1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

BC193 12 BTNMT BC Tongket thihanh LuatDatdai2003

56 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 561,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết về giải quyết đối với một số trường hợp cụ thể về nhà đất trong quá trình thực hiện[r]

Trang 1

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

và định hướng sửa đổi Luật Đất đai

Luật Đất đai năm 2003 là một trong những đạo luật quan trọng, thu hút được sự quan tâm của toàn xã hội Luật Đất đai năm 2003 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành Luật tạo thành một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá hoàn chỉnh, thể hiện những quan điểm đổi mới của Đảng phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước Luật và các văn bản dưới Luật đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội Tuy nhiên, hiện Luật Đất đai năm 2003 vẫn còn những hạn chế, bất cập

Nhằm tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về đất đai, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị về tổng kết thi hành Luật Đất đai và Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết thi hành Luật Đất đai năm 2003 và sửa đổi Luật Đất đai (sau đây viết tắt là Ban Chỉ đạo) Ban Chỉ đạo đã triển khai tổng kết thi hành Luật tại các Bộ, ngành và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; đồng thời đã trực tiếp tổ chức tổng kết tại 15 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đại diện cho các vùng, miền và mời các tỉnh, thành phố tham dự cho

ý kiến

Trên cơ sở kết quả tổng kết thi hành Luật Đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường, của các Bộ, ngành khác và địa phương, Bộ Tài nguyên và Môi trường báo cáo về tình hình thi hành Luật Đất đai 2003 như sau:

Phần thứ nhất KẾT QUẢ THI HÀNH LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2003

I ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI

ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 12 tháng 3 năm 2003 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Luật Đất đai năm 2003 được xây dựng nhằm thể chế hóa những quan điểm và nội dung đã nêu trong Nghị quyết số 26-NQ/TW theo hướng đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu

Trang 2

sử dụng đất, phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; hoàn thiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển bền vững

Đến nay, trên 90,25% diện tích tự nhiên của cả nước được khai thác đưa vào sử dụng cho các mục đích phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh Phân bổ quỹ đất đáp ứng cho các mục tiêu phát triển kinh

tế - xã hội, quốc phòng, an ninh Việc chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất về cơ bản phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quỹ đất nông nghiệp đã đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ và phát triển rừng Quỹ đất dành cho công nghiệp, dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển đô thị được mở rộng, từng bước đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và nhu cầu đô thị hóa Diện tích đất chưa sử dụng cơ bản đã được đưa vào sử dụng Việc sử dụng đất ngày càng tiết kiệm và hiệu quả Việc thực hiện chính sách, pháp luật đất đai đã góp phần thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001-2010), với tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt bình quân 7,26%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế; thị trường quyền sử dụng đất từng bước đi vào hoạt động nề nếp; tăng trưởng kinh tế kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

1 Đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn

Luật Đất đai năm 2003 đã có bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện chính sách đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn theo hướng thúc đẩy phát triển thị trường hàng hóa nông nghiệp, tạo điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Tiếp nối những thành tựu vượt bậc trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp của 10 năm trước đây (1993 - 2003), cùng với việc đầu tư khoa học - kỹ thuật, công nghệ, chính sách giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài

và các quy định hoàn chỉnh về quyền của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp hiện đã phần giải phóng sức lao động, đưa nền nông nghiệp phát triển toàn diện, nhất là sản xuất lương thực, cây công nghiệp,nuôi trồng thủy sản, đưa Việt Nam trở thành một nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về một số nông sản gạo, thủy sản và một số nông sản khác, đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững Giá trị sản xuất nông nghiệp trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp được nâng lên(1)

Việc lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã góp phần làm

(1) Giá trị sản xuất nông nghiệp trên một đơn vị diện tích không ngừng tăng lên (năm 2004 giá trị sản xuất đất trồng trọt bình quân cả nước là 21,10 triệu/ha, năm 2010 là 54,60 triệu đồng/ha, có một số nơi đạt tới 100 - 140 triệu đồng/ha)

Trang 3

thay đổi diện mạo của nông thôn mới, quỹ đất sản xuất nông nghiệp đã được bố trí một cách hợp lý theo nguyên tắc bảo vệ quỹ đất trồng lúa, đảm bảo mục tiêu cung cấp đủ lương thực trong nước, có dự trữ chiến lược và xuất khẩu, hình thành các vùng chuyên canh phù hợp với tiềm năng, thế mạnh của từng vùng gắn liền với công nghiệp chế biến

Thực hiện chính sách giao đất, cho thuê đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản đã tạo động lực cho người dân yên tâm đầu tư phát triển sản xuất, nhờ đó ngành thủy sản đã từng bước phát triển và trở thành một trong những ngành chủ lực trong sản xuất nông nghiệp Diện tích đất nuôi trồng thủy sản tăng(2) góp phần nâng sản lượng nuôi trồng thủy sản(3), đáp ứng đủ nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu thủy sản lớn trên thế giới (đứng thứ 6 trong tốp 10 nước đứng đầu)

Chính sách, pháp luật đất đai đã đóng góp tích cực và hiệu quả trong việc khôi phục và bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn, rừng khoanh nuôi tái sinh, rừng trồng kinh tế Việc giao đất, giao rừng đã góp phần ngăn chặn được tình trạng suy thoái rừng nghiêm trọng Đất lâm nghiệp trong 10 năm qua liên tục tăng, diện tích đất lâm nghiệp tăng góp phần nâng độ che phủ từ 35,2% năm

2000 lên 39,5% năm 2010 Diện tích đất chưa sử dụng của cả nước từng bước được khai thác đưa vào trồng rừng một cách hợp lý, vừa đảm bảo yêu cầu cân bằng hệ sinh thái và bảo vệ môi trường

Các chương trình xây dựng nông thôn mới đã được quan tâm đẩy mạnh Các công trình công cộng trong khu dân cư nông thôn như nhà trẻ, trường học, nhà văn hóa, khu vui chơi cho trẻ em, sân vận động, công trình tín ngưỡng dân gian…đã bước đầu được quan tâm xây dựng

Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn đã khuyến khích việc tích tụ ruộng đất để tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng hóa, phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại và quá trình này đã từng bước diễn ra gắn với phân công lại lao động trong nông thôn, nông nghiệp Cùng với việc quy định, mở rộng các quyền của người sử dụng đất, việc cấp giấy chứng nhận đã tạo điều kiện cho người dân thế chấp, vay vốn mở rộng sản xuất trong nông nghiệp Ở Vùng đồng bằng sông Cửu Long đã có một số trang trại có quy mô tới hàng chục ha đến trên một trăm ha Hiệu quả kinh tế của tích tụ ruộng đất đã góp phần nâng cao thu nhập cho người sử dụng đất, tăng nguồn thu ngân sách địa phương

và thay đổi diện mạo của nông thôn mới

Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đã

2 Diện tích đất nuôi trồng thủy sản năm 2010 là 690.221 ha tăng 322 nghìn ha so với năm 2000 (bình quân tăng 32,2 nghìn ha/năm) chủ yếu do chuyển đổi từ đất trồng lúa, rừng ngập mặn sang

3 Sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng từ 589,6 nghìn tấn năm 2000 lên 2.707 nghìn tấn năm 2010

Trang 4

có bước tiến đáng kể trong việc ổn định chỗ ở, đời sống, đặc biệt là đối với những người trực tiếp sản xuất nông nghiệp Chính sách này được sửa đổi, bổ sung kịp thời phù hợp với thực tiễn nhằm giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước, của người có đất bị thu hồi và nhà đầu tư

2 Đối với phát triển kết cấu hạ tầng, công nghiệp, đô thị và dịch vụ

Việc chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong thời gian qua về cơ bản phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu đầu tư, tạo bước đi hợp lý cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước

Quỹ đất dành cho phát triển công nghiệp, dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển đô thị được mở rộng, từng bước đáp ứng nhu cầu của giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và nhu cầu đô thị hoá

Diện tích đất dành cho phát triển đô thị tăng nhanh4, đã hình thành hệ thống mạng lưới đô thị phân bố tương đối hợp lý trên các vùng lãnh thổ cả nước

Diện tích đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp hiện có gần 100 nghìn ha5 giai đoạn 2006 - 2010, bình quân mỗi năm tăng 9,4 nghìn ha đáp ứng được yêu cầu thu hút nhà đầu tư vào hoạt động trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp có hạ tầng đồng bộ nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá đất nước

3 Phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản

Luật Đất đai năm 2003 và các pháp luật khác có liên quan được ban hành

đã làm thay đổi căn bản thị trường bất động sản nói chung, thị trường quyền sử dụng đất nói riêng Đã tạo lập được cơ chế để thị trường bất động sản hoạt động

và phát triển tương đối nhanh, đồng bộ Giao dịch về quyền sử dụng đất từng bước đi vào nề nếp

Tổ chức phát triển quỹ đất, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, Quỹ phát triển đất, tổ chức môi giới, định giá, tư vấn pháp lý, tín dụng, sàn giao dịch được hình thành và hoạt động ngày càng chuyên nghiệp, hỗ trợ tích cực cho thị trường bất động sản Thị trường quyền sử dụng đất vận hành đã góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách và trở thành một trong những nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nguồn thu từ đất đai cho ngân sách nhà nước tăng qua các năm (năm 2002 là 5.486 tỷ đồng, chiếm 4,4% tổng thu ngân sách nhà nước; năm 2010 là 67.000 tỷ đồng, chiếm 11,21%

4 Trong giai đoạn 2001 - 2010, đất đô thị tăng thêm 531 nghìn ha, bình quân tăng 53 nghìn ha/năm;

5 Trong gần 100 nghìn ha đất công nghiệp có 72 nghìn ha đất Khu công nghiệp do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập (tỷ lệ lấp đầy bình quân đạt gần 46%); 28 nghìn ha đất cụm công nghiệp do Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập

Trang 5

tổng thu ngân sách)

4 Tác động đến các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường

Giải quyết các vấn đề xã hội là một trong những chủ trương và giải pháp lớn để phát triển kinh tế - xã hội của nước ta Chính sách, pháp luật về đất đai với tầm ảnh hưởng sâu rộng tới mọi mặt của đời sống xã hội đã có những đóng góp tích cực trong việc giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an sinh xã hội; đã tạo được nhiều việc làm, ổn định đời sống cho người dân thông qua chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ, chuyển dịch quỹ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp Đặc biệt là chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đã góp phần ổn định đời sống của người có đất

bị thu hồi Quyền và lợi ích hợp pháp của người dân được đảm bảo thông qua các chính sách, pháp luật và tổ chức thực hiện các quy định về công bố, công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; thủ tục hành chính;

Đã thực hiện có hiệu quả chương trình “xóa đói, giảm nghèo” thông qua các chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở cho các hộ dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn6; chính sách giao đất không thu tiền đối với đất sản xuất nông nghiệp; chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất

ở, công nhận quyền sử dụng đất và chính sách miễn, giảm các loại thuế liên quan đến đất đai cho các hộ nghèo; góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo của nước ta

từ 18,1% năm 2006 xuống 9,45% năm 2010; đưa nước ta từ nước nghèo trở thành nước có thu nhập trung bình

Thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng, người

có thu nhập thấp, học sinh, sinh viên, thông qua chính sách ưu đãi về miễn, giảm tiền sử dụng đất, thuế, phí, lệ phí và các chính sách khác có liên quan

Trong công tác lập và triển khai thực hiện quy hoạch sử dụng đất đã đáp ứng cơ bản quỹ đất để xây dựng các công trình y tế, văn hóa, giáo dục - đào tạo, thể dục - thể thao; xây dựng các khu xử lý chất thải, rác thải, đặc biệt là tại các

đô thị, khu vực phát triển nông nghiệp; có kế hoạch và giải pháp khuyến khích nhân dân bảo vệ rừng, trồng rừng phủ xanh diện tích đất trống đồi núi trọc nhằm giảm nguy cơ xói mòn, rửa trôi đối với đất đai, phòng chống giảm nhẹ thiên tai

và biến đổi khí hậu Mặt khác, việc tiếp tục thực hiện chính sách giao đất nông nghiệp ổn định lâu dài đã khuyến khích người dân yên tâm đầu tư cải tạo, bồi bổ đất giảm nguy cơ suy thoái và ô nhiễm đất nông nghiệp, góp phần bảo vệ được môi trường sinh thái

6 Trong giai đoạn 2006-2010 đã hỗ trợ hơn 1.500 ha đất ở cho gần 72.000 hộ và hỗ trợ 30.000 ha đất sản xuất nông nghiệp cho hơn 83.500 hộ

Trang 6

II KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ

ĐẤT ĐAI

1 Ban hành văn bản; phổ biến, tuyên truyền và kiểm tra thực hiện Luật Đất đai

1.1 Kết quả thực hiện

1.1.1 Về ban hành văn bản hướng dẫn thi hành

a) Đối với các cơ quan cấp Trung ương

Sau khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết về giải quyết đối với một số trường hợp cụ thể

về nhà đất trong quá trình thực hiện chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991 và Nghị quyết quy định về hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

để sử dụng vào mục đích nông nghiệp Đồng thời, để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời tháo gỡ những ách tắc, khó khăn trong quá trình tổ chức thi hành Luật Đất đai, Chính phủ đã kịp thời trình Quốc hội ban hành, Quốc hội đã ban hành 04 Luật có sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Luật Đất đai và trên 20 Luật có nội dung điều chỉnh liên quan đến đất đai Quốc hội đã ban hành 01 Nghị quyết

Chính phủ đã ban hành 22 Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; về đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; về giá đất, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; về thu hồi đất, bồi thường,

hỗ trợ và tái định cư; xử phạt vi phạm hành chính;… Ngoài ra, Chính phủ cũng

đã ban hành nhiều Nghị định có điều chỉnh đến các vấn đề liên quan đến đất đai như các Nghị định hướng dẫn về Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch đô thị, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Công chứng, Luật Thanh tra, Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Tài sản công, các Luật Thuế liên quan đến sử dụng đất;…

Chính phủ cũng đã ban hành các Nghị quyết về một số giải pháp phát triển lành mạnh thị trường bất động sản, về phát triển nhà ở xã hội và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 12 Chỉ thị và 17 Quyết định chỉ đạo, đôn đốc các Bộ ngành, địa phương triển khai thi hành Luật Đất đai; khắc phục yếu kém, sai phạm, tiếp tục đẩy mạnh tổ chức thi hành Luật Đất đai; tăng cường quản lý sử dụng đất của các quy hoạch và dự án đầu tư; về kiểm kê quỹ đất đang quản lý sử dụng của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất; Quy chế mẫu về quản lý, sử dụng Quỹ phát triển đất

Trang 7

Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tư pháp, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính

và các Bộ, ngành có liên quan đã ban hành hơn 230 văn bản Trong đó: Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành 28 Thông tư, 17 Thông tư liên tịch và 15 Quyết định; các Bộ, ngành khác ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và hơn 140 văn bản liên quan đến lĩnh vực đất đai

Nhìn chung, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003 đã được ban hành kịp thời tạo hành lang pháp lý khá hoàn chỉnh, cơ bản phù hợp với thực tế, đáp ứng được yêu cầu công tác quản lý nhà nước về đất đai, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, được đông đảo nhân dân đồng tình

b) Đối với địa phương

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) đã ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy định cụ thể để thực hiện Luật Đất đai và các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Trung ương ban hành, tập trung vào các nhóm vấn đề sau: về công tác lập, xét duyệt và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; về tài chính đất đai (ban hành bảng giá đất hàng năm, về đấu giá quyền sử dụng đất, về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, về phí trong lĩnh vực đất đai); về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; về trình tự, thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai và các văn bản khác có liên quan đến quản lý và sử dụng đất đai như quy định hạn mức giao đất ở, hạn mức giao đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước chưa sử dụng cho hộ gia đình, cá nhân; quy định diện tích đất tối thiểu sau khi tách thửa; quy trình, quy phạm, đơn giá liên quan đến hoạt động kỹ thuật phục vụ quản lý đất đai

Việc phân cấp cho địa phương quy định cụ thể một số nội dung đã làm cho chính sách đất đai được ban hành phù hợp hơn với thực tiễn, góp phần đưa công tác quản lý đất đai vào nề nếp làm giảm đáng kể các khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai

1.1.2 Về phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai

a) Đối với các cơ quan cấp Trung ương

Ngày 17 tháng 01 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định

số 13/2003/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2003 đến năm 2007, trong đó Đề án Phổ biến, tuyên truyền pháp luật về đất đai giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2007 giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì tổ chức thực hiện Sau khi ban hành Luật Đất đai năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 05/2004/CT-TTg ngày 09 tháng 02 năm 2004 yêu cầu Thủ trưởng các Bộ, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật đất đai

Trang 8

Đề án Phổ biến, tuyên truyền pháp luật về đất đai giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2007 đã tập trung phổ biến, tuyên truyền, giáo dục về các nội dung mới của Luật Đất đai với nhiều hình thức:

- Tập huấn Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai cho đội ngũ cán bộ làm công tác Quản lý đất đai, Lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã

- Viết bài và đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam và các báo đài ở địa phương

- Xây dựng, biên tập và phát hành tuyển tập các văn bản pháp luật đất đai, tài liệu tuyên truyền theo chuyên đề, gồm phát hành 450 cuốn tuyển tập Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành; phát hành 11.000 đĩa CD cơ sở dữ liệu về pháp luật đất đai; biên soạn và phát hành 13.000 cuốn sách hỏi đáp pháp luật về đất đai; xây dựng 02 Chương trình và phát hành 3.500 đĩa CD gửi cho các đài phát thanh truyền hình tỉnh và huyện để phát thanh hàng ngày tại địa phương Thiết kế và phát hành trên 1 triệu tờ rơi tuyên truyền các quy định của pháp luật về đất đai

- Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật về đất đai như: thi trắc nghiệm trên Báo Cựu chiến binh Việt Nam đã thu hút 40.547 bài dự thi, trên Báo Pháp luật Việt Nam đã thu hút trên 11.088 bài dự thi; thi viết bài cho đối tượng là nông dân đã thu hút 457.160 bài dự thi; thi vấn đáp cho nữ nông dân trong cuộc thi “thôn nữ giỏi giang duyên dáng” đã thu hút 7.863 xã, phường, thị trấn của 54 tỉnh tham dự với số lượng trên 36.000 người dự thi

- Tổ chức tiếp nhận thông tin phản ánh về pháp luật đất đai được thực hiện thường xuyên thông qua điện thoại, đơn thư gửi qua đường bưu điện, fax, thư điện tử, giao lưu trên mạng Internet, tiếp xúc trực tiếp qua khảo sát, kiểm tra tại địa phương Riêng trong năm 2004, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thành lập Tổ công tác chuyên trách và bố trí 3 số điện thoại để giải đáp; tiếp nhận 4.439 thông tin phản ánh bằng thư điện tử, tiếp xúc và nghe ý kiến hơn 200 doanh nghiệp, hơn 20.000 lượt người dân và nhận 17.480 đơn thư phản ánh về pháp luật đất đai Trong 3 năm (năm 2004, 2005, 2006), Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện 5 đợt giao lưu trực tuyến với người dân, doanh nghiệp để giải đáp pháp luật về tài nguyên và môi trường, trong đó có 2 đợt chuyên đề về pháp luật đất đai; từ năm 2006 trở đi, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chỉ đạo các Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức giao lưu trực tuyến tại địa phương

Ngoài việc tổ chức thực hiện Đề án Phổ biến, tuyên truyền pháp luật về đất đai, Chính phủ, các Bộ, ngành ở Trung ương còn tổ chức nhiều hoạt động phổ biến, tuyên truyền pháp luật về đất đai như hình thức giao lưu trực tuyến; phổ biến, tuyên truyền pháp luật cho đồng bào các dân tộc thiểu số, cho chức sắc

Trang 9

nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo; các hoạt động đào tạo, giảng dạy của các Viện nghiên cứu khoa học, Học viện, các trường chuyên nghiệp

b) Đối với các địa phương

Ngay sau khi Luật Đất đai 2003 được ban hành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã ban hành các văn bản triển khai thi hành Luật Đất đai trên địa bàn tỉnh Thực hiện Chỉ thị số 05/2004/CT-TTg ngày 09 tháng 02 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ,

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã cùng với các tổ chức, đoàn thể các cấp (Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Luật gia, Hội Nhà báo…) đã thực hiện nhiều hoạt động tuyên truyền, phổ biến Luật Đất đai năm 2003 như:

- Tổ chức tập huấn Luật Đất đai năm 2003 cho cán bộ các cấp; một số tỉnh còn kết hợp tập huấn Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành với việc chấn chỉnh các sai phạm, yếu kém đã phát hiện trong quản lý, sử dụng đất

- Hội nghị, hội thảo chuyên đề, toạ đàm, đối thoại doanh nghiệp, tổ chức,

cá nhân;

- Xây dựng và phát hành bản tin, tờ rơi; mở các chuyên mục “hỏi đáp”,

"luật sư của bạn", "trợ giúp pháp lý"; tổ chức cuộc thi tìm hiểu pháp luật về đất đai với nhiều hình thức phong phú như thi viết, thi sân khấu hóa; tổ chức giao lưu trực tuyến; giải đáp, tư vấn pháp luật; tổ chức tiếp công dân và giải đáp chính sách pháp luật về đất đai cho người dân

- Công khai các thủ tục hành chính về đất đai tại trụ sở cơ quan có thẩm quyền giải quyết hồ sơ và trên trang Web của địa phương

Việc phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai đã được các cấp, các ngành ở Trung ương và địa phương tổ chức với nhiều hình thức phù hợp cho từng đối tượng, góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật đất đai của các

tổ chức và công dân

1.1.3 Về kiểm tra thi hành pháp luật đất đai

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Bộ, ngành ở trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã tổ chức hướng dẫn triển khai thi hành Luật Đất đai đồng thời với công tác kiểm tra việc thi hành pháp luật về đất đai, cụ thể là:

a) Ki ểm tra việc ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai:

Ngay sau khi Luật Đất đai có hiệu lực thi hành, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành tổ chức kiểm tra công tác ban hành văn bản quy phạm pháp

luật thông qua việc rà soát các văn bản thuộc lĩnh vực đất đai Kết quả cho thấy

có 38 văn bản hết hiệu lực, 68 văn bản còn hiệu lực thi hành và 10 văn bản đang

Trang 10

xử lý sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế cho phù hợp với các quy định mới của pháp luật hiện hành Ngoài ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã rà soát 85 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”, trong đó đề xuất giữ nguyên 52 thủ tục, sửa đổi, bổ sung 17 thủ tục, huỷ bỏ 02 thủ tục, cắt giảm 14 thủ tục nhằm góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong việc tiếp cận và thực hiện thủ tục hành chính, đồng thời tiết kiệm ngân sách nhà nước, phòng ngừa tham nhũng và nâng cao hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước về đất đai

b) Ki ểm tra công tác thi hành Luật Đất đai

Năm 2005, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức 13 đoàn công tác thực hiện tổng kiểm tra việc thi hành pháp luật về đất đai tại 64 tỉnh, 160 đơn vị hành chính cấp huyện, 159 đơn vị hành chính cấp xã, 68 doanh nghiệp có dự án đầu tư sử dụng đất; tiếp xúc nghe ý kiến của 432 doanh nghiệp và hơn 20.000 người dân Qua đợt kiểm tra, Bộ đã đánh giá được thực trạng triển khai pháp luật về đất đai ở tất cả các địa phương, báo cáo Chính phủ và đề xuất những giải pháp điều chỉnh kịp thời Năm 2006, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức kiểm tra việc khắc phục sai phạm đã phát hiện qua đợt kiểm tra năm 2005 tại 40 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Trong năm 2006, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức kiểm tra tình hình sử dụng đất của các quy hoạch và dự án đầu tư trên địa bàn cả nước; trong

đó đã thành lập 05 đoàn công tác trực tiếp kiểm tra tại 15 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Qua đợt kiểm tra, Bộ đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chị thị số 09/2007/CT-TTg ngày 06 tháng 4 năm 2007 về tăng cường quản lý sử dụng đất của các quy hoạch và dự án đầu tư

Năm 2008, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức kiểm tra việc quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn cả nước, trong đó rà soát, kiểm tra thực trạng công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch, sử dụng đất nông nghiệp nói chung và đất trồng lúa nước nói riêng theo Quyết định số 391/QĐ-TTg ngày 18 tháng 4 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ Đồng thời, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã kiểm tra tình hình quản lý, sử dụng đất đối với các dự án có mục tiêu kinh doanh sân golf tại 12 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Năm 2010, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thành lập các Đoàn thanh tra việc chấp hành pháp luật về đất đai, môi trường, tài nguyên nước đối với các dự

án sân golf trong cả nước; qua đó, đã phát hiện có 27 sân tại 13 tỉnh nằm ngoài quy hoạch đã được phê duyệt, trong diện tích đất quy hoạch sân golf có cả đất ở (chiếm 8% tổng diện tích), có 03/59 dự án đã thực hiện việc xây dựng nhà ở, biệt thự để bán

Hàng năm, Bộ Tài nguyên và Môi trường còn tổ chức nhiều đoàn thanh

Trang 11

tra các vụ việc vi phạm pháp luật về đất đai được phát hiện thông qua công tác kiểm tra, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, các cơ quan báo chí, ý kiến phản ảnh của người dân Nhiều vụ việc vi phạm pháp luật về đất đai tại các địa phương đã được phát hiện và xử lý kịp thời

Bên cạnh đó, Thanh tra Chính phủ, các Bộ, ngành khác ở Trung ương và

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức việc kiểm tra tình hình thi hành pháp luật về đất đai

Việc kiểm tra thi hành pháp luật đất đai đã được thực hiện thường xuyên,

có trọng tâm, trọng điểm, đã kịp thời phát hiện và xử lý những sai phạm trong quản lý và sử dụng đất đai Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đã nỗ lực lớn trong việc giám sát thi hành Luật Đất đai; Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp

đã quyết tâm chỉ đạo thực hiện nghiêm pháp luật đất đai, nhiều địa phương đã thực hiện tốt cải cách thủ tục hành chính trong quản lý sử dụng đất đai

1.2 Những tồn tại, bất cập và nguyên nhân

- Mặc dù chỉ có đối tượng quản lý là đất đai nhưng được điều chỉnh ở nhiều văn bản khác nhau (ngoài Luật Đất đai và 04 Luật có sửa đổi, bổ sung một

số nội dung của Luật Đất đai còn có trên 20 Luật và trên nhiều văn bản của Chính phủ có nội dung điều chỉnh liên quan đến đất đai) Các văn bản này được ban hành ở những thời điểm khác nhau, cơ quan chủ trì xây dựng khác nhau nên

đã dẫn đến sự chồng chéo, có nhiều điểm chưa thống nhất (hiện nay còn một số điểm mẫu thuẫn giữa Luật Đất đai với Luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo), làm cho các cơ quan quản lý khó khăn, lúng túng trong việc áp dụng pháp luật và gây khó khăn cho việc thực hiện pháp luật của người dân và doanh nghiệp Một số quy định phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần trong thời gian ngắn khi chưa kịp tổng kết, đánh giá đầy đủ thực tiễn trước khi ban hành dẫn đến tình trạng thiếu ổn định, tính khả thi thấp và là nguyên nhân gây ra so bì, khiếu kiện Một số vấn đề được quy định trong nhiều văn bản đã gây khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện, một số quy định chưa phù hợp với thực tiễn và một số vấn đề phát sinh chưa được quy định cụ thể đã gây khó khăn trong việc quản lý và sử dụng đất đai Công tác tự kiểm tra việc ban hành văn bản của địa phương chưa được thực hiện thường xuyên, còn tình trạng ban hành văn bản chưa kịp thời và không đảm bảo tính thống nhất trong quá trình triển khai

- Việc kiểm tra thi hành pháp luật về đất đai tại một số địa phương chưa được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc, đặc biệt là vai trò của Ủy ban nhân dân các cấp trong việc phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm trong quản lý, sử dụng đất

- Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai chưa

Trang 12

được triển khai đồng đều ở các địa phương, nhiều nơi còn mang tính hình thức, thiếu hiệu quả, nhất là các vùng sâu, vùng xa, vùng có đồng bào dân tộc thiểu

số sinh sống từ đó dẫn tới nhận thức chưa đầy đủ về chính sách pháp luật về đất đai gây khiếu kiện kéo dài, vượt cấp

Nguyên nhân chính của những tồn tại trên là do:

- Quan hệ đất đai tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội và rất phức tạp, nhạy cảm; lịch sử và tập quán sử dụng đất có sự khác biệt lớn giữa các vùng, miền nên khó khăn trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về đất đai phù hợp với tất cả các địa phương trong cả nước

- Việc thực hiện một số nội dung cụ thể về đất đai có liên quan đến nhiều

Bộ, ngành, cơ quan, song việc phối hợp trong xây dựng, ban hành các văn bản

có nội dung điều chỉnh liên quan đến đất đai còn thiếu chặt chẽ và chưa đồng bộ

- Đội ngũ cán bộ trực tiếp tham gia công tác soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu kinh nghiệm, chưa đáp ứng yêu cầu trong quá trình chuyển đổi và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

- Một số địa phương chưa coi trọng việc cải cách hành chính trong việc ban hành các văn bản pháp luật về sử dụng đất đai, văn bản quy định không rõ ràng, cụ thể hoặc đặt thêm các thủ tục trong quản lý Nhiều địa phương chưa quan tâm đúng mức và chưa bố trí kinh phí thích đáng cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền cũng như công tác phổ biến, giáo dục và kiểm tra pháp luật về đất đai

2 Về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

2.1 Kết quả thực hiện

Việc lập, xét duyệt và triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các cấp đã dần đi vào nề nếp, tuân thủ các nguyên tắc, căn cứ, trình tự, nội dung mà pháp luật đất đai quy định

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 được triển khai khá đồng

bộ theo 04 cấp hành chính (quốc gia, cấp tỉnh, huyện và xã) Quy hoạch sử dụng

đất đến năm 2010 của cả nước đã được Quốc hội Khóa XI, Kỳ họp thứ 5 thông qua tại Nghị quyết số 29/2004/QH11 ngày 15 tháng 6 năm 2004 Kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006-2010) của cả nước được Quốc hội Khóa XI, Kỳ họp thứ 9 thông qua tại Nghị quyết số 57/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006

Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tiếp tục được đổi mới Từ kinh nghiệm rút ra qua quá trình triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngay

13 tháng 8 năm 2009 quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trong đó đổi mới về phương pháp lập

Trang 13

quy hoạch kế hoạch sử dụng đất, quy định rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương trong việc lập quy hoạch sử dụng đất; xác định cụ thể chỉ tiêu quy hoạch

sử dụng đất của từng cấp nhằm tạo ra sự linh hoạt, chủ động cho địa phương trong việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã ban hành Thông tư số 19/2010/TT-BTNMT quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và Chỉ thị số 01/CT-BTNMT về tăng cường công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Đến nay, việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đến năm 2020 đang được triển khai đồng bộ tại 04 cấp

Công tác quản lý đất đai theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ngày càng

đi vào thực chất, góp phần tích cực vào việc sử dụng đất hợp lý và có hiệu quả Việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đã bám sát

và tuân thủ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và làm cho việc sử dụng đất đai ngày càng có hiệu quả, tiết kiệm hơn

Nhận thức về vị trí, vai trò của công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

và ý thức chấp hành quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các cấp chính quyền

đã được nâng lên; tình trạng vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất ở các địa phương đến nay

đã giảm Việc lấy ý kiến người dân, công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

đã phát huy tính dân chủ, minh bạch, tăng cường sự giám sát của người dân, hạn chế tiêu cực trong công tác quản lý đất đai

Việc tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại các địa phương đã có nhiều cố gắng Kết quả thực hiện các chỉ tiêu theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (tính đến 31 tháng 12 năm 2010) về cơ bản đạt được những chỉ tiêu mà Quốc hội quyết định, trong đó nhiều chỉ tiêu sử dụng đất đạt cao như chỉ tiêu sử dụng đất nông nghiệp đạt 100,02 %; đất lâm nghiệp đạt 94,59 %; đất khu công nghiệp đạt 100,0%; đất giao thông đạt 94,34%; đất thủy lợi đạt 96,88%; đất cơ sở y tế đạt 85,71%; đất cơ sở giáo dục - đào tạo 97,62 %; đất di tích, danh thắng 94,44 %; khai thác đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng đạt 91,02% Nhìn chung, cơ cấu sử dụng đất đã được chuyển đổi phù hợp với quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đã đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong nông nghiệp, nông thôn phù hợp với nền kinh tế hàng hóa, tạo điều kiện để kinh tế nông thôn đã thoát khỏi tình trạng tự cung, tự cấp và chuyển sang sản xuất hàng hóa, bộ mặt kinh tế - xã hội nông thôn được cải thiện Quy hoạch sử dụng đất đã góp phần khôi phục, bảo vệ và phát triển rừng, đất dành cho phát triển công nghiệp, dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng, chỉnh trang và phát triển

đô thị được mở rộng, cơ bản từng bước đáp ứng được nhu cầu của giai đoạn đẩy

Trang 14

mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thông qua thực hiện quy hoạch,

kế hoạch sử dụng đất đã tạo quỹ đất để đấu giá đất giao đất, cho thuê đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và tăng thu ngân sách

Nhìn chung, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã giữ vai trò quan trọng trong việc tăng cường hiệu lực và hiệu quả của quản lý nhà nước về đất đai, góp phần tích cực vào việc phát huy tiềm năng đất đai phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và chuyển đổi cơ cấu lao động thông qua chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, tạo việc làm mới, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho nhân dân Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã khoanh định quỹ đất sản xuất nông nghiệp, bảo vệ quỹ đất trồng lúa, đảm bảo mục tiêu cung cấp

đủ lương thực trong nước, có dự trữ chiến lược và xuất khẩu; công tác bảo vệ và phát triển rừng đã có những chuyển biến tích cực, ngăn chặn được tình trạng suy thoái rừng nghiêm trọng; bước đầu đáp ứng nhu cầu đất để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và phát triển đô thị; tạo nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước thông qua đấu giá, thu tiền khi giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; diện tích đất chưa sử dụng từng bước được khai thác đưa vào sử dụng một cách hợp lý, vừa đáp ứng nhu cầu sử dụng đất cho phát triển kinh tế - xã hội vừa đảm bảo yêu cầu cân bằng hệ sinh thái và bảo vệ môi trường

2.2 Vướng mắc, bất cập và nguyên nhân

Chất lượng quy hoạch sử dụng đất chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh

tế - xã hội, đặc biệt là chưa có tầm nhìn xa trong dự báo Việc lập, tổ chức triển khai và giám sát thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa được quan tâm đúng mức; việc phân cấp trong quản lý quy hoạch còn bất cập; quy hoạch

sử dụng đất được lập theo đơn vị hành chính không đảm bảo tính kết nối liên vùng, không phát huy được thế mạnh của từng vùng và bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa các vùng; quy hoạch sử dụng đất chưa thực hiện phân vùng chức năng sử dụng đất theo không gian mà mới chỉ chú ý đến việc phân bổ các chỉ tiêu loại đất(7);

Trong thực hiện quy hoạch sử dụng đất vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại, yếu kém, bức xúc như: việc điều chỉnh quy hoạch, sử dụng đất sai mục đích, kém hiệu quả, quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng đất còn tùy tiện, vi phạm pháp luật còn xẩy ra ở một số nơi Quy hoạch sử dụng đất phục vụ chỉnh trang

đô thị, khu dân cư nông thôn, đường giao thông chưa tạo được quỹ đất có giá trị cao hai bên đường, xung quanh khu vực đất thu hồi để đấu giá tăng nguồn thu

7 Đến cuối năm 2011, đã có 11 quy hoạch xây dựng vùng liên tỉnh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, 9 quy hoạch xây dựng vùng dọc theo các tuyến đường cao tốc đang lập

Trang 15

bù đắp chi phí bồi thường, xây dựng công trình công cộng

Nguyên nhân chính của tình trạng trên là do:

Luật còn quy định chung về nguyên tắc, căn cứ và nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho các cấp, do đó chưa thể hiện tính vĩ mô, định hướng của quy hoạch cấp trên và tính chi tiết, cụ thể của quy hoạch cấp dưới Quy định nội dung về kế hoạch sử dụng đất chưa cụ thể trong khi kế hoạch sử dụng đất cần phải chi tiết hoá quy hoạch sử dụng đất để làm căn cứ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất hàng năm của các địa phương Việc quy định thời điểm lập và thời hạn hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong năm cuối của kỳ quy hoạch trước đó đối với cả 04 cấp gây khó khăn, áp lực cho các địa phương về nhân lực, vật lực, thời gian, tiến độ để thực hiện Mặc dù Luật đã quy định về trách nhiệm tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhưng còn thiếu những chế tài đủ mạnh để xử lý các trường hợp vi phạm Nhận thức về vai trò và vị trí của quy hoạch sử dụng đất mặc dù đã được nâng lên nhưng còn hạn chế, chưa đầy đủ, chưa thống nhất, dẫn đến sự phối hợp giữa các ngành, các cấp, các đơn vị và địa phương còn hạn chế

Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa thực sự nghiêm túc, chưa thường xuyên và đi vào thực chất, đặc biệt là việc quản lý, sử dụng đất theo các chỉ tiêu quy hoạch đã được phê duyệt Nhiều địa phương chỉ mới chú trọng đến công tác lập quy hoạch, chưa chú trọng đến công tác quản lý và tổ chức triển khai đưa quy hoạch vào thực tiễn cuộc sống Một số địa phương thực hiện chưa đúng và chưa đầy đủ quy trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; việc thực hiện công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vẫn còn mang tính hình thức và chưa đầy đủ nên việc tiếp cận thông tin của nhân dân còn bị hạn chế

Việc bồi thường, giải phóng mặt bằng để thực hiện quy hoạch chỉnh trang phát triển đô thị đòi hỏi kinh phí lớn, trong khi nguồn vốn của nhà nước còn hạn chế, do vậy mà việc tổ chức thực hiện chỉnh trang phát triển đô thị gắn với thu hồi đất của diện tích đất liền kề để tạo quỹ “đất sạch” đấu giá quyền sử dụng đất tạo vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị chưa được chính quyền địa phương tổ chức quyết liệt

3 Về giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất

3.1 Kết quả thực hiện

Thực hiện việc giao đất, cho thuê đất đã góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư và bước đầu phát huy nguồn lực của đất đai trong phát triển của đất nước Tổng diện tích đất đã được Nhà nước giao, cho thuê và công nhận quyền sử dụng đất cho các đối tượng sử dụng là 24.996 nghìn

ha, chiếm 75,53% tổng diện tích tự nhiên cả nước; cụ thể như sau:

Trang 16

- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng 14.878 nghìn ha chiếm 59,52% tổng diện tích đã giao, cho thuê; trong đó diện tích đất nông nghiệp 13.915 nghìn ha, chiếm 93,53% diện tích đất nông nghiệp Nhà nước đã giao, cho thuê cho các đối tượng sử dụng;

- Các tổ chức trong nước sử dụng 9.735 nghìn ha chiếm 38,95 % tổng diện tích đã giao, cho thuê; trong đó diện tích đất phi nông nghiệp 1.021 nghìn

ha, chiếm 59,50% diện tích đất phi nông nghiệp Nhà nước đã giao cho các đối tượng sử dụng;

- Tổ chức, cá nhân nước ngoài được thuê sử dụng 56 nghìn ha (chỉ chiếm 0,22% tổng diện tích đã giao, cho thuê), trong đó đất nông nghiệp 30 nghìn ha (53,57%), đất phi nông nghiệp 26 nghìn ha (46,43%);

- Cộng đồng dân cư được giao 325 nghìn ha (chiếm 1,30% tổng diện tích

đã giao, cho thuê), trong đó đất nông nghiệp 274 nghìn ha (1,10%), đất phi nông nghiệp 6 nghìn ha (0,20%)

Trình tự, thủ tục giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất đã được thực hiện theo đúng quy định; đã từng bước khắc phục tình trạng giao đất, cho thuê đất trái thẩm quyền, không đúng đối tượng Đất được giao, cho thuê, được chuyển mục đích về cơ bản là phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được xét duyệt và quá trình chuyển đổi cơ cấu đầu tư, cơ cấu lao động và bảo đảm quốc phòng - an ninh

3.2 Vướng mắc, bất cập và nguyên nhân

Tình trạng đất được giao cho thuê sử dụng không đúng mục đích, vi phạm pháp luật, găm giữ đất, chậm đưa vào sử dụng hoặc chuyển nhượng dự án còn xảy ra ở nhiều địa phương dẫn đến lãng phí đất đai và gây bất bình trong dư luận Nhiều địa phương còn thiếu cân nhắc trong việc chuyển mục đích sử dụng chuyên trồng lúa nước, đất lâm nghiệp có rừng, giao đất, cho thuê đất tại các khu vực nhạy cảm, vùng biên giới Còn tình trạng nhiều tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền nhưng sử dụng lãng phí và thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra nhiều sai phạm

Nguyên nhân của tình trạng trên là do:

Theo chính sách hiện hành, đối tượng được giao đất không thu tiền sử dụng đất quá rộng Việc phân cấp mạnh về thẩm quyền giao đất, cho thuê đất cùng với quy định phân cấp mạnh thẩm quyền quyết định đầu tư của pháp luật

về đầu tư chưa đi đôi với việc giảm sát thực thi trên thực tế đã bộc lộ nhiều bất cập Quy định về căn cứ giao đất, cho thuê đất cùng với việc định giá đất để tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thường thấp hơn nhiều so với giá đất trên thị trường, đặc biệt là giá cho thuê đất quá thấp cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng một nhà đầu tư được giao đất, thuê đất để thực

Trang 17

hiện nhiều dự án nhưng găm giữ đất, chậm đưa vào sử dụng hoặc chuyển nhượng dự án Quy định Nhà nước cho thuê đất trả tiền hàng năm hoặc trả tiền một lần cho cả thời gian thuê đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Nhà nước cho thuê đất trả tiền hàng năm hoặc giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với tổ chức kinh tế trong nước, dẫn đến sự không thống nhất giữa nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và chưa gắn với mục đích sử dụng đất Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp hiện nay còn thấp(8) nên có nhiều trường hợp sử dụng đất có diện tích lớn đã lách luật bằng cách nhờ người khác đứng tên khi nhận chuyển quyền sử dụng đất, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước về đất đai, gây phức tạp trong việc đăng ký sử dụng đất, dễ phát sinh khiếu kiện, tranh chấp đất đai Quy định giao đất, cho thuê đất theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất chưa được nhiều địa phương nghiêm túc thực hiện Nhiều địa phương chạy theo nhà đầu tư trong việc phát triển các dự án đô thị nhỏ lẻ, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, thiếu sự phối hợp thống nhất trên quy mô liên vùng, liên tỉnh; chưa xem xét đồng bộ với điều kiện hạ tầng kỹ thuật, xã hội, khả năng và thực tế lấp đầy các khu công nghiệp Một số địa phương chưa đánh giá hết năng lực các nhà đầu tư khi giao đất, cho thuê đất Việc kiểm tra, xử lý vi phạm sau khi giao đất, cho thuê đất chưa được tiến hành một cách thường xuyên Chưa thống nhất các thủ tục về đầu tư, xây dựng và đất đai trong việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, hồ sơ còn phức tạp, thời gian thực hiện còn kéo dài Thực tế phát sinh một số trường hợp xin sử dụng đất để đầu tư xây dựng công trình ngầm, đầu tư xây dựng nghĩa trang, nghĩa địa để kinh doanh, nhưng Luật Đất đai chưa có quy định điều chỉnh

4 Thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ, tái định cư

8 Theo Luật Đất đai năm 2003, hạn mức diện tích sử dụng đất được quy định bao gồm: (i) đối với đất sản xuất nông nghiệp trồng cây hàng năm là không quá 3 ha, (ii) đối với đất sản xuất nông nghiệp trồng cây lâu năm là không quá 10 ha đối với vùng đồng bằng và không quá 30 ha đối với trung du và miền núi, (iii) đối với đất rừng là không quá 30 ha, (iv) đối với đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp thì xét duyệt theo dự án đầu tư, (v) đối với đất ở theo hạn mức do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định; thời gian sử dụng đất được quy định bao gồm: (i) đối với đất sản xuất nông nghiệp trồng cây hàng năm là 20 năm, (ii) đối với đất sản xuất nông nghiệp trồng cây lâu năm

và đất rừng sản xuất là 50 năm, (iii) đối với đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp thì xét duyệt theo dự án, (iv) đối với đất ở cho hộ gia đình, cá nhân là ổn định lâu dài

Trang 18

Các tỉnh, thành phố thu hồi diện tích đất lớn là Đắk Lăk (114.524 ha), Điện Biên (66.944 ha), Sơn La (61.334 ha), Nghệ An (33.357 ha), Bình Phước (27.109 ha), Quảng Nam (24.541 ha), Quảng Ninh (13.529 ha), Gia Lai (12.301 ha) Tỉnh thu hồi diện tích đất ít là Vĩnh Long (325 ha), Tiền Giang (448 ha), Hậu Giang (974 ha)

Nhìn chung, diện tích đất được thu hồi đã đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của địa phương; các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư từng bước được điều chỉnh, bổ sung phù hợp với

cơ chế quản lý kinh tế thị trường, đảm bảo tốt hơn quyền lợi hợp pháp của người

bị thu hồi đất Việc tổ chức thực hiện thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Trung tâm phát triển quỹ đất bước đầu đã phát huy hiệu quả tốt, góp phần đáp ứng nhu cầu "đất sạch" để thực hiện các dự án đầu tư nhất là các dự án đầu tư nhằm mục đích công cộng

b) Thu h ồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai

Theo kết quả tổng hợp báo cáo của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì trong gần 7 năm, các địa phương đã quyết định thu hồi 50.906 ha của 1.481 tổ chức và 598 hộ gia đình, cá nhân vi phạm pháp luật về đất đai Những tỉnh thu hồi nhiều đất do vi phạm pháp luật về đất đai như: Bình Phước 6.070 ha, Phú Yên 5.813 ha, Đắk Nông 5.791 ha, Quảng Nam 5.217 ha, Gia Lai 2.719 ha,

Quảng Ninh 2.245 ha, Khánh Hòa 604 ha, Hà Nội 594 ha Đây được coi là một

tiến bộ nổi bật trong công tác quản lý đất đai so với thời gian trước đây

c) T ạo quỹ "đất sạch" để đấu giá quyền sử dụng đất

Một số Bộ, ngành và địa phương, đặc biệt là các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng đã đánh giá cao hoạt động của Tổ chức phát triển quỹ đất trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và tạo quỹ "đất sạch" để đấu giá quyền sử dụng đất Cơ chế tạo "đất sạch" do Tổ chức phát triển quỹ đất thực hiện tại nhiều địa phương bước đầu đã phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao giá trị, hiệu quả sử dụng đất, đồng thời minh bạch hóa công tác giao đất, cho thuê đất, hạn chế tình trạng tham nhũng trong quản

lý đất đai

4.2 Những vướng mắc, bất cập và nguyên nhân

Việc thu hồi đất để thực hiện các dự án vẫn là một trong những vấn đề nổi cộm ở nhiều địa phương, làm chậm tiến độ triển khai nhiều dự án đầu tư, gây bức xúc cho cả người sử dụng đất, nhà đầu tư và chính quyền nơi có đất thu hồi

do các nguyên nhân sau:

- Việc thực hiện cơ chế tự thỏa thuận đã tạo điều kiện cho nhà đầu tư chủ động quỹ đất thực hiện dự án, rút ngắn thời gian giải phóng mặt bằng, hạn chế

Trang 19

khiếu kiện, đồng thời giảm tải cho các cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong việc thu hồi đất Tuy nhiên, đã tạo ra sự chênh lệch lớn về giá đất so với

dự án do Nhà nước thu hồi trong cùng khu vực Nhiều địa phương còn áp dụng

cơ chế này đối với những dự án lớn (diện tích đất và số hộ dân bị thu hồi lớn), nên nhà đầu tư rất khó có thể hoàn thành việc giải phóng mặt bằng do một số người có đất nằm trong khu vực dự án không hợp tác với nhà đầu tư, không bảo đảm thực hiện dự án theo đúng tiến độ và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Luật Đất đai thiếu quy định làm cơ sở thực hiện đo đạc, kiểm đếm để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước khi có quyết định thu hồi đất để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước khi có quyết định thu hồi đất nên khó khăn trong thực hiện nhất là đối với trường hợp người bị thu hồi đất không hợp tác để thực hiện đo đạc, kiểm đếm Việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng còn bất cập, chưa có cơ chế giải quyết một cách rõ ràng, minh bạch, hài hòa về lợi ích giữa Nhà nước, người có đất bị thu hồi và nhà đầu tư Chưa quy định việc sử dụng tư vấn giá đất, giải quyết khiếu nại về giá đất và cơ chế bắt buộc để đảm bảo có quỹ đất, có nguồn vốn xây dựng khu tái định cư trước khi thu hồi đất;

- Các quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thường xuyên thay đổi dẫn tới tình trạng so bì, khiếu nại của người có đất bị thu hồi qua các dự án hoặc trong một dự án nhưng thực hiện thu hồi đất qua nhiều năm

- Giá đất bồi thường chủ yếu thực hiện theo bảng giá nên còn thấp so với giá đất thị trường; còn tình trạng không thống nhất về cơ chế bồi thường giữa các

dự án đầu tư có nguồn vốn trong nước và dự án từ vốn vay của các ngân hàng nước ngoài (ADB, WB)

- Việc chuẩn bị phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chưa được các cấp chính quyền quan tâm đúng mức, nhất là phương án giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất Nhiều địa phương chưa coi trọng việc lập khu tái định cư chung cho các dự án tại địa bàn, một số khu tái định cư đã được lập nhưng chất lượng chưa đảm bảo yêu cầu “có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ”; việc lập và thực hiện phương án bồi thường của một số dự án chưa đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch; một số nơi chưa chú trọng tạo việc làm mới, chuyển đổi nghề cho người có đất bị thu hồi; năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ làm công tác giải phóng mặt bằng ở nhiều nơi còn chưa đáp ứng yêu cầu; một số dự án còn thiếu công khai, dân chủ, minh bạch Tổ chức thực hiện còn thiếu kiên quyết, chưa phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng tham gia thực hiện

- Một số địa phương thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành; chưa làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, giải thích cho nhân dân hiểu rõ

Trang 20

quy định của pháp luật hoặc né tránh, thiếu cương quyết, không giải quyết dứt điểm, làm cho việc giải phóng mặt bằng bị kéo dài nhiều năm Năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng còn hạn chế và thiếu chuyên nghiệp Trong khi đó, Tổ chức Phát triển quỹ đất chưa được quan tâm đầu tư đúng mức về kinh phí và nhân lực để thực hiện thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt, tạo quỹ "đất sạch" triển khai khi

có dự án đầu tư

- Nhà nước thiếu vốn để giao cho các tổ chức chuyên nghiệp thực hiện nên phổ biến vẫn thực hiện thu hồi đất và giao chỉ định cho chủ đầu tư, cho phép chủ đầu tư ứng vốn để trả trước tiền bồi thường giải phóng mặt bằng dễ dẫn đến khiếu kiện của người dân Đồng thời, nhà nước chưa thu được đầy đủ phần giá trị tăng thêm từ đất do chuyển mục đích sử dụng đất mà không do nhà đầu tư mang lại để điều tiết chung

- Thẩm quyền thu hồi đất đã phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, trong đó có nhiều dự án thu hồi diện tích lớn, thu hồi đất trồng lúa, đất rừng để chuyển sang đất phi nông nghiệp ảnh hưởng đến đời sống và việc làm của nhiều hộ dân nhưng thực hiện còn thiếu cân nhắc, tính toán, trong khi việc kiểm tra, giám sát của cơ quan cấp trên còn thiếu chặt chẽ

- Luật Đất đai đã quy định các trường hợp không sử dụng, chậm sử dụng hoặc sử dụng đất không đúng mục đích thì Nhà nước thu hồi và không bồi thường về đất, nhưng được bồi thường đối với tài sản đã đầu tư gắn liền với đất Quy định này đã gây khó khăn cho Nhà nước trong việc thu hồi đất trong các trường hợp trên (xác định chi phí đã đầu tư, kinh phí để bồi thường) để giao lại cho các nhà đầu tư có năng lực, đồng thời làm cho việc thực thi pháp luật về đất đai của nhà đầu tư thiếu nghiêm minh; dẫn đến còn tình trạng lãng phía đất đai và gây bất bình trong dư luận

- Mặc dù, chính sách, pháp luật về khiếu nại, tố cáo, tố tụng hành chính,

tố tụng dân sự đã được đổi mới từ khi Quốc hội ban hành Luật Đất đai năm

2003 nhưng bất cập chủ yếu tại địa phương hiện nay là tình trạng khiếu kiện về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, trong đó có vướng mắc trong thực hiện cưỡng chế thu hồi đất

5 Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất đai

5.1 Kết quả đạt được

a) V ề đo đạc bản đồ địa chính, đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử

d ụng đất, xây dựng hồ sơ địa chính

- Sau gần 07 năm thực hiện Luật Đất đai 2003, sự hình thành hệ thống

Trang 21

Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất, cùng với sự quan tâm chỉ đạo và hỗ trợ kinh phí của Trung ương, sự quan tâm đầu tư kinh phí của các địa phương mà việc đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được đẩy mạnh Kết quả đến nay, cả nước đã đo đạc lập bản đồ địa chính đạt 74,9% tổng diện tích tự nhiên và đã cấp Giấy chứng nhận đất sản xuất nông nghiệp đạt 85% tổng diện tích, đất lâm nghiệp đạt 86,3% diện tích, đất ở nông thôn đạt 82,1% diện tích, đất ở đô thị đạt 63,5%, đất chuyên dùng đạt 54,9% diện tích, đất cơ sở tôn giáo đạt 81,6 % diện tích Trong đó, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trong hơn 01 năm qua, cả nước đã cấp được 1.348.152 giấy với diện tích 898.030 ha

Kết quả đó đã góp phần giải quyết những vấn đề tồn tại trong quản lý và

sử dụng đất; tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng đất thực hiện các quyền; giải quyết có hiệu quả tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai; tạo điều kiện thuận lợi đẩy nhanh việc bồi thường, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất; nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật đất đai của người dân

- Việc lập hồ sơ địa chính đã được các địa phương quan tâm, chú trọng thực hiện, kết quả đến nay đã có trên 70% số xã, phường, thị trấn đã xây dựng được hồ sơ, sổ sách địa chính phục vụ cho yêu cầu quản lý đất đai Đặc biệt, nhiều địa phương đã triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính để thay thế dần cho việc lập sổ sách địa chính dạng giấy, nhằm thiết lập hệ thống thông tin đất đai hoàn chỉnh, hiện đại; tạo điều kiện cho việc khai thác, cung cấp thông tin đất đai một cách thuận lợi, nhanh chóng, chính xác; nâng cao năng lực và hiệu quả của hệ thống đăng ký đất đai; góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động sản minh bạch Trong đó có nhiều tỉnh triển khai mạnh như Bắc Ninh, Nghệ An, An Giang, Thừa Thiên - Huế, TP Hồ Chí Minh; riêng Đồng Nai đã cơ bản hoàn thành xây dựng, vận hành sử dụng cơ sở dữ liệu địa chính thống nhất

từ tỉnh đến huyện cho tất cả các xã

b) V ề thống kê, kiểm kê đất đai

Đã tổ chức thực hiện và hoàn thành việc thống kê đất định kỳ hàng năm

và kiểm kê đất các năm 2005, 2010 Ngoài ra, còn thực hiện nhiều cuộc điều tra chuyên đề để phục vụ các yêu cầu khác nhau trong quản lý đất đai, điển hình là việc kiểm kê quỹ đất đang quản lý, sử dụng của tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg ngày 14 tháng 12 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ Kết quả đã xác lập được bộ số liệu đất đai đầy đủ của

cả nước, đáp ứng yêu cầu thông tin đất đai phục vụ cho quản lý đất đai, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh của các cấp và các ngành; đã đánh giá đầy đủ, đúng thực trạng tình hình quản lý, sử dụng đất đai và đề xuất nhiều biện pháp, chính sách, pháp

Trang 22

luật nhằm chấn chỉnh, tăng cường quản lý đất đai, kiểm tra, thanh tra xử lý tình trạng vi phạm pháp luật đất đai của các tổ chức, cá nhân

5.2 Vướng mắc, bất cập và nguyên nhân

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhưng công tác đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất đai cũng còn một số tồn tại, hạn chế trong đó nổi lên là:

- Còn xảy ra tình trạng tranh chấp trong việc sử dụng đất bãi bồi ven biển

và mặt nước ven bờ biển ở một số địa phương mà không có cơ sở giải quyết;

- Việc đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận lần đầu đến nay chưa hoàn thành, nhu cầu cấp giấy chứng nhận và đăng ký biến động lớn còn rất lớn;

- Hồ sơ địa chính lập chưa đầy đủ, thống nhất; việc cập nhật, chỉnh lý biến động chưa được thực hiện thường xuyên, đồng bộ theo quy định; nhiều nơi đã cấp Giấy chứng nhận, xây dựng hồ sơ địa chính nhưng chưa ổn định, còn phải làm lại do việc dồn điền đổi thửa sau khi cấp Giấy chứng nhận hoặc do chưa có bản đồ địa chính nên phải cấp theo tự khai báo của người dân hoặc cấp theo các loại bản đồ cũ có độ chính xác thấp;

- Việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính triển khai còn chậm và phân tán, thiếu đồng bộ, chưa được kết nối giữa các cấp và các cơ quan có liên quan nên chưa được cập nhật đầy đủ, thường xuyên, hiệu quả sử dụng chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý đất đai và thị trường bất động sản

- Công tác thống kê, kiểm kê đất đai theo định kỳ của các địa phương thường hoàn thành chậm, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu thông tin đất đai cho việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các cấp, các ngành; chất lượng số liệu thống kê định kỳ hàng năm của nhiều địa phương chưa cao do việc đo vẽ bản đồ địa chính chậm và việc cập nhật, chỉnh lý biến động chưa thực hiện tốt

Nguyên nhân chính của những tồn tại trên là do:

+ Pháp luật về đất đai chưa có quy định về phạm vi quản lý đất đai (đường địa giới) của chính quyền các địa phương đối với đất mặt nước ven biển, nên khó khăn trong việc xác định phạm vi quản lý đất và tổng diện tích tự nhiên của các địa phương ven biển;

+ Chưa quy định rõ tính bắt buộc phải đăng ký bao gồm đăng ký ban đầu

và đăng ký biến động, chưa có chế tài đủ mạnh để xử lý nên nhiều trường hợp chây ỳ, không kê khai đăng ký theo quy định, dẫn đến nhà nước không lập được

hồ sơ để quản lý

Trang 23

+ Việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, hệ thống thông tin về đất đai chưa được quan tâm đúng mức.

+ Hệ thống Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, nhất là ở cấp huyện còn hạn chế về nhân lực (thường mới chỉ đáp ứng từ 20 đến 30% so với nhu cầu); thiếu các trang thiết bị kỹ thuật, trụ sở làm việc chật hẹp; do đó, nhiều Văn phòng chưa đủ điều kiện để triển khai thực hiện hết chức năng, nhiệm vụ được giao nên các đơn vị khác còn phải làm thay một phần công việc, dẫn đến sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ với Phòng Tài nguyên và Môi trường Nhiều địa phương do thiếu cán bộ nên cơ quan Tài nguyên và Môi trường huy động cả cán bộ Văn phòng đăng ký để thực hiện các nhiệm vụ cấp bách như giải quyết khiếu nại, tranh chấp, giải phóng mặt bằng Một số địa phương do nhận thức chưa đầy đủ, hoặc do cục bộ về lợi ích dẫn đến sự không thống nhất trong việc thẩm tra, trình ký giấy chứng nhận Quy định thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất ở 2 cấp đang có một số bất cập trong phối hợp; hơn nữa, hồ

sơ địa chính phải được xây dựng và quản lý ở 2 cấp gây tốn kém, bị phân tán, dễ thất lạc; làm cho quy trình cập nhật, chỉnh lý biến động phức tạp, không được thực hiện đầy đủ Thực tế ở các nước trên thế giới, cơ quan đăng ký chỉ được thành lập ở một cấp và có các chi nhánh bố trí theo khu vực, có thẩm quyền quyết định việc đăng ký, cấp Giấy chứng nhận; trong đó thành lập ở cấp trung ương (trực thuộc cơ quan quản lý đất đai) như Úc, Canada, New Zealand, Anh, Thụy Điển hoặc trực thuộc Bộ Kinh tế - Tài chính như ở Pháp; thành lập ở cấp tỉnh (hoặc cấp hạt) như Thái Lan, Malaixia, Hoa kỳ

+ Quy định thu nghĩa vụ tài chính về đất khi cấp Giấy chứng nhận (gồm tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ, lệ phí công chứng hợp đồng) còn cao, vượt quá khả năng đối với phần lớn các hộ gia đình; việc thu lệ phí trước bạ khi cấp Giấy chứng nhận lần đầu không hợp lý (như trường hợp cấp Giấy chứng nhận đất nông nghiệp, lâm nghiệp không có quyết định giao đất hoặc cấp đổi Giấy chứng nhận có thay đổi diện tích do đo đạc) Một số khoản thu còn trùng lặp (vừa thu thuế thu nhập từ chuyển quyền vừa thu lệ phí công chứng hợp đồng chuyển quyền theo % giá trị nhà, đất; vừa thu lệ phí trước bạ theo % giá trị)

+ Việc chấp hành quy định về đăng ký, cấp Giấy chứng nhận ở nhiều địa phương chưa nghiêm như yêu cầu nộp thêm nhiều giấy tờ trái quy định; khi tiếp nhận hồ sơ không kiểm tra, hướng dẫn đầy đủ làm cho người dân phải đi lại nhiều lần; còn thực hiện thêm một số thủ tục gây trùng lặp pháp lý; thời gian thực hiện thủ tục còn kéo dài quá quy định mà không được thông báo lý do

+ Do một thời gian dài buông lỏng quản lý đất đai, tình trạng vi phạm pháp luật đất đai còn nhiều (như lấn chiếm, chuyển mục đích trái phép, không sử dụng đất được giao; chuyển nhượng đất hoặc chuyển nhượng dự án sử dụng đất

mà không làm thủ tục quy định; tranh chấp đất đai), nhiều vụ việc vi phạm kéo

Trang 24

dài nhiều năm, nhiều lần không được xử lý dứt

+ Kinh phí cho việc đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận, xây dựng hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai trong nhiều năm qua chưa được các địa phương bố trí đầy đủ theo yêu cầu; nhiều địa phương chưa dành đủ 10% tiền thu từ đất để thực hiện theo đúng chỉ đạo của Chính phủ

+ Cán bộ địa chính mỗi xã chỉ có một người là không hợp lý vì điều kiện

tự nhiên của mỗi xã và công việc rất khác nhau, bên cạnh đó họ lại phải thực hiện rất nhiều nhiệm vụ khác; nhiều địa phương chưa được duy trì ổn định do thực hiện quy định luân chuyển cán bộ

6 Về tài chính đất đai, giá đất

6.1 Kết quả thực hiện

Nhìn chung, chính sách về giá đất thời gian qua đã liên tục được điều chỉnh, hoàn thiện theo hướng tiếp cận cơ chế thị trường, đã góp phần tạo chuyển biến tích cực trong quản lý nhà nước về đất đai, từng bước phát huy nguồn lực đất đai để phát triển kinh tế - xã hội và là cơ sở để từng bước giải quyết tốt hơn quyền lợi của người có đất bị thu hồi, đồng thời góp phần hạn chế tham nhũng trong quản lý, sử dụng đất

Nguồn thu từ đất đai cho ngân sách nhà nước tăng qua các năm (năm

2002 là 5,5 nghìn tỷ đồng, năm 2005 đạt gần 18 nghìn tỷ đồng, năm 2006 đạt gần 21 nghìn tỷ đồng, năm 2007 đạt gần 37 nghìn tỷ đồng, năm 2008 đạt trên 40 nghìn tỷ đồng, năm 2009 đạt gần 47 nghìn tỷ đồng và năm 2010 đạt 67 nghìn tỷ đồng)

Hệ thống chính sách thuế đối với đất đai đã được quy định tương đối đầy đủ, có nhiều đổi mới phù hợp với quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, góp phần tăng cường công tác quản lý đất đai, làm lành mạnh hóa thị trường bất động sản Việc điều tiết thu nhập đối với các tổ chức, cá nhân chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được thực hiện thông qua chính sách thuế chuyển quyền sử dụng đất, đã hỗ trợ, khuyến khích sản xuất, kinh doanh nhất là sản xuất nông nghiệp

Việc xây dựng bảng giá đất hàng năm đã được các địa phương chú trọng

và được thực hiện chi tiết đến từng huyện, xã, có nơi đến từng thửa đất, làm căn

cứ để tính tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tính thuế, lệ phí và các khoản thu tài chính khác

Nguyên tắc xác định giá đất sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường được xác lập và triển khai thực hiện, bước đầu làm lành mạnh hóa các quan hệ đất đai, là cơ sở để giải quyết

Trang 25

tốt hơn quyền lợi của người có đất bị thu hồi, đồng thời góp phần hạn chế tham nhũng, tiêu cực trong quản lý, sử dụng đất

6.2 Vướng mắc, bất cập và nguyên nhân

Mặc dù đạt được những thành tựu cơ bản nhưng chính sách tài chính đất đai còn nhiều mặt hạn chế như: Việc quản lý nhà nước về giá đất còn bất cập, chưa theo sát thị trường Bảng giá công bố tại các địa phương chỉ bằng khoảng 30%-60% so giá thị trường)(9) Bảng giá thấp này khi được áp dụng để tính toán nghĩa vụ tài chính về sử dụng đất đai đã gây thất thu cho ngân sách nhà nước nhưng nếu khi dùng mức giá thấp này để tính toán giá bồi thường, người bị thu hồi đất lại không đồng ý, phát sinh khiếu kiện và ảnh hưởng đến tiến độ giải phóng mặt bằng Một số sắc thuế chậm được ban hành hoặc đã được ban hành nhưng thực hiện chưa tốt Chính sách tài chính, chính sách thuế chưa đáp ứng yêu cầu điều tiết lại hài hòa phần giá trị tăng thêm từ đất đai không phải do người sử dụng đất tạo ra, mà do đô thị hóa, do Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng, do quy hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng đất đem lại,

để phục vụ cho lợi ích chung

Nguyên nhân của tình trạng trên là do:

- Khung giá các loại đất được quy định cho 03 vùng đồng bằng, trung du, miền núi và có biên độ quá rộng, chậm được điều chỉnh(10) Vì vậy, khi sử dụng

để làm căn cứ cho các địa phương ban hành Bảng giá đất thì chưa sát thị trường

và có sự chênh lệch giá đất của từng loại đất giữa các vùng, giữa các địa phương trong cùng một vùng(11)

- Giá đất trong Bảng giá đất thường thấp hơn nhiều so với giá đất trên thị trường nhưng lại được hầu hết các địa phương sử dụng để áp dụng cho các mục đích trong quản lý, sử dụng đất đai; việc xác định giá đất cụ thể sát với giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường để tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mặc dù đã có quy định nhưng thực hiện còn hạn chế(12)

- Còn có sự chênh lệch lớn về giá đất tại các khu vực giáp ranh giữa các địa phương(13), trong khi pháp luật về đất đai hiện hành lại chưa có cơ chế hữu

9 Mức giá cao nhất trong bảng giá đất của Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là 81 triệu đồng/m 2 (cũng là mức tối đa trong Khung giá đất của Chính phủ), trong khi giá đất chuyển nhượng cao nhất thực tế trên thị trường cao hơn 400 triệu đồng/m 2 , cá biệt có nơi hàng tỷ đồng/m2

(10) Từ 01 tháng 7 năm 2004 đến nay chỉ có 01 lần điều chỉnh Khung giá các loại đất vào năm 2007

(11) Giá đất nông nghiệp trồng cây hàng năm ở vùng đồng bằng là từ 3.000 - 162.000 đồng; vùng trung du là từ 2.400 - 126.000 đồng; vùng miền núi từ 800 - 85.200 đồng Giá đất ở tại đô thị trong Khung giá từ 1,5 triệu đồng

Trang 26

hiệu để giải quyết tình trạng này

- Phân công nhiệm vụ quản lý nhà nước về giá đất còn phân tán, hệ thống

cơ quan định giá đã hình thành nhưng tính chuyên nghiệp chưa cao và chưa thật đồng đều, phần định giá nhà nước chủ yếu theo cơ chế hội đồng liên ngành; chưa có hệ thống quản lý, theo dõi, cập nhật tình hình thị trường, giá cả làm cơ

sở cho công tác quản lý nhà nước về giá đất

- Số lượng các tổ chức tư vấn giá đất còn ít(14), năng lực định giá còn hạn chế; khung pháp lý cho hoạt động tư vấn giá đất độc lập chưa đầy đủ, chưa đáp ứng yêu cầu hỗ trợ các địa phương trong việc xây dựng Bảng giá đất và định giá

cụ thể

- Nhiều địa phương chưa tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc tham khảo thị trường trong xây dựng và ban hành bảng giá đất; giá đất trong Bảng giá thường thấp để thu hút đầu tư, giảm thu tiền sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận, giảm kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

- Khung pháp lý cho hoạt động tư vấn giá đất độc lập chưa đầy đủ và còn thiếu thống nhất giữa Pháp lệnh giá, Luật Kinh doanh bất động sản và Luật Đất đai nên dịch vụ tư vấn giá đất phát triển chưa mạnh, chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng bảng giá đất và định giá đất cụ thể từng thửa đất

- Việc áp dụng nguyên tắc, phương pháp định giá đất của các địa phương

để xây dựng bảng giá đất nông nghiệp còn nhiều điểm chưa phù hợp Các mức giá đất nông nghiệp tại khu vực có quy hoạch điều chỉnh hoặc có kế hoạch xây dựng, nâng cấp kết cấu hạ tầng, tuy quy hoạch, kế hoạch chưa thực hiện nhưng trên thực tế giá đất nông nghiệp đã ăn theo và cao hơn nhiều so với lúc chưa có quy hoạch, kế hoạch được duyệt

- Cơ chế định giá đất chưa phù hợp; cơ quan quản lý nhà nước về giá đất nhưng lại thực hiện định giá đất cụ thể tới từng thửa, trong khi đó cơ quan chuyên ngành về đất đai thì xây dựng khung giá, bảng giá đất

- Nhà nước chưa tổ chức được hệ thống theo dõi giá đất trên thị trường

để làm cơ sở định giá đất phù hợp với giá đất trên thị trường trong điều kiện bình thường

- Mặc dù, Quốc hội ban hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế thu nhập cá nhân, trong đó có việc áp dụng thuế suất lũy tiến từng phần đối với người có thu nhập cao khi chuyển quyền sử dụng đất song mới chỉ thực hiện đối với doanh nghiệp kinh doanh bất động sản Tuy nhiên, do việc xác định chính xác thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất gặp khó khăn nên trong nhiều

(14) Theo Thông báo số 58/TB-BTC ngày 20 tháng 01 năm 2012 của Bộ Tài chính có 79 doanh nghiệp đủ điều kiện hoạt động thẩm định giá năm 2012

Trang 27

trường hợp, để chống thất thu, chủ yếu vẫn phải áp dụng theo mức thu khoán trên giá trị chuyển nhượng; hiện chưa có cơ chế buộc người chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải khai báo đúng giá chuyển nhượng để thu đúng, thu đủ thuế về cho ngân sách

7 Giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai; thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm

7.1 Kết quả thực hiện

Công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai đã được các ngành, các cấp quan tâm giải quyết, từng bước hạn chế khiếu kiện vượt cấp, góp phần ổn định tình hình chính trị, giữ vững an ninh, trật tự xã hội Một số địa phương đã đặt công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai

là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý đất đai; đã đổi mới công tác tiếp công dân, kiện toàn bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp công dân và giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai Việc đùn đẩy trách nhiệm giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo đã giảm so với trước đây

Công tác xét xử, giải quyết tranh chấp, khiếu kiện về quản lý, sử dụng đất đai đã đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất Nhiều bản án, quyết định của Tòa án được nhân dân đồng tình ủng hộ và bảo đảm hiệu lực thi hành(15)

Sau khi ban hành Luật Đất đai năm 2003, hệ thống pháp luật về khiếu nại, tố cáo, tố tụng hành chính, tố tụng dân sự đã có nhiều đổi mới như quy định rõ thẩm quyền và trình tự giải quyết theo hướng mở rộng quyền cho người dân được khiếu kiện đến cơ quan hành chính hoặc Tòa án; trường hợp cơ quan hành chính đã có quyết định giải quyết cuối cùng thì chỉ được khiếu kiện ra Tòa án (16), không còn cơ quan nào được tiếp tục giải quyết

7.2 Vướng mắc, bất cập và nguyên nhân

Tình hình tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai vẫn diễn biến phức tạp, tính chất tranh chấp ngày càng gay gắt, kéo dài, tập trung vào bồi thường giải phóng mặt bằng phát triển các khu đô thị (chiếm gần 70% tổng số vụ khiếu nại,

tố cáo), trong đó, chủ yếu là khiếu nại về giá đất bồi thường, tiềm ẩn sự mất ổn định ở một số nơi Nguyên nhân của tình trạng trên là do:

15 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiếp nhận 10.137 đơn thư vào năm 2005, đến năm 2011 giảm xuống còn 5.298 đơn thư Tòa án các cấp đã thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm 307.912 vụ việc, trong đó số vụ việc tranh chấp liên quan đến đất đai chiếm 22,70%

16

Theo báo cáo của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, từ 01 tháng 7 năm 2004 đến 30 tháng 8 năm 2010, Tòa án các cấp đã thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm 307.912 vụ việc dân sự, trong đó số vụ việc tranh chấp liên quan đến đất đai là 69.806 vụ việc (chiếm 22,70%)

Trang 28

- Quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai chưa

đủ rõ dẫn đến công tác xét xử, giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện về đất đai còn nhiều hạn chế; chế tài xử lý chưa đủ mạnh để ngăn ngừa các hành vi vi phạm

- Công tác hòa giải ở cấp cơ sở chưa được quan tâm đúng mức, nhiều địa phương không bố trí cán bộ có đủ năng lực, phẩm chất, kinh nghiệm đảm nhiệm công việc này nên việc hòa giải đạt hiệu quả chưa cao Nhiều vụ việc giải quyết không triệt để dẫn đến khiếu kiện đông người, có trường hợp dẫn đến vụ án hình sự Một số địa phương chưa làm tốt trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về đất đai trên địa bàn như vi phạm trong thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, bồi thường, tái định

cư, cấp giấy chứng nhận

- Công tác thanh tra chưa được tổ chức thường xuyên, còn thiếu tính chủ động, chưa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn Việc xử lý sau thanh tra của các cấp các ngành chưa kiên quyết, triệt để, kịp thời làm hạn chế đến hiệu quả hoạt động thanh tra, cụ thể: tình trạng lấn chiếm đất công, chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, sử dụng sai mục đích, để đất hoang hóa diễn ra thường xuyên và dưới nhiều hình thức gây bức xúc trong dư luận nhân dân và xã hội nhưng chưa có chế tài đủ mạnh để ngăn ngừa các hành vi vi phạm; chế tài quy định xử lý, xử phạt vi phạm pháp luật đất đai còn nhẹ, chưa đủ sức răn đe các đối tượng vi phạm

- Chính sách, pháp luật về đất đai thường xuyên thay đổi trong từng giai đoạn lịch sử, không ổn định, còn thiếu đồng bộ, chồng chéo, mâu thuẫn với pháp luật về dân sự, pháp luật về khiếu nại, tố cáo dẫn đến tình trạng khó phân định thẩm quyền giải quyết, chất lượng giải quyết chưa cao đối với một số trường hợp khiếu kiện của công dân dẫn đến tình trạng khiếu nại không có điểm dừng, không rõ trách nhiệm cuối cùng thuộc về cơ quan nào

- Ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người sử dụng đất còn hạn chế Nhiều người dân không khiếu kiện ra tòa mà tiếp tục gửi đơn khiếu nại đến các

cơ quan Đảng, cơ quan Nhà nước đề nghị xem xét giải quyết; các cơ quan này khi nhận được đơn lại tiếp tục xử lý, chuyển đơn không đúng quy định của

pháp luật dẫn đến việc giải quyết khiếu kiện về đất đai kéo dài, không dứt điểm

- Việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai còn mang

tính chủ quan, nể nang, nặng về mệnh lệnh hành chính, chưa thường xuyên tham

vấn cộng đồng, nhiều quyết định giải quyết chưa thấu tình đạt lý Việc tổ chức thực hiện các quyết định giải quyết đã có hiệu lực pháp luật còn thiếu kiên quyết, dẫn đến vụ việc không được giải quyết dứt điểm, khiếu kiện kéo dài Hình thức văn bản giải quyết một số vụ việc chưa đảm bảo theo quy định của pháp luật như việc ban hành công văn, thông báo để thay thế quyết định giải

Ngày đăng: 09/01/2021, 11:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w