1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TINH THẦN YÊU NƯỚC TRONG THƠ PHAN VĂN TRỊ

54 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 284,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể điểm qua một số bài viết về ông như sau: Nguyễn Đăng Na với Giáo trình văn học trung đại Việt Nam có liệt kê tình hình sáng tác chung của các tác giả có những tác phẩm tiêu biểu s

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 6

7 Cấu trúc của báo cáo 6

PHẦN NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1 PHAN VĂN TRỊ VÀ DÒNG VĂN HỌC YÊU NƯỚC CHỐNG PHÁP NỬA CUỐI THẾ KỈ XIX 8

1.1 Bối cảnh văn học nửa cuối thế kỉ XIX 8

1.1.1 Về bối cảnh lịch sử xã hội 8

1.1.2 Sự đổi mới của văn học 10

1.2 Khuynh hướng văn học yêu nước chống pháp nửa cuối thế kỉ XIX 12

1.3 Tác giả Phan Văn Trị 15

Tiểu kết 17

CHƯƠNG 2 TINH THẦN YÊU NƯỚC DƯỚI VỊ THẾ CỦA MỘT NHO SĨ 18

2.1 Tinh thần yêu nước mạnh mẽ và quyết liệt 18

2.2 Tinh thần yêu nước thể hiện qua những hình ảnh ẩn dụ mang tính nhiễu nhại 21

2.3 Tinh thần yêu nước được thể hiện qua nhiều giọng điệu 27

Tiểu kết: 32

CHƯƠNG 3 TINH THẦN YÊU NƯỚC DƯỚI GÓC ĐỘ CỦA MỘT CHIẾN SĨ 32

3.1 Người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng 33

3.2 Cuộc bút chiến với Tôn Thọ Tường 37

Tiểu kết: 50

KẾT LUẬN 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

Trang 2

Thơ ca là một vũ khí vô cùng quan trọng trong chiến đấu Chúng ta cònnhớ giọng điệu hùng hồn đầy nhuệ khí ấy qua các áng thiên cổ hùng văn như

Nam quốc sơn hà tương truyền của Lí Thường Kiệt, Bình Ngô đại cáo của

Nguyễn Trãi cả hai lần lượt được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên và thứ

hai của dân tộc Bên cạnh đó ta không thể không nhắc tới Dụ chư tì tướng hịch

văn của Trần Hưng Đạo, Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu… Những

tác phẩm thời trung đại ấy đã khích lệ, động viên quân và dân đứng lên chốnggiặc cứu nước Đến thế kỉ XIX, dù là vùng đất non trẻ với lịch sử hình thành chỉvài trăm năm, nhưng Nam Bộ cũng đã sản sinh ra những nhà thơ đi đầu trongphong trào yêu nước

Khác với những cuộc kháng chiến trước đây, dân tộc ta chỉ phải đối mặtvới các triều đại phong kiến phương Bắc thì thế kỉ XIX, chúng ta phải gánh chịuhọa xâm lăng từ một thế lực hoàn toàn mới: thực dân Pháp Bấy giờ triều đìnhHuế nhu nhược, hèn nhát kí hai bản hòa ước với Pháp, lục tỉnh Nam Kỳ gồm cáctỉnh Gia Định, Biên Hoà, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên hoàn toànrơi vào tay giặc Trước bối cảnh ấy, nhân dân cả nước và đặc biệt là nhân dânNam Bộ đã đứng dậy đấu tranh với những cuộc khởi nghĩa của Trương CôngĐịnh, Nguyễn Trung Trực, Thủ khoa Huân… bên cạnh việc đấu tranh vũ trang,thì cuộc chiến bằng ngòi bút cũng diễn ra hết sức sôi nổi Văn học yêu nước

Trang 3

chống Pháp ra đời đã kế thừa nền văn học yêu nước của dân tộc Những sáng táccủa các sĩ phu yêu nước đương thời như Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn QuangBích, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Thông đã hòa chung vào dòng văn học yêunước nửa cuối thế kỉ XIX, trong đó có Phan Văn Trị như một tiếng nói mạnh mẽ

và cương trực, đã góp lên một tiếng nói vô cùng mạnh mẽ và sôi nổi cho vănhọc đang chuyển mình lúc bấy giờ

Do đó, chung tôi chọn báo cáo đề tài Tinh thần yêu nước trong thơ Phan

Văn Trị là để hiểu thêm về hoàn cảnh lịch sử, xã hội, tư tưởng thời đại cũng như

cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Phan Văn Trị Bên cạnh đó, còn cho thấytinh thần yêu nước mạnh mẽ và nỗi lòng của nhà thơ đối với thời cuộc

2 Lịch sử vấn đề

Phan Văn Trị là một trong những tác giả tiêu biểu trong khuynh hướngvăn học yêu nước chống Pháp nửa cuối thế kỉ XIX, đặc biệt ở Nam Bộ Tuy vậy,vẫn chưa có nhiều công trình khảo cứu về tác phẩm của ông ở các phương diệnnội dung và nghệ thuật Hầu hết, các nghiên cứu chỉ điểm qua tên tuổi ông trongcác giáo trình văn học hoặc ca ngợi tinh thần yêu nước của ông ở một số bàiđăng lẻ tẻ Có thể điểm qua một số bài viết về ông như sau:

Nguyễn Đăng Na với Giáo trình văn học trung đại Việt Nam có liệt kê

tình hình sáng tác chung của các tác giả có những tác phẩm tiêu biểu sáng táctrong giai đoạn này, bao gồm cả Phan Văn Trị nhưng nhìn chung thì đó chỉ lànhững nét cơ bản nhất chứ chưa đi vào tìm hiểu cụ thể tác phẩm của ông Côngtrình đặc biệt nhấn mạnh đến cuộc bút chiến giữa Phan Văn Trị và Tôn ThọTường như một minh chứng cho sức ảnh hưởng của nhà văn đối với công

chúng: “Cuộc tranh luận nảy lửa giữa Phan Văn Trị và Tôn Thọ Tường là một ví

dụ khá tiêu biểu Lập luận của Tôn Thọ Tường rất đặc trưng cho tư tưởng của kẻchủ hòa, sợ hi sinh tự ti dân tộc, khiếp đảm trước thanh thế của giặc… nhưng lạikhông muốn cho người khác thấy được tim đen của mình nên ra sức tìm cáchche đậy Người ta viện dẫn cả sử sách kim cổ để lấp liếm, biện bạch Đáp lại

Trang 4

Phan Văn Trị đã rành rẽ chỉ ra chân tướng của những kẻ phản quốc…” [2;tr.267]

Nguyễn Khắc Thuần và Nguyễn Quảng Tuân với Phan Văn Trị cuộc đời

và tác phẩm Ở cuốn này, các tác giả nghiên cứu khá công phu, là một trong

những quyển sách mới nhất về cuộc đời và thân thế của Phan Văn Trị Nội dungcủa sách xoay quanh về cuộc đời sự nghiệp, những giai thoại về nhà thơ và cảnhững sáng tác của ông Các tác giả đã trình bày phần phiên âm, khảo dị và phầnchú thích từng văn bản tác phẩm: “Sau Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị xôngxáo tiến lên đánh địch như một dũng sĩ Ngòi bút trong tay ông trở thành ngọngiáo nhằm thẳng vào bọn bán nước, đánh rất trúng, rất đau, khiến đối phươngkhông cựa được… không phải thơ của Phan Văn Trị chỉ có những bài thơ đượcchú ý nhiều qua cuộc bút chiến với Tôn Thọ Tường Những bài thơ trữ tình như

Mất Vĩnh Long, Bến An Giang… những bài thơ ngụ ý châm biếm như Con mèo, Con muỗi, Con rận…” [3; tr 12]

Nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh trong bài “Đọc một cuốn sách về Phan

Văn Trị” đăng trên Tạp chí Hán Nôm Số 1 (12) đã chỉ ra những điểm mấu chốt

về tư tưởng của Phan Văn Trị trong bối cảnh của thời đại ông và có những khảocứu về mặt ngôn ngữ trong một số bài thơ Nôm của ông như “Chẳng hạn câu

thơ Phan Văn Trị “Ở Hớn đành lòng phò lợn Hớn” (Cảm hoài, bài II, tr.106).

Chúng tôi đã có dịp đọc ba văn bản chữ Nôm khác nhau của tác phẩm này, thìthấy chỉ có một bản chép chữ “lợn” là khuyển + lận, còn hai bản kia đều chép làtrùng + lận, theo cả chữ lẫn nghĩa đều phải đọc là “rắn” - “rắn Hán”, có lẽ đúnghơn “heo Hán” vì phù hợp với tích Lưu Bang chém rắn trắng, sau đó diệt Tầnphá Sở lập ra nhà Hán hơn?”1 [4; Tr.55-59]

Bài viết “Cụ Phan Văn Trị và cuộc bút chiến với Tôn Thọ Trường” củaHuỳnh Hà2, cho thấy: “…bằng ngòi bút sắc bén của mình, cụ Phan đã dũng cảm

1 Dẫn lại từ Cao Tự Thanh, “Đọc một cuốn sách về Phan Văn Trị” trên website:

tr.html

http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/nghien-cuu/h%C3%A1n-n%C3%B4m/3231-c-mt-cun-sach-v-phan-vn-2 Báo Cần Thơ Online

Trang 5

(https://baocantho.com.vn/cu-phan-van-tri-va-cuoc-but-chien-voi-ton-tho-tuong-vạch mặt bọn cướp nước, lên án và lột trần bản chất của bọn bán nước; đồngthời cổ vũ phong trào yêu nước của nhân dân ta Tên tuổi của cụ gắn chặt vớicuộc đấu tranh tư tưởng trong nội bộ giới sĩ phu ở nửa sau của thế kỷ XIX,chống tay sai bán nước mà đứng đầu là Tôn Thọ Tường”

Trong bài “Trăm năm sáng ngời đạo nghĩa” của Đặng Duy Khôi3, đã chothấy cuộc đời cũng như sự nghiệp sáng tác văn thơ yêu nước của ông Tác giả đã

có nhận xét như sau về phong cách thơ Phan Văn Trị: “Không quá trữ tình, dạtdào tình cảm như thơ văn cụ Đồ Chiểu nhưng thơ của cụ Cử Trị đánh khôngkhoan nhượng vào thực dân và bè lũ tay sai Trong cảnh nước mất nhà tan, thơcủa cụ Phan Văn Trị không đơn thuần là thơ miêu tả mà có mang tính chiến đấukiên cường Điểm nổi bật trong thơ của nhà thơ - nhà chí sĩ Phan Văn Trị là tinhthần dân tộc, lòng yêu nước thương dân Giọng điệu thơ của cụ Cử Trị đầy chất

tự sự, trần tình và có phần bông đùa Thơ được viết bằng ngôn ngữ bình dân,giản dị rất gần với tính cách của người lao động Nam bộ Bàng bạc trong nhữngbài thơ là hình ảnh, biểu tượng đặc trưng của xứ Nam kỳ lục tỉnh xưa Thơ của

cụ, đặc biệt là mảng thơ về loài vật mang hơi hướng của văn học dân gian vớinhững câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao tương tác trong văn cảnh của từng bài thơ.Bọn thực dân và tay sai không làm sao làm khó được cụ Cử bởi bề ngoài, đó chỉ

là những vần thơ miêu tả động vật thuần túy, “nói chó, nói mèo”, còn ý nghĩa mà

cụ gửi gắm bên trong thì “ai nghĩ sao thì nghĩ”

Với “Ngòi bút chiến đấu của Phan Văn Trị”4 , Lê Tiến Dũng cũng có cái

nhìn hết sức đầy đủ về văn thơ yêu nước của Phan Văn Trị Trong đó có đoạnnhận xét:

“Chưa trả thù nhà, đền nợ nước Dám đâu mắt lấp lại tai ngơ”

(Tự thuật – Bài II)

3 đăng trên Báo Cần Thơ Online (https://baocantho.com.vn/tram-nam-van-sang-ngoi-dao-nghia-a20520) ngày 19/6/2010)

Trang 6

“Gần như toàn bộ tác phẩm của ông đều toát lên một tinh thần như vậy.Những gì ông thấy, những gì ông nghe, chứng kiến đều được bày tỏ trong thơvới một tâm sự “dõi theo người trước giữ năm hằng” Ông dùng ngòi bút củamình chiến đấu cho lẽ phải, cho nhân nghĩa, cho cái chân, cái thiện của cuộc đời,cho vận mệnh của nước và hạnh phúc của dân Ông thẳng tay đả phá cái ác, cáigiả, đả phá những gì chướng tai gai mắt, đả phá những bọn đục khoét dân lành,những kẻ xâm lấn đất nước Ngòi bút của ông vì lẽ đó là một ngòi bút chiến đấu,góp cho dòng văn chương thời thế cuối thế kỷ XIX một tiếng nói riêng trong bảnhùng ca của một thời đại “oanh liệt và đau thương”…”

Các công trình nghiên, các bài báo cứu trên, các tác giả đã phần nào nhìnnhận ở nhiều góc độ về con người và sự nghiệp thơ văn của Phan Văn Trị cũngnhư những giá trị mà các tác phẩm của ông mang lại

Ở đề tài này, chúng tôi xin tìm hiểu về tinh thần yêu nước trong thơ củaông, đồng thời khai thác những cái nhìn mới mẻ về nội dung và nghệ thuật Hivọng đóng góp được một phần kiến thức nhỏ nhoi nhằm hiểu sâu hơn về giá trịthơ văn yêu nước của nhà thơ Phan Văn Trị

3 Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu, làm báo cáo với mục đích như sau:

- Nhận diện nội dung tinh thần yêu nước trong thơ của Phan Văn Trị, vaitrò của một thi sĩ và chiến sĩ trong con người ông

- Phân tích nghệ thuật sáng tác trong thơ Phan Văn Trị ở phương diện bútpháp và ngôn từ

- Nhận định về hoàn cảnh lịch sử xã hội, tư tưởng thời đại cũng như cuộcđời, sự nghiệp văn chương của tác giả

- Góp phần làm phong phú vốn tri thức về thơ văn yêu nước chống Phápnửa cuối thế kỉ XIX nói riêng và văn học chống ngoại xâm của dân tộc nóichung

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 7

Đối tượng nghiên cứu của báo cáo này là tinh thần yêu nước trong thơPhan Văn Trị nhìn từ phương diện nội dung và nghệ thuật.

Phạm vi nghiên cứu của báo cáo là 43 bài thơ của Phan Văn Trị trong

thivien.net.

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành mục đích nghiên cứu đã đề ra, chúng tôi có sự kết hợp giữacác phương pháp trong từng chương, mục của báo cáo, trong đó, phương pháp phân tích là phương pháp được sử dụng nhiều nhất Cụ thể trong khi nghiên cứu

đề tài, chúng tôi có sử dụng các phương pháp:

- Phương pháp xã hội học: nghiên cứu bối cảnh xã hội việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX và khuynh hướng sáng tác văn học ở thời kỳ đó

- Phương pháp phân tích: phân tích thơ từ phương diện nội dung và nghệ thuật để thấy rõ tinh thần yêu nước của nhà thơ

- Phương pháp so sánh: so sánh, đối chiếu với các tác phẩm cùng thời để thấy sự tương đồng và khác biệt giữa các tác phẩm

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Báo cáo mang cái nhìn chi tiết về thời cuộc, góp phần tìm hiểu thêm vềtác giả Phan Văn Trị và các đóng góp của ông cho nền văn học nước nhà, đặcbiệt là văn học yêu nước Đồng thời qua bài báo cáo này tôi hi vọng sẽ khơi dậyniềm tự hào dân tộc, tinh thần yêu nước của thế hệ trẻ

Báo cáo sau khi hoàn thiện cũng đóng góp vào nguồn tư liệu giảng dạyhọc phần Văn học Việt Nam trung đại từ nửa cuối thế kỉ XVIII đến hết thế kỉXIX

7 Cấu trúc của báo cáo

Bài báo cáo gồm ba phần chính: phần mở đầu, phần nội dung và phần kếtluận Phần nội dung gồm ba chương như sau:

Chương 1 Phan Văn Trị và dòng văn học yêu nước chống Pháp

1.1 Bối cảnh văn học nửa cuối thế kỉ XIX 1.1.1 Đôi nét về bối cảnh lịch sử xã hội

Trang 8

1.1.2 Sự đổi mới của văn học1.2 Khuynh hướng văn học yêu nước chống Pháp1.3 Tác giả Phan Văn Trị

Chương 2 Tinh thần yêu nước dưới vị thế của một nho sĩ

2.1 Tinh thần yêu nước mạnh mẽ và quyết liệt2.2 Tinh thần yêu nước thể hiện qua những hình ảnh ẩn dụ mangtính giễu nhại

2.3 Tinh thần yêu nước được thể hiện qua nhiều giọng điệuChương 3 Tinh thần yêu nước dưới góc độ của một chiến sĩ

3.1 Người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng3.2 Cuộc bút chiến với Tôn Thọ Tường

Ngoài ra, bài báo cáo còn có những phần khác như phần mục lục, tài liệutham khảo

Trang 9

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 PHAN VĂN TRỊ VÀ DÒNG VĂN HỌC YÊU NƯỚC

CHỐNG PHÁP NỬA CUỐI THẾ KỈ XIX 1.1 Bối cảnh văn học nửa cuối thế kỉ XIX

1.1.1 Về bối cảnh lịch sử xã hội

Đến nửa cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp lấy cớ triều đình nhà Nguyễn đãbắt giết các giáo sĩ và ngăn chặn thông thương nên đã chính thức xâm lược ViệtNam Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, nhân dân ta đấu tranh chống Phápquyết liệt Giai cấp phong kiến lúc đầu còn chống đối nhưng ngày càng yếu ớt

và cuối cùng thì nhượng bộ, thỏa hiệp, đầu hàng thực dân Pháp

Từ những ngày đầu thực dân Pháp đánh vào Đà Nẵng, trong khi triều đìnhcòn lúng túng, chưa biết xử trí ra sao thì lòng dân đã sục sôi như dầu trong chảonóng Ở ngay kinh thành, cuộc nổi dậy của Đoàn Trưng, Đoàn Trực được binhlính, thợ và dân phu xây lăng Tự Đức ủng hộ chống nhà vua Ngoài Bắc, đốchọc Phạm Văn Nghị chiêu mộ quân sĩ trợ chiến cho Quảng Nam và khi nhàNguyễn kí kết hàng ước cắt các tỉnh miền Đông Nam Kỳ giao cho quân cướpnước, để tranh thủ đàn áp phong trào nông dân ở Bắc, thì nhân dân cùng vớinhững sĩ phu yêu nước ở Nam Kỳ tiếp tục phản kháng một cách tự phát chốngquân xâm lăng

Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra khắp nơi, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa củanông dân chống triều đình phong kiến đầu hàng và chống Pháp xâm lược nhưcuộc khởi nghĩa của Cai Vàng, Ðoàn Hữu Trưng, Trần Tấn…

Phong trào đấu tranh yêu nước của các sĩ phu, các lãnh binh đã lãnh đạonhân dân chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương cũng nổ ra rầm rộ tiêu biểu nhưcuộc khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng, Bùi Điền, Nguyễn Đức Nhuận ở BìnhĐịnh; Trần Văn Dự, Nguyễn Huy Hiệu ở Quảng Nam; Nguyễn Phạm Tuân, LêTrực ở Quảng Bình; Lê Ninh, Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh; Nguyễn Xuân Ôn,

Lê Doãn Nhạ ở Nghệ An; Đinh Công Tráng, Phạm Bành, Tống Duy Tân ở

Trang 10

Thanh Hóa; Tạ Hiện ở Thái Bình; Nguyễn Thiện Thuật ở Hung Yên; Hoàng HoaThám ở Bắc Giang

Kế thừa truyền thống đấu tranh của ông cha, nhân dân Nam Kì hứng mũichịu sào, chiến đấu với phong ba bão táp kéo dài suốt mười mấy năm dài, têntuổi các sĩ phu yêu nước đáng được đề cao trong lịch sử như Nguyễn ĐìnhChiểu, Nguyễn Thông, Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Xuân Ôn, Phan Văn Trị…

Phong trào chống Pháp tuy sôi nổi, đều khắp nhưng không có lực lượnghậu thuẫn làm nồng cốt nên cuối cùng phong trào đấu tranh chống Pháp bị thấtbại Mất nước là do nhà Nguyễn, sợ dân hơn sợ giặc chứ hoàn toàn không phải

do định mệnh

Mặc dù thất bại nhưng cũng chứng tỏ được tinh thần yêu nước nồng nàn,tinh thần dũng cảm của nhân dân, khẳng định phong trào đấu tranh mang tínhnhân dân sâu sắc Có thể nói, đây là giai đoạn lịch sử đau thương mà hùng tráng

của dân tộc, nhiều hi sinh mất mát nhưng rất tự hào, giai đoạn Khổ nhục nhưng

vĩ đại.

Trước những biến cố lớn lao, xã hội có sự phân hóa giai cấp sâu sắc Mỗitầng lớp bị phân hóa đều mang sắc thái tâm lý riêng, một thái độ chính trị riêng

Trong hàng ngũ giai cấp phong kiến, giai cấp thống trị cũ của xã hội, thái

dộ của họ không giống nhau nhưng tâm lý chủ yếu của tầng lớp này là đầu hàng,thỏa hiệp Bên cạnh đó có một số sĩ phu, trí thức phong kiến thấy rõ quyền lợi

của phong kiến cũng chỉ là quyền lợi làm tay sai cho đế quốc, họ tiếp thu truyền

thống yêu nước của dân tộc, sống gần gũi với nhân dân nên đã hăng hái cùng vớinhân dân chống giặc Số khác là những nhà thơ, nhà văn yêu nước đã dùng ngòibút để chiến đấu, để nói lên tâm tư, nguyện vọng và thái độ của mình trước cảnhnước mất, nhà tan

Bên cạnh lực lượng nho sĩ, nhiều tầng lớp mới xuất hiện như tư sản, tiểu

tư sản và vô sản, quyền lợi đối lập nhau Giai cấp tư sản mới hình thành nênchưa đủ mạnh để chống lại tư sản chính quốc, cũng chưa đủ sức để vươn caongọn cờ yêu nước Giai cấp vô sản hầu hết xuất thân từ giai cấp nông dân, giai

Trang 11

cấp này lớn mạnh nhanh chóng nhất là sau chiến tranh thế giới Thứ nhất Tuynhiên, sáng tác văn học giai đoạn này vẫn thuộc về giai cấp cũ nên văn học vẫnchịu sự chi phối của ý thức hệ phong kiến rõ nét.

Ngoài Nho giáo thì Ðạo giáo, Phật giáo và các tín ngưỡng khác cũng rấtphát triển Binh tướng đều xem bổn mạng trước khi ra trận, trời hạn hán lâungày, các triều thần lập đàn cầu đảo để được mưa… Ðiều đó lộ rõ được sự bảothủ nặng nề trong mọi hoạt động Con người tin vào mệnh trời Họ tin vào lựclượng siêu hình có khả năng giải quyết mọi thành bại ở trên đời Ðiều đó làmhạn chế sự cố gắng của con người

Trước tình hình đó vẫn có một số sĩ phu có đầu óc canh tân như Nguyễn

Lộ Trạch, Nguyễn Trường Tộ… có dịp học hỏi khoa học kỹ thuật tiến bộ nên đãnhiều lần đưa ra những kiến nghị cải cách xã hội Nguyễn Trường Tộ đả kích lốihọc từ chương, hư văn, chủ trương học khoa học kỹ thuật, học thiên văn, địa lý,

luật, sinh ngữ… Học tức là học cái chưa biết để mà biết, biết để mà làm Ông

say sưa với những đề nghị cải cách đất nước thậm chí viết cả trên giường bệnh

Giống như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch chủ trương mở rộnggiao thiệp với nước ngoài, trọng việc học kỹ nghệ Việc học kỹ nghệ không phảikhó như việc cắp nách túi Thái Sơn để vượt qua biển Bắc như lời thầy Mạnh Vảlại, theo tình hình khẩn cấp, lúc khát mới lo đào giếng thì đã chậm, nhưng chậmcòn hơn là không biết mãi Dù mất dê mới lo làm chuồng cũng chưa phải làmuộn

Nhưng triều đình mục nát không nghĩ gì đến vận nước nên nhiều bản điềutrần của hai ông bị vùi trong quên lãng Tư tưởng con người quay về với nề nếpnho gia, cổ hủ, có ảnh hưởng làm hạn chế sự phát triển của văn học đương thời

1.1.2 Sự đổi mới của văn học

Văn học nước ta giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX đã có sự kế thừa truyềnthống của văn học dân tộc ở những giai đoạn trước đây, lại được ra đời trongmột bối cảnh đặc biệt của cuộc chiến chống ngoại xâm, vì vậy đã có những nétđộc đáo, rất đáng chú ý

Trang 12

Đầu tiên đó là sự phát triển của lực lượng sáng tác, đây là giai đoạn đánhdấu lực lượng sáng tác đông đảo, sôi nổi gồm nhiều giai cấp, tầng lớp Đáng chú

ý hơn cả là sự trưởng thành của lực lượng sáng tác văn học Nam Bộ Trước đây,đầu thế kỉ XVIII ở Nam Bộ cũng đã có một số sáng tác của Mạc Thiên Tứ, contrai Mạc Cửu, người Minh Hương có công khai phá vùng Hà Tiên nhưng cũngchưa có gì đáng chú ý trong giai đoạn này Đến nửa đầu thế kỉ XIX phong tràosáng tác văn học ở Nam Bộ có phần khởi sắc hơn trước, nhưng vẫn còn đangtrong thời kì hình thành, thành tựu mới là bước đầu Đến nửa sau thế kỉ XIX,được kích thích bởi nhiệt tình yêu nước, nhà văn cũng là chiến sĩ, ngòi bút đượcdùng như súng đạn để giết quân thù, văn học miền Nam nở rộ Văn học chữNôm mới mẻ nhưng gần gũi với cuộc chiến đấu của dân tộc, sắc sảo hơn nhiều

so với bộ phận văn học chữ Hán Nhiều tác giả xuất hiện, có tác giả khôngnhững tiêu biểu cho văn học Nam Bộ mà còn tiểu biểu chung cho văn học cảnước như Nguyễn Đình Chiểu Sự giao lưu văn học hai miền cũng được đẩy

mạnh Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc có tiếng vang rất lớn đối với các nhà thơ

miền Bắc Quang cảnh một nền văn học dân tộc thống nhất suốt từ Nam chí Bắc

có mầm mống từ giai đoạn trước, đến giai đoạn này thực sự đã khai hoa kết quả Văn học giai đoạn này không còn đắm chìm trong thiên nhiên, không bànđến triết lí đạo đức mà đi sâu vào nỗi khổ và niềm vui của con người, gắn bó vớiđau thương và hạnh phúc của cuộc đời; những nhà văn có con mắt nhìn khắp sáucõi, tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời

Có thể nói văn học yêu nước phát triển rầm rộ ở Nam Bộ là một điều tấtyếu của lịch sử Nam Kì là nơi Pháp đặt toàn bộ quyền cai trị (thuộc địa) khônggiống như Bắc Kì hay Trung Kì (bảo hộ) Văn thơ yêu nước hình thành và pháttriển trong giai đoạn này có ý nghĩa lịch sử quan trọng Nó có vai trò dịnhhướng, khích lệ cũng như cỗ vũ tinh thần đấu tranh của nhân dân, trước hết làmiền Nam sau là lan rộng ra cả nước

Thơ văn giai đoạn này ngoài việc trực tiếp kêu gọi, ca ngợi cuộc khángchiến thì bên cạnh đó văn học yêu nước Nam Bộ cuối thế kỉ XIX cũng đã thổ lộ

Trang 13

tâm tư, cảm xúc của mình trong lúc dầu sôi lửa bỏng vừa chứa đựng nỗi niềmriêng vừa thể hiện tình cảm, tư tưởng lớn của dân tộc.

Văn học yêu nước Nam Bộ đã khẳng định bước phát triển của ý thức,khẳng định văn học là tiếng nói không thể thiếu trong cuộc kháng chiến chốngthực dân xâm lược, mặc khác văn học Nam Bộ thời kì này còn đã kích quan lạitriều đình đầu hàng, làm tay sai cho giặc Có thể nói văn chương lúc này đã trởthành một phương tiện hữu hiệu để kêu gọi sĩ phu, khơi gợi lòng tự tôn giốngnòi, nuôi dưỡng nghĩa khí của người dân, đặc biệt là người dân Nam Bộ

1.2 Khuynh hướng văn học yêu nước chống pháp nửa cuối thế kỉ XIX

Văn học yêu nước chống ngoại xâm là một truyền thống ưu tú của vănhọc dân tộc Trong lịch sử nước ta thời nào cũng vậy, hễ có ngoại xâm là ra đờidòng văn học yêu nước chống ngoại xâm, và dòng văn học yêu nước chốngngoại xâm bao giờ cũng là một dòng văn học chủ đạo Nó là biểu hiện của tinhthần dân tộc, của ý chí dân tộc trước mọi kẻ thù xâm lăng Và văn học yêu nướcchống Pháp giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX đã kế thừa một cách tốt đẹp truyềnthống yêu nước trong lịch sử và có những phát triển mới của nó

Văn học yêu nước chống Pháp giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX không chỉ làmột khuynh hướng sáng tác mà là một phong trào, bao gồm một lực lượng sángtác hết sức đông đảo, chủ yếu là những lãnh tụ và quần chúng nghĩa quân củacác phong trào chống Pháp trong cả nước Công việc chủ yếu của họ là đánhgiặc cứu nước và sáng tác cũng là để góp phần đánh giặc cứu nước Họ làm thơ,văn vì nhu cầu của cuộc chiến, để cổ vũ động viên lẫn nhau

Sáng tác của họ không giống nhau, có người có vài trăm bài, có người cómột vài bài Có người sáng tác bằng chữ Nôm, có người sáng tác bằng chữ Hán,

có người dùng cả chữ Hán lẫn Nôm Nhưng điểm chung nổi bật ở họ là tấm lòngyêu nước mãnh liệt, là cuộc chiến đấu quên mình cho nghĩa lớn của nhân dân,của dân tộc

Nguyễn Trung Trực lúc bị giặc bắt đã nói thẳng vào mặt kẻ thù: “Bao giờTây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây” Nguyễn Hữu Huân

Trang 14

ba lần bị giặc bắt, trước lúc bị hành hình vẫn ung dung làm thơ tuyệt mệnh.Nguyễn Duy Cung khi bị giặc bắt Ông lấy dao rạch bụng nhưng không chết.Chúng chạy chữa cho ông nhưng ông nhịn ăn rồi cắn lưỡi tự tử Nguyễn ĐìnhChiểu, bị mù lòa không thể cầm gươm đánh giặc vẫn theo dõi rất sát phong tràođấu tranh của nhân dân và dùng ngòi bút để chiến đấu.

Văn học yêu nước Nam Bộ sáng tác trong giai đoạn đầu của cuộc chiếnđấu, mang khí thế sôi sục, quật cường của một dân tộc độc lập vùng lên chốnglại kẻ thù Ý thức hệ chi phối vẫn là ý thức hệ phong kiến, yêu nước gắn liền vớitrung quân Về sau, do vua và triều đình nhượng bộ, đầu hang giặc nhân dân và

sĩ phu phải tự đảm nhận lấy công cuộc chiến đấu của mình, từ đó tư tưởng trungquân trong văn học yêu nước Nam Bộ mờ dần Nguyễn Đình Chiểu một thờitừng kì vọng rất nhiều vào vua và triều đình nhà Nguyễn, về sau chính ông cũngthất vọng:

“Xe ngựa lao xao giữa cõi trần Biết ai thiên tử biết ai thần”

Phan Văn Trị gay gắt hơn, trong câu chuyện với bạn bè ông đòi “Trảmcàn đức chi đầu, ẩm càn đức chi huyết, phanh càn đức chi thi, thực càn đức chinhục” và trong hai câu ông ứng khẩu dọc đường:

“Đứng lại làm chi cho mất công Vừa đi vừa đái vẽ nên rồng”

Văn học yêu nước Nam Bộ phần lớn là của các nho sĩ thuộc tần lớp dưới,sáng tác phổ biến bằng chữ Nôm, sáng tác bằng chũ Hán cũng có nhưng khôngnhiều

Văn học yêu nước chống Pháp giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX là một bảnhùng ca về cuộc chiến:

Văn học yêu nước chống Pháp là sáng tác của của những người trực tiếphay gián tiếp tham gia phong trào chiến đấu Hơn bất cứ một dòng văn học nàokhác, tính chiến đấu của văn học yêu nước chống Pháp trước hết thể hiện ở sựbóc trần bản chất tàn bạo, thâm hiểm của giặc và bè lũ bán nước

Trang 15

Nguyễn Đình Chiểu ngay từ những ngày đầu chống Pháp, khi chúng đánhvào Nam Bộ ông đã bàng hoàng thốt lên”

“Bến Nghé của tiền tan bọt nướcĐồng Nai tranh khói nhuốm màu mây”

Trong nhiều tác phẩm khác, như bài hịch của Trương Định, thư của PhanĐình Phùng trả lời Hoàng Cao Khải, thơ của Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn QuangBích… chỗ này chỗ khác, mạnh mẽ dữ dội hay kín đáo chua xót đều có nói đến

Tố cáo tội ác của giặc, các nhà thơ yêu nước không phải chỉ ghi lại một thựctrạng đau lòng để rồi than thở ngậm ngùi, mà quan trọng họ muốn nhen nhómtình cảm yêu nước của mọi người Sau nhũng câu đanh thép tố cáo tội ác của kẻthù, Nguyễn Đình Chiểu rút ra một kết luận: “Oán dường ấy, hận dường ấy, cừuthù dường ấy, làm sao trả được mới ưng!”

Mục đích của văn học yêu nước trước hết là phải làm sao để trả thù chonhân dân, cho dân tộc Các nhà thơ trong khuynh hướng văn học yêu nướcchống Pháp đã vạch cho mọi người thấy rõ âm mưu thâm độc của thực dânPháp Về phương diện này, phải nói là tầm nhận thức của thơ văn yêu nước cómột chiều sâu thật sự

Cuộc đấu tranh của văn học yêu nước chống tư tưởng đầu hàng thỏa hiệp:Đấu tranh tư tưởng trong văn học là một hiện tượng mới mẻ của văn họcViệt Nam đến giai đoạn này mới xuất hiện rõ nét Cuộc đấu tranh tư tưởng giaiđoạn này trước hết xảy ra triều đình, những quan lại chủ trương chống thực dânPháp với những quan lại chủ trương hòa với Pháp, về sau mở rộng ra, thànhcuộc đấu tranh tư tưởng trên phạm vi toàn xã hội

Trong phong trào chống Pháp giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX, song songvới cuộc đấu tranh vũ trang là cuộc đấu tranh tư tưởng diễn ra không kém phầngay gắt, sôi nổi Người ta nói nhiều đến cuộc đấu tranh của Phan Đình Phùngchống Hoàng Cao Khải, Nguyễn Quang Bích chống lại chủ trương dụ dỗ, muachuộc của thực dân Pháp Nhưng trong văn học, không thể không nhắc tớinhững cuộc đấu tranh tư tưởng của các sĩ phu yêu nước ở Nam Kỳ, đại diện là

Trang 16

Phan Văn Trị, chống lại Tôn Thọ Tường Đây thực sự là cuộc đấu tranh tư tưởngtrong văn học, bằng văn học, có tiếng vang lớn và có ý nghĩa sâu sắc đối vớiđương thời Cuộc đấu tranh tư tửng của Phan Văn Trị chống Tôn Thọ Tường cótiếng vang rất lớn ở Nam Bộ lúc bấy giờ Nhiều người khác nối gót Phan VănTrị làm thơ họa lại bài Tự thuật của Tường để vạch mặt tên bán nước cầu vinh

và nói lên ý chí chiến đấu của họ

Cuộc đấu tranh tư tưởng của Phan Văn Trị và các sĩ phu yêu nước Nam

Bộ chống Tôn Thọ Tường có tác dụng không những làm cho hàng ngũ bọn taysai bị cô lập, mà còn thức tỉnh được những người còn mơ hồ về lẽ phải trái, thực

hư lúc bấy giờ Đây là cuộc đấu tranh tư tưởng có quy mô đầu tiên trong lịch sửvăn học Việt Nam Mối quan hệ mật thiết giữa đấu tranh chính trị với đấu tranhvăn học, có thể coi là một đặc điểm trong sự phát triển của văn học nước tatrong suốt thời kỳ chống lại ách thống trị của thực dân Pháp

Văn học yêu nước chống Pháp giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX được sángtác trong một điều kiện có rất nhiều hạn chế, người sáng tác chỉ nghĩ đến mụcđích phục vụ chiến đấu, chứ không nghĩ đến làm văn chương, nên thiếu sót của

nó về phương diện nghệ thuật là điều không sao tránh khỏi Tuy vậy văn học yêunước chống Pháp giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX cũng đã sản sinh ra một số tácphẩm mẫu mực về nội dung cũng như nghệ thuật, những tác phẩm làm vẻ vangcho lịch sử văn học dân tộc

1.3 Tác giả Phan Văn Trị

Phan Văn Trị (1830-1910) sinh ra trong lúc tình hình chính trị trong nướcrối ren vì thế cuộc đời và sự nghiệp của Phan Văn Trị đã bị ảnh hưởng không ít

Về quê quán của ông, có nhiều ý kiến không thống nhất nhưng đa số vẫncho rằng ông là người ở làng Hưng Thịnh (hay Hưng Thạnh), tổng Bảo An, tỉnhVĩnh Long; trong khi ý kiến thứ hai cho rằng Phan Văn Trị sinh tại làng ThanhHồng, tỉnh Gia Định, còn ý kiến thứ ba cho rằng ông sinh tại làng Hanh Thông,tỉnh Gia Định; ý kiến thứ tư cho rằng Phan Văn Trị sinh tại Long Tuyền, BìnhThủy, Cần Thơ

Trang 17

Theo như Quốc triều hương khoa lục của Cao Xuân Dục thì Phan Văn Trị

quê ở làng Hưng Thạnh, tổng Bảo An tỉnh Vĩnh Long, cũng theo sách này thì:Phan Văn Trị đỗ Cử nhân khoa Kỷ Dậu năm Tự Đức thứ 2 (1849) Đây là khoathi đặc biệt, vì chỉ có trường Gia Định thi, còn các trường khác thì phải hoãn đếnnăm Canh Tuất (1850) Trong khoa thi này, trường Gia Định có tất cả 17 người

đổ Cử nhân, Phan Văn Trị đỗ thứ 10 Đỗ đầu là Vũ Thế Phong, thứ hai làNguyễn Thông Có thể nói, đây là tài liệu đáng tin nhất bởi vì chế độ thi cử nóichung và hệ thống học vị nói riêng ở nước ta đã trở nên chặt chẽ và chính quy từnhiều thế kỷ trước

Qua nhiều ý kiến kể trên chúng ta có thể thấy rằng Phan Văn Trị sinh ratại thôn Hưng Thạch huyện Bảo An, phủ Hoàng An, trấn Vĩnh Thanh Đến năm

1932 vua Minh Mạng đổi thành tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Thịnh Phú Đông,huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre) là có giá trị nhất

Phan Văn Trị lập gia đình với em cô cậu của Lê Quang Chiểu (học trò củaông) người con gái làng Nhơn Ái, tên Đinh Thị Thanh Ông bà Cử Trị sốngtrong ngôi nhà lá cất nhờ trên đất của dòng họ Lê Quang bên dòng rạch Cái Tắc.Hai người sinh được bốn người con là Phan Thị Đào, Phan Văn Tòng, Phan VănĐương và Phan Thị Mai Cuộc sống của gia đình Cử Trị chật vật thiếu thốn bàHai Cử thường đi giã gạo giúp cho các gia đình lân cận để kiếm gạo nuôi sống

cả nhà, Cử Trị thì dạy học bốc thuốc độ nhật

Thơ Phan Văn Trị trước khi chống Pháp xâm lược thường là những bàithơ vịnh cảnh, vịnh vật nhằm gửi gắm tâm sự và tỏ hoài bão, chí hướng củamình, phê phán bọn thống trị phong kiến bất tài, dốt nát, hám danh lợi Khi giặcPháp xâm lược đất nước, ông đã chuyển hẳn ngòi bút sang chống bọn cướp nước

và bán nước Tiêu biểu nhất là cuộc hoạ thơ phê phán gay gắt thái độ đầu hàng,làm tay sai cho giặc của Tôn Thọ Tường

Sáng tác của ông cho đến nay sưu tầm được khoảng hơn 50 bài thơ Nôm

Đa phần thơ ông ngụ ý châm biếm, mượn cảnh, mượn vật để bộc lộ thái độkhinh bỉ, phê phán kịch liệt đối với những kẻ tham lam vô liêm sỉ, hút máu dân

Trang 18

lành như bài Con muỗi, Con rận, phê phán những kẻ hèn nhát chỉ giỏi nghề sách nhiễu nhân dân trong bài Đồn lính trong làng, hay những kẻ tham sống sợ chết bán nước cầu vinh trong các bài: Con cào cào, Đá cá lia thia, …

Ông cũng làm thơ để bày tỏ chí hướng hoài bão của mình như: Hột lúa,

Cái cối xay Thơ thể hiện sự bất mãn trước thời thế của Phan Văn Trị phần lớn

làm sau khi thực dân Pháp xâm lược Nam kì, nói lên những nỗi uất hận của

những người yêu nước trước thái độ hèn nhát của triều đình trong Mất Vĩnh

Long, nỗi đau xót trước tình thế đất nước tang thương, khẳng định lập trường

chiến đấu và lòng tin vào sự nghiệp cứu nước của nhân dân trong Cảm hoài,

Bến An Giang, …

Những bài thơ như: Hột lúa, Cái cối xay, Con mèo, Con cào cào, Thất thủ

Vĩnh Long, Cám cảnh An Giang, Hoạ Tôn phu nhân quy Thục, Hoạ Từ Thứ quy Tào, Cảm hoài,… trong các tác phẩm của mình ông chỉ sử dụng duy nhất một

thể loại chữ viết đó là chữ Nôm và viết theo thể thất ngôn bát cú Có lẽ vì thế màthơ ông dễ đi vào lòng người và được đông đảo quần chúng đón nhận Thơ PhanVăn Trị giản dị, hừng hực khí thế mà cũng thật trữ tình Ông thường vận dụngngôn ngữ bình dân gần với lời ăn tiếng nói của nhân dân đậm chất Nam Bộ Quanhững bài thơ của mình Phan Văn Trị đã tỏ rõ là người có tầm nhận thức đầy đủ

và sâu sắc về những vấn đề có ý nghĩa mấu chốt của thời đại Thơ là vũ khíchiến đấu của ông

Tiểu kết

Ở chương này, chúng tôi chỉ ra một số vấn đề chung về bối cảnh văn họccủa nước ta trong giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX, cũng như làm nổi bật sự đổimới của văn học so với các thời kì trước Nêu rõ những đặc điểm của khuynhhướng văn học yêu nước chống Pháp và đưa ra những thông tin về cuộc đời,thân thế cũng như sự nghiệp của tác giả Phan Văn Trị mà các nhà nghiên cứu đãtìm hiểu trước đó

Trang 19

CHƯƠNG 2 TINH THẦN YÊU NƯỚC DƯỚI VỊ THẾ

CỦA MỘT NHO SĨ 2.1 Tinh thần yêu nước mạnh mẽ và quyết liệt

Tinh thần yêu nước được xem là một trong những truyền thống quý báucủa dân tộc Và điều ấy đã được minh chứng trong suốt tiến trình lịch sử Có thểthấy tinh thần yêu nước đã được thể hiện ở hầu hết các thời kì, trong cả văn họcdân gian và văn học viết Có thể kể đến như truyền thuyết Thánh Gióng, Sự tích

Hồ Gươm hay Nam Quốc Sơn Hà, Bạch Đằng giang phú, Bình Ngô đại cáo….Bên cạnh đấu tranh vũ trang thì đấu tranh bằng ngòi bút cũng là một thứ vũ khí

vô cùng mạnh mẽ và người nho sĩ cũng chính là những chiến sĩ trên mặt trậnchống giặc cứu nước Ý thức trách nhiệm của người cầm bút đã đem đến chovăn học một cảm hứng lớn đó là cảm hứng yêu nước

Nửa cuối thế kỉ XIX, khi Pháp nổ tiếng súng đầu tiên xâm lược nước tathì truyền thống yêu nước từ ngàn đời nay lại bùng lên mạnh mẽ Lúc này sứcmạnh của văn chương được sử dụng một cách hữu hiệu và trở thành một vũ khítinh thần cổ vũ cuộc đấu tranh vệ quốc của nhân dân

Hàng loạt những sĩ phu yêu nước xuất hiện trong giai đoạn này góp phầnlàm cho lực lượng sáng tác trở nên hùng hậu hơn bao giờ hết, đặc biệt là nhữngnhà nho yêu nước ở Nam Bộ Ta thấy một Nguyễn Xuân Ôn lên án triều đìnhnhu nhược, chửi thẳng mặt những tên quan lại vô trách nhiệm, hèn nhát, thamsống sợ chết:

“Thành trì phó mặc mấy thằng Tây,Thế cũng cân đai mũ với giầy!

Một nước cơ đồ tan nát vậy,Muôn dân đồ thán xót xa thay

Những phường trở đậu ngồi trơ mắt,Mấy lũ can thành đứng chắp tay

Cơm nặng áo dầy thì cũng thế,Phong trần rứa mãi biết sao đây?”

Trang 20

(Cảm tác)

Hay một Nguyễn Đình Chiểu đầy cảm khái trong Than đạo:

“Ba vua năm đế dấu vừa qua,Nối đạo trời rao đức thánh ta

Hai chữ can thường dằn các nước,Một câu trung hiếu dựng muôn nhà

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm,Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà

Căm lấy lòng nhơ mong thói bạc,Trời gần chẳng gánh gánh trời xa

Những khúc ca bi tráng được dệt lên bởi những người nông dân tay lấmchân bùn, khoác lên mình những chiếc áo nâu quanh năm bán mặt cho đất bánlưng cho trời:

“Cui cút làm ăn;

Riêng lo nghèo khó

Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.”

(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

Bằng những dòng thơ bình dị nhưng đầy chính nghĩa đã dấy lên sự cămthù giặc đến tận xương tuỷ của người dân miền Nam nói riêng và cả dân tộc nóichung

Hoà chung vào dòng văn học yêu nước chống pháp, nhà thơ Phan Văn Trịcũng đã để lại những dấu ấn rất riêng của mình Tuy không có khí phách hiênngang như Trương Định Không có chiến công hiển hách, không có câu nói đểđời “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây” nhưNguyễn Trung Trực, nhưng Phan Văn Trị vẫn được xem là một trong nhữngngười có đóng góp tiêu biểu nhất cho nền văn học buổi đầu chống Pháp

Không âm thầm gánh chịu đau thương một cách tiêu cực, Phan Văn Trịthể hiện bằng hành động thức thời Với lập trường kiên định, dùng ngòi bút như

Trang 21

một vũ khí sắc bén, đánh thẳng vào bọn ngoại bang, nghiêm khắc tố cáo và lên

án bọn tay sai Phan Văn Trị làm thơ củng cố niềm tin ở nhân dân và động viênđồng bào vùng lên đấu tranh Trước sự hèn nhát, đánh mất sĩ khí của một số tríthức mù quáng đương thời, đặc biệt là Tôn Thọ Tường đã xem thế lực của ngoạibang với những tàu đồng, dây thép, đại bác… là những thứ không thể chống lại

và coi dân mình là non kém, có những lời lẽ xúc phạm, coi thường người yêunước Phan Văn Trị đã mạnh mẽ lên án, đả kích gay gắt bọn làm tay sai chogiặc

Trong bài Vịnh hát bội, ông viết:

“Đứa mắc ghẻ ruồi, đứa lác voi,Bao nhiêu xiêm áo cũng trơ mòi

Người trung mặt đỏ đôi tròng bạc,Đứa nịnh râu đen mấy sợi còi

Trên trính có nhà còn lợp lọng,Dưới chân không ngựa lại giơ roi

Hèn chi chúng nói bội là bạc,Bôi mặt đánh nhau cú lại thoi.”

Khi Pháp đánh chiếm Nam Kỳ, phong trào tỵ địa được các quan lại, nho

sĩ, nhà yêu nước khởi xướng và hưởng ứng mạnh mẽ Cùng với Nguyễn ÐìnhChiểu, Nguyễn Thông… thì Phan Văn Trị là một trong những người khởi xướngphong trào này

Tỵ địa có thể hiểu là cách cư xử bất hợp tác của những quan lại, nho sĩthời đó với người Pháp Thay vì chọn cách đối đầu ngay lập tức, họ tìm lánh vềnhững địa phương xa người Pháp đồn trú, trước để khỏi chướng tai gai mắtnhững điều xằng bậy của bọn cướp nước và bè lũ tay sai, sau là củng cố lựclượng, chờ thời cơ chống Pháp Những người chọn cách tỵ địa không phải chọncon đường an phận thủ thường, mắt lấp tai ngơ trước thời cuộc mà vẫn dõi theovận nước, số dân, vẫn đau đáu trước cảnh nước mất nhà tan Trong số những địaphương được chọn tỵ địa nhiều và sớm nhất, phải kể đến Cần Thơ và Bến Tre

Trang 22

Sau khi Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Ðông Nam Kỳ5, Phan Văn Trịđang dạy học ở làng Bình Cách, phủ Tân An, tỉnh Gia Ðịnh, ông tỵ địa về VĩnhLong Đến năm 1868, Phan Văn Trị lại tiếp tục tỵ địa về làng Nhơn Ái, PhongÐiền, Cần Thơ, tiếp tục nghề dạy học và sinh sống ở đây đến mãn phần Vàđúng như ý nghĩa của phong trào tỵ địa, Phan Văn Trị lúc ở Phong Ðiền đãkhông bó gối chờ thời mà mạnh dạn dùng thơ đánh giặc, rèn dạy những học trò

về đạo làm người, biết lo nỗi lo chung của dân tộc Không ngừng làm các bàithơ nói lên tư tưởng của mình đồng thời đã kích mạnh mẽ thực dân xâm lược và

bè lũ tay sai bán nước

Tiếng nói của ông đã trực tiếp vạch trần bộ mặt của xã hội đương thời,bản chất dối trá, đê hèn của quan lại cầm quyền cũng như nói lên những tưtưởng nhân nghĩa của người nho sĩ chân chính trong buổi binh đao

2.2 Tinh thần yêu nước thể hiện qua những hình ảnh ẩn dụ mang tính nhiễu nhại

Trước đây, trong thơ văn trung đại ta thường thấy những hình ảnh chủ đạothường là những vật cao quý như tùng, cúc, trúc, mai Những vật tầm thườngxuất hiện rất ít trong những áng văn thơ Vậy mà đối với Cụ Cử Trị hay NguyễnĐình Chiểu những hình ảnh dung dị đến mức tầm thường đã được đưa vàonhững vần thơ để nói lên những trăn trở của mình đối với thời cuộc

Trong bài Thảo thử hịch, cụ đồ Chiểu viết:

“Tượng mảng:

Lẽ trời sinh vật;

Vật ấy nhiều loài

Lấy câu thuận tính làm lành;

Thấy chữ nghịch thường mà ngán

Nhỏ là loài ong kiến, còn biết nghĩa quân thần;

Trang 23

Lớn là loài hổ lang, cũng niệm tình phụ tử.

Kìa như thước báo tai, cưu báo hỷ, đời cũng nhờ lành dữ đemtin;

Nọ như khuyển thủ dạ, kê tư thần, người còn cậy sớm khuya

an giấc”

Những dòng hịch đầu tiên cụ đồ Chiểu cho ta thấy trong thiên hạ có hàngngàn sinh vật Ngay cả những loài bé nhỏ như kiến, ong còn biết đạo nghĩa quânthần, hay loài lang sói cũng thương yêu con đẻ Chim thước báo điềm nguy,chim cưu báo hỉ Chó giữ nhà, còn gà thì gọi sáng Dù là loài vật tầm thường haycao quý, nếu biết đạo nghĩa đều là bật đáng kính

Tuy vậy, ngoài những loài vật có ích thì cũng lắm loài gây hại và ngay cảcon người cũng vậy Bao người trượng phu thì cũng sẽ có bấy nhiêu kẻ tiểunhân Ông ví những hạng người này như loài chuột dơ bẩn, hôi hám:

“Nay có loài chuột:

Lông mọc xồm xàm;

Tục kêu xù, lắt

Tính hay ăn vặt;

Lòng chẳng kiêng dè

Chỗ ở ăn hang lỗ nhiều bề;

Đường qua lại đào ra hai ngách

Nghe hơi động vội vàng chạy mất, nhát quá mẹ cheo;

Chờ đêm khuya sẽ lén lút nhau, liếng hơn cha khỉ

Gọi danh hiệu: chuột xạ, chuột lắt, chuột xù, chuột cống, anh

em dòng họ nhiều tên;

Trang 24

Tra quán chỉ: ở nhà, ở ruộng, ở rạch, ở ngòi, bậu bạn non sông lắm lối.

Lớn nhỏ răng đều bốn cái, ăn của người thầm tối biết bao nhiêu;

Vắn dài râu mọc hai chỉa, vắng mặt chủ lung lăng đà lắm lúc

Vả sáu mươi giáp hoa đứng trước, lẽ thì thiện tính linh tâm;Thì mười hai chí tuế ở đầu, cũng đáng cư nhân do nghĩa

Cớ sao lại đem lòng quỷ quái?

Cớ sao còn làm thói gian tham?”

Thảo thử hịch của Nguyễn Đình Chiểu có những câu đả kích sâu cay, nói

lên cái đặc tính ma quái nham hiểm của lũ chuột, tưởng khó có thể nói một cáchđộc đáo hơn: “Sâu hiểm lắm tấm lòng nghiệt thử, cục cứt ra cũng nhọn hai đầu”nên cụ cổ động mọi người ra sức đánh chuột: “Chớ để con não sơ lậu, phải ratay lấp lỗ tam bành Đừng để cho chúng nó sẩy ra, phải hết sức trừ đồ lục tặc”.Đằng sau nghĩa đen của Hịch đánh Chuột chính là bọn quan lại phong kiến giantham Chủ đề tư tưởng mà Nguyễn Đình Chiếu đặt ra ở đây chính là nạn ô,nhũng nhiễu dân lành

So với Thạc thử trong Kinh thi, ta thấy sâu dân mọt nước thời nào cũng

Lạc thổ! Lạc thổ!

Viên đắc ngã sở.”

Trang 25

Dịch nghĩa:

“Con chuột to! Con chuột to!

Chớ ăn nếp của ta

Ba năm ta đã quen cái thói này của mày rồi

Mày chẳng chịu đoái tưởng đến ta

Ta sẽ đi và bỏ mày

Để đến một đất yên vui kia, một đất có đạo đức kia

Một đất yên vui, một đất có đạo đức

Ở đấy ta được nơi thích hợp.”

Bài thơ ví tầng lớp quan lại như loài chuột lớn đục khoét, đồng thời bộc lộkhát vọng thoát khỏi quyền lực của những kẻ ăn trên ngồi trốc, để được sống tự

do thanh bình Vì nơi đâu có quan thanh liêm thì nơi đó người dân mới có đượchạnh phúc

Đối với Phan Văn Trị, ông cũng gay gắt với những cảnh chướng tai gai

mắt của bọn quan tham Trong bài Con mèo, ông viết:

“Mấy từng đài cát sải chơn leoNhảy lẹ chi cho bẵng giống mèoChợt ngảnh mặt hùm nhìn trực thị,Chi cho lũ chuột dám vang reo

Vuốt nanh sẵn có vàng khoe sắc,Vằn vện đành không bụi đóng meoTrăm tuổi hồn dầu về chính suối,Nhắm lông để lại giúp trò nghèo.”

Tác giả mượn hình ảnh con mèo để nhằm chỉ trích những tên quan lại bấttài nhưng lại giỏi nịnh hót để mưu cầu địa vị Bằng ngòi bút của mình, cử trị đãthẳng thừng lên án bọn quan tham bất chấp liêm sỉ để có cơ hội thăng tiến

Nói đến việc đã kích bon quan lại ta không thể không nhắc tới bài thơ

Con rận, ở đó ta bắt gặp hình ảnh một con vật tầm thường, chuyên hút máu.

Trang 26

Hình ảnh gần gũi đời thường mà hết sức sâu cay Phan Văn Trị đã gián tiếp chỉtrích, lên án bon quan lại, tay sai bán nước cầu vinh, hút máu dân lành như rận.

“Mặt mũi như vầy cũng có râu,Trong đời chẳng biết dụng vào đâu

Hêu đòi trên mão chưa nên mặt,Lúc thúc trong chăn cứ rục đầu

Khuấy ngứa gầy dân chi khác mọt,Rán công béo nước chẳng bằng trâu

Uổng sanh cho nhộn trong trời đất,

Có có không không cũng chẳng cầu.”

Trong lúc nước nhà đang đứng trước hoạ diệt vong, cả nước cùng chungmột lòng chống giặc Thì đâu đó vẫn có những kẻ tranh giành quyền lực, Tư lợi

cá nhân quên đi lợi ích của dân tộc, đấu đá lẫn nhau mà làm hại đến đồng bào.Phan Văn Trị đã mượn hình ảnh của cá lia thia để nói lên suy nghĩ của mình.Ông viết:

“Đồng loại sao ngươi chẳng ngỡ ngàng,Hay là một lứa phải nung gan?

Trương vi so đọ vài gang nước,Đâu miệng hơn thua nửa tấc nhang

Rán súc giây lâu đà tróc vảy,Nín hơi trót buổi lại phùng mang

Ra tài cửa Võ chưa nên mặt,Cắc cớ khen cho khéo nhộn nhàng.”

(Đá cá lia thia bài 1)

Hay:

“Đằm thắm mưa xuân trổ mấy màu,

Vì tài vì sắc mới kình nhau

Đua chen một nước toan giành trước,Lừng lẫy đôi hơi chẳng chịu sau

Trang 27

Mường tượng rồng đua nơi biển thẳm,Mỉa mai cù dậy mé sông sâu.

Thở hơi sóng dợn nhăn lòng nước,Mắt thấy ai ai cũng cúi đầu.”

(Đá cá lia thia bài 2)

Là một nho sĩ, Phan Văn Trị luôn mang trong mình tư tưởng trung quân áiquốc, đối với ông, công danh giờ đây chỉ là danh hảo ông luôn đao đáo nỗiniềm làm sao có thể đem sức mình góp phần vào công cuộc kháng chiến Nỗiniềm của ông cũng như bao sĩ phu yêu nước khác

Cuộc đời Phan Văn Trị sinh ra trong buổi bi thương của đất nước Bọntham quan như sâu dân mọt nước nhiều vô số kể bốc lột áp bức dân nghèo PhanVăn Trị ví chúng như lũ cào cào, phá hoại mùa màng:

“Chẳng biết cơ trời khéo khiến sao,Trải qua mấy xứ cũng cào cào

Hình như châu chấu vàng pha xám,Miệng tợ chuồn chuồn thấp lại cao

Hại lúa bởi ngươi nên cắc cớ,Nhọc lòng cho kẻ đuổi lao xao

Lời ngay dám hỏi quan lương thú,Đuổi đó phòng toan đến chốn nào.”

(Cào cào)

Hình ảnh con muỗi hút máu người cũng được phan văn trị dùng để ám chỉbọn bán nước, bọn quan lại triều đình ăn sung mặc sướng chẳng đoái hoài sự

nghèo khổ, cơ cực của đồng bào Trong bài Con muỗi, Phan Văn Trị viết:

“Muỗi ơi thân ngươi sướng mọi điềuThiếu chi chi nữa hãy còn kêu

Giường ngà chiếu ngọc từng nương đậu,

Má phần đào non cũng yếm âuBéo miệng chẳng thương con trẻ dại

Ngày đăng: 09/01/2021, 21:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cao Xuân Dục (1993), Quốc triều hương khoa lục, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc triều hương khoa lục
Tác giả: Cao Xuân Dục
Nhà XB: NXB Thành phố HồChí Minh
Năm: 1993
2. Nguyễn Đăng Na (2014), Giáo trình văn học trung đại Việt Nam tập 2, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình văn học trung đại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Na
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2014
3. Nguyễn Khắc Thuần, Nguyễn Quảng Tuân (2001), Phan Văn Trị cuộc đời và tác phẩm, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Văn Trị cuộc đờivà tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Khắc Thuần, Nguyễn Quảng Tuân
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2001
4. Cao Tự Thanh (1992), “Đọc một cuốn sách về Phan Văn Trị”, Tạp chí Hán Nôm Số 1 (12), Tr.55-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc một cuốn sách về Phan Văn Trị”, "Tạp chíHán Nôm
Tác giả: Cao Tự Thanh
Năm: 1992
5. Nguyễn Lộc (2012), Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỷ XVIII – hết thế kỷ XIX), NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỷ XVIII – hết thếkỷ XIX)
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
6. Thanh Lãng (1975), Bảng lược đồ văn học Việt Nam, NXB Trình Bày 7. Huỳnh Hà, “Cụ Phan Văn Trị và cuộc bút chiến với Tôn Thọ Tường”,https://baocantho.com.vn/cu-phan-van-tri-va-cuoc-but-chien-voi-ton-tho-tuong-a115010.html Truy cập lần cuối ngày 15/11/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảng lược đồ văn học Việt Nam", NXB Trình Bày7. Huỳnh Hà, “Cụ Phan Văn Trị và cuộc bút chiến với Tôn Thọ Tường
Tác giả: Thanh Lãng
Nhà XB: NXB Trình Bày7. Huỳnh Hà
Năm: 1975
8. Đặng Duy Khôi, “Trăm năm vẫn sáng ngời đạo nghĩa” https://baocantho.com.vn/tram-nam-van-sang-ngoi-dao-nghia-a20520.html, Truy cập lần cuối ngày 15/11/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trăm năm vẫn sáng ngời đạo nghĩa
9. Lê Tiến Dũng, “Ngòi bút chiến đấu của Phan Văn Trị” http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/nghien-cuu/v%C4%83n-h%E1%BB%8Dc-vi%E1%BB%87t-nam/1196-ngoi-but-chin-u-ca-phan-vn-tr.htmlTruy cập lần cuối ngày 15/11/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngòi bút chiến đấu của Phan Văn Trị
10. Thivien.net, Trang thơ Phan Văn Trị, https://www.thivien.net/Phan-V%C4%83n-Tr%E1%BB%8B/author-SiS4Pr8vJo_5NyyNgBk8aQ Truy cập lần cuối ngày 15/11/2020 Link
11. Thivien.net, Trang thơ Tôn Thọ Tường, https://www.thivien.net/T%C3%B4n-Th%E1%BB%8D-T%C6%B0%E1%BB%9Dng/author-dAHnCvbzjlzHzjDb8vbkvQ Truy cập lần cuối ngày 15/11/2020 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w