chức, bồi dưỡng nghiệp vụ, sơ kết, tổng kết, thi đua, khen thưởng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hoà giải ở địa phương

3.3 Trách nhi ệm của cơ quan Tư pháp địa phương về công tác hoà giải ở cơ

s ở

Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp thực hiện quản lý nhà nước về công tác hoà giải ở địa phương Ban Tư pháp (Theo Thông tư liên tịch số 04/2005/TTLT-TP-NV giữa

Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và

tổ chức các cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân quản lý nhà nước về công tác tư pháp ở địa phương) có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã quản lý nhà nước về công tác tư pháp trong phạm vi địa phương

3.3.1 Sở Tư pháp có trách nhiệm

Trang 38

- Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về công tác hoà giải trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành Hướng dẫn việc thực hiện quy định của cấp trên

về tổ chức và hoạt động hoà giải trong phạm vi địa phương;

- Tổ chức bồi dưỡng và hướng dẫn Phòng Tư pháp tổ chức bồi dưỡng

về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao nghiệp vụ hoà giải cho người làm công tác hoà giải;

- Sơ kết, tổng kết và báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ Tư pháp

về công tác hoà giải ở địa phương; tổ chức thi đua, khen thưởng công tác hoà giải ở địa phương

3.3.2 Phòng Tư pháp có trách nhiệm

- Theo sự chỉ đạo của cơ quan Tư pháp cấp trên và của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, tổ chức triển khai thực hiện các quy định về công tác hoà giải ở địa phương; đề xuất với Uỷ ban nhân dân cấp huyện biện pháp kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động hoà giải ở địa phương;

- Tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ hoà giải cho đội ngũ hoà giải viên ở địa phương theo hướng dẫn của cơ quan Tư pháp cấp trên;

- Sơ kết, tổng kết công tác hoà giải của Tổ hoà giải ở địa phương và báo cáo về công tác hoà giải với Uỷ ban nhân dân cấp huyện và cơ quan Tư pháp cấp trên; tổ chức thi đua, khen thưởng công tác hoà giải của Tổ hoà giải ở địa phương

3.3.3 Ban Tư pháp có trách nhiệm

- Kiện toàn tổ chức, củng cố đội ngũ những người làm công tác hoà giải;

- Thực hiện việc bồi dưỡng nghiệp vụ hoà giải, cung cấp tài liệu nghiệp

vụ cho tổ viên Tổ hoà giải ở địa phương theo sự hướng dẫn của cơ quan Tư

Trang 39

pháp cấp trên; trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định việc miễn nhiệm tổ viên Tổ hoà giải;

- Sơ kết, tổng kết công tác hoà giải của Tổ hoà giải ở địa phương và báo cáo công tác hoà giải với Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn và cơ quan Tư pháp cấp trên;

- Tổ chức thi đua, khen thưởng công tác hoà giải ở địa phương

- Căn cứ vào tình hình cụ thể và khả năng ngân sách của địa phương, Ban Tư pháp lập dự trù kinh phí đề nghị Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn hỗ trợ cho công tác hoà giải ( hỗ trợ cho việc kiện toàn tổ chức Tổ hoà giải, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật và nghiệp vụ hoà giải, họp giao ban, sơ kết, tổng kết, thi đua, khen thưởng, mua tài liệu pháp luật, tài liệu nghiệp vụ hoà giải, giấy, bút, sổ sách ghi chép…); có thể huy động các doanh nghiệp, tổ chức, đoàn thể và cá nhân có điều kiện hỗ trợ tiền, vật chất cho công tác hoà giải

4 Cơ chế phối hợp quản lý

Công tác hòa giải là công tác vận động quần chúng đòi hỏi sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị - xã hội Tại Điều 7 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã quy định một trong những nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc các cấp trong tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thi

hành chính sách, pháp luật, đó là: “Tham gia hoạt động hoà giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật về hoà giải” Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng

của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận đối với công tác hoà giải ở cơ sở, Điều 5 Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải

ở cơ sở đã quy định: “Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành

viên của Mặt trận có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước hữu quan, động viên nhân dân trong việc xây dựng, củng cố Tổ hoà giải và các tổ chức hoà giải khác của nhân dân trong cộng đồng dân cư; giúp đỡ, tạo điều kiện cho hoạt động hoà giải ở cơ sở; tham gia hoà giải theo quy định của pháp luật."

Trang 40

Trong việc hoà giải tranh chấp đất đai, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng

có vai trò rất quan trọng Điều 135 Luật đất đai năm 2003 quy định: "Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp đất đai"

Như vậy, vai trò của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc trước hết thể hiện trong việc phối hợp với các cơ quan nhà nước hữu quan xây dựng, củng cố Tổ hoà giải và các tổ chức hoà giải khác của nhân dân tại địa bàn Tại khoản 3 Điều

6 Nghị định số 50/2001/NĐ-CP ngày 16 tháng 8 năm 2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

đã quy định: Uỷ ban nhân dân cấp xã phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc

Việt Nam cùng cấp chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động của các tổ chức tự quản được thành lập theo quy định của pháp luật trong cộng đồng dân cư trên địa bàn Cụ thể hoá vấn đề này, vai trò của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc trước hết

thể hiện qua việc tổ chức, xây dựng các tổ hoà giải, lựa chọn, giới thiệu những người tiêu biểu, đủ tiêu chuẩn là tổ viên Tổ hoà giải để nhân dân bầu Theo quy định tại Điều 7 của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở

cơ sở và Điều 8 Nghị định số 160/1999/NĐ-CP ngày 18-10- 1999 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở: Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn phối hợp với các

tổ chức thành viên của Mặt trận lựa chọn, giới thiệu để nhân dân bầu tổ viên

Tổ hoà giải

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên còn giúp đỡ, tạo điều kiện

về nhân lực (con người), về tinh thần (động viên, khuyến khích, thuyết phục) đối với công tác hoà giải ở cơ sở, đồng thời tham gia hoà giải trực tiếp các

vụ việc, các tranh chấp, xích mích trong nhân dân

Bên cạnh đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam còn phối hợp với các cơ quan hữu quan tham gia hướng dẫn hoạt động hoà giải về nghiệp vụ, về cơ cấu tổ chức… và phối hợp tiến hành sơ kết, tổng kết công tác hoà giải ở cơ sở

Ngày đăng: 12/01/2021, 09:35

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w