1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

Đại cương tần thần học

191 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 191
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người ta quan niệm bệnh tâm thần là sự biến đổi hoạt động của não, trong đó các phản ứng tâm thần mâu thuẫn gay gắt, sâu sắc với những mối quan hệ thực tế biểu hiện bằn[r]

Trang 1

PHẦN I

TÂM THẦN HỌC ĐẠI CƯƠNG

Trang 2

ĐẠI CƯƠNG TÂM THẦN HỌC

Nguyễn Văn Ngân

1 Nội dung và đối tượng nghiên cứu của tâm thần học

1.1 Định nghĩa:

Tâm thần học là một môn y học chuyên nghiên cứu các biểu hiện lâm sàng, bệnh nguyên, bệnh sinh, các phương pháp điều trị và dự phòng bệnh tâm thần, các phương pháp tổ chức cứu chữa, vệ sinh tâm thần và giám định pháp y tâm thần

1.2 Các thuật ngữ về tâm thần học:

Trong quá trình nghiên cứu, tùy thuộc vào truyền thống của các quốc gia khác nhau, các trường phái tâm thần học khác nhau mà người ta sử dụng thuật ngữ khác nhau Ở các nước phương Tây thuật ngữ về "Tâm thần học" được sử dụng khá thống nhất, bắt nguồn từ chữ Hylạp "Psychiatria"; đó là một từ ghép bao gồm:"Psyche"có nghĩa là tâm thần, tâm hồn, tâm lý và "Iatria" có nghĩa là chữa bệnh, y học

Do đó "Tâm thần học" theo tiếng Anh: Psychiatry

Pháp gọi là Psychiatric

Các nước nói tiếng Tây Ban Nha thì dùng từ Psyquiatria

Ở Việt Nam, một số tác giả đề nghị dùng cụm từ "Tâm bệnh học"để thay cho

“Tâm thần học” Tuy nhiên cho đến nay, thuật ngữ "Tâm thần học" vẫn được đang dùng một cách phổ biến

1.3 Nội dung nghiên cứu của tâm thần học:

1.3.1 Tâm thần học cơ sở:

+ Nghiên cứu các qui luật biểu hiện và phát triển của các triệu chứng rối loạn hoạt động tâm thần

+ Nghiên cứu nguyên nhân và cơ chế phát sinh các bệnh tâm thần

+ Nghiên cứu các nguyên tắc phân loại bệnh tâm thần

+ Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến diễn biến của bệnh tâm thần

+ Nghiên cứu các phương pháp thăm khám bệnh nhân tâm thần

+ Nghiên cứu các qui luật phục hồi chức năng tâm thần,

1.3.2 Tâm thần bệnh học:

Nghiên cứu các bệnh tâm thần riêng biệt và phương pháp điều trị các bệnh này như bệnh tâm thần phân liệt, rối loạn cảm xúc lưỡng cực, rối loạn tâm thần thực tổn, các rối loạn tâm căn, rối loạn dạng cơ thể,

Trang 3

1.3.3 Tâm thần học chuyên biệt:

Do sự phát triển của khoa học và kỹ thuật, do đòi hỏi của đời sống xã hội, do yêu cầu phát triển của y học nói chung, tâm thần học không ngừng mở rộng và phát triển phạm vi nghiên cứu Đến nay nhiều chuyên ngành tâm thần học khác nhau đã hình thành và phát triển như:

+ Tâm thần học trẻ em: nghiên cứu các bệnh tâm thần ở lứa tuổi nhỏ và lứa tuổi học đường

+ Tâm thần học người già: nghiên cứu các bệnh tâm thần ở người cao tuổi + Tâm thần học quân sự: nghiên cứu các đặc điểm bệnh tâm thần ở các binh

sĩ trong thời bình và thời chiến; nghiên cứu các phương pháp tổ chức vận chuyển, điều trị bệnh nhân tâm thần theo tuyến; nghiên cứu các phương pháp vệ sinh tâm thần trong quân đội

+ Tâm thần học pháp y: nghiên cứu các vấn đề giám định tư pháp tâm thần, những tiêu chuẩn mất năng lực chịu trách nhiệm hành vi trước pháp luật,

+ Các chuyên ngành giám định sức khỏe tâm thần, dịch tễ học tâm thần, tâm thần xã hội học, vệ sinh học tâm thần, dược lý học tâm thần, di truyền học tâm thần, miễn dịch học tâm thần, hình thái học bệnh tâm thần, đều có vị trí nhất

định trong Tâm thần học làm cho tâm thần học phát triển không ngừng

1.4 Đối tượng nghiên cứu của tâm thần học:

Có thể nói một cách ngắn gọn là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của Tâm thần học là bệnh tâm thần Người ta quan niệm bệnh tâm thần là sự biến đổi hoạt động của não, trong đó các phản ứng tâm thần mâu thuẫn gay gắt, sâu sắc với những mối quan hệ thực tế biểu hiện bằng các rối loạn về phản ánh thế giới thực tại qua cảm giác và tri giác, qua ý thức và tư duy, qua cảm xúc và tình cảm, qua sức chú

ý và trí nhớ và cuối cùng được biểu hiện bằng các rối loạn nhân cách, hành vi, tác phong làm cho người bệnh mất sự hoà hợp với xã hội và bị loại ra khỏi xã hội trở thành người bệnh tâm thần

2 Tầm quan trọng của các bệnh tâm thần

Người ta nhận thấy rằng: xã hội càng phát triển thì tỷ lệ người mắc bệnh tâm thần càng tăng Hiện nay theo thông báo của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) tỷ

lệ người mắc bệnh tâm thần ở các nước phát triển chiếm khoảng 10% dân số

Tỷ lệ này ở các nước khác nhau có sự thay đổi như: ở Mỹ là 10,2% dân số, ở Pháp là 9,2%, Bungari 12,1%, Liên Xô (cũ) là 9,8%,

Ở các nước đang phát triển, theo thông báo chưa đầy đủ của TCYTTG, tỷ lệ người mắc bệnh tâm thần chiếm 15 - 20% dân số

Ở Việt Nam, các nghiên cứu dịch tễ học tâm thần trong toàn quốc cho thấy tỷ

lệ người mắc bệnh tâm thần chiếm 10,4 - 16,6% dân số

Tổng số giường bệnh dành cho bệnh nhân tâm thần khá lớn, chi phí cho mỗi giường bệnh ngày càng tăng Ở Thụy Điển có 7 giường bệnh tâm thần/1000 dân;

Hà Lan và Mỹ có 4 giường bệnh tâm thần/1000 dân; Ba Lan có 2,3 giường bệnh

Trang 4

tâm thần/1000 dân; Anh có 1,8 giường bệnh tâm thần/1000 dân; Liên Xô (cũ) có 1,5 − 2 giường bệnh tâm thần/1000 dân còn Việt Nam chỉ có 1 giường bệnh tâm thần/ 8000 dân TCYTTG chủ trương phấn đấu trên toàn thế giới cần có 3 giường bệnh tâm thần /1000 dân

Trong những thập kỷ trước, người ta coi tỷ lệ giường bệnh tâm thần như là một chỉ tiêu đánh giá sự phát triển kinh tế - xã hội và tính nhân đạo của một quốc gia Nhưng trong những năm gần đây, do sự phát triển của y học và xã hội, nhiều quốc gia chủ trương đưa bệnh nhân tâm thần về điều trị tại cộng đồng, lồng ghép việc điều trị bệnh nhân tâm thần vào y tế cộng đồng, đảm bảo cho bệnh nhân được điều trị phục hồi chức năng tâm thần toàn diện hơn

Việc điều trị bệnh tâm thần chỉ bằng hoá dược là chưa đủ mà cần phải được điều trị toàn diện bằng các phương pháp tâm lý - xã hội khác nữa Mặt khác, việc chăm sóc, điều trị bệnh nhân tâm thần là trách nhiệm của mỗi gia đình và toàn xã hội chứ không phải chỉ riêng ngành y tế

Do vậy chủ trương đưa bệnh nhân tâm thần về điều trị tại cộng đồng vừa làm giảm bớt gánh nặng về sự gia tăng giường bệnh tâm thần cho xã hội và là xã hội hoá ngành Y tế nói chung và chuyên ngành tâm thần nói riêng

TCYTTG cũng đang khuyến khích thực hiện chủ trương đúng đắn này trong cộng đồng quốc tế Vì vậy hiện nay, bệnh tâm thần có vị trí quan trọng trong những vấn đề xã hội và y tế không kém gì bệnh ung thư và tim mạch

3 Mối liên quan của tâm thần học với các môn Y học khác

Tâm thần học có liên quan mật thiết với tất cả các môn Y học khác nhau như

sự liên quan hoạt động của hệ thần kinh với toàn bộ cơ thể sống Người ta thấy rằng: mọi bệnh cơ thể đều có thể gây ra rối loạn tâm thần, thí dụ như các rối loạn tâm thần thực tổn (ogranic mental disorders)

Ngược lại, tất cả các căng thẳng tâm lý hay các stress tâm thần đều có thể gây

ra một hoặc nhiều bệnh thực thể nào đó, thí dụ các bệnh cơ thể tâm sinh (psychosomatic diseases) như hen phế quản, loét dạ dày, vẩy nến,

3.1 Liên quan với thần kinh học:

Tâm thần học và thần kinh học là 2 môn học cùng nghiên cứu một đối tượng chung là bộ não và hệ thần kinh, nhưng dưới 2 góc độ khác nhau

+ Thần kinh học chuyên nghiên cứu những bệnh tổn thương thực thể ở hệ thần kinh và ở não Những tổn thương này gây ra các rối loạn chủ yếu trong chức năng tiếp thu (cảm giác) và chức năng thực hiện (vận động, trương lực, ) + Tâm thần học cũng nghiên cứu hệ thần kinh và bộ não nhưng chuyên về những rối loạn của hoạt động thần kinh cao cấp, của quá trình hoạt động tâm thần Có những rối loạn tâm thần do tổn thương thực thể ở hệ thần kinh, nhưng cũng có rối loạn tâm thần cho đến nay vẫn chưa tìm thấy những tổn thương cụ thể trong bộ não

Trang 5

3.2 Liên quan với nội khoa và các khoa lâm sàng khác:

Có thể nói rằng: bệnh tâm thần là một bệnh toàn thân, có mối liên quan quả với nhiều bệnh nội khoa và ngoại khoa khác nhau (thí dụ như các bệnh tim mạch, nội tiết, bệnh lao, ung thư đều có thể có rối loạn tâm thần rất đa dạng) Ngược lại, stress tâm lý có thể dẫn đến các bệnh nội khoa như loét dạ dày, hen phế quản, vẩy nến, cao huyết áp,

nhân-Bệnh nhân tâm thần có thể mắc các bệnh ngoại khoa như viêm ruột thừa, tắc ruột, thủng dạ dày, và thường gây ra nhiều khó khăn trong chẩn đoán vì người bệnh không không thể mô tả chính xác các cảm giác của mình

3.3 Liên quan với các môn y học cận lâm sàng:

Nhờ sự phát triển của các ngành hoá sinh học, hình thái bệnh học, miễn dịch học, di truyền học, điện sinh lý thần kinh, X quang, huyết học, mà Tâm thần học đã phát triển tiến bộ không ngừng về mọi mặt Ví dụ: nghiên cứu hoá sinh học thần kinh về các chất trung gian hoá học (catecholamin, serotonin, GABA), nghiên cứu về các amin của não, nghiên cứu về vitamin nhóm B, đã làm sáng

tỏ nhiều điều bí ẩn trong bệnh sinh của một số bệnh tâm thần khác nhau

4 Mối liên quan của tâm thần học với các môn khoa học xã hội

Người ta cho rằng: Y học là nơi hội tụ, kết hợp giữa các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Trong đó tâm thần học lại là sự kết hợp hài hoà, chặt chẽ giữa các khuynh hướng phát triển khoa học tự nhiên với khoa học xã hội, bởi

vì việc tìm hiểu căn nguyên, bệnh sinh và các quan điểm điều trị bệnh tâm thần phụ thuộc vào các quan điểm triết học và tâm lý học nhất định Đây là nơi đấu tranh gay gắt nhất và không khoan nhượng giữa các học thuyết về triết học và tâm lý học, giữa các quan điểm duy tâm và duy vật So với các môn y học khác thì tâm thần học gắn bó với một số môn khoa học xã hội rất chặt chẽ Trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau của quá trình phát triển, tâm thần học đã chịu sự chi phối của nhiều quan điểm triết học và tâm lý học khác nhau Do đó, mà người ta còn cho rằng: tâm thần học là một môn y học - một ngành khoa học tự nhiên nhưng mang đậm màu sắc xã hội, phản ánh tính nhân đạo, tính nhân văn, sự phát triển và tiến bộ của một xã hội Mối liên quan giữa tâm thần học với một số môn khoa học xã hội có thể tóm tắt như sau:

4.1 Liên quan với triết học:

Những vấn đề lớn trong tâm thần học như bản chất của tâm thần, mối liên quan giữa tâm thần và cơ thể, giữa tâm thần và môi trường xung quanh, giữa ý thức và tiềm thức, giữa hoạt động có ý chí và hoạt động bản năng, đều là những vấn đề mà triết học đặc biệt quan tâm

Các trường phái tâm thần học khác nhau trong các quốc gia khác nhau đều dựa trên những quan điểm triết học nhất định

Trang 6

Triết học duy vật biện chứng là cơ sở chủ đạo và định hướng cho các trường phái tâm thần học ở các quốc gia đi theo quan điểm triết học Mác-xít

4.2 Liên quan với tâm lý học:

Tâm lý học đại cương, tâm lý học y học là những môn cơ sở chủ yếu của tâm thần học Sự phát triển của và các môn tâm lý thực nghiệm cùng với những phương pháp của chúng đã đóng góp nhiều tư liệu khách quan trong chẩn đoán các bệnh tâm thần

4.3 Liên quan với giáo dục học:

Trẻ em chậm phát triển trí tuệ, trẻ em có các khuyết tật trong hoạt động tâm thần cần được điều trị kiên trì và công phu bằng các phương pháp giáo dục - y học chuyên biệt

Các thầy thuốc chữa bệnh bằng giáo dục - y học uốn nắn các rối loạn tính nết, lệch lạc hành vi, tác phong và dạy cho trẻ thiểu năng tâm thần học chữ, học nghề đơn giản, đồng thời cũng hướng dẫn và bồi dưỡng nhân cách cho những bệnh nhân có các rối loạn thần kinh và rối loạn nhân cách

4.4 Liên quan với tư pháp:

Bệnh nhân tâm thần có thể có những hành vi phạm tội như xâm phạm đến tài sản hoặc tính mạng người khác Những hành vi vi phạm pháp luật ấy ở người bình thường thì phải chịu sự xét xử của pháp luật Đối với bệnh nhân tâm thần,

họ phải qua sự giám định của thầy thuốc tâm thần xem họ có năng lực chịu trách nhiệm về hành vi của mình hay không, nếu có thì ở mức độ nào

Tư pháp còn có những qui định riêng cho người bệnh tâm thần về quyền công dân, quyền bầu cử, quyền sở hữu tài sản, quyền hôn nhân Thí dụ: Luật hôn nhân và gia đình của nước ta qui định trong khoản b điều 7 là "không nên kết hôn trong trường hợp người đang mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức hành vi của mình"

Ngoài các ngành khoa học nói trên, tâm thần học còn có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác về văn hoá nghệ thuật, kiến trúc, thống kê học, xã hội học, Do vậy, người thầy thuốc tâm thần phải có kiến thức sâu rộng không những trong các môn y học mà cả trong một số ngành khoa học - xã hội khác để tiến hành tốt công tác của mình

5 Tóm tắt lịch sử phát triển ngành tâm thần học

Có thể nói rằng lịch sử phát triển ngành tâm thần học là lịch sử phát triển các

tư tưởng định hướng tâm thần học, là lịch sử đấu tranh giữa một bên là các thái

độ tàn bạo, hành hạ, miệt thị người bệnh tâm thần và một bên là thái độ nhân đạo, cảm thông và giúp đỡ người bệnh tâm thần Các quan điểm này luôn đấu tranh gay gắt, phụ thuộc vào đại diện của các lực lượng xã hội khác nhau qua từng thời

kỳ lịch sử phát triển của xã hội loài người

Trang 7

Những quan điểm tiến bộ thời kỳ này mãi cho đến những năm giữa của thiên niên kỷ trước Công Nguyên mới được manh nha và phát triển Người ta tôn thờ một thầy thuốc người Hy Lạp - Hyppocrate (460-370 trước Công Nguyên) là người cha sáng lập ra nền y học hiện đại Ông đã mô tả các bệnh tâm thần, mô tả

4 loại khí chất ở người và cho rằng bệnh tâm thần là bệnh của bộ não Người ta đã phát hiện trên các sọ người cổ đại được khai quật có mang dấu vết những lỗ khoan sọ và cho rằng đó có thể là sọ người bệnh tâm thần được khoan để chữa bệnh

5.2 Thời kỳ Trung cổ:

Dưới sự thống trị của thiên chúa giáo và chế độ phong kiến, bệnh nhân tâm thần được coi là hiện thân của quỉ dữ hoặc là những tên phù thủy chống lại ý chúa Vì vậy người bệnh tâm thần bị truy nã khắp nơi, bị trừng phạt hết sức dã man, bị trói buộc bằng các gông cùm, xiềng xích, tra tấn tàn bạo, thiêu sống, bị dìm xuống nước, đưa lên các dụng cụ quay cho kiệt sức , một số khác còn bị treo cổ, hành hình Người ta ước tính có hàng ngàn người bị giết chết như vậy bởi nhà thờ thiên chúa giáo

Vào thế kỷ thứ XII, mặc dù đã có những cơ sở đầu tiên dành cho bệnh nhân tâm thần được xây dựng, song đó cũng chỉ là các trại tập trung trong các tu viện kín cổng cao tường Một số nơi còn nhốt chung bệnh nhân tâm thần với những phạm nhân tại các trại giam Một số nơi khác xây dựng các trại tập trung dành riêng cho người "điên" với chế độ quản lý hà khắc, tàn bạo và rất man rợ Mọi khuynh hướng nhằm giải thích bệnh tâm thần theo quan điểm duy vật đều bị đàn

áp tàn khốc

5.3 Thời kỳ từ cuối thế kỷ thứ XVIII và thế kỷ thứ XIX:

Số phận của người bệnh tâm thần được định đoạt một cách bi thảm trong thời Thượng cổ và Trung cổ, kéo dài dằng dặc cho đến cuối thế kỷ thứ thứ XVIII mới được cải thiện Những tư tưởng tiến bộ về tự do, nhân quyền của các nhà triết học duy vật đã có chỗ đứng và giáng những đòn quyết liệt vào triết học duy tâm, vào chế độ phong kiến và vào uy quyền của nhà thờ thiên chúa giáo trên mọi lĩnh vực chính trị, khoa học, văn học nghệ thuật,

Trang 8

Cuộc đại cách mạng tư sản Pháp (năm 1789) thành công là luồng sinh khí mới có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của khoa học y học nói chung và tâm thần học nói riêng Năm 1793, Philippe Pinel (1745-1826) là người đầu tiên đã xoá bỏ xiềng xích trói buộc cho những người bệnh tâm thần tại 2 trại người

"điên" là Bicêtre và Salpêtriere ở Pháp Ông đã cải tiến chế độ săn sóc cứu trợ, cải thiện hoàn cảnh sinh hoạt, phân loại sắp xếp người bệnh theo mức độ bệnh nặng hay nhẹ, chống những hành vi ngược đãi, tàn bạo, khinh thường người bệnh Ông yêu cầu đổi tên những trại người điên thành các bệnh viện tâm thần Tóm lại P Pinel đã mang "hơi ấm của tình người" đến cho bệnh nhân tâm thần Những tư tưởng và hành động cải cách tiến bộ của Ông thực sự là một cuộc cách mạng Ảnh hưởng của P Pinel lan rộng và được hưởng ứng ở nhiều nước Thời

kỳ này, tồn tại 2 trường phái tâm thần đối lập nhau đó là trường phái tâm hồn (psyche) và trường phái thể chất (soma)

Trường phái "tâm hồn" cho rằng: bệnh tâm thần là một bệnh của tâm hồn, không phụ thuộc gì vào thể xác Tâm thần bị rối loạn là sản phẩm của tội lỗi, của việc suy nghĩ ác độc Biện pháp điều trị là phải thuyết phục, phải "sửa chữa" tâm hồn

Trường phái "thể chất" cho rằng: bệnh tâm thần là kết quả của những biến đổi vật chất trong cơ thể, biến đổi các cơ quan nội tạng và ở não Các nhà tâm thần học và hình thái bệnh học như Griesinger, Rokitansky, Wirchow đã cố gắng đi tìm những ổ bệnh lý khu trú tại não ở bệnh nhân tâm thần

K.Kahlbaum (1828-1899) là người đầu tiên nghiên cứu tâm thần học lâm sàng có hệ thống, phân chia các rối loạn tâm thần thành các đơn vị bệnh lý độc lập theo các tiêu chuẩn cụ thể là:

+ Bệnh căn thống nhất

+ Hình ảnh giải phẫu bệnh lý và sinh bệnh học thống nhất

+ Biểu hiện lâm sàng thống nhất

Tiếp theo đó Emil Kraepelin (1856-1926) là nhà tâm thần học lâm sàng, người học trò xuất sắc nhất của K Kahlbaum đã dày công quan sát và đúc kết những qui luật tiến triển và kết thúc của nhiều bệnh tâm thần và dựa trên những qui luật đó để vạch ra ranh giới của từng bệnh riêng biệt

Tuy chưa có những quan niệm đầy đủ về bệnh loạn tâm thần hưng-trầm cảm

và bệnh tâm thần phân liệt nhưng E Kraepelin đã có những khái niệm cơ bản để phân biệt 2 loại bệnh này Ông cho rằng: "bệnh mất trí sớm" trước hết là rối loạn các chức năng nhận thức; còn loạn tâm thần hưng-trầm cảm về cơ bản là sự mất bình thường của khí sắc và thay đổi xen kẽ giữa 2 trạng thái hưng cảm và trầm cảm Ông còn chỉ ra rằng: bệnh loạn thần hưng-trầm cảm có khả năng tiên lượng tốt hơn bệnh mất trí sớm Việc hệ thống hoá các bệnh tâm thần theo đặc tính bệnh lý của E Kraepelin đã mở rộng khả năng nghiên cứu nguyên nhân, cơ chế

Trang 9

sinh bệnh và làm hoàn chỉnh các phương pháp điều trị dựa vào nguyên nhân và bệnh sinh

Năm 1894, Wundt đã có những nghiên cứu đầu tiên và đặt cơ sở cho phát triển tâm lý thực nghiệm

H Maudsley (1835 - 1918), người Anh đã sáng lập ngành tâm thần học pháp

y và tâm thần học trẻ em dựa trên cơ sở vận dụng học thuyết tiến hoá và các nguyên tắc thống nhất giữa cơ thể và môi trường, giữa sự thích ứng và phát triển Các nhà tâm thần học ở nước Nga cũng đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của tâm thần học trong giai đoạn này Năm 1857, Bộ môn tâm thần học đầu tiên được thành lập tại Petersburg Các nghiên cứu của I.P Merjeevsky về não nhỏ (microencephalia, 1872), nghiên cứu của V Kandinsky

về ảo giác giả (1880), đã đánh đấu những bước đi ban đầu của tâm thần học Nga Đặc biệt là nghiên cứu của X.X Korxakov về loạn tâm thần do rượu (1887) đã

mở đường cho nhiều nghiên cứu khác về loạn tâm thần thực tổn

5.4 Thời kỳ đầu thế kỷ thứ XX cho đến nay:

Ở hầu hết các nước trên thế giới, tâm thần học ngày càng phát triển mạnh mẽ,

có nhiều tiến bộ trong lĩnh vực tổ chức cứu chữa bệnh nhân tâm thần, trong lĩnh vực nghiên cứu lâm sàng tâm thần học và trong lĩnh vực điều trị học

5.4.1 Theo quan điểm của I Pavlov:

Những nghiên cứu về phản xạ có điều kiện của I Pavlov năm 1903 đã mở đường cho những hiểu biết quan trọng về cơ chế hoạt động tâm thần có cơ sở sinh lý hoạt động thần kinh cao cấp, cùng với các nghiên cứu chụp não bơm khí của Dandy (1918), nghiên cứu điện não của H Berger (1924) là những đóng góp quan trọng cho sự phát triển tâm thần học

Các nghiên cứu về bệnh mất trí tuổi già của Alzheimer (1907); nghiên cứu về rối loạn tâm thần do nhiễm khuẩn, nhiễm độc của Bonhoeffer (1912), nghiên cứu

về bệnh tâm thần phân liệt của E Bleuler (1911); các nghiên cứu của Janet về suy nhược thần kinh, nghiên cứu của Gannuskin về nhân cách bệnh đã làm phong phú thêm các hiểu biết về lâm sàng tâm thần học

Trong giai đoạn này, ngoài những tiến bộ trong lâm sàng và điều trị, các nhà tâm thần học vẫn chủ trương xây dựng và củng cố lý luận tâm thần học trên cơ sở

2 quan điểm triết học duy vật biện chứng và triết học duy tâm siêu hình (vốn thường xuyên đấu tranh không khoan nhượng với nhau, đại biểu cho 2 lực lượng

xã hội khác nhau)

Cơ sở khoa học của lý luận tâm thần học duy vật biện chứng là học thuyết

I Pavlov Ngược lại, cơ sở khoa học của lý luận tâm thần học duy tâm siêu hình là học thuyết S Freud

Trang 10

5.4.2 Theo quan điểm của S Freud:

Sigmund Freud (1865 - 1939) là bác sĩ người Áo Ông làm việc cùng thời với

E Kraepelin (1856 - 1926) Trong khi E Kraepelin nghiên cứu trên các bệnh nhân ở bệnh viện tâm thần quốc gia thì S Freud nghiên cứu ở các bệnh viện tư nhân và các bệnh nhân của Ông chủ yếu là những người thuộc tầng lớp quí tộc tại thủ đô Viên Phương pháp nghiên cứu của Ông khá rộng rãi trong một số bệnh tâm căn (neuroses) và đã phát hiện ra cơ chế đằng sau sự hình thành triệu chứng

ở loại bệnh này Ông đã đúc kết thành học thuyết mang tên mình về vấn đề phân tích tâm lí hay phân thần, phân tâm (psychoanalysis)

Theo quan điểm của S Freud thì hành vi của con người không những được quyết định bởi sự đánh giá đúng về thực tế khách quan do ý thức, mà còn được quyết định bởi những dục vọng tiềm ẩn, do những bản năng, do những xung đột giữa ý thức với những dục vọng bản năng không được thoả mãn Trong những dục vọng bản năng này, vai trò căn bản quan trọng nhất chi phối tất cả là bản năng tình dục

Con người từ khi mới sinh ra đã có những bản năng, bản năng thống trị ngay trong đứa trẻ và quyết định mối quan hệ của đứa trẻ với cha mẹ nó

Do cuộc sống xã hội loài người có tổ chức, có luật lệ, có những qui định của phong tục tập quán nên các dục vọng không thể thực hiện được, chúng bị dồn nén lại trong tiềm thức, người mang dục vọng không rõ được nội dung các dục vọng đó Các bản năng bị dồn nén ấy được biểu hiện trong các giấc mơ và dưới hình thức các triệu chứng bệnh

Muốn chữa được bệnh, cần phải đưa ra ánh sáng các dục vọng thầm kín bị dồn nén, đi sâu phân tích, tìm đoán ý nghĩa tượng trưng của những dấu hiệu bệnh lý bằng phương pháp phân tích tâm lý (psychoanalyse) Thí dụ: theo S Freud thì nghiện rượu là biểu hiện tình dục cùng giới, bệnh tâm thần phân liệt là biểu hiện tình dục với chính bản thân mình và tự say mê mình, trầm cảm chu kỳ

là nỗi buồn nhớ về một thời nằm trong bụng mẹ là thời kỳ hạnh phúc nhất của cuộc sống con người,

Đáng chú ý là học thuyết Freud dựa hoàn toàn vào quan điểm duy tâm siêu hình của Nietzche Theo Nietzche thì động lực làm cho thế giới phát triển là "Ý chí muốn có quyền lợi" Nietzche đề ra luận điểm những dục vọng có quyền lợi thể hiện trong những giấc mơ của con người

Học thuyết Freud có ảnh hưởng rất lớn ở các nước phương tây, đặc biệt là ở

Mỹ từ những năm 1940 - 1970 Ảnh hưởng của thuyết phân thần mạnh đến nỗi người ta không thể có một vị trí lý luận nào nếu họ không phải là một tín đồ thực

sự của học thuyết này

Ảnh hưởng của học thuyết Freud to lớn như vậy không phải vì tính chất khoa học của nó mà do những quan điểm của S Freud phù hợp với ý thức hệ của giai cấp thống trị trong xã hội tư bản Nó chỉ ra rằng nguồn gốc cực khổ của con

Trang 11

người không phải do bóc lột mà là do bản chất tâm lý sâu xa của con người, do những dục vọng bản năng bị dồn nén, do tiềm thức của con người,

Học thuyết Freud không có các chứng cứ khoa học xác thực mà dựa trên cơ

sở tôn giáo siêu hình, do đó mà sau này chính những người học trò của Ông đã chỉ trích lại Ông và cải biên một số điểm cho phù hợp với thực tại được mệnh danh là "tân Freud"

Thí dụ: Adler không công nhận bản năng tình dục là quan trọng nhất mà là ý chí muốn có quyền lực, nhưng đó vẫn chỉ là sự biến tướng của Freud Vai trò chủ đạo trong các luận thuyết này vẫn là vai trò của tiềm thức, vô thức trong đời sống con người Ở Mỹ, trong vòng hơn một thập kỷ qua, sự tôn thờ quá mức học thuyết Freud cũng giảm dần Hiện nay, nếu người ta chỉ tin vào phân tích tâm lý thì sẽ không thể đạt được một học vị nào trong ngành tâm thần học Mỹ

Tuy nhiên, công bằng mà nói thì S Freud đã cung cấp cho chúng ta một phương pháp minh hoạ có giá trị về sự phát triển và động thái của nhân cách Ông cũng hình thành những khái niệm bổ ích trong việc giải thích hành vi bệnh

lý và chức năng tượng trưng của một số triệu chứng

Về mặt kỹ thuật điều trị thì lý thuyết phân thần của S Freud thất bại hoàn toàn Mặc dù vậy, một số nhà tâm thần học ngày nay không coi tâm căn là một bệnh mà chỉ là sự không thành công trong phương pháp giải quyết những vấn đề của cuộc sống, cho nên kỹ thuật về liệu pháp tâm lý của S Freud vẫn còn có giá trị nhất định

Ngoài ra, người ta còn nhận thấy những trường phái tâm thần khác như trường phái tâm lý học chiều sâu, Học thuyết sinh tồn và nhân chủng, trường phái sinh học, trường phái triết trung, trường phái tâm thần động học đã làm phong phú thêm kho tàng lý luận trong Tâm thần học Song, điều đó cũng cho thấy rằng những quan niệm về bệnh tâm thần, về bệnh căn, bệnh sinh, về phương pháp điều trị cho đến nay vẫn chưa hoàn toàn thống nhất Do đó nhiệm

vụ của các nhà tâm thần học hiện nay cũng như trong tương lai vẫn phải tiếp tục

nghiên cứu và chứng minh

5.4.3 Về những quan điểm điều trị tiến bộ:

Về phương diện điều trị bệnh tâm thần trong giai đoạn này với nhiều phương pháp khác nhau đã đạt nhiều tiến bộ có tính chất nhảy vọt:

+ Năm 1917, W V Jauregg đề xuất gây cơn sốt rét điều trị bệnh liệt tuần tiến

do giang mai

+ Năm 1934, Sakel (Áo) dùng phương pháp sốc insuline

+ Năm 1935, V Meduna (Hungari) gây cơn co giật bằng thuốc cardiazon + Năm 1938, Cerletti (Ý) gây cơn co giật bằng điện

+ Năm 1949, V A Giliarovsky dùng máy gõ nhịp gây ngủ

+ Ngoài ra còn có một số biện pháp khác được thực hiện để điều trị bệnh nhân tâm thần như: Cloetta gây ngủ bằng thuốc

Trang 12

+ H Laborit đề xuất phương pháp điều trị bệnh nhân tâm thần bằng đông miên kết hợp với liều thuốc cocktailytique đã làm cho tâm thần học thay đổi bộ mặt một cách cơ bản

5.4.4 Sự ra đời của các thuốc hướng tâm thần:

Sự ra đời thuốc của an thần kinh lần đầu tiên đã đánh dấu một mốc son cho

sự phát triển của kỷ nguyên mới các thuốc hướng thần

Năm 1949, Charpentier đã tổng hợp thành công chlorpromazin Năm 1952, các nhà tâm thần học Pháp J Delay và J Deniker, lần đầu tiên sử dụng chlorpromazin vào lâm sàng tâm thần cho kết quả tốt đã mở ra một thời kỳ mới dùng thuốc chữa bệnh tâm thần như các bệnh nội khoa khác Từ đó, người ta liên tiếp tổng hợp được nhiều loại thuốc hướng tâm thần khác nhau

Ngành dược lý học tâm thần ra đời đã đem lại những kết quả kỳ diệu trong điều trị bệnh tâm thần Ngành tâm thần đã chuyển sang bước ngoặt mới Trên cơ

sở tác dụng của thuốc hướng tâm thần nhiều phương pháp điều trị khác nhau đã

ra đời và phát huy tác dụng như liệu pháp tâm lý, liệu pháp lao động và các liệu pháp tái thích ứng xã hội khác làm cho bệnh nhân tâm thần ngày càng được điều trị toàn diện hơn

Liệu pháp hoá dược là một biện pháp chữa bệnh tâm thần quan trọng, trong

đó chlopromazin là thuốc đầu tiên Nếu hành động "phá xiềng cho người bệnh tâm thần" của P Pinel được xem là cuộc cách mạng thứ nhất trong tâm thần học thì sự xuất hiện của thuốc chlopromazin được xem là cuộc cách mạng thứ hai Liệu pháp hoá dược đã làm thay đổi hẳn bộ mặt của tâm thần học như:

+ Về kiến trúc bệnh viện tâm thần, hệ thống mở đã thay thế hệ thống kín, làm mất ấn tượng bệnh viện tâm thần là một nhà tù Có thể xây dựng bệnh viện tâm thần ngay giữa nơi dân cư đông đúc, gần gũi với nhân dân

+ Cho phép giảm số bệnh nhân nội trú, giảm số ngày nằm viện và đại đa số bệnh nhân có thể được điều trị ngoại trú với kết quả tốt

+ Đã thu hẹp phạm vi của liệu pháp sốc điện đến mức thấp nhất

+ Đã cải thiện mối quan hệ thầy thuốc với bệnh nhân, bệnh nhân với bệnh nhân, bệnh nhân với gia đình và láng giềng Nhờ đó, bệnh nhân tâm thần có thể được gia đình và cộng đồng chấp nhận ngày càng nhiều hơn

+ Đã thật sự làm giảm được sự đau khổ cho người bệnh tâm thần, duy trì được khả năng lao động, làm giảm được các hành vi nguy hại, đỡ được một phần gánh nặng cho gia đình và xã hội

5.4.5 Những quan niệm mới trong tâm thần học:

Từ năm 1960, tâm thần học có một bước chuyển quan trọng về xây dựng mô hình tổ chức cứu chữa bệnh tâm thần và chăm sóc sức khoẻ tâm thần (CSSKTT) trên cơ sở lồng ghép với y tế cộng đồng như:

Không xây dựng các bệnh viện tâm thần lớn và tập trung nữa mà xây dựng các bệnh viện tâm thần cỡ nhỏ và trung bình 100 - 500 giường bệnh ở gần khu vực dân cư

Trang 13

Giải toả các cơ sở nội trú gò bó, đưa tối đa bệnh nhân tâm thần trở về với gia đình, giảm giường bệnh nội trú

Với các chủ trương trên đã xuất hiện 2 loại mô hình tổ chức CSSKTT:

Khu vực tâm thần học (secteur de psychiatrie gennerale) ở Pháp

Khu vực dịch tễ học (epidemiological catchment area - ECA) ở Mỹ

* Khu vực tâm thần:

+ Khu vực tâm thần học, tương ứng với một khu vực địa lý với dân số 67.000 dân theo thông tư ngày 15 tháng 3 năm 1960 - Cộng hoà Pháp

+ Khu vực tâm thần học được xác định bởi 4 tiêu chuẩn:

- Về địa lý: là khu vực quản lý một số dân cư nhất định

- Về bệnh: các bệnh tâm thần, nghiện rượu, nghiện ma tuý

- Về chính sách y tế: phát hiện sớm, phòng bệnh và chăm sóc sau khi ra viện

- Thực hiện CSSKTT: có nhiều bộ môn tham gia như bác sĩ tâm thần, cán bộ tâm lý lâm sàng, cán sự xã hội, y tá tâm thần

Mỗi khu vực tâm thần có một khoa nội trú 50 giường tại một bệnh viện tâm thần gần nhất

+ Xây dựng khu vực tâm thần học nhằm 3 mục đích:

- Làm cho mọi công dân có thể được chăm sóc có chất lượng ở gần nhà mình nhất

- Tránh việc nằm viện hoặc tái nằm viện bằng cách hướng các cố gắng vào việc phòng bệnh và điều trị sau đợt nằm viện

- Cải thiện các điều kiện nằm viện và nhất là chuyển các nhân viên gác bệnh nhân thành y tá

+ Tương đương với 2 khu vực tâm thần chung, có một khu vực tâm thần trẻ em

* Khu vực dịch tễ học (ECA):

Khu vực Dịch tễ học (ECA) được thành lập ở Mỹ năm 1963, quản lý một khu vực địa lý với 200.000 dân Nhiệm vụ cũng tương tự như của khu vực tâm thần của Pháp Đây là mô hình CSSKTT tiên tiến nhưng chỉ có thể áp dụng cho các nước giàu:

+ Về cơ sở tâm thần: về số giường bệnh tâm thần (một giường bệnh tâm thần cho 1.000 dân)

+ Về nhân lực: có ê kíp tâm thần hoàn chỉnh gồm bác sĩ tâm thần chuyên khoa sâu các loại, cử nhân tâm lý lâm sàng, cán sự xã hội và y tá tâm thần

+ Về kinh phí: theo nghiên cứu mới đây của GS Domathy Rice, ở Mỹ năm

1990, kinh phí cho bệnh nhân tâm thần là 148 tỷ đô la, cho lạm dụng rượu là 99

tỷ đô la, cho nghiện ma túy là 67 tỷ đô la

+ Kinh phí dành cho bệnh trầm cảm bằng kinh phí cấp cho các bệnh tim mạch

Trang 14

5.4.6 Tổ chức mạng lưới CSSKTT trẻ em trong nhà trường phổ thông:

Theo tài liệu của Mỹ (Susan G Keys và CS), các trường học đang nhận ra rằng việc cộng tác với các ngành khác trong cộng đồng là cần thiết trong việc CSSKTT cho học sinh trong nhà trường Người ta cũng đề nghị tăng cường các dịch vụ CSSKTT trong nhà trường và có thể tư nhân hoá các dịch vụ này

Có 3 cơ cấu của mô hình mạng lưới:

* Đội CSSKTT:

Đội này phải đảm bảo chương trình, do tư vấn của nhà trường lãnh đạo và phải gặp nhau đều đặn để thực hiện các mục tiêu:

+ Xác định những nhu cầu của nhà trường, gia đình và xã hội

+ Chỉ rõ ra những mục tiêu nhiệm vụ của các bên

+ Phát triển chương trình điều phối cho các ban ngành trong phạm vi nhà trường và giữa các trường với đại cộng đồng

+ Đề xuất các kế hoạch mới

+ Giám sát liên lạc giữa các ban, ngành và các chương trình cho học sinh, cán

bộ trường học, các gia đình, các cơ quan trong cộng đồng và các thể chế xã hội + Đưa ra những kiến nghị đổi mới ở trường học, cơ quan và chính sách của chính phủ

+ Thành lập các nhóm phát triển chương trình: đây là mô hình cơ cấu thứ 2

mà tư vấn nhà trường chịu trách nhiệm thành lập và điều phối

+ Nếu đội CSSKTT mở rộng mục tiêu can thiệp từ học sinh đến các gia đình thì nhóm phát triển chương trình sẽ phải lập kế hoạch cho cộng đồng, nó bao gồm:

- Đưa ra một chiến lược cho những người lãnh đạo đã được chỉ định trong hội phụ huynh

- Yêu cầu sự giúp đỡ của các đơn vị kề cận trong cộng đồng như cơ quan công an, công viên, nơi giải trí, nhà thờ,

- Tiến hành họp với thành viên gia đình để đảm bảo các gia đình có quyền đánh giá vấn đề và có quyền đề nghị

- Nhóm phát triển chương trình trình bày kế hoạch cho đội CSSKTT xem xét lại, đóng góp ý kiến và quyết định thời gian thực hiện

- Sau khi đánh giá những yêu cầu, nhóm phát triển chương trình sẽ đưa ra những can thiệp để giúp đỡ các gia đình có vấn đề, tạo dựng mối quan hệ khăng khít hơn giữa nhà trường và gia đình

- Trước khi thực hiện kế hoạch, đội CSSKTT sẽ xem lại kế hoạch, đưa ra ý kiến thảo luận và quyết định thủ tục theo dõi tiến hành kế hoạch

Trong mô hình tổ chức này, đội CSSKTT sẽ giám sát tất cả mọi mặt của nhóm phát triển chương trình

+ Đội quản lý các trường hợp học sinh có vấn đề về SKTT:

- Đây là cơ cấu thứ 3 trong cấu trúc chương trình Đội quản lý bao gồm:

Trang 15

Các nhân viên quản lý, tư vấn nhà trường, nhà Tâm lý học, y tá nhà trường, giáo viên, đại diện của cơ sở SKTT địa phương và các cơ quan khác

Phụ huynh học sinh cũng tham gia vào đội quản lý này

Đội quản lý học sinh xem xét từng trường hợp do nhà trường, phụ huynh và các cơ quan chức năng khác gửi đến và đưa ra kế hoạch hành động có sự phối hợp giữa các ban ngành và theo dõi sự thực hiện kế hoạch

Đội quản lý học sinh có thể do đội CSSKTT trực tiếp thực hiện hoặc hoà nhập vào hiệp hội trợ giúp học sinh nhà trường,

Ví dụ: các tác giả Australia (L T Blume, J Sara và K Kirkby) nêu dự án quốc gia mới được thử nghiệm:

Mục đích của dự án là gắn kết sự tiếp cận của nhà trường để tăng cường SKTT và phòng chống tự sát ở các trường PTTH

Thông qua các nhóm hoạt động có hiệu quả gồm: giáo dục đào tạo, y tế và các cơ sở SKTT cấp nhà nước, trường học các địa phương và cộng đồng

Nhóm hoạt động sẽ phối hợp với nhau để đảm bảo phục vụ cho những học sinh có nguy cơ về SKTT như: việc chuyển đi viện, điều trị và theo dõi tiếp theo Các tác giả Australia khác (R Galbally và C Borthwick) nêu về tổ chức tăng cường SKTT ở tỉnh Victoria: tổ chức này có nhiệm vụ thiết kế các chương trình đầu tiên về SKTT ở các trường tiểu học Họ xây dựng trên 3 mô hình thí điểm trong 150 trường học

- Chương trình này nhằm:

Thiết kế một bộ khung nhằm giúp đỡ các nhà trường làm việc theo chiều hướng trở thành tổ chức tăng cường SKTT

Để tạo ra một mạng lưới tổ chức tăng cường cho việc CSSKTT

Để tăng thêm sự hiểu biết về CSSKTT học đường

Cơ sở y tế CSSK ban đầu tại địa phương và gia đình

Ví dụ: ở Thái Lan có hình thức hội CSSKTT học đường, bao gồm các thành phần tham gia như:

Bệnh viện: khoa tâm thần thanh thiếu niên, khoa tâm thần cộng đồng, có nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu và phục vụ học sinh ở các trường học

Nhà trường: gồm hiệu trưởng, giáo viên tham vấn và hướng dẫn học sinh, giáo viên giảng dạy đặc biệt cho các trẻ em khiếm khuyết về tâm thần

Gia đình: để thực hiện công việc cụ thể cho CSSKTT, họ thành lập những

đội công tác bao gồm những giáo viên, nhà tâm thần học và cha mẹ học sinh

+ Mục tiêu công tác CSSKTT:

- Phòng các vấn đề về SKTT: cần giáo dục rộng rãi cho các phụ huynh, giáo viên và học sinh

- Chữa bệnh: cần giải quyết bằng liệu pháp sinh học, tâm lý, tâm lý và xã hội

* Vai trò của giáo viên trong nhà trường:

+ Có kỹ năng phát hiện vấn đề về hành vi của học sinh

Trang 16

+ Có kỹ năng giải quyết các trường hợp cụ thể theo chiến lược và phương pháp đúng

+ Nếu trường hợp có vấn đề về SKTT nặng thì học sinh phải được gửi đi bệnh viện

* Vai trò của nhà tâm thần học:

+ Tham vấn với nhân viên nhà trường

+ Hướng dẫn, tư vấn cho giáo viên và phụ huynh học sinh

+ Giải quyết và điều trị cho trẻ em bị bệnh nặng

5.4.7 Lồng ghép chăm sóc sức khoẻ tâm thần với công tác giáo dục:

* Ở Australia:

Các tác giả R.Galbally, C.Borthwick nhận thấy rằng: tăng cường sức khoẻ học đường là tăng cường sức khoẻ thông qua việc lập kế hoạch và sử dụng một chương trình giảng dạy đổi mới với quan điểm con người là một thể thống nhất Cung cấp cho giáo viên có đủ thời gian để bao quát các vấn đề sức khoẻ, khuyến khích những lối sống lành mạnh và sử dụng kỹ thuật giảng dạy thích hợp Nó làm cho học sinh có thể hướng tới có tiềm năng đầy đủ về sức khoẻ thể chất, tâm thần

và xã hội Nó cho phép học sinh hoạt động và tự nâng cao hiểu biết về sức khoẻ

và từ đó coi trọng sức khoẻ

Các tác giả cũng nêu ra chiến lược SKTT trong nhà trường là yếu tố chủ chốt của thanh thiếu niên Điều thiết yếu của SKTT là phải lồng ghép vào y tế cộng đồng chung của nhà trường

Nếu theo giáo dục sức khoẻ truyền thống, coi giáo dục sức khoẻ giới hạn trong lớp học thì việc tăng cường SKTT trong nhà trường hiện nay có tầm nhìn rộng hơn, bao gồm tất cả những khía cạnh của cuộc sống trong nhà trường và mối quan hệ trong cộng đồng xã hội

Nếu nhấn mạnh giáo dục vệ sinh cá nhân học đường thì cần tăng cường hơn nữa giáo dục SKTT dựa trên mô hình về sức khoẻ cơ thể - tâm thần - xã hội và môi trường

+ Theo các tác giả khác như: G C Patton, L Bond và H Butler cần có sự tiếp cận có hệ thống để tăng cường SKTT trong các nhà trường PTTH ở Australia

+ Chương trình này được lồng ghép vào chương trình giáo dục chính và liên kết giữa nhà trường với cộng đồng, đặc biệt chú ý đến nhu cầu của các học sinh đang có vấn đề về SKTT ở trường học

* Ở Thái Lan:

+ Theo N.Sakdi, M.A.Talabhat (1979) đã có đề án lồng ghép CSSKTT cộng đồng vào chương trình giáo dục Đề án đã liên kết giữa các trung tâm SKTT với các trung tâm giáo dục hướng nghiệp

Trang 17

+ Mục tiêu của đề án là giáo dục SKTT giúp cho các giáo viên và học sinh có thể ứng dụng kiến thức vào trong đời sống hàng ngày, làm sao để mọi người hiểu khái niệm về " sức khoẻ tâm thần "

+ Nội dung lồng ghép của đề án bao gồm:

- Sức khoẻ tâm thần trong đời sống hàng ngày

- Động lực nhóm trong mối quan hệ của con người

- Quá trình phát triển trong những giai đoạn sống

- Ảnh hưởng của gia đình trong phát triển nhân cách

- Những stress và sự thích ứng với stress

- Ảnh hưởng của giáo viên đối với học sinh

- Rối loạn ứng xử, trí tuệ và sự thích ứng

- Kỷ luật và sự phát triển của trẻ em

6 Sự phát triển tâm thần học ở Việt Nam

6.1 Tóm tắt về lịch sử phát triển tâm thần học ở Việt Nam:

Cũng như trong lịch sử loài người, ở nước ta bệnh tâm thần xuất hiện từ khi

có con người trong những bộ lạc, thị tộc đầu tiên Khi có bệnh tâm thần tất nhiên

là có thầy thuốc và có phương pháp chữa bệnh

Chỉ tiếc rằng do việc biên soạn, ấn loát của ông cha ta chưa phát triển, việc lưu trữ gặp nhiều khó khăn, qua nhiều thời kỳ chiến tranh dựng nước và giữ nước nên đến nay các tài liệu sưu tầm được quá ít

Tuệ Tĩnh (thế kỷ thứ XV) đã nghiên cứu các bệnh thuộc tâm, các chứng mất ngủ, điên cuồng, kém trí nhớ Ông đã có những khái niệm phân biệt điên và cuồng Điên là vui, cười nói năng rối loạn, do tâm huyết không đủ mà phát ra nên điều trị bằng an thần dưỡng huyết Cuồng là nói sai, làm sai, không còn lý trí, chạy nhảy, làm càn do đàm hoả thịnh mà phát ra, nên điều trị bằng thanh hỏa hạ đàm, lợi đại tiện, không ăn no Ông đã dùng thuốc nam, cây cỏ để trị các bệnh lo

sợ, bực tức, cuồng nhiệt, cười nói vô cớ, nói về ma quỉ,

Hải Thượng Lãn Ông (thế kỷ thứ XVIII) đã luận bàn nhiều về y lý, về tâm và thần, về phương pháp tiết dục, về phương pháp an thần bổ tâm, an thần dưỡng tâm Ông đã sử dụng cách chữa bằng tình chí để chữa cho các bệnh nhân rối loạn thất tình mà sinh ra

Do ảnh hưởng của tôn giáo và phong kiến nên tổ tiên ta cũng không thoát khỏi những quan điểm duy tâm thần bí về bệnh tâm thần Quan niệm cho bệnh nhân tâm thần là do ma quỉ, do âm khí, do tà thuật nên chữa bệnh bằng cúng lễ, lên đồng, đuổi ma quỉ, bằng uống tàn hương nước thải, đánh bằng roi dâu, tạt nước

tiểu vào mặt, Đến nay ở một số địa phương vẫn tồn tại những hiện tượng này

Trang 18

6.2 Thời kỳ thực dân Pháp đô hộ:

Trong thời kỳ thực dân pháp thống trị, việc điều trị bệnh tâm thần chưa được quan tâm Môn Tâm thần học không có trong chương trình giảng dạy ở trường Đại học Y khoa Hà Nội và không có một bác sĩ chuyên khoa tâm thần nào Các nhà thương Biên Hoà, nhà thương Vôi ở Bắc Giang và khu "trại điên"

ở Bạch Mai - Hà Nội thực chất là nơi giam giữ người "điên" để khỏi phá rối trật tự xã hội Những người điên bị nhốt trong các phòng chật hẹp và hôi thối, trần truồng, tranh nhau những nắm cơm ném qua lỗ hở đục ở cửa Nhiều bệnh nhân chết ở đây không có tên tuổi mà được gọi bằng các con số Khi kích động được sử dụng roi vọt, dây trói, áo trói, cùm chân tay,

Dưới thời thuộc Pháp, cả nước ta có 2 cơ sở tâm thần được xây dựng theo kiểu tập trung Ở miền Nam, có Bệnh viện tâm thần Biên Hoà xây dựng từ năm

1915 với nhiều đợt tu bổ và phát triển thêm Bệnh viện hoạt động cho đến ngày nay Năm 1975 có tới 1800 giường bệnh, thu dung bệnh nhân của tất cả các tỉnh miền Nam Tỷ lệ bệnh tâm thần ở Việt Nam hiện nay là khoảng 20% Vấn đề đặt

ra là phải giải quyết sao cho phù hợp về việc quản lý và chăm sóc SKTT ở một nước có thu nhập thấp như nước ta hiện nay

6.3 Chính sách chung lâu dài:

+ Không xây dựng các bệnh viện lớn tập trung, mà xây dựng các bệnh viện tâm thần của tỉnh cỡ nhỏ và trung bình: 100 - 300 - 500 giường bệnh tùy theo số dân của từng địa phương

+ Tổ chức hệ thống khám bệnh tâm thần ngoại trú ở tuyến quận, huyện và xã, phường để người dân có nhu cầu tư vấn có thể tiếp cận được dễ dàng hơn với tổ chức chăm sóc SKTT và với tổ chức chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở cộng đồng + Tiến tới quản lý, chăm sóc và cứu chữa tất cả các loại bệnh tâm thần

6.4 Chính sách trong giai đoạn trước mắt:

+ Mở rộng dần phạm vi quản lý chăm sóc từ các bệnh tâm thần cần chú ý đặc biệt đến tất cả các bệnh tâm thần khác, từ mức độ chăm sóc thấp đến trình độ chuyên khoa sâu

+ Sử dụng bác sĩ đa khoa được tập huấn chuyên khoa tâm thần ngắn hạn để phục vụ bệnh nhân tâm thần, lồng ghép công tác CSSKTT vào mạng lưới y tế cơ

sở Việc tập huấn chuyên khoa được tổ chức thực hiện hàng năm

+ Biện pháp này đã được làm thử ở một số xã, phường thấy có khả năng thực thi hiệu quả và kinh tế

Trang 19

NGUYÊN NHÂN CÁC BỆNH TÂM THẦN

Nguyễn Văn Ngân Ngô Ngọc Tản

1 Đặc điểm chung

Nguyên nhân các bệnh tâm thần là vấn đề phức tạp Những giả thuyết về nguyên nhân bệnh tâm thần chưa được chứng minh cụ thể Mối liên quan giữa nguyên nhân và hậu quả của bệnh tâm thần cũng chưa xác định được rõ ràng Việc gây bệnh tâm thần thực nghiệm trên súc vật chưa làm được và gặp nhiều khó khăn vì chỉ có con người mới có tình cảm, ngôn ngữ và có sự lao động sáng tạo bằng công cụ do chính mình làm ra Cho đến nay còn nhiều bệnh tâm thần chưa rõ nguyên nhân Vì vậy, trong tâm thần học còn tồn tại các quan điểm, các học thuyết khác nhau, đôi khi còn trái ngược nhau về nguyên nhân các bệnh tâm thần

Vấn đề bản chất của bệnh tâm thần ở những thời kỳ lịch sử khác nhau bao giờ cũng có xu hướng phù hợp với quan điểm triết học của thời kỳ đó Sự đối lập giữa 2 quan điểm cơ bản duy vật và duy tâm về nguồn gốc và bản chất của loạn tâm thần trong tâm thần học thế giới cho đến nay vẫn còn gay gắt

Quan điểm duy tâm cho rằng chỉ có thể tìm thấy bản chất của bệnh tâm thần trong tâm hồn con người Đó là các biến đổi tâm lý tách rời khỏi thể chất

S Freud nhấn mạnh sự dồn nén các dục vọng vào tiềm thức (nhất là tình dục)

là nguyên nhân của các bệnh tâm thần Ông cho rằng: những thúc đẩy tình dục bị

xã hội, đạo đức xem là nguy hiểm đến bản ngã (ego) và siêu ngã (superego) nên

đã bị đẩy lùi vào cõi vô thức Trong cõi vô thức, các đòi hỏi bị dồn nén, liên kết với nhau tạo thành các mặc cảm Mặc cảm là toàn bộ các biểu tượng được liên kết với nhau, bị dồn nén mà tạo lên chiêm bao và bệnh tâm thần Các mặc cảm không chịu ở nguyên trong vùng vô thức Các dục vọng bị dồn nén đã tìm cách

"trả thù" bằng sự xuất hiện dưới hình thức của ý thức và tượng trưng sự giải toả trá hình Người bệnh tâm thần có cách giải toả trá hình cho những dục vọng bị dồn nén như nói nhịu, chiêm bao Thầy thuốc có thể giúp cho bệnh nhân giải toả thực sự các mặc cảm bằng phương pháp phân tâm (psycho-analyse)

Quan điểm duy vật xem bệnh tâm thần gây ra do sự rối loạn hoạt động của não Khuynh hướng duy vật nghiên cứu bệnh căn của các bệnh tâm thần trên quan điểm "Quyết định luận" (déterminisme) Theo quan điểm này, bệnh tâm thần phải do một nguyên nhân nhất định nào đó gây ra Nguyên nhân của một bệnh tâm thần có thể có một nhưng cũng có thể có nhiều Tuy có nhiều nguyên nhân nhưng vẫn có các nguyên nhân chính và nguyên nhân phụ trợ thúc đẩy quá trình phát bệnh nhanh chóng hơn

Sự xuất hiện của bệnh tâm thần cũng như các loại bệnh khác là hoàn cảnh tác động của nguyên nhân gây bệnh có ý nghĩa quyết định Hoàn cảnh đó bao gồm những điều kiện bên trong và bên ngoài cơ thể Sự phát sinh, tiến triển và kết

Trang 20

thúc của bệnh phụ thuộc vào tác động qua lại của những nguyên nhân, những ảnh hưởng của các yếu tố môi trường bên ngoài và phụ thuộc vào trạng thái của từng

cơ thể Thí dụ: rối loạn tâm thần do chấn thương sọ não thì có bệnh nhân bị chấn thương rất nặng mà rối loạn tâm thần lại nhẹ, ngược lại có bệnh nhân tổn thương não thì nhẹ mà rối loạn tâm thần lại nặng nề vô cùng Nói tóm lại, sự phát sinh, tiến triển và kết thúc của bệnh tâm thần phụ thuộc vào các mối quan hệ của những tác nhân bên ngoài và bên trong cơ thể

Yếu tố nội sinh là các trạng thái thể chất và sinh lý của cơ thể, bao gồm: + Loại hình hoạt động thần kinh cao cấp của mỗi cá thể

+ Trạng thái của loại hình thần kinh trong lúc có tác động gây hại

+ Giới tính của cá thể

+ Lứa tuổi của cá thể

+ Các nhân tố di truyền gồm: các mầm mống di truyền, gen di truyền, đặc điểm miễn dịch - sinh học, đặc điểm phản ứng cơ thể,

Ý nghĩa của tác nhân ngoại sinh và nội sinh ở trong các bệnh tâm thần và ở mỗi cá thể là rất khác nhau Thí dụ: đối với rối loạn tâm thần do chấn thương sọ não thì tác động trực tiếp từ bên ngoài chiếm ưu thế Ngược lại, đối với rối loạn tâm thần nhiễm khuẩn thì các phản ứng nội sinh của cơ thể chiếm ưu thế Các yếu tố này gây ra sốt cao, nhiễm độc và xuất hiện các triệu chứng đa dạng như: hội chứng mê sảng, hội chứng lú lẫn, hội chứng suy nhược thần kinh và cơ thể Trong một số bệnh tâm thần khác thì diễn biến của bệnh cũng không phù hợp với nguyên nhân sinh ra nó như: bệnh tâm thần phân liệt chẳng hạn thì các hiện tượng bệnh lý dường như do trạng thái sinh lý cơ bản của bệnh tự phát sinh mà không xác định được rõ rệt Do vậy, có thể khẳng định rằng yếu tố nguyên nhân gây rối loạn tâm thần là có, nhưng không phải bao giờ cũng quyết định toàn bộ

sự phát triển của bệnh

Trong nhiều trường hợp nguyên nhân gây bệnh chỉ là yếu tố phát động khởi đầu của bệnh Về sau, sự tiến triển của quá trình bệnh lý cùng với những biến dạng hoặc biến chứng của bệnh diễn ra trong giới hạn của những qui luật nhất định không có liên quan gì với nguyên nhân ban đầu gây ra bệnh Điều này thường xảy ra với các bệnh tâm thần phân liệt và động kinh

2 Nguyên nhân của một số bệnh tâm thần

Sau khi nghiên cứu và khẳng định sự tác động qua lại phức tạp và tinh tế giữa các yếu tố ngoại sinh và nội sinh, chúng ta hãy tìm hiểu đặc điểm của một số nguyên nhân chủ yếu có thể gây ra bệnh tâm thần

2.1 Nguyên nhân do nhiễm khuẩn:

Các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính và mạn tính đều có thể gây ra rối loạn tâm thần Nhiễm khuẩn có thể trực tiếp tác động tới tổ chức não như viêm não, viêm màng não do não mô cầu, do virut, do xoắn khuẩn giang mai, do trực khuẩn lao,

Trang 21

Nhiễm khuẩn cũng có thể là toàn thân gây rối loạn tâm thần do não bị tác động gián tiếp của nguyên nhân gây bệnh do các độc tố của vi khuẩn gây nên Thí dụ như: bệnh thương hàn, sốt mò, sởi, Mặt khác, cũng có thể nhiễm khuẩn trực tiếp tác động tới não thứ phát sau nhiễm khuẩn toàn thân Thí dụ như: nhiễm khuẩn huyết Một số trường hợp khác nhiễm khuẩn tiềm tàng ở hốc mũi, xoang mặt, tai giữa có thể làm phát triển rối loạn tâm thần

2.2 Nguyên nhân do nhiễm độc:

Nhiễm độc là nguyên nhân thường gặp nhất Nhiễm độc mãn tính có thể gặp

ở những người tiếp xúc trực tiếp với hoá chất công nghiệp do nghề nghiệp như: nhiễm độc chì, thủy ngân, thuốc đạn, thuốc trừ sâu, oxytcacbon, Cũng có thể gặp nhiễm độc mãn tính ở những người nghiện rượu, nghiện ma túy, nghiện thuốc ngủ, Các rối loạn tâm thần ở đây trực tiếp do tác động của chất độc được tích luỹ lại và cũng có thể gián tiếp do nhiễm độc gây ra các rối loạn chuyển hoá trong cơ thể

Có thể liệt kê vào nguyên nhân nhiễm độc cả những người tiếp xúc với sóng siêu cao tần, chất phóng xạ, tia X do không chấp hành các qui tắc bảo vệ an toàn lao động có thể ảnh hưởng đối với cơ thể và hệ thần kinh trung ương

2.3 Nguyên nhân do chấn thương sọ não:

Các chấn thương sọ não có thể do chiến tranh, do tai nạn lao động và cũng có thể do tai nạn giao thông

Chấn thương sọ não có thể là chấn thương kín hoặc chấn thương mở ở sọ não đều có thể là nguyên nhân trực tiếp gây ra các rối loạn tâm thần Các rối loạn tâm thần do chấn thương sọ não ở giai đoạn xa đều là những di chứng nặng nề Đồng thời là thiệt thòi lớn cho bản thân bệnh nhân, là gánh nặng cho gia đình và xã hội

2.4 Nguyên nhân do u não và các rối loạn tuần hoàn não:

U não và các rối loạn tuần hoàn não có thể là các nguyên nhân trực tiếp do tổn thương tổ chức não gây ra các rối loạn tâm thần Vị trí các tổn thương khu trú

ở não kèm theo biểu hiện rối loạn tâm thần khác nhau Dựa vào các rối loạn này, người ta có thể chẩn đoán xác định được định khu của các tổn thương

2.5 Nguyên nhân do stress tâm lý:

Stress tâm lý là những nguyên nhân hay gặp; tùy theo cường độ, thời gian tác động và loại hình thần kinh mà có thể gây ra những mức độ, trạng thái rối loạn tâm thần khác nhau Có nhiều trường hợp dẫn đến mất khả năng lao động, tàn phế về chức năng tâm thần Việc tiến hành các biện pháp vệ sinh tâm thần có ý

nghĩa to lớn trong việc dự phòng các bệnh trên

3 Một số yếu tố thuận lợi cho việc phát sinh các bệnh tâm thần

Ngoài những nguyên nhân chủ yếu nói trên, còn có một số yếu tố có thể tác động như một nguyên nhân hoặc hình thành yếu tố thuận lợi cho bệnh tâm thần phát sinh như yếu tố di truyền, miễn dịch, yếu tố về lứa tuổi, giới tính, tình trạng

Trang 22

sức khoẻ toàn thân đều có ảnh hưởng nhất định đến sự hình thành và diễn biến của từng loại bệnh và các thể bệnh tâm thần như:

3.1 Yếu tố di truyền:

Yếu tố di truyền cũng có khi là nguyên nhân nhưng cũng có khi chỉ là yếu tố thuận lợi cho việc phát triển bệnh Người ta chú ý đến yếu tố di truyền trong những bệnh như: tâm thần phân liệt, bệnh loạn tâm thần hưng-trầm cảm, Những yếu tố này trong nhiều trường hợp cũng chỉ là yếu tố thuận lợi cho bệnh phát sinh mà thôi Thí dụ: có gia đình cả bố và mẹ bị rối loạn tâm thần mà các con của họ thì bình thường và ngược lại có người bị bệnh tâm thần mà trong tiền

sử gia đình không có ai bị bệnh tương tự Khi nghiên cứu rối loạn tâm thần ở các cặp song sinh cùng trứng và khác trứng, người ta nhấn mạnh vai trò di truyền trong các bệnh tâm thần

Tuy nhiên, các nghiên cứu không xác định được gen di truyền mà người ta chỉ tìm được các yếu tố di truyền về thể tạng và cơ địa Trên cơ sở đó, dưới tác động của các yếu tố khác hoặc tác nhân có hại, có thể phát sinh ra các bệnh tâm thần khác nhau Những yếu tố nguy cơ này đóng một vai trò quan trọng trong việc xuất hiện các yếu tố có mang tính di truyền Thí dụ: trong khởi phát tâm thần phân liệt có người bắt đầu sau nhiễm khuẩn, có người bắt đầu sau một chấn thương tâm lý hoặc chấn thương sọ não, đôi khi còn gặp sau khi sinh đẻ Mặc dù vậy, vấn đề di truyền trong bệnh lý tâm thần còn là một vấn đề bí ẩn Do người ta chưa tìm thấy gen di truyền và phương thức di truyền bệnh này

3.2 Yếu tố nhân cách:

Nhân cách bao gồm toàn bộ đặc điểm tâm lý của một con người, là tổng hợp những nét riêng biệt của một con người, làm cho người này có những nét khác hẳn với người kia Nhân cách bao gồm nhiều thành phần như: xu hướng (khuynh hướng, ham thích), khí chất, tính cách, năng lực, loại hình thần kinh

Nếu nhân cách mạnh, bền vững thì khả năng chống đỡ bệnh tật tốt hoặc nếu

bị bệnh thì khả năng hồi phục cũng nhanh hơn so với người có nhân cách yếu và nhân cách không thăng bằng

Đôi khi loại hình thần kinh đóng một vai trò quyết định trong các thể lâm sàng của bệnh Thí dụ: như bệnh tâm căn hysteria thường chỉ xuất hiện ở người

có loại hình thần kinh yếu, không thăng bằng và có xu hướng nghệ sĩ, ích kỷ

3.3 Yếu tố lứa tuổi:

Mỗi lứa tuổi đều có một đặc điểm tâm lý và sinh lý khác nhau Vì vậy khi bị bệnh tâm thần thì tùy theo lứa tuổi mà biểu hiện lâm sàng, tiến triển và tiên lượng của bệnh cũng khác nhau

Trẻ em là những yếu tố nguy cơ phát sinh các bệnh tâm căn như: rối loạn tâm căn lo âu hoặc tâm căn ám ảnh sợ Tuổi dậy thì và tuổi thanh niên dễ phát sinh bệnh tâm thần phân liệt và các trạng thái stress tâm lý Ngược lại, ở tuổi già dễ bị các bệnh loạn tâm thần thực tổn như: teo não, xơ vữa mạch não, cao huyết áp,

Trang 23

3.4 Yếu tố giới tính:

Giới tính ảnh hưởng rất lớn đến việc phát sinh các bệnh tâm thần Nữ giới thường có những rối loạn tâm thần ở các thời kỳ khác nhau trong trong quá trình hoạt động của tuyến sinh dục

Trong các thời kỳ dậy thì, bắt đầu có kinh nguyệt, thời kỳ sinh đẻ, thời kỳ mãn kinh thường hay phát sinh các bệnh tâm thần nhất Đây là thời kỳ khủng hoảng cả về sinh lý và tâm lý dễ bị tác động bởi các yếu tố ngoại lai Ở nữ giới thường hay gặp một số bệnh tâm thần như: tâm căn hysteria, rối loạn khí sắc chu

kỳ, rối loạn trầm cảm, rối loạn lo âu Ngược lại ở nam giới hay gặp các bệnh rối loạn tâm thần do rượu, rối loạn tâm thần do nhiễm độc, rối loạn tâm thần do chấn thương sọ não

3.5 Các yếu tố cơ thể:

Giai đoạn khởi phát các bệnh rối loạn tâm thần thường xuất hiện khi sức khoẻ

cơ thể bị giảm sút do thiếu dinh dưỡng kéo dài, làm việc quá sức, mất ngủ kéo dài, sau một bệnh nhiễm khuẩn nặng hoặc các bệnh cơ thể khác, Ngược lại, chính các bệnh rối loạn tâm thần cũng làm cho cơ thể suy sụp tạo thành vòng luẩn quẩn Vì vậy trong điều trị các bệnh rối loạn tâm thần cần phải điều trị toàn diện thì bệnh mới nhanh hồi phục

4 Các nguyên tắc xác định nguyên nhân bệnh tâm thần

+ Việc xác định nguyên nhân của một bệnh tâm thần vẫn là vấn đề rất khó khăn Để có thể xác định được nguyên nhân đúng, người thầy thuốc cần lưu ý các đặc điểm sau:

- Bản chất hoạt động tâm thần là hoạt động của bộ não Vì vậy bệnh tâm thần trước hết do nguyên nhân trực tiếp làm tổn thương tổ chức não hay làm trở ngại hoạt động của não gây nên

- Cơ thể và tâm thần là một khối thống nhất Các bệnh tâm thần đều có ảnh hưởng đến cơ thể và ngược lại các bệnh cơ thể có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tâm thần Vì vậy bệnh tâm thần là một bệnh của toàn bộ cơ thể

- Cơ thể, tâm thần và môi trường sống có liên quan mật thiết với nhau, có tác động qua lại với nhau, có ảnh hưởng lẫn nhau Con người hoạt động cải tạo môi trường và chịu ảnh hưởng của môi trường mà môi trường gồm có môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội Vì vậy tác động của môi trường có thể phát sinh bệnh tâm thần Muốn dự phòng bệnh tâm thần thì phải cải tạo điều kiện ăn,

ở, làm việc, các tệ nạn xã hội, các hủ tục lạc hậu, các phương pháp giáo dục, các tác nhân chấn thương tâm lý,

+ Từ những đặc điểm trên, khi xác định nguyên nhân bệnh tâm thần cần nắm vững các nguyên tắc sau:

Trang 24

- Khi xác định nguyên nhân bệnh tâm thần cần nghiên cứu tỉ mỉ, cân nhắc thận trọng để xác định đâu là nguyên nhân chính, đâu là nguyên nhân phụ hay yếu tố thuận lợi

- Tìm nguyên nhân chính của bệnh tâm thần không thể chỉ căn cứ vào yếu tố trực tiếp khi xuất hiện bệnh mà phải căn cứ vào đặc điểm diễn biến lâm sàng của bệnh

- Nghiên cứu kỹ diễn biến lâm sàng của bệnh tâm thần có tầm quan trọng đặc biệt để tìm ra các qui luật tiến triển của bệnh tổng hợp thành nguyên tắc chẩn đoán Vì cho đến nay việc chẩn đoán các bệnh tâm thần chủ yếu dựa vào lâm sàng, các phương pháp khám xét cận lâm sàng chưa phát huy được đầy đủ tác dụng trong việc hỗ trợ chẩn đoán các bệnh tâm thần nội sinh

Trang 25

PHÂN LOẠI CÁC BỆNH TÂM THẦN

Nguyễn Văn Ngân Ngô Ngọc Tản Bùi Quang Huy

1 Khái niệm về phân loại các bệnh tâm thần

1.1 Lịch sử trong phân loại bệnh tâm thần:

Phân loại các bệnh tâm thần luôn luôn là vấn đề thời sự trong tâm thần học Cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất trong phân loại các bệnh tâm thần Ngay

cả đến định nghĩa thế nào là bệnh tâm thần, thế nào là rối loạn tâm thần và thế nào là không bình thường về mặt tâm thần cũng vẫn là chủ đề của nhiều cuộc thảo luận trong tâm thần học Còn nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhiều nhận định khác nhau về vấn đề này Về các triệu chứng và hội chứng rối loạn tâm thần còn nhiều bất đồng, đặc biệt là những ý kiến về đơn vị bệnh lý và danh pháp các bệnh đó Tuy nhiên việc phân loại bệnh tâm thần vẫn ngày càng được hoàn thiện dần và phát triển

Năm 1882, V.Kh Kandinsky là người đầu tiên đã khởi thảo bảng phân loại các bệnh tâm thần Tuy bảng phân loại của V.Kh Kandinsky rất sơ khai, song đã khẳng định rằng các rối loạn tâm thần là một nhóm các đơn thể bệnh Đến năm

1898, nhà tâm thần học Đức là E Kraepelin (1856-1926) mới thống nhất các triệu chứng rối loạn tâm thần riêng lẻ vào một số các đơn thể bệnh nhất định Căn

cứ vào các tiêu chuẩn biểu hiện lâm sàng giống nhau mà Ông đưa ra một bảng phân loại các bệnh tâm thần dựa trên nguyên tắc phân chia theo các đơn thể bệnh riêng biệt Người ta coi đây là bảng phân loại các bệnh tâm thần đầu tiên trên thế giới Cho đến những năm gần đây, một số quốc gia vẫn sử dụng bảng phân loại bệnh này và làm nền tảng để bổ sung mới

Tuy vậy, ở một số nước khác, các nhà tâm thần học nhận thấy cách phân chia các đơn thể bệnh có tính chất gượng ép, vì rằng các triệu chứng rối loạn tâm thần rất đa dạng và có những đơn thể bệnh có quá nhiều nguyên nhân, quá nhiều dạng cảnh Họ chủ trương chỉ phân loại các triệu chứng và hội chứng bệnh là đủ và cho rằng không có những đơn thể bệnh tâm thần mà chỉ có những hội chứng tâm thần Cho đến gần đây vẫn có nhà tâm thần học cho rằng bệnh tâm thần chỉ có một với nhiều cách biểu hiện lâm sàng khác nhau Do đó, hiện nay vẫn tồn tại hai trường phái khác nhau về phân loại các bệnh tâm thần Một phái chủ trương hội chứng luận và một trường phái chủ trương phân bệnh luận Tuy nhiên trong từng trường phái cũng không thống nhất với nhau về cách phân chia các nhóm, các thể,

Tình trạng hỗn độn đó đưa đến những hậu quả bất lợi cho sự phát triển tâm thần học như: không có nội dung cụ thể, không có qui định giới hạn rõ ràng và không có sự hiểu biết lẫn nhau nói chung giữa các nước

Trang 26

1.2 Hệ thống phân loại bệnh quốc tế (ICD):

Do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phát triển của xã hội đòi hỏi ngành tâm thần phải có những danh pháp thống nhất và phân loại thống nhất, TCYTTG

đã nghiên cứu và đưa ra cách phân loại các bệnh tâm thần lần đầu tiên, nằm trong Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 6, công bố vào năm 1948

Bảng phân loại quốc tế về các bệnh tâm thần lần đầu tiên này, tuy còn nhiều thiếu sót, nhưng đã đánh dấu một bước phát triển mới của tâm thần học thế giới Bảng phân loại quốc tế các bệnh tâm thần này ngày càng được bổ sung và hoàn thiện Nhiều nước, nhiều tác giả đã đề xuất cách phân loại của mình

Đại hội ngành Thần kinh-Tâm thần toàn Liên Xô năm 1963 đã thông qua bản

dự án phân loại các bệnh tâm thần của mình và đệ trình với TCYTTG

Bảng phân loại của Liên Xô đã được TCYTTG chấp nhận và bổ sung vào Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 8, công bố năm 1968 Bảng phân loại này được áp dụng tương đối rộng rãi trên thế giới

Hệ thống phân loại bệnh quốc tế dựa theo phương pháp thập phân Các loại bệnh được mã hoá từ 00 đến 99 Số thứ tự của các bệnh tâm thần được xếp vào

mã số: 29, 30, 31 Các đơn thể bệnh được ghi bằng mã số thứ 3 từ 0-9 Thí dụ bệnh tâm thần phân liệt là 295 Các thể bệnh riêng lẻ được ghi bằng mã số thứ 4

từ 0-9 như bệnh tâm thần phân liệt thể thanh xuân được ghi bằng mã số 295.1 Cách phân loại này thuận tiện cho việc sử dụng máy tính trong nghiên cứu, thống kê và trong y tế cộng đồng

1.3 Hệ thống phân loại bệnh của Hội Tâm thần học Hoa Kỳ (DSM):

Song song với sự hoàn thiện và củng cố Bảng phân loại bệnh quốc tế, bổ sung lần thứ 8, 9, 10 thì ở các nước phương tây, đặc biệt là ở Mỹ, việc phân loại các bệnh tâm thần có những sự khác biệt

Hội Tâm thần học Mỹ nghiên cứu theo yêu cầu của công ty bảo hiểm Mỹ và

đã đưa ra một hệ thống phân loại bệnh khác, thay thế hệ thống phân loại bệnh quốc tế (vì bị coi như không thuận tiện cho việc nghiên cứu các bệnh tâm thần)

Hệ thống phân loại bệnh tâm thần của Mỹ được gọi là "Sách giáo khoa về chẩn đoán và thống kê các bệnh tâm thần" (diagnostic and statistical manual of mental disorders-DSM), phát hành lần đầu tiên vào năm 1952 (DSM-I)

Hội Tâm thần học Mỹ thường xuyên bổ sung và hoàn thiện cho hệ thống phân loại của mình

DSM-II (1968), DSM-III (1980), DSM-III-R (năm 1987, đã tinh lọc lại các tiêu chuẩn của DSM-III ), DSM-IV (1994)

Bảng phân loại của Hội Tâm thần học Mỹ rất tỷ mỉ nhưng phức tạp, khó áp dụng tại cộng đồng Như vậy hệ thống DSM tồn tại song song với ICD-10

Trang 27

Những lần xuất bản bổ sung càng về sau này thì 2 hệ thống phân loại ICD và DSM càng xích lại gần nhau hơn

Hiện nay, DSM-III-R, DSM-IV có nhiều bổ sung mới được coi như là một cuốn sách giáo khoa chung cho ngành Tâm thần học Việt Nam nói riêng và đa số các nước phương tây nói chung

1.4 Các đặc trưng của bảng phân loại DSM-IV (năm 1994):

+ Là bảng phân loại quốc gia của Mỹ

+ Có thể áp dụng cho các nền văn hoá và truyền thống Tâm thần học của Mỹ

và một số nước kinh tế phát triển ở phương Tây khác mà có cùng truyền thống tâm thần học như của Mỹ

+ Phản ánh đặc trưng của hệ thống chăm sóc sức khoẻ và thực hành hiện thời (việc chăm sóc có quản lý)

+ Có tính đổi mới

+ Được cập nhật thường xuyên hơn

+ Kết hợp chặt chẽ với các kết quả nghiên cứu hiện nay

+ Dựa trên cơ sở nhất trí của các chuyên gia trong toàn quốc

+ Đạt được nhiều mục đích như đào tạo, nghiên cứu luật y tế,

1.5 Sự khác biệt giữa ICD-10 và DSM-IV:

+ Khác nhau về thuật ngữ

+ Không có sự tương đương về một số tiêu chuẩn chẩn đoán

+ Khác nhau trong việc sắp xếp, tạo thành nhóm các loại chẩn đoán

+ Khác nhau trong các tiêu chuẩn chẩn đoán đặc hiệu như thời gian tồn tại các triệu chứng trong tâm thần phân liệt ở ICD-10 là 1 tháng còn trong DSM-IV đòi hỏi phải trên 6 tháng

+ Các loại hoạt động xã hội thì ICD-10 tránh đề cập đến nhưng DSM-IV lại đóng vai trò cốt yếu

+ Khác nhau trong hệ thống các trục chẩn đoán, trong ICD-10 có 3 trục còn trong DSM-IV lại có những 5 trục

+ Sắp xếp hệ thống ghi mã số khác nhau như chữ số và chữ cái trong ICD-10 khác với chữ số trong DSM-IV

Nhiều người cho rằng chưa có thể hợp nhất được 2 hệ thống phân loại

ICD-11 và DSM-V Bởi vì, TCYTTG quá tự hào về bảng phân loại của mình, với 40 ngôn ngữ khác nhau và được áp dụng trên 100 quốc gia khác nhau Trong khi đó, Hội Tâm thần học Mỹ không dễ gì từ bỏ bảng phân loại đã được xây dựng một cách công phu và tốn nhiều tiền bạc Thí dụ, người ta đã tiêu tốn hơn 40 triệu đô

la Mỹ cho việc nghiên cứu bảng phân loại DSM-IV

Trang 28

2 Phân loại các bệnh tâm thần theo hệ thống phân loại quốc tế

2.1 Bảng phân loại bệnh quốc tế về các bệnh tâm thần lần thứ 8, năm 1968 (ICD-8):

* Mục 29: Các bệnh loạn tâm thần:

290: Mất trí tuổi già và trước tuổi già

291: Các bệnh loạn tâm thần do rượu

292: Các bệnh loạn tâm thần do nhiễm khuẩn nội sọ

293: Các bệnh loạn tâm thần có liên quan đến các thương tổn não khác

294: Các bệnh loạn tâm thần có liên quan đến các điều kiện thể chất khác 295: Bệnh tâm thần phân liệt

296: Các bệnh loạn tâm thần cảm xúc

297: Các trạng thái paranoid

298: Các trạng thái khác và không đặc hiệu

* Mục 30: Các bệnh loạn thần kinh, các rối loạn nhân cách v à các rối loạn khác không phải rối loạn tâm thần:

305: Các rối loạn thể chất giả định do nguyên nhân tâm lý

306: Các triệu chứng loạn thần kinh đặc biệt

307: Các rối loạn tạm thời do hoàn cảnh

308: Rối loạn hành vi tác phong trẻ em

309: Các rối loạn không phải tâm thần, do các nguyên nhân thể chất

* Mục 31: Thiểu năng tâm thần:

310: Tâm thần phát triển trì trệ sát mức bình thường

311: Tâm thần phát triển trì trệ mức độ nhẹ

312: Tâm thần phát triển trì trệ mức độ trung bình

313: Tâm thần phát triển trì trệ mức độ nặng

314: Tâm thần phát triển trì trệ mức độ nghiêm trọng

315: Thiểu năng tâm thần không biệt hoá theo mức độ biểu hiện

2.2 Bảng phân loại bệnh quốc tế về các bệnh tâm thần lần thứ 9, năm 1979 (ICD-9):

* Mục 290-299: Các bệnh loạn tâm thần:

290: Các trạng thái loạn tâm thần thực thể trước tuổi già và tuổi già

.0: Sa sút tâm thần tuổi già thể đơn thuần

Trang 29

.1: Sa sút tâm thần trước tuổi già

.2: Sa sút tâm thần tuổi già thể trầm cảm hoặc hoang tưởng

.3: Sa sút tâm thần tuổi già với trạng thái lú lẫn cấp

.5: Hoang tưởng ghen tuông do rượu

.8: Các loạn tâm thần khác do rượu

.9: Loạn tâm thần do rượu không xác định

292: Loạn tâm thần do thuốc

.0: Hội chứng cai thuốc

.1: Các trạng thái hoang tưởng và ảo giác do thuốc

.2: Dạng bệnh lý do ngộ độc thuốc

.8: Các loạn tâm thần khác do ngộ độc thuốc

.9: Các loạn tâm thần do ngộ độc thuốc không xác định

293: Các trạng thái rối loạn tâm thần thực thể tạm thời

.0: Các trạng thái lú lẫn cấp

.1: Các trạng thái lú lẫn bán cấp

.8: Các trạng thái lú lẫn khác

.9: Các trạng thái lú lẫn không xác định

294: Các trạng thái rối loạn tâm thần thực thể trường diễn

.0: Hội chứng Korsakov không do rượu

.1: Sa sút tâm thần kết hợp với bệnh được xếp vào chỗ khác

.8: Các trạng thái rối loạn tâm thần khác

.9: Các trạng thái rối loạn tâm thần thực thể trường diễn không xác định 295: Tâm thần phân liệt

Trang 30

.5: Tâm thần phân liệt tiềm tàng

.6: Tâm thần phân liệt di chứng

.7: Thể phân liệt cảm xúc

.8: Các thể khác

.9: Thể không xác định

296: Loạn tâm thần cảm xúc

.0: Loạn tâm thần hưng-trầm cảm: thể hưng cảm

.1: Loạn tâm thần hưng-trầm cảm: thể trầm cảm

.2: Loạn tâm thần hưng-trầm cảm: thể tuần hoàn giai đoạn hưng cảm

.3: Loạn tâm thần hưng-trầm cảm: thể tuần hoàn giai đoạn trầm cảm

.4: Loạn tâm thần hưng-trầm cảm: thể tuần hoàn giai đoạn hỗn hợp

.5: Loạn tâm thần hưng-trầm cảm: thể tuần hoàn, trạng thái hiện tại không chỉ

rõ kiểu gì

.6: Loạn tâm thần hưng-trầm cảm khác và không xác định

.8: Các loạn tâm thần cảm xúc khác

.9: Loạn tâm thần cảm xúc không xác định

297: Các trạng thái hoang tưởng

.0: Trạng thái hoang tưởng thể đơn thuần

.1: Hoang tưởng có hệ thống (paranoia)

.2: Hoang tưởng kỳ quái (paraphrenia)

.3: Loạn tâm thần cảm ứng

.8: Các trạng thái hoang tưởng khác

.9: Các trạng thái hoang tưởng không xác định

298: Các bệnh loạn tâm thần khác không do căn nguyên thực thể

.0: Thể trầm cảm

.1: Trạng thái kích động

.2: Lú lẫn phản ứng

.3: Cơn hoang tưởng ngắn, đột xuất

.4: Loạn tâm thần hoang tưởng căn nguyên tâm lý

.8: Loạn tâm thần phản ứng khác và không xác định

.9: Loạn tâm thần không do căn nguyên thực thể không xác định

299: Loạn tâm thần đặc hiệu ở trẻ em

Trang 31

* Mục 300 - 316: Các bệnh loạn thần kinh, bệnh nhân cách và những bệnh khác không bị rối loạn tâm thần:

.5: Suy nhược thần kinh

.6: Hội chứng giải thể nhân cách

.7: Hội chứng nghi bệnh

.8: Các rối loạn thần kinh khác

.9: Loạn thần kinh không xác định

301: Rối loạn nhân cách

.0: Rối loạn nhân cách hoang tưởng có hệ thống (nhân cách paranoia)

.1: Rối loạn nhân cách loạn khí sắc

.2: Rối loạn nhân cách khép kín (nhân cách dạng phân liệt)

.3: Rối loạn nhân cách động kinh (bùng nổ)

.4: Rối loạn nhân cách ám ảnh

.5: Rối loạn nhân cách hysteria

.6: Rối loạn nhân cách suy nhược

.7: Rối loạn nhân cách chống đối xã hội

.8: Các rối loạn nhân cách khác

.9: Rối loạn nhân cách không xác định

302: Các lệch lạc và rối loạn tình dục

.0: Loạn dâm đồng giới

.1: Loạn dâm với súc vật

.2: Loạn dâm với trẻ em

.3: Loạn dâm cải trang khác giới

.4: Loạn dâm phô trương

.5: Chuyển giới tính

.6: Rối loạn về nhận định lý lịch tâm thần tình dục

.7: Lãnh đạm và bất lực tình dục

.8: Các lệch lạc rối loạn tình dục khác

.9: Các lệch lạc và rối loạn tình dục không xác định

303: Hội chứng phụ thuộc rượu

304: Hội chứng phụ thuộc thuốc

Trang 32

.0: Loại morphin

.1: Loại bacbituric

.2: Loại cocain

.3: Cần sa

.4: Loại amphetamin và các thuốc kích thích tâm thần khác

.5: Các chất gây ảo giác

.6: Các chất khác

.7: Kết hợp thuốc loại morphin với một chất khác

.8: Kết hợp thuốc không có chất loại morphin

.9: Phụ thuộc thuốc không xác định

305: Lạm dụng thuốc ở người không phụ thuộc thuốc

Trang 33

.4: Rối loạn giấc ngủ không do nguyên nhân thực thể

.5: Rối loạn ăn uống, các rối loạn khác và không xác định

.6: Đái dầm

.7: Ỉa đùn

.8: Đau đớn tâm thần

.9: Các triệu chứng khác và không xác định

308: Các trạng thái phản ứng cấp ở một tình huống rất gay cấn

.0: Với các rối loạn nổi bật về cảm xúc

.1: Với các rối loạn nổi bật về ý thức

.2: Với các rối loạn nổi bật về tâm thần vận động

.3: Với các rối loạn khác

.2: Với các rối loạn nổi bật về cảm xúc khác hơn là trầm cảm

.3: Với các rối loạn nổi bật về cư xử

.4: Với các rối loạn hỗn hợp về cảm xúc và cư xử

.8: Các rối loạn về thích ứng khác

.9: Các rối loạn về thích ứng không xác định

310: Các biểu hiện tâm thần đặc hiệu không phải rối loạn tâm thần do một tổn thương thực thể nhẹ ở não

.0: Hội chứng thùy trán

.1: Biến đổi trí tuệ hoặc nhân cách thuộc một thể khác

.2: Hội chứng sau chấn thương (chấn động hay đụng giập não)

.8: Các hội chứng khác

.9: Các hội chứng không xác định

311: Rối loạn trầm cảm không phân loại ở chỗ khác

312: Rối loạn về cư xử không phân loại ở chỗ khác

.0: Rối loạn cư xử đơn độc

.1: Rối loạn cư xử cả nhóm

.2: Rối loạn cư xử có tính chất cưỡng bức

.3: Rối loạn hỗn hợp cư xử và cảm xúc

.8: Các rối loạn cư xử khác

.9: Các rối loạn cư xử không xác định

313: Rối loạn cảm xúc đặc hiệu ở trẻ con và thiếu niên

Trang 34

.0: Thể bất an và sợ hãi

.1: Thể buồn rầu và thất vọng

.2: Quá nhậy cảm, nhút nhát và xa lánh xã hội

.3: Thể quan hệ khó khăn với người khác

.8: Các thể khác hoặc hỗn hợp

.9: Rối loạn không xác định

314: Tính không ổn định ở trẻ em

.0: Rối loạn đơn thuần về hoạt động và ý chí

.1: Tính không ổn định với sự chậm phát triển

.2: Rối loạn cư xử kết hợp với tính không ổn định

.2: Các khó khăn đặc hiệu khác trong học tập ở trường

.3: Rối loạn phát triển tiếng nói và ngôn ngữ

.4: Chậm phát triển vận động đặc hiệu

.5: Rối loạn hỗn hợp về phát triển

.8: Các rối loạn khác

.9: Các rối loạn không xác định

316: Yếu tố tâm thần kết hợp với những bệnh được phân loại ở chỗ khác

* Mục 317 - 319: Chậm phát triển tâm thần:

317: Chậm phát triển tâm thần nhẹ

318: Chậm phát triển tâm thần khác ở mức độ được xác định

.0: Chậm phát triển tâm thần trung bình

.1: Chậm phát triển tâm thần nặng

.2: Chậm phát triển tâm thần nghiêm trọng

319: Chậm phát triển tâm thần mức độ không xác định

2.3 Bảng phân loại bệnh quốc tế về các bệnh tâm thần lần thứ 10 năm 1992 (ICD-10):

Theo ICD10 các bệnh tâm thần được xếp vào phần F từ F00-F99

* F00 - F09: Các rối loạn tâm thần thực tổn bao gồm cả rối loạn tâm thần triệu chứng:

F00: Mất trí trong bệnh Alzheimer

.0: Khởi phát sớm

.1: Khởi phát muộn

Trang 35

.2: Thể không điển hình hoặc thể hỗn hợp

.9: Không biệt định

F01: Mất trí trong bệnh mạch máu

.0: Mất trí mạch máu khởi phát sớm

.1: Mất trí do nhồi máu rải rác

.2: Mất trí mạch máu dưới vỏ não

.3: Mất trí mạch máu vỏ, dưới vỏ não hỗn hợp

.8: Mất trí mạch máu khác

.9: Mất trí mạch máu không biệt định

F02: Mất trí trong các bệnh khác được xếp loại ở chỗ khác

.0: Mất trí trong bệnh Pick

.1: Mất trí trong bệnh Creutzfeldt-Jacob

.2: Mất trí trong bệnh Huntington

.3: Mất trí trong bệnh Parkinson

.4: Mất trí trong bệnh nhiễm HIV

.8: Mất trí trong các trạng thái biệt định khác được phân loại ở chỗ khác F03: Mất trí không biệt định

F04: Hội chứng quên thực tổn không do rượu và các chất tác động tâm thần khác

F05: Sảng không do rượu và các chất tác động tâm thần khác

F06: Các rối loạn tâm thần khác do tổn thương và rối loạn chức năng não và bệnh lý cơ thể

.0: Các ảo giác thực tổn

.1: Rối loạn căng trương lực thực tổn

.2: Rối loạn hoang tưởng thực tổn

.3: Rối loạn khí sắc thực tổn

.4: Rối loạn lo âu thực tổn

.5: Rối loạn phân ly thực tổn

.6: Rối loạn cảm xúc không ổn định thực tổn

Trang 36

.1: Hội chứng sau viêm não

.2: Hội chứng sau chấn động não

.8: Các rối loạn nhân cách và hành vi thực tổn khác do bệnh não, tổn thương não hoặc rối loạn chức năng não

.9: Rối loạn hành vi và nhân cách thực tổn không biệt định do bệnh não, tổn thương não hoặc rối loạn chức năng não

F09: Rối loạn tâm thần thực tổn hoặc triệu chứng không biệt định

* F10 - F19: Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất tác động tâm thần:

F10: Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu

F11: Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các thuốc an thần và thuốc ngủ

F12: Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng cần sa

F13: Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các thuốc an thần và thuốc ngủ

F14: Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng cocain

F15: Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất kích thích khác bao gồm cả cafein

F16: Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất gây ảo giác

F17: Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng thuốc lá

F18: Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các dung môi dễ bay hơi F19: Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy và các chất tác động tâm thần khác

F1x.0: Nhiễm độc cấp

F1x.1: Sử dụng gây hại

F1x.2: Hội chứng nghiện

F1x.3: Trạng thái cai

F1x.4: Trạng thái cai với mê sảng

F1x.5: Rối loạn loạn thần

F1x.6: Hội chứng quên

F1x.7: Rối loạn loạn thần di chứng và khởi phát muộn

F1x.8: Các rối loạn tâm thần và hành vi khác

F1x.9: Rối loạn tâm thần và hành vi không biệt định

* F20 - F29: Bệnh tâm thần phân liệt, các rối loạn loại phân liệt và các rối loạn hoang tưởng:

F20: Bệnh tâm thần phân liệt

.0: Tâm thần phân liệt thể paranoid

Trang 37

.1: Tâm thần phân liệt thể thanh xuân

.2: Tâm thần phân liệt thể căng trương lực

.3: Tâm thần phân liệt thể không biệt định

.4: Tâm thần phân liệt thể trầm cảm sau phân liệt

.5: Tâm thần phân liệt thể di chứng

.6: Tâm thần phân liệt thể đơn thuần

.8: Tâm thần phân liệt các thể khác

.9: Tâm thần phân liệt thể không biệt định

F21: Các rối loạn loại phân liệt

F22: Các rối loạn hoang tưởng dai dẳng

.0: Rối loạn hoang tưởng

.8: Rối loạn hoang tưởng dai dẳng khác

.9: Rối loạn hoang tưởng dai dẳng không biệt định

F23: Các rối loạn loạn thần cấp và nhất thời

.0: Rối loạn loạn thần cấp đa dạng không có triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt

.1: Rối loạn loạn thần cấp đa dạng với triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt .2: Rối loạn loạn thần cấp giống phân liệt

.3: Rối loạn loạn thần cấp khác với hoang tưởng là chủ yếu

.8: Rối loạn loạn thần cấp và nhất thời khác

.9: Rối loạn loạn thần cấp và nhất thời không biệt định

F24: Rối loạn hoang tưởng phản ứng

F25: Các rối loạn phân liệt cảm xúc

.0: Rối loạn phân liệt cảm xúc, loại hưng cảm

.1: Rối loạn phân liệt cảm xúc, loại trầm cảm

.2: Rối loạn phân liệt cảm xúc, loại hỗn hợp

.8: Các rối loạn phân liệt cảm xúc khác

.9: Rối loạn phân liệt cảm xúc không biệt định

F28: Các rối loạn loạn thần không thực tổn khác

F29: Bệnh loạn thần không thực tổn không biệt định

* F30 - F39: Rối loạn khí sắc (cảm xúc):

F30: Giai đoạn hưng cảm

.0: Hưng cảm nhẹ

.1: Hưng cảm không có các triệu chứng loạn thần

.2: Hưng cảm có các triệu chứng loạn thần

.8: Các giai đoạn hưng cảm khác

.9: Giai đoạn hưng cảm không biệt định

Trang 38

F31: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực

.0: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn hưng cảm nhẹ

.1: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn hưng cảm không có triệu chứng loạn thần

.2: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn hưng cảm có triệu chứng loạn thần

.3: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn trầm cảm nhẹ và vừa .4: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn trầm cảm nặng không có triệu chứng loạn thần

.5: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn trầm cảm nặng có triệu chứng loạn thần

.6: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn hỗn hợp

.7: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại thuyên giảm

.8: Các rối loạn cảm xúc lưỡng cực khác

.9: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực không biệt định

F32: Giai đoạn trầm cảm

.0: Giai đoạn trầm cảm nhẹ

.1: Giai đoạn trầm cảm vừa

.2: Giai đoạn trầm cảm nặng không có các triệu chứng loạn thần

.3: Giai đoạn trầm cảm nặng có các triệu chứng loạn thần

.8: Giai đoạn trầm cảm khác

.9: Giai đoạn trầm cảm không biệt định

F33: Rối loạn trầm cảm tái diễn

.0: Rối loạn trầm cảm tái diễn hiện tại giai đoạn nhẹ

.1: Rối loạn trầm cảm tái diễn hiện tại giai đoạn vừa

.2: Rối loạn trầm cảm tái diễn hiện tại giai đoạn nặng không có triệu chứng loạn thần

.3: Rối loạn trầm cảm tái diễn hiện tại giai đoạn nặng có triệu chứng loạn thần .4: Rối loạn trầm cảm tái diễn hiện tại thuyên giảm

.8: Các rối loạn trầm cảm tái diễn khác

.9: Rối loạn trầm cảm tái diễn không biệt định

F34: Các trạng thái rối loạn khí sắc dai dẳng

.0: Khí sắc chu kỳ

.1: Loạn khí sắc

.8: Các rối loạn khí sắc dai dẳng khác

.9: Rối loạn khí sắc dai dẳng không biệt định

F38: Các rối loạn khí sắc khác

Trang 39

.0: Các rối loạn khí sắc đơn độc khác

.1: Các rối loạn khí sắc tái diễn khác

.8: Các rối loạn khí sắc biệt định khác

F39: Rối loạn khí sắc không biệt định

* F40-F48: Các rối loạn bệnh tâm căn có liên quan đến stress và dạng cơ thể:

F40: Các rối loạn lo âu ám ảnh sợ

.0: Ám ảnh sợ khoảng trống

.1: Ám ảnh sợ xã hội

.2: Ám ảnh sợ đặc hiệu

.8: Các rối loạn lo âu ám ảnh sợ khác

.9: Rối loạn lo âu ám ảnh sợ không biệt định

F41: Các rối loạn lo âu khác

.0: Rối loạn hoảng sợ

.1: Rối loạn lo âu lan toả

.2: Rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm

.3: Các rối loạn lo âu hỗn hợp khác

.8: Các rối loạn lo âu biệt định khác

.9: Rối loạn lo âu không biệt định

F42: Rối loạn ám ảnh nghi thức

.0: Ý nghĩ hoặc nghiền ngẫm ám ảnh chiếm ưu thế

.1: Hành vi nghi thức chiếm ưu thế

.2: Các ý nghĩ và hành vi ám ảnh hỗn hợp

.8: Các rối loạn ám ảnh nghi thức khác

.9: Rối loạn ám ảnh nghi thức không biệt định

F43: Phản ứng với stress trầm trọng và rối loạn sự thích ứng

.0: Phản ứng stress cấp

.1: Rối loạn stress sau sang chấn

.2: Các rối loạn sự thích ứng

.8: Các phản ứng với stress trầm trọng khác

.9: Phản ứng với stress trầm trọng không biệt định

F44: Các rối loạn phân ly

.0: Quên phân ly

.1: Trốn nhà phân ly

.2: Sững sờ phân ly

.3: Các rối loạn lên đồng và bị xâm nhập

.4: Các rối loạn vận động phân ly

Trang 40

.5: Các co giật phân ly

.6: Tê và mất giác quan phân ly

.7: Các rối loạn phân ly hỗn hợp

.8: Các rối loạn phân ly khác

.9: Rối loạn phân ly không biệt định

F45: Các rối loạn dạng cơ thể

.0: Rối loạn cơ thể hoá

.1: Rối loạn dạng cơ thể không biệt định

.2: Rối loạn nghi bệnh

.3: Rối loạn chức năng thần kinh thực vật dạng cơ thể

.4: Rối loạn đau dạng cơ thể dai dẳng

.8: Các rối loạn dạng cơ thể khác

.9: Rối loạn dạng cơ thể không biệt định

F48: Các rối loạn tâm căn khác

.0: Bệnh tâm căn suy nhược

.1: Hội chứng giải thể nhân cách-tri giác sai thực tại

.8: Các rối loạn tâm căn biệt định khác

.9: Rối loạn tâm căn không biệt định

* F50-F59: Các hội chứng hành vi kết hợp với các rối loạn sinh lý và các nhân tố cơ thể:

F50: Các rối loạn ăn uống

.0: Chán ăn tâm thần

.1: Chán ăn tâm thần không điển hình

.2: Ăn vô độ tâm thần

.3: Ăn vô độ tâm thần không điển hình

.4: Chứng ăn nhiều kết hợp với các rối loạn tâm lý khác

.5: Chứng nôn kết hợp với các rối loạn tâm lý khác

.8: Các rối loạn ăn uống khác

.9: Rối loạn ăn uống không biệt định

F51: Các rối loạn giấc ngủ không thực tổn

Ngày đăng: 10/01/2021, 04:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w