Hà Nội - So với tên gọi Thăng Long với ý nghĩa chủ yếu có tính cách lịch sử dù chỉ đưới dạng truyền thuyết: ghi lại sự kiện có rồng hiện lên khi Vua tới đất Kinh đô mới, thì tên gọi Hà
Trang 1Ngàn năm Thăng Long - Hà Nội qua những cái tên
16/04/2010 14:39
Thăng Long, với chữ “Thăng” ở bộ Nhật, được ghi trong Đại Việt sử ký, không chỉ là
“Rồng bay lên”, mà còn có nghĩa “Rồng (bay) trong ánh Mặt trời lên cao” Đây là một tên gọi hoàn toàn do người Việt sáng tạo.
Thăng Long - Hà Nội là Kinh đô lâu đời nhất trong lịch sử Việt Nam Mảnh đất địa linh nhân kiệt này từ trước khi trở thành Kinh đô của nước Đại Việt dưới triều Lý (1010) đã là đất đặt
cơ sở trấn trị của quan lại thời kỳ nhà Tùy (581-618), Đường (618-907) của phong kiến phương Bắc Từ khi hình thành cho đến nay, Thăng Long - Hà Nội có nhiều tên gọi Chúng tôi xin chia các tên gọi ấy thành hai loại: Chính quy và không chính quy, theo thứ tự thời gian như sau:
Rồng đá trên thềm điện Kính Thiên trong Thành cổ Hà Nội.
Tên chính quy
Là những tên được chép trong sử sách do các triều đại phong kiến, Nhà nước Việt Nam chính thức đặt ra:
1 Long Đỗ - Truyền thuyết kể rằng lúc Cao Biền nhà Đường, vào năm 866 đắp Thành Đại
La, thấy thần nhân hiện lên tự xưng là Thần Long Đỗ Do đó trong sử sách thường gọi ThăngLong là đất Long Đỗ Thí dụ vào năm Quang Thái thứ 10 (1397) đời Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly có ý định cướp ngôi nhà Trần nên muốn dời Kinh đô về đất An Tôn, Phủ Thanh Hóa Khu mật chủ sự Nguyễn Nhữ Thuyết dâng thư can, đại ý nói: “Ngày xưa, nhà Chu, nhà Ngụy dời Kinh đô đều gặp điều chẳng lành Nay đất Long Đỗ có Núi Tản Viên, có Sông Lô Nhị (tức Sông Hồng ngày nay), núi cao sông sâu, đất bằng phẳng rộng rãi” Điều đó cho thấy Long Đỗ
Trang 2đã từng là tên gọi đất Hà Nội thời cổ.
2 Tống Bình - Tống Bình là tên trị sở của bọn đô hộ phương Bắc thời Tùy (581 - 618),
Đường (618 - 907) Trước đây, trị sở của chúng là ở vùng Long Biên (Bắc Ninh ngày nay) Tới đời Tùy chúng mới chuyển đến Tống Bình
3 Đại La - Đại La hay Đại La Thành nguyên là tên vòng thành ngoài cùng bao bọc lấy Kinh
đô Theo kiến trúc xưa, Kinh đô thường có “Tam trùng thành quách”: Trong cùng là Tử Cấm Thành (tức bức thành màu đỏ tía) nơi Vua và hoàng tộc ở, giữa là Kinh thành và ngoài cùng
là Đại La Thành Năm 866, Cao Biền bồi đắp thêm Đại La Thành rộng hơn và vững chãi hơn trước Từ đó, thành này được gọi là Thành Đại La Trong Chiếu dời đô của Vua Lý Thái Tổ viết năm 1010 có viết: “ Huống chi Thành Đại La, đô cũ của Cao Vương (tức Cao Biền) ở giữa khu vực trời đất ” (Toàn thư, Tập I, H, 1993, tr 241)
4 Thăng Long - Về ý nghĩa tên gọi Thăng Long, chúng ta vẫn thường giải thích rằng: Thăng
là bay lên, Thăng Long tức là rồng bay Thực ra, ở trong Hán tự có nhiều cách viết và giải thích chữ “thăng” Với cách viết thứ nhất, chữ “thăng” có nghĩa là “đi lên cao, tiến lên”, bên cạnh nghĩa đầu tiên của nó là cái thưng, một dụng cụ đo lường dung tích (từ văn học: “đẩu thăng: đấu thưng”) Cách viết thứ hai: có chữ Nhật đặt lên trên chữ Thăng mang ý nghĩa là Mặt trời lên cao và cũng có nghĩa là “đi lên cao”, như chữ “Thăng” ở cách viết thứ nhất Thăng Long, Kinh đô mới của Lý Công Uẩn được ghi trong Đại Việt sử ký, với chữ “Thăng” ở
bộ Nhật, và do đó bao hàm hai nghĩa: “Rồng bay lên”, và “Rồng (bay) trong ánh Mặt trời lên cao” Đặt tên Thăng Long với cách viết như trên, vừa ghi lại sự kiện Vua Lý Thái Tổ thấy rồngxuất hiện trên đất được chọn làm Kinh đô mới, đồng thời có sức mạnh kỳ diệu và tốt lành củagiống Rồng, rất gần gũi với dân Việt, vẫn tự cho mình là “con Rồng cháu Tiên”
Có điều đáng chú ý là các từ điển thông dụng Trung Quốc như Từ nguyên, Từ hải (Từ
nguyên xuất bản 1947, Từ hải xuất bản 1967, chưa rõ những kỳ xuất bản sau có khác
không), không thấy ghi từ Thăng Long ở cả 2 dạng viết chữ Thăng Riêng Trung văn đại từ điển (tập 5, Đài Bắc 1967, trang 208), ở chữ “Thăng” là “Thưng” dạng viết thứ nhất nói trên,
có từ kép “Thăng Long” nhưng là danh từ chung và được giảng là “rồng bay lên” Như vậy,
có thể thấy tên gọi Thăng Long với cách viết ghi trên sử cũ là một địa danh hoàn toàn do người Việt sáng tạo
5 Đông Đô - Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: “Mùa Hạ tháng 4 năm Đinh Sửu (1397)
lấy Phó tướng Lê Hán Thương (tức Hồ Hán Thương) coi phủ đô hộ là Đông Đô” (Toàn thư Sđd - tr.192) Trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, sứ thần nhà Nguyễn chú thích: “Đông Đô tức Thăng Long, lúc ấy gọi Thanh Hóa là Tây Đô, Thăng Long là Đông Đô” (Cương mục - Tập 2, H 1998, tr.700)
6 Đông Quan - Đây là tên gọi Thăng Long do quan quân nhà Minh đặt ra với hàm nghĩa kỳ
thị Kinh đô của nước ta, chỉ được ví là “cửa quan phía Đông” của Nhà nước phong kiến Trung Hoa Sử cũ cho biết năm 1408, quân Minh đánh bại cha con Hồ Quý Ly đóng đô ở Thành Đông Đô, đổi tên thành Đông Quan Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Tháng 12 năm Mậu Tý (1408) Giản Định Đế bảo các quân “Hãy thừa thế chẻ tre, đánh cuốn chiếu thẳng một mạch như sét đánh không kịp bưng tai, tiến đánh Thành Đông Quan thì chắc phá được chúng” (Toàn thư , Sđd - Tập 2, tr 244)
Trang 37 Đông Kinh - Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết sự ra đời của cái tên này như sau:
“Mùa Hạ, tháng 4 năm Đinh Mùi (1427) Vua (tức Lê Lợi) từ điện tranh ở Bồ Đề, vào đóng ở Thành Đông Kinh, đại xá đổi niên hiệu là Thuận Thiên, dựng quốc hiệu là Đại Việt đóng đô ở Đông Kinh Ngày 15 Vua lên ngôi ở Đông Kinh, tức là Thành Thăng Long Vì Thanh Hóa có Tây Đô, cho nên gọi Thành Thăng Long là Đông Kinh” (Toàn thư , Sđd Tập 2, tr 293)
8 Bắc Thành - Đời Tây Sơn (Nguyễn Huệ - Quang Trung 1787 - 1802), vì Kinh đô đóng ở
Phú Xuân (tức Huế) nên gọi Thăng Long là Bắc Thành (Nguyễn Vinh Phúc - Trần Huy Bá - Đường phố Hà Nội - 11.1979, tr.12)
9 Thăng Long - (Thịnh vượng lên) Sách Lịch sử Thủ đô Hà Nội cho biết: “Năm 1802, Gia
Long quyết định đóng đô ở tại nơi cũ là Phú Xuân (tức Huế), không ra Thăng Long, cử
Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn miền Bắc và đổi Kinh thành Thăng Long làm trấn thành miền Bắc Kinh thành đã chuyển làm trấn thành thì tên Thăng Long cũng cần phải đổi Nhưng
vì tên Thăng Long đã có từ lâu đời, quen dùng trong dân gian cả nước, nên Gia Long thấy không tiện bỏ đi ngay mà vẫn giữ tên Thăng Long, nhưng đổi chữ “Long” là Rồng thành chữ
“Long” là thịnh vượng, lấy cớ rằng rồng là tượng trưng cho nhà Vua, nay Vua không ở đây thìkhông được dùng chữ “Long” là “rồng” (Trần Huy Liệu - Chủ biên Lịch sử Thủ đô Hà Nội, H
1960, tr 81)
Việc thay đổi nói trên xảy ra năm 1805, sau đó Vua Gia Long còn hạ lệnh phá bỏ Hoàng thành cũ, vì Vua không đóng đô ở Thăng Long, mà Hoàng thành Thăng Long lại rộng lớn quá
10 Hà Nội - So với tên gọi Thăng Long với ý nghĩa chủ yếu có tính cách lịch sử (dù chỉ đưới
dạng truyền thuyết: ghi lại sự kiện có rồng hiện lên khi Vua tới đất Kinh đô mới), thì tên gọi
Hà Nội có tính cách địa lý, với nghĩa “bên trong sông” Nhưng nếu xét kỹ trên bản đồ thì chỉ
có Sông Nhị là địa giới Tỉnh Hà Nội cũ về phía Đông, còn Sông Hát và Sông Thanh Quyết không là địa giới, như vậy có bộ phận Tỉnh Hà Nội không nằm bên trong những con sông này Và khi Hà Nội trở thành nhượng địa của Pháp, tên gọi lại càng không tương xứng với thực địa
Trung văn đại từ điển, tập 19 (Đài Bắc 1967, tr.103) cho biết Hà Nội là tên một quận được đặt
từ đời Hán (202 Tr.CN - 220 S.CN) nằm phía Bắc Sông Hoàng Hà Tên Hà Nội từng được ghi trong Sử ký của Tư Mã Thiên (hạng Vũ Kỷ), kèm lời chú giải: “Kinh đô đế vương thời xưa phần lớn ở phía Đông Sông Hoàng Hà, cho nên gọi phía Bắc Sông Hoàng Hà là Hà Ngoại” Rất có thể Minh Mạng đã chọn tên gọi Hà Nội, một tên hết sức bình thường để thay tên gọi Thăng Long đầy gợi cảm, nhưng tên gọi mới Hà Nội này lại có thể được giải thích là “đất Kinh đô các đế vương thời xưa”, để đối phó với những điều dị nghị Chính cách đặt tên đất
“dựa theo sách cũ” đã lại được thực thi, sau này, năm 1888 Thành Hà Nội và phụ cận trở thành nhượng địa của thực dân Pháp, tỉnh lỵ Hà Nội phải chuyển tới Làng Cầu Đơ (thuộc Huyện Thanh Oai, Phủ Hoài Đức), cần có một tên tỉnh mới Người ta đã dựa vào một câu trong sách Mạnh Tử (Lương Huệ Vương, thượng, 3) “Hà Nội mất mùa, thì đưa dân đó về Hà Đông, đưa thóc đất này về Hà Nội, Hà Đông mất mùa cũng theo phép đó” Dựa theo câu trên, người ta đặt tên tỉnh mới là Hà Đông, tuy rằng tỉnh này nằm ở phía Tây Sông Nhị, theo thực địa phải đặt tên là Hà Tây mới đúng
Trang 4Cửa Bắc.
Tên không chính quy
Là những tên trong văn thơ, ca dao, khẩu ngữ dùng để chỉ Thành Thăng Long - Hà Nội
1 Trường An - (Tràng An): Vốn là tên Kinh đô của hai triều đại phong kiến thịnh trị vào bậc
nhất của nước Trung Quốc: Tiền Hán (206 Tr CN - 8 S.CN) và Đường (618 - 907) Do đó, được các nhà Nho Việt Nam xưa sử dụng như một danh từ chung chỉ Kinh đô Từ đó, cũng được người bình dân sử dụng nhiều trong ca dao, tục ngữ chỉ Kinh đô Thăng Long
Thí dụ:
Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An
Rõ ràng chữ Trường An ở đây là để chỉ Kinh đô Thăng Long
2 Phượng Thành (Phụng Thành)
Vào đầu Thế kỷ XVI, ông Trạng Nguyễn Giản Thanh người Bắc Ninh có bài phú Nôm rất nổi
Trang 5tiếng: Phượng Thành xuân sắc phú (Tả cảnh sắc mùa Xuân ở Thành Phượng).
Nội dung của bài phú trên là tả cảnh mùa Xuân của Thăng Long đời Lê Phụng Thành hay Phượng Thành được dùng trong văn học Việt Nam để chỉ Thành Thăng Long
3 Long Biên - Là nơi quan lại nhà Hán, Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều (Thế kỷ III, IV, V, và VI)
đóng trụ sở ở Giao Châu (tên nước ta thời ấy) Sau đó, đôi khi cũng được dùng trong thơ văn
để chỉ Thăng Long - Hà Nội Sách Quốc triều đăng khoa lục có đoạn chép về tiểu sử Tam nguyên Trần Bích San (1838 - 1877), ghi lại bài thơ của Vua Tự Đức viếng ông, có hai câu đầu như sau:
Long Biên tài hướng Phượng Thành hồi
Triệu đối do hy vĩnh biệt thôi!
Dịch nghĩa:
Nhớ người vừa tự Thành Long Biên về tới Phượng Thành
Trẫm còn đang hy vọng triệu ngươi vào triều bàn đối, bỗng vĩnh biệt ngay
Thành Long Biên ở đây, Vua Tự Đức dùng để chỉ Hà Nội, bởi vì bấy giờ Trần Bích San đang lĩnh chức Tuần phủ Hà Nội Năm 1877, Vua Tự Đức triệu ông về Kinh đô Huế để sung chức
sứ thần qua nước Pháp, chưa kịp đi thì mất
4 Long thành - Là tên gọi tắt của Kinh thành Thăng Long Nhà thơ thời Tây Sơn Ngô Ngọc
Du, quê ở Hải Dương, từ nhỏ theo ông nội lên Thăng Long mở trường dạy học và làm thuốc Ngô Ngọc Du là người được chứng kiến trận đại thắng quân Thanh ở Đống Đa - Ngọc Hồi của Vua Quang Trung Sau chiến thắng Xuân Kỷ Dậu (1789), Ngô Ngọc Du có viết bài Long Thành quang phục kỷ thực (Ghi chép việc khôi phục Long Thành)
5 Hà Thành - Là tên gọi tắt của Thành phố Hà Nội được dùng nhiều trong thơ ca để chỉ Hà
Nội Thí dụ như bài Hà Thành chính khí ca của Nguyễn Văn Giai, bài Hà Thành thất thủ, tổngvịnh (khuyết danh), Hà Thành hiểu vọng của Ba Giai(?)
6 Hoàng Diệu - Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đôi khi trong các báo chí của
ta, chúng ta sử dụng tên này để chỉ Hà Nội (Thành Hoàng Diệu)
Ngoài ra, trong cách nói dân gian còn nhiều từ được dùng để chỉ Thăng Long - Hà Nội như:
Kẻ Chợ (Khéo tay hay nghề đất lề Kẻ Chợ - Khôn khéo thợ thầy Kẻ Chợ); Thượng Kinh, tên này để nói đất Kinh Đô ở trên mọi nơi khác trong nước, dùng để chỉ Kinh đô Thăng Long (Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Chẳng lịch cũng thể con người Thượng Kinh) hoặc trong tác phẩm: Thượng Kinh ký sự của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác; Kinh Kỳ, tên này nói đất có Kinh đô đóng (Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến); Và đôi khi chỉ dùng một từ như
“Ăn Bắc, mặc Kinh” Bắc đây chỉ vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh), Kinh chỉ Kinh đô Thăng Long.Loại tên không chính quy của Thăng Long - Hà Nội còn nhiều, được người đời sử dụng khá linh hoạt trong văn học, ca dao kể ra đây chưa hết
Trích Tổng tập Nghìn năm văn hiến Thăng Long
Theo VGPNEWS
Trang 6Đọc lịch sử Hồ Gươm qua đáy nước
15/04/2010 14:38
Từ 10.000 đến 4.500 năm trước, hồ vẫn còn chìm ngập dưới biển Qua hàng nghìn năm, hồ đã có sự dịch chuyển từ Tây Nam lên Đông Bắc.
Đền Ngọc Sơn xưa - Ảnh tư liệu
Cũng như một số hồ khác, Hồ Hoàn Kiếm phát sinh và tiến hóa trong mối liên quan mật thiết với lịch sử phát triển Sông Hồng và hệ thống sông chảy ngoằn ngoèo trong Thành phố Hà Nội gắn liền với các pha biển tiến, thoái diễn ra ở thời kỳ Holocen.
Trên quan điểm đó, để xác định được chính xác nguồn gốc hồ, trong công trình nghiên cứu này các tác giả đã tập hợp phân tích hàng loạt các tài liệu lỗ khoan ở gần khu vực
hồ, các kết quả phân tích độ hạt và đặc biệt là khoáng vật sét và độ pH các cột mẫu ống phóng trầm tích hồ.
Trầm tích Holocen khu vực Hà Nội (10.000 năm trước đến nay)
Trầm tích Holocen sớm (QIV1) 10.000 – 6.000 năm (trước biển tiến cực đại)
Trầm tích Holocen sớm được đặc trưng bởi một lớp bùn sét xám đen giàu mùn bã hữu
cơ và các vỉa mỏng than bùn thuộc tương đầm lầy ven biển cổ (xem địa tầng lỗ khoan hình 1 của dự án Plaza, 1997) Điều đó chứng minh cho đời đường bờ cổ được ấn định
ở khu vực 10.000 – 6.000 năm (trước biển tiến cực đại) trong quá trình đường bờ vẫn được tiếp tục dịch chuyển đến vùng ven rìa đồng bằng.
Như vậy, tại trên lòng hồ lớp trầm tích này nằm ở vị trí sâu dưới lớp trầm tích đáy Theo quy luật tiến hóa có thể chúng còn được bảo tồn song cũng có thể bị xáo trộn do quá trình tác dụng của dòng chảy ven Sông Hồng cổ nối với Sông Hồng hiện đại qua khu vực Bảo tàng Lịch sử.
Trang 7Trầm tích Holocen trung (QIV2) 6.000 – 4.500 năm (trước biển tiến cực đại)
Lớp trầm tích có tuổi Holocen trung là lớp sét xám xanh thuộc tương vũng vịnh bắt gặp ở độ sâu từ 1m-6,1m (xem địa tầng lỗ khoan hình 1 – 2b) Trầm tích sét xám xanh
đã được nghiên cứu rất chi tiết trong phương án đo vẽ bản đồ địa chất tỷ lệ 1:50.000 khu vực Hà Nội Thành phần bao gồm: hydromica, kaolonit, monmorilonit đặc trưng cho biển vịnh chứng kiến một giai đoạn cả khu vực rộng lớn Hà Nội và phụ cận đều bị chìm ngập dưới biển Tuy biển vịnh không sâu lắm song chế độ thủy động lực khá yên tĩnh, môi trường khử thống trị nên sét có màu xám xanh đặc trưng.
Trầm tích Holocen muộn (QIV2-3) (4.500 - 2.000 năm)
Đây là giai đoạn biển lùi, tạo lập đồng bằng Sông Hồng và các hồ móng ngựa, hồ lưỡi liềm và các hệ thống lạch thoát lũ, các ao chuôm, ô trũng trên các bãi bồi thấp, tất cả cấu thành một phức hệ thống tướng bãi bồi của sông đồng bằng Hà Nội là một khu vực có đầy đủ các hiện tượng địa chất ghi lại một quá trình tiến hóa bãi bồi Sông Hồng chưa hoàn thiện.
Tuy nhiên các yếu tố cơ bản của phức hệ bãi bồi đã có mặt.
- Tướng sét bột pha cát bãi bồi: Gặp ở độ sâu 0m – 1,2m thành tạo do mùa lũ Tại khu vực Đông Nam của hồ, bề dày trầm tích bãi bồi sông thay đổi rất ít theo chiều ngang Điều đó có thể lý giải bởi thời gian thành tạo chưa dài.
- Tướng bùn sét kênh – sông thoát lũ: Hệ thống Sông Tô Lịch chạy ngoằn ngoèo trong
Hà Nội nay đang ở trong giai đoạn thoái hóa, là sản phẩm thoát lũ từ bãi bồi về lòng sông chính Các kiểu dòng chảy này chỉ bắt nguồn từ đồng bằng (bãi bồi cao) đến khu vực bãi bồi thấp, chúng lại kết nối với rất nhiều hồ nhỏ dưới dạng ao chuôm, ô trũng Chúng cũng là một bộ phận của hệ thống thủy văn thoát lũ khác với hồ móng ngựa là hiện tượng bỏ rơi một khúc sông trong quá trình uốn khúc quanh co, dịch chuyển ngang nhanh.
Quá trình dịch chuyển lòng Sông Hồng từ Tây Nam lên Đông Bắc là nguyên nhân tạo nên hệ thống sông con bắt nguồn từ bãi bồi cao đổ vào Sông Hồng (hệ thống Sông Tô Lịch), thực chất đó là lạch thoát lũ tự nhiên Các hệ thống hồ cạn dạng ao chuôm, ô trũng phát triển trên bãi bồi thấp như Hồ Hoàn Kiếm, Thuyền Quang, Hồ Ba Mẫu, Bảy Mẫu, Hồ Đống Đa, Hồ Xã Đàn, Hồ Ngọc Khánh, Hồ Giảng Võ, Hồ Vạn Phúc, Hồ Trương Định, Hồ Thanh Nhàn đều có nguồn gốc ra đời trong giai đoạn hình thành hệ thống Sông Tô Lịch.
Cũng cần hết sức lưu ý từ khi Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long là bắt đầu của quá trình đô thị hóa Vì vậy, theo chiều dài lịch sử, con người đã cải tạo bằng nhiều hình thức làm cho cảnh quan bãi bồi tự nhiên khi xưa đã bị đổi khác Hồ Hoàn Kiếm cũng nằm trong tình trạng đó.
Cần phải nghiên cứu thêm mối liên hệ giữa Hồ Hoàn Kiếm với các hệ thống hồ kể trên
để hiểu đúng hơn nguồn gốc của chúng Song không còn nghi ngờ gì nữa, Hồ Hoàn Kiếm là sản phẩm tiến hóa của bãi bồi Sông Hồng.
Trang 8Đền Ngọc Sơn ngày nay
Đặc điểm trầm tích và địa hóa Hồ Hoàn Kiếm
Thành phần độ hạt
Trầm tích chủ yếu là bùn cát trong đó có cả cát sét và bột cát (khu vực gần Đảo Ngọc
và Tháp Rùa) Trầm tích bùn cát phân bố thành một đới rộng ven bờ khép kín Trầm tích này có độ chọn lọc kém Hàm lượng cát thay đổi từ 8 đến 29% và có xu thế gia tăng từ độ sâu 1m đến lớp trầm tích tầng mặt Ngược lại, thành phần cấp hạt sét chiếm
tỷ lệ khá cao, thay đổi từ 29% đến 62% và có xu thế giảm dần từ dưới lên trên Điều đó
đã lý giải bởi quá trình pha trộn vật liệu cát của lớp trầm tích bề mặt do ảnh hưởng của hoạt động nhân sinh và nước chảy bề mặt.
Song toàn bộ lớp trầm tích tầng mặt (từ 0m – 1m) là sản phẩm bị xáo trộn của một thành tạo sét bùn đặc trưng cho môi trường vũng vịnh nguyên thủy ở tầng dưới (>1m)
và chuyển dần lên thành tạo bùn sét pha cát ở tầng trên.
Nhìn hai sơ đồ phân bố trầm tích (trầm tích ở độ sâu 1m và trầm tích tầng mặt) cho thấy sự khác nhau rõ rệt Trên sơ đồ phân bố trầm tích ở độ sâu 1m, trung tâm của hồ lệch về phía Tây Nam, nằm sát bờ hồ hiện đại Trên sơ đồ phân bố trầm tích tầng mặt, trung tâm của Hồ lại phân bố ở giữa, đúng quy luật là càng vào giữa Hồ thì độ hạt càng mịn, tỷ lệ cấp hạt sét (< 0,01mm) tăng lên.
Như vậy, theo quy luật phân dị trầm tích thì Hồ đã có sự dịch chuyển từ Tây Nam lên Đông Bắc.
Thành phần khoáng vật
Từ 10.000 đến 4.500 năm Hồ Hoàn Kiếm còn chìm ngập dưới biển vũng vịnh cùng chung số phận với cả đồng bằng Sông Hồng Cửa Sông Hồng đổ ra biển lúc bấy giờ nằm ở lãnh thổ của Phúc Yên ngày nay Nhờ chế độ biển vịnh nông và yên tĩnh nên toàn bộ đồng bằng lắng đọng một lớp sét xám xanh bao gồm chủ yếu là monmorilonit, hydrromica và kaolinit cùng với các khoáng vật tại sinh khác đặc trưng cho môi
trường biển như glauconit, halit, sinvin calcit Đó là tổ hợp khoáng vật chỉ thị cho môi trường có độ muối cao (pH > 8), yên tĩnh, bể trầm tích kín hoặc nửa kín kiểu chế độ vũng vịnh.
Thành phần khoáng vật sét được nghiên cứu rất chi tiết bởi lẽ khoáng vật sét là chỉ thị
độ pH của môi trường.
Trang 9Theo kết quả định lượng khoáng vật bằng phương pháp rơghen mẫu trầm tích đáy Hồ Hoàn Kiếm thì:
- Khoáng vật monmorilonit đặc trưng cho môi trường biển vũng vịnh chiếm từ 2,03% đến 2,3% và có xu thế giảm dần từ dưới lên
- Khoáng vật calcit, đặc trưng cho môi trường vũng vịnh chiếm hàm lượng khá cao (từ 13,5% đến 23,9%)
- Các khoáng vật sinvin, halit là khoáng vật đặc trưng cho môi trường biển, vẫn còn được bảo tồn trong chế độ khử vũng vịnh
- Khoáng vật glauconit, đặc trưng cho môi trường vũng vịnh, biển nông chiếm từ 4,4% đến 5,2% tương đương với ilit (hay hyromica) (3,4% - 6,0%)
Độ pH của môi trường
Theo chiều thẳng đứng, độ pH giảm dần từ dưới lên (từ 8,15% - 7,0%) phản ánh môi trường chuyển dần từ biển vũng vịnh nước mặn đến hồ lục địa nước ngọt, song vẫn bị ảnh hưởng của môi trường biển do tính kế thừa theo thời gian
1 pH của lớp bùn ở độ sâu 1m hầu hết > 8 và thay đổi trong khoảng từ 8,02 đến 8,15 đặc trưng cho môi trường biển điển hình
2 Độ pH của lớp bùn tầng mặt thay đổi từ 7,5 – 7,0 đặc trưng cho môi trường kiềm yếu vũng vịnh ven bờ
Kết luận
1 Hồ Hoàn Kiếm là một dạng ô trũng trên bãi bồi thấp phía hữu ngạn Sông Hồng Chúng được thành tạo cách đây khoảng 3.000 năm khi lòng Sông Hồng bị dịch chuyển lên phía Đông Bắc Hà Nội
2 Không tìm thấy trầm lòng sông cổ trên đáy Hồ Hoàn Kiếm Trầm tích đáy hồ chủ yếu
là sét pha bùn cát và có sự phân tầng: tầng dưới là trầm tích vũng vịnh biển đặc trưng, tầng trên là một hỗn hợp bùn cát bị xáo trộn do tác động nhân sinh (nạo vét làm xáo trộn lớp trầm tích vũng vịnh Holocen Trung cách đây 6.000 – 4.500 năm với lớp bùn cát hiện đại do nước mưa và dòng chảy bề mặt mang tới)
3 Hồ Hoàn Kiếm nguyên là một bộ phận liên thông với hệ thống Sông Tô Lịch chảy ngoằn ngoèo, đó chính là hệ thống thủy văn thoát lũ bắt nguồn từ bãi bồi cao chảy qua khu vực bãi bồi thấp rồi đổ vào Sông Hồng để ra biển Tương tự như Hồ Đống Đa, Thuyền Quang, Bảy Mẫu, Thanh Nhàn Hồ Hoàn Kiếm đã bị thu hẹp diện tích do quá trình đô thị hóa, con người lấp dần và độ sâu hồ đang bị cạn dần do quá trình bồi lắng lòng hồ tự nhiên theo thời gian
4 Theo quy luật, Hồ Hoàn Kiếm sẽ bị đầm lầy hóa theo thời gian, song hiện tại độ pH của nước hồ vẫn dao động trong khoảng 6,9 – 7,5 (mùa Hè) và 9-10 (mùa đông) nghĩa
là môi trường nước hồ trung tính chưa ảnh hưởng đến thế giới thủy sinh và rùa trong
Trang 10hồ
5 Nguồn gốc của rùa Hồ Hoàn Kiếm còn là vấn đề tranh luận, cần tiếp tục nghiên cứu Song điều khẳng định là nếu không phải rùa nuôi thì nguồn gốc của rùa phải là từ Sông Hồng đưa vào trước khi đắp đê Sông Hồng.
(Trích Tổng tập Nghìn năm văn hiến Thăng Long)
Từ khi hình thành cho đến nay, Thăng Long-Hà Nội có nhiều tên gọi khác nhau được chép trong sử sách Nhà nước Việt Nam:
1 - Long Đỗ: Truyền thuyết kể rằng, lúc Cao Biền nhà Đường, năm 866, đang đắp thành Đại La, phát hiện thần nhân hiện lên tự xưng là thần Long Đỗ Do vậy, sử sách thường gọi Thăng Long là đất Long Đỗ.
2 - Tống Bình: Tống Bình là tên đất trị sở của thế lực đô hộ phương Bắc thời Tùy (581-618), Đường (618-907) Trước đó, trị sở đô hộ phương Bắc đóng ở vùng Long Biên (tức Bắc Ninh ngày nay), đến đời Tùy, mới chuyển đến Tống Bình.
3 - Đại La: Theo kiến trúc xưa, kinh đô bao giờ cũng có "tam trùng thành quách": trong cùng là Tử cấm thành (bức thành màu đỏ tía) nơi vua và hoàng tộc ở, giữa là Kinh thành và ngoài cùng là Đại La thành.
Năm 866, Cao Biền bồi đắp cho Đại La thành rộng và vững chãi hơn trước Từ đó, có tên gọi thành Đại La Bởi thế, trong Chiếu dời đô của vua Lý Thái Tổ (1010) có viết: " Huống chi thành Đại La, đô
cũ của Cao Vương (tức Cao Biền) ở giữa trời đất ".
4 - Thăng Long: Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" chép: "Mùa thu, tháng 7 năm Canh Tuất (1010), vua
từ thành Hoa Lư dời đô ra Kinh phủ thành Đại La, tạm đỗ thuyền dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành gọi là thành Thăng Long" Đây là tên gọi có tính văn chương nhất, gợi cảm nhất trong các tên về Hà Nội.
5 - Đông Đô: Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" chép: "Mùa hạ tháng 4 năm Đinh Sửu (1397) lấy Phó tướng Lê Hán Thương (tức Hồ Hán Thương) coi phủ đô hộ là Đông Đô".
Trong "Khâm định Việt sử thông giám cương mực" có giải rõ: "Đông Đô tức Thăng Long, lúc ấy gọi Thanh Hóa là Tây Đô, Thăng Long là Đông Đô".
Trang 116 - Đông Quan: Quan quân nhà Minh gọi Thăng Long là Đông Quan với hàm nghĩa kỳ thị Kinh đô của nước ta chỉ được ví là "cửa quan phía Đông" của Nhà nước phong kiến Trung Hoa Theo sử sách, năm 1408, quân Minh sau khi đánh bại cha con Hồ Quý Ly đã đóng đô ở thành Đông Đô, đổi tên thành Đông Quan.
7 - Đông Kinh: Thời Lê, vì Thanh Hóa có Tây Đô, cho nên gọi thành Thăng Long là Đông Kinh.
8 - Bắc Thành: Đời Tây Sơn (1787-1802) vì kinh đô đóng ở Phú Xuân (Huế), nên gọi Thăng Long là Bắc Thành.
9 - Thăng Long: Năm 1802, vua Gia Long quyết định đóng đô ở Phú Xuân (Huế), không ra Thăng Long Tên Thăng Long đã có từ lâu đời, nên Gia Long thấy không tiện bỏ đi, vẫn giữ tên Thăng Long, nhưng đổi chữ Long là Rồng thành chữ Long là thịnh vượng, lấy cớ rằng rồng là tượng trưng cho nhà vua, nay vua không ở đây thì không được dùng chữ Long là rồng.
Việc thay đổi nói trên xảy ra năm 1805.
10 - Hà Nội: "Năm 1831, vua Minh Mạng đem kinh thành Thăng Long cũ hợp với mấy phủ huyện xung quanh như huyện Từ Liêm, phủ Ứng Hòa, phủ Lý Nhân và phủ Thường Tín lập thành tỉnh Hà Nội, lấy khu vực kinh thành Thăng Long cũ làm tỉnh lỵ của Hà Nội".
Ngoài những tên chính quy được chép trong sử sách do các triều đại phong kiến Nhà nước Việt Nam đặt ra, Hà Nội còn có những tên gọi không chính quy được dùng trong văn thơ, ca dao như:
1 - Trường An (Tràng An): Trường An là tên kinh đô của hai triều đại phong kiến thịnh trị vào bậc nhất của Trung Quốc Tiền Hán (206 trước Công nguyên-8 sau Công nguyên) và Đường (618-907), được các nhà Nho nước ta sử dụng như một danh từ chung chỉ kinh đô, thí dụ:
Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Trường An.
Chữ Trường An ở đây chỉ kinh đô Thăng Long.
2 - Phượng Thành (Phụng Thành): Đầu thế kỷ 16, Trạng nguyên Nguyễn Giản Thanh, người Bắc Ninh, viết bài phú Nôm nổi tiếng "Phượng Thành xuân sắc phú" tả cảnh sắc mùa xuân ở thành Phượng tức thành Thăng Long đời Lê Phượng Thành hay Phụng Thành được dùng trong văn học nước ta để chỉ thành Thăng Long.
Trang 123 - Long Biên: Long Biên vốn là vùng đất phát triển của nước ta, là nơi quan lại nhà Hán đóng nhiệm
sở ở Giao Châu (tên nước ta lúc bấy giờ).
4 - Long Thành: Long Thành là tên viết tắt chỉ kinh thành Thăng Long Nhà thơ Ngô Ngọc Du, sau chiến thắng Xuân Kỷ Dậu (1789) có viết bài Long Thành quang phục kỷ thực ghi chép việc khôi phục Long Thành tức thành Thăng Long thời Tây Sơn.
5 - Hà Thành: Tên Hà Thành được dùng nhiều trong thơ ca để chỉ Hà Nội như bài Hà Thành chính khí ca của Nguyễn Văn Giai, Hà Thành hiểu vọng của Ba Giai, v.v
6 - Hoàng Diệu: Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhiều bài báo đã sử dụng tên Hoàng Diệu
để chỉ Hà Nội, tưởng nhớ đến tấm gương lẫm liệt của vị tổng trấn Hoàng Diệu.
Thực ra, còn nhiều từ được dùng trong dân gian để chỉ Thăng Long-Hà Nội như: Kẻ Chợ (Khéo tay hay nghề, đất lề Kẻ Chợ); Kinh Kỳ (Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì phố Hiến) Thượng Kinh (Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Chẳng lịch cũng thể con người Thượng Kinh)
(Theo Báo QĐND)
Những tên gọi của Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử?
- Thăng Long - Hà Nội là kinh đô lâu đời nhất trong lịch sử Việt Nam Mảnh đất địa linh nhân kiệt này từ trước khi trở thành kinh đô của nước Đại Việt dưới triều Lý (1010) đã là đất đặt cơ
sở trấn trị của quan lại thời kỳ nhà Tuỳ (581 - 618), Đường (618 - 907) của phong kiến
phương Bắc Từ khi hình thành cho đến nay, Thăng Long - Hà Nội có nhiều tên gọi Chúng tôi xin chia các tên gọi ấy thành hai loại: Chính quy và không chính quy, theo thứ tự thời gian như sau:
TÊN CHÍNH QUY:
Là những tên được chép trong sử sách do các triều đại phong kiến, nhà nước Việt Nam chính thức đặt ra:
Long Đỗ: Truyền thuyết kể rằng, lúc Cao Biền nhà Đường, vào năm 866 mới đắp thành Đại
La, thấy thần nhân hiện lên tự xưng là thần Long Đỗ Do đó trong sử sách thường gọi Thăng Long là đất Long Đỗ Thí dụ vào năm Quang Thái thứ 10 (1397) đời Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly có ý định cướp ngôi nhà Trần nên muốn dời kinh đô về đất An Tôn, phủ Thanh Hoá Khu mật chủ sự Nguyễn Nhữ Thuyết dâng thư can, đại ý nói: "Ngày xưa, nhà Chu, nhà Nguỵ dời kinh đô đều gặp điều chẳng lành Nay đất Long Đỗ có núi Tản Viên, có sông Lô Nhị (tức sông Hồng ngày nay), núi cao sông sâu, đất bằng phẳng rộng rãi" Điều đó cho thấy, Long
Đỗ đã từng là tên gọi đất Hà Nội thời cổ
Tống Bình: Tống Bình là tên trị sở của bọn đô hộ phương Bắc thời Tuỳ (581-618), Đường (618 - 907) Trước đây, trị sở của chúng là ở vùng Long Biên (Bắc Ninh ngày nay) Tới đời
Trang 13Tuỳ chúng mới chuyển đến Tống Bình.
Đại La: Đại La hay Đại La thành nguyên là tên vòng thành ngoài cùng bao bọc lấy Kinh Đô Theo kiến trúc xưa, Kinh Đô thường có "Tam trùng thành quách": Trong cùng là Tử Cấm thành (tức bức thành màu đỏ tía) nơi vua và hoàng tộc ở, giữa là Kinh thành và ngoài cùng làĐại La thành Năm 866 Cao Biền bồi đắp thêm Đại La thành rộng hơn và vững chãi hơn trước Từ đó, thành này được gọi là thành Đại La Thí dụ trong Chiếu dời đô của vua Lý Thái
Tổ viết năm 1010 có viết: " Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương (tức Cao Biền) ởgiữa khu vực trời đất " (Toàn thư, Tập I, H, 1993, tr 241)
Thăng Long (Rồng bay lên) Đây là cái tên có tính văn chương nhất, gợi cảm nhất trong số các tên của Hà Nội Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết lý do hình thành tên gọi này như sau: "Mùa thu, tháng 7 năm Canh Tuất (1010) vua từ thành Hoa Lư, dời đô ra Kinh phủ thànhĐại La, tạm đỗ thuyền dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành gọi là thành Thăng Long" (Toàn thư, Tập I, H, tr 241)
Đông Đô: Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: "Mùa hạ tháng 4 năm Đinh Sửu (1397) lấy Phó tướng Lê Hán Thương (tức Hồ Hán Thương - TM) coi phủ đô hộ là Đông Đô" (Toàn thư Sđd - tr 192) Trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, sử thần nhà Nguyễn chú thích: "Đông Đô tức Thăng Long, lúc ấy gọi Thanh Hoá là Tây Đô, Thăng Long là Đông Đô" (Cương mục - Tập 2, H 1998, tr 700)
Đông Quan: Đây là tên gọi Thăng Long do quan quân nhà Minh đặt ra với hàm nghĩa kỳ thị Kinh đô của Việt Nam, chỉ được ví là "cửa quan phía Đông" của Nhà nước phong kiến Trung Hoa Sử cũ cho biết, năm 1408, quân Minh đánh bại cha con Hồ Quý Ly đóng đô ở thành Đông Đô, đổi tên thành Đông Quan Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Tháng 12 năm Mậu
Tý (1408), Giản Định đế bảo các quân "Hãy thừa thế chẻ tre, đánh cuốn chiếu thẳng một mạch như sét đánh không kịp bưng tai, tiến đánh thành Đông Quan thì chắc phá được
chúng" (Toàn thư Sđd - Tập 2, tr224)
Đông Kinh: Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết sự ra đời của cái tên này như sau: "Mùa
hạ, tháng 4 năm Đinh Mùi (1427), Vua (tức Lê Lợi - TM) từ điện tranh ở Bồ Đề, vào đóng ở thành Đông Kinh, đại xá đổi niên hiệu là Thuận Thiên, dựng quốc hiệu là Đại Việt đóng đô ở Đông Kinh Ngày 15 vua lên ngôi ở Đông Kinh, tức là thành Thăng Long Vì Thanh Hoá có Tây Đô, cho nên gọi thành Thăng Long là Đông Kinh" (Toàn thư - Sđd Tập 2, tr 293)
Bắc Thành: Đời Tây Sơn (Nguyễn Huệ - Quang Trung 1787 - 1802 - TM) Vì kinh đô đóng ở Phú Xuân (tức Huế - TM) nên gọi Thăng Long là Bắc thành"(Nguyễn Vinh Phúc - Trần Huy
Trang 141960, tr 81).
Việc thay đổi nói trên xảy ra năm 1805, sau đó vua Gia Long còn hạ lệnh phá bỏ hoàng thành
cũ, vì vua không đóng đô ở Thăng Long, mà hoàng thành Thăng Long lại lớn rộng quá
Hà Nội: Sách Lịch sử thủ đô Hà Nội cho biết: "Năm 1831, vua Minh Mạng đem kinh thành Thăng Long cũ hợp với mấy phủ huyện xung quanh như huyện Từ Liêm, phủ ứng Hoà, phủ
Lý Nhân và phủ Thường Tín lập thành tỉnh Hà Nội, lấy khu vực kinh thành Thăng Long cũ làm tỉnh lỵ của Hà Nội" (Trần Huy Liệu (chủ biên) Lịch sử thủ đô Hà Nội H 1960, tr 82).TÊN KHÔNG CHÍNH QUY:
Là những tên trong văn thơ, ca dao, khẩu ngữ dùng để chỉ thành Thăng Long - Hà Nội:
Trường An (Tràng An): Vốn là tên Kinh đô của hai triều đại phong kiến thịnh trị vào bậc nhất của nước Trung Quốc: Tiền Hán (206 tr CN - 8 sau CN) và Đường (618 - 907) Do đó, được các nhà nho Việt Nam xưa sử dụng như một danh từ chung chỉ kinh đô Từ đó cũng được người bình dân sử dụng nhiều trong ca dao, tục ngữ chỉ kinh đô Thăng Long
Thí dụ:
Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An
Rõ ràng chữ Trường An ở đây là để chỉ kinh đô Thăng Long
Phượng Thành (Phụng Thành):
Vào đầu thế kỷ XVI, ông Trạng Nguyễn Giản Thanh người Bắc Ninh có bài phú Nôm rất nổi tiếng:
PHƯỢNG THÀNH XUÂN SẮC PHÚ
(Tả cảnh sắc mùa xuân ở thành Phượng)
Nội dung của bài phú trên là tả cảnh mùa xuân của Thăng Long đời Lê Phụng thành hay Phượng thành được dùng trong văn học Việt Nam để chỉ thành Thăng Long
Long Biên: Vốn là nơi quan lại nhà Hán, Nguỵ, Tấn, Nam Bắc triều (thế kỷ III, IV, V và VI) đóng trị sở của Giao Châu (tên nước Việt Nam thời đó) Sau đó, đôi khi cũng được dùng trong thơ văn để chỉ Thăng Long - Hà Nội Sách Quốc triều đăng khoa lục có đoạn chép về tiểu sử Tam nguyên Trần Bích San (1838 - 1877); ghi lại bài thơ của vua Tự Đức viếng ông,
có hai câu đầu như sau
Long Biên tài hướng Phượng thành hồi
Triệu đối do hi, vĩnh biệt thôi!
:Dịch nghĩa:
Trang 15Nhớ người vừa tự thành Long Biên về tới Phượng Thành.
Trẫm còn đang hy vọng triệu ngươi và triều bàn đối, bỗng vĩnh biệt ngay
Thành Long Biên ở đây, vua Tự Đức dùng để chỉ Hà Nội, bởi vì bấy giờ Trần Bích San đang lĩnh chức Tuần phủ Hà Nội Năm 1877 vua Tự Đức triệu ông về kinh đô Huế để sung chức
sứ thần qua nước Pháp, chưa kịp đi thì mất
Long Thành: Là tên viết tắt của Kinh thành Thăng Long Nhà thơ thời Tây Sơn Ngô Ngọc Du,quê ở Hải Dương, từ nhỏ theo ông nội lên Thăng Long mở trường dạy học và làm thuốc NgôNgọc Du là người được chứng kiến trận đại thắng quân Thanh ở Đống Đa - Ngọc Hồi của vua Quang Trung Sau chiến thắng xuân Kỷ Dậu (1789), Ngô Ngọc Du có viết bài Long thànhquang phục kỷ thực (Ghi chép việc khôi phục Long thành)
Hà Thành: Là tên viết tắt của thành phố Hà Nội được dùng nhiều trong thơ ca để chỉ Hà Nội Thí dụ như bài Hà Thành chính khí ca của Nguyễn Văn Giai, bài Hà Thành thất thủ, tổng vịnh(khuyết danh), Hà Thành hiểu vọng của Ba Giai?
Hoàng Diệu: Ngay sau Cách mạng tháng Tám - 1945, đôi khi trong các báo chí của Việt Nam
sử dụng tên này để chỉ Hà Nội
Ngoài ra, trong cách nói dân gian, còn nhiều từ được dùng để chỉ Thăng Long - Hà Nội như:
Kẻ Chợ (Khéo tay hay nghề đất lề Kẻ Chợ - Khôn khéo thợ thầy Kẻ Chợ), Thượng Kinh, tên này để nói đất kinh đô ở trên mọi nơi khác trong nước, dùng để chỉ kinh đô Thăng Long (Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Chẳng lịch cũng thể con người Thượng Kinh) Kinh Kỳ, tên này nói đất có kinh đô đóng (Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến)
Và đôi khi chỉ dùng một từ kinh như "Ăn Bắc, mặc Kinh" Bắc đây chỉ vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh), Kinh chỉ kinh đô Thăng Long
Loại tên "không chính quy" của Thăng Long - Hà Nội còn nhiều được sử dụng khá linh hoạt trong văn học, ca dao kể ra đây không hết được./
Tường Minh (Tạp chí Xưa và Nay
Thăng Long- Hà Nội là Kinh đô lâu đời nhất tmng lịch sử Việt Nam Đất địa linh nhân kiệt này từ trước khi trở thành Kinh đô của nước Đại Việt dưới triều Lý (1010) đã là đất đặt cơ sở trấn trị của quan lại thời
kỳ nhà Tùy (581-681), nhà Đường (618-907) của phong kiến phương Bắc Từ khi hình thành đến nay, Thăng Long - Hà Nội còn có nhiều tên gọi khác Nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội (1010 - 2010), xin dẫn chứng các địa điểm sau đây có liên quan đến sự kiện trên
- Long Đỗ: truyền thuyết kể rằng, lúc Cao Biền, viên tướng nhà Đường sang nước ta đắp thành Đại La, thấy thần nhân hiện lên tự xưng là thần Long Đỗ Do đó trong sử sách thường gọi Thăng Long Thăng Long là đất Long Đỗ.
- Đại La: hay còn gọi là đại La thành, nguyên là tên vòng thành ngoài cùng bao bọc lấy Kinh đô Theo kiến trúc xưa, Kinh đô thường có ''Tam trùng thành quách'', trong cùng là Tử Cấm Thành, giữa là Kinh thành và ngoài