1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

Distribution System Project

24 343 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giới thiệu các dịch vụ TELNET, NFS, DHCP, FTP dựa trên giao thức TCP/IP
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 6,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mọi tập tin /etc/hosts ban đầu đều có 1 dòng localhost được gọi là loopback có địa chỉ là 127.0.0.1 và một dòng là tên máy của chúng ta nếu chúng ta đặt tên cho máy khi cài đặt hệ thống.

Trang 1

Giới thiệu các dịch vụ TELNET, NFS, DHCP, FTP

dựa trên giao thức TCP/IP

Tổng quan về giao thức TCP/IP

Trước khi đi vào các dịch vụ Telnet, NFS, DHCP, FTP chúng ta cần hiểu một số khái niệm về bộ giao thức TCP/IP () TCP/IP là hầu như là một bộ giao thức phổ biến nhất hiện nay, cho việc kết nối truyền thông giữa các máy

1 Các khái niệm cơ bản.

Trước khi bắt đầu thay đổi các tập tin hệ thống, chúng ta xem lại các khái niệm cơ bản về địa chỉIP

a IP Address

Các mạng chuẩn TCP/IP sử dụng các địa chỉ 32 bit để xác nhận các mạng riêng và tất cả các thiết bị được sử dụng bên trong mạng Những địa chỉ này được gọi là địa chỉ Internet hay địa chỉ IP

32 bits của địa chỉ IP được phân làm 4 phần 8-bit Mỗi phần 8-bit được nhận giá trị từ 0 – 255

Trong địa chỉ IP, Mỗi phần 8-bit được phân cách nhau bằng một dấu ‘.’ Ví dụ như địa chỉ:

192.168.43.1

Các địa chỉ IP được xác lập dựa vào mô hình kích cỡ mạng Các địa chỉ mạng được phân làm 3 loại: lớp A, lớp B, lớp C Ba lớp mạng này phân 32 bit địa chỉ IP thành nhiều loại kích cỡ mạng và số máy có trong mạng

Lớp địa chỉ A sử dụng 1 byte cho địa chỉ mạng và 3 byte còn lại cho địa chỉ máy, lớp này cho lênđến 16 triệu địa chỉ máy Lớp địa chỉ B sử dụng 2 bytes cho địa chỉ mạng và 2 bytes cho địa chỉ máy, vì thế 16 bit cho khai báo lên đến 65000 máy, chỉ có một vài công ty lớn mới sử dụng lớp này Lớp địa chỉ C có 3 bytes dành cho địa chỉ mạng và 1 byte dành cho địa chỉ máy Vì vậy nó chỉ có thể khai báo tối đa 254 máy (địa chỉ 0 và 255 không sử dụng để khai báo) nhưng có rất nhiều địa chỉ mạng con

Trang 2

b Network Mask

Tiếp theo, chúng ta cần 1 mặt nạ mạng Địa chỉ này thiết lập khá dễ dàng dựa vào địa chỉ IP mà chúng ta đã thiết lập cho máy Địa chỉ mạng là địa chỉ có nội dung giống như địa chỉ IP nhưng được thiết lập giá trị 255, ví dụ như nếu chúng ta có một địa chỉ thuộc lớp C thì địa chỉ mặt nạ của chúng ta là 255.255.255.0, tương tự đối với lớp A là 255.0.0.0, và lớp B là 255.255.0.0

c Network Address

Thực sự ra thì địa chỉ mạng là kết quả thực hiện phép toán AND giữa địa chỉ IP và địa chỉ mặt nạ Địa chỉ này có ý nghĩa muốn nói rằng chúng ta thuộc mạng con nào, ví dụ như địa chỉ chúng

ta là 192.168.14.1 thuộc lớp C thì địa chỉ mạng con của chúng ta là 192.168.43.0

Để có thể lấy đúng địa chỉ mạng của chúng ta, đơn giản là bật các nhóm bit địa chỉ IP ở các byte dành cho tên máy về 0 Ví dụ một lớp C với địa chỉ IP là 192.168.43.1 sẽ có địa chỉ mạng

Nếu chúng ta chỉ cấu hình địa chỉ loopback thì chúng ta không cần quan tâm đến địa chỉ

broadcast này

Các tập tin cấu hình TCP/IP UNIX

/etc/hosts Khai báo các địa chỉ và tên máy tương ứng

/etc/services Danh sách các dịch vụ

/etc/protocols Các giao thức được hỗ trợ

Để sửa đổi nội dung các tập tin này, yêu cầu đơn giản là chúng ta có một bộ soạn thảo văn bản định dạng ASCII Việc sửa đổi nội dung các tập tin này khá dễ dàng và đơn giản

2 Tìm hiểu về các tập tin cấu hình.

a Tập tin /etc/hosts

Tập tin /etc/hosts là một danh sách đơn giản bao gồm các địa chỉ IP và các mật danh tương ứng Đây là tập tin mà chúng ta có thể liệt kê tất cả các máy chúng ta muốn truyền thông đến Trong các mạng nhỏ, chúng ta cần thêm tất cả các máy trong mạng vào tập tin này

Trang 3

Mọi tập tin /etc/hosts ban đầu đều có 1 dòng localhost (được gọi là loopback có địa chỉ là 127.0.0.1) và một dòng là tên máy của chúng ta nếu chúng ta đặt tên cho máy khi cài đặt hệ thống Nếu chúng ta không cung cấp tên và không có dòng nào khác hơn là localhost, thì chúng

ta nên thêm vào Dùng trình soạn thảo để thêm địa chỉ và tên máy của chúng ta cũng như địa chỉvà tên máy mà chúng ta cần khai báo

Giả dụ đây là nội dung tập tin của chúng ta:

/etc/hosts Khai báo các địa chỉ và tên máy tương ứng

/etc/services Danh sách các dịch vụ

/etc/protocols Các giao thức được hỗ trợ

Để sửa đổi nội dung các tập tin này, yêu cầu đơn giản là chúng ta có một bộ soạn thảo văn bản định dạng ASCII Việc sửa đổi nội dung các tập tin này khá dễ dàng và đơn giản

Trang 4

2 Tìm hiểu về các tập tin cấu hình.

Tập tin /etc/hosts

Tập tin /etc/hosts là một danh sách đơn giản bao gồm các địa chỉ IP và các mật danh tương ứng Đây là tập tin mà chúng ta có thể liệt kê tất cả các máy chúng ta muốn truyền thông đến Trong các mạng nhỏ, chúng ta cần thêm tất cả các máy trong mạng vào tập tin này

Mọi tập tin /etc/hosts ban đầu đều có 1 dòng localhost (được gọi là loopback có địa chỉ là 127.0.0.1) và một dòng là tên máy của chúng ta nếu chúng ta đặt tên cho máy khi cài đặt hệ thống Nếu chúng ta không cung cấp tên và không có dòng nào khác hơn là localhost, thì chúng

ta nên thêm vào Dùng trình soạn thảo để thêm địa chỉ và tên máy của chúng ta cũng như địa chỉvà tên máy mà chúng ta cần khai báo

Giả dụ đây là nội dung tập tin của chúng ta:

Trang 6

Lệnh ping là lệnh dùng để gửi các tín hiệu đến một máy nào đó cần kết nối xem, kết nối đó có thực hiện được tốt không, nếu kết nối tốt ta sẽ nhận được thông tin phản hồi ,lệnh có thể được thực hiện bằng hai cách:

 Ping theo địa chỉ ip và ping theo hostsname như:

Setup các thành phần cho các giao thức:

Trước khi có thể thực hiện các giao thức đã nói ở trên ta cần setup cho Server bằng cách gán các thông tin cần thiết, bằng lệnh setup, sau đó sẽ tuần tự thực hiện các giao thức:

Thiết lập cơ chế cho giao thức Telnet và FTP:

Trang 7

FTP SERVICES ( File Trasfer Protocol)

Những điểm cơ bản:

FTP là một giao thức dùng để truyền dữ liệu trên Internet, đặc biệt là truyền File như : HTTP và SMTP, cách sử dụng của nó là di chuyển những File cần sử dụng của hai máy, nếu bạn cần di chuyển một tập tin lớn hay một tài liệu Thì chắc chắn FTP sẽ được sử dụng cho mục đích đó FTP có 2 giao thức, trong đó bạn cầncà 2 việc đó là gởi và nhận Files, và điều khiển cả hai quá trình này Giao thức có độ tin cậy để truyền tập tin giữa 2 đầu cuối FTP dựa trên gia thức TCP để truyền dữ liệu

FTP hoạt động theo cơ chế server – client (Ftp server & Ftp Client)

FTP cũng cung cấp kèm theo các chức năng, tiện nghi để kiểm tra quyền hạn trên các hệ thống tập tin hay để di chuyển trong hệ thống tập tin, …

FTP có thể dùng để truyền tập tin giữa các hệ điều hành khác nhau

FTP sử dụng được 2 mode truyền là ASCII và Binary

FTP cung cấp các chức năng như : login, kiểm tra chủ quyền, di chuyển trong hệ thống tập tin ở vùng được phép, truy xuất các tập tin

Trang 8

FTP hỗ trợ hai chế độ login để làm việc là chế độ cho normal user ( có account làm việc tại FTP server ) và chế độ hoạt động của những người vô danh anonymous của hệ thống FTP server.FTP có thể dùng ở chế độ text mode với dòng lệnh trực tiếp từ shell prompt.

Hầu hết các WEB Browser hiện nay kết hợp chức năng sử dụng FTP vào để dễ sử dụng trên Internet nên việc dùng FTP rất tiện lợi Chú ý là đa số các Web Browser này khai báo mặc định chế độ user anonymous cho FTP

Tất cả các loại file đều được cung cấp: sẵn sàng chạy phần mềm cho các loại máy tính khác nhau , thư viện ảnh tĩnh và video với những hình ảnh di động và âm thanh Internet cũng cung cấp những kho chứa tương tự nhau Bạn có thể dùng những dịch vụ này bằng cách sử dụng những trung tâm của TCP/IP: giao thức truyền file hay FTP

FTP được tạo ra để đáp ứng nhu cầu cơ bản xuất hiện phát sinh sớm trong lịch sử của Internet: di chuyển một file từ máy này sang máy khác Quá trình được coi là đơn giản : bạn muốn tìm nạp một file mà tồn tại trên một máy được định vị ở một nơi nào đó hay ngược lại, bạnmuốn sao chép một file từ máy tính cục bộ của bạn đến một máy ở xa

Trên hầu hết các hệ thống, giao thức truyền file được thực hiện bằng lệnh có tên FTP Một khi bạn gọi ra FTP, bạn phải thâm nhập vào server ở xa Nếu bạn có được một bản kê trên một máy ở xa định rõ một ID và Password của người dùng như bạn đang thâm nhập vào hội Telnet

Nếu bạn muốn lấy một file “doc.txt” mà bạn biết nó ở địa chỉ IP 192.168.43.2

200-PORT command successful

150-Operning ASCII mode data connection for/pub/doc.txt (1234bytes)

226-Transfer complete

loca: index.txt remote: doc.txt

ftp > quit

221-Goodbye

Ở trên bạn có thể được nhắc phải nhập ID của người dùng: trong trường hợp này chúng ta dùng

“tên nặc danh” với quy ươc ID giả bạn có thể được xác định những dịch vụ FTP dùng cho công cộng Lệnh “get” báo cho server ở xa biết tập tin nào bạn muốn truy tìm Các file được gửi đến bạn qua chế độ ASCII mặc định : sau đó chúng ta sẽ khảo sát chế độ “nhị phân” luân phiên Quátrình FTP cho bạn biết tên file được dùng trên trạm làm việc của bạn và Sever ở xa, tên gởi đến

Trang 9

có thể khác nhau vì những quy ước đặt tên file khác nhau trên những hệ thống máy tính khác nhau Một khi tập tin được phân phối trên mạng và được đặt vào đĩa cứng của bạn bởi chương trình, client FTP-cục bộ, bạn có thể hoặc là tìm một file khác hoặc đóng tác vụ bằng “quit”.

Giả sử rằng chúng ta không biết rõ tên file mà chúng ta tìm Lệnh FTP dir sẽ đưa ra một danh sách các file

ftp > dir

200 PORT command successful.

150 Operning ASCII mode data connection for /bin/ls (0 byte).

Total 6 Drwxr-xr-x 2 root 512 Oct 6 2001 bin Drwxr-xr-x 2 root 512 Oct 6 2001 etc Drwxr-xr-x 18 bin 512 Oct 12 23:50 pub

226 bytes Transfer complete.

159 bytes received in 0.02 seconds (9.86 Kbytes/s)

Hầu hết các server FTP nặc danh đều chạy trên các máy chủ Unix và trường hợp này là ngoại lệ Danh sách thư mục giống danh sách mà bạn sẽ thấy nếu bạn la một người dùng của máy chủ đó và khi bạn đánh một lệnh để trình bày thư mục lên máy: danh sách các file sẽ tương tự như kết quả của lệnh “ls – 1” trên Unix

2 Tìm hiểu cách hoạt động của FTP đối với TCP

FTP sử dụng 2 kênh TCP: TCP port 20 được sử dụng cho dữ liệu, và TCP port 21 được sử dụng cho lệnh Việc sử dụng 2 kênh này tạo cho FTP khác với hầu hết các chương trình truyền tập tin khác, và thông qua chúng TCP có thể đồng thời truyền lệnh và dữ liệu FTP

FTP sử dụng 1 trình server chạy liên tục và 1 chương trình độc lập được thực thi trên máy client

Chương trình FTP Server này được gọi là ftpd (FTP daemon) và chương trình FTP Client là ftp.

Sau khi đăng nhập vào 1 máy từ xa dùng FTP, trên thực tế chúng ta không ở trên máy từ

xa mà chúng ta vẫn ở trên máy client (tức máy cục bộ của chúng ta), vì thế tất cả các chỉ thị choviệc truyền tập tin hay di chuyển thư mục phải được quyền của máy cục bộ chứ không phải củamáy từ xa Tiến trình này thực thi sau khi có một kết nối FTP được thiết lập Trình tự của mộtphiên FPT tổng quát như sau:

 Xác nhận userID và Password được đăng nhập

 Xác định thư mục khởi đầu

 Định nghĩa kiểu truyền

 Người sử dụng thực thi các lệnh thao tác

 Đóng kết nối

Trang 10

Tùy chọn xác định lỗi (debugging) có thể thêm vào dòng lệnh FTP bằng cách thêm tham số –d

vào lệnh Khi đó các chỉ thị từ máy client được thể hiện có thêm ký tự  ở đầu chỉ thị Trong khi

đó các chỉ thị từ Server có 3 số ở đầu chỉ thị Có tham số PORT trong dòng lệnh dùng để xác

định địa chỉ kênh dữ liệu trên máy client đang đợi sự phản hồi từ Server Nếu không có tham số

PORT, kênh 20 (giá trị mặc định) sẽ được sử dụng Tiếc rằng các tiến trình truyền tập tin không

thể cho phép thực thi trong chế độ debugging

ftp 192.168.43.2

Sau khi tiến trình đăng nhập hoàn tất, chúng ta sẽ trông thấy dấu nhắc FTP> chỉ ra rằng hệ

thống từ xa sẵn sàng chấp nhận các chỉ thị

Một khi chúng ta đã đăng nhập vào hệ thống từ xa, chúng ta có thể dùng các lệnh thông thường của Linux để hiển thị nội dung tập tin hay chuyển đổi giữa các thư mục Ví dụ để thể hện nội

dung của một thư mục, chúng ta sử dụng lệnh dir hay lệnh ls Để chuyển đổi thư mục dùng lệnh

cd Để trở về thư mục cha sử dụng lệnh cd Như chúng ta thấy, những lệnh này giống như chúng

ta sử dụng ở máy cục bộ

Tuy nhiên chúng ta không thể sử dụng chức năng phím tắt trong khi sử dụng FPT (nghĩa là

chúng ta nhấn phím Tab để chương trình tự lấy tên phù hợp) Rõ hơn là chúng ta phải nhập tên

tập tin hoặc thư mục từ đầu đến cuối Nếu chúng ta đánh sai tên tập tin hay thư mục, chúng ta sẽ nhận được thông báo lỗi và chúng ta phải nhập lại từ đầu Nhưng cũng may là nếu chúng ta thực thi FPT thông qua chế độ đồ họa (X_Window), chúng ta có thể sử dụng nội dung từ những dòng đã nhập trước đó

Trong quá trình dùng FPT, đương nhiên chúng ta cần phải biết làm cách nào để nhận 1 tập tin từ hệ thống từ xa cũng như làm cách nào để tạo gửi 1 tập tin đến máy đó, Trước tiên

chúng ta thử sử dụng lệnh get nhằm mục đích khi chúng ta di chuyển qua lại giữa các thư mục

của máy từ xa và tìm 1 ra tập tin nào đó mà chúng ta muốn lấy về máy cục bộ

Sau khi tiến trình đăng nhập hoàn tất, chúng ta sẽ trông thấy dấu nhắc FTP> chỉ ra rằng hệ

thống từ xa sẵn sàng chấp nhận các chỉ thị

Một khi chúng ta đã đăng nhập vào hệ thống từ xa, chúng ta có thể dùng các lệnh thông thường của Linux để hiển thị nội dung tập tin hay chuyển đổi giữa các thư mục Ví dụ để thể hện nội

dung của một thư mục, chúng ta sử dụng lệnh dir hay lệnh ls Để chuyển đổi thư mục dùng lệnh

cd Để trở về thư mục cha sử dụng lệnh cd Như chúng ta thấy, những lệnh này giống như chúng

ta sử dụng ở máy cục bộ

Trang 11

Tuy nhiên chúng ta không thể sử dụng chức năng phím tắt trong khi sử dụng FPT (nghĩa là

chúng ta nhấn phím Tab để chương trình tự lấy tên phù hợp) Rõ hơn là chúng ta phải nhập tên

tập tin hoặc thư mục từ đầu đến cuối Nếu chúng ta đánh sai tên tập tin hay thư mục, chúng ta sẽ nhận được thông báo lỗi và chúng ta phải nhập lại từ đầu Nhưng cũng may là nếu chúng ta thực thi FPT thông qua chế độ đồ họa (X_Window), chúng ta có thể sử dụng nội dung từ những dòng đã nhập trước đó

Lệnh put sẽ truyền tập tin từ thư mục hiện hành máy cục bộ đến máy từ xa.

Cả hai lệnh get và put chỉ có thể truyền mỗi lần một tập tin, vì vậy khi chúng ta cần truyền một lúc nhiều tập tin cần phải sử dụng lệnh mget và mput Ví dụ sau giả sử truyền các tập tin có

đuôi là doc từ máy từ xa đến cục bộ

binary

Chúng ta cũng có thể chuyển kiểu từ Binary về ASCII bằng lệnh ascii

Để thoát FTP, ta đánh lệnh quit hoặc exit, cả 2 lệnh này sẽ đóng kết nối của bạn đến máy từ xa

và sau đó ngưng FTP trên máy cục bộ

Sau đây là danh sách các lệnh dùng của FTP

Trang 12

Các lệnh thường sử dụng:

ascii Chuyển sang chế độ truyền kiểu ASCII

Binary Chuyển sang chế độ truyền kiểu Binary

cd Chuyển đổi thư mục trên Server (máy từ xa)

close Đóng kết nối

del Xóa một tập tin trên Server (máy từ xa)

dir Thể hiện nội dung thư mục trên Server (máy từ xa)

get Lấy một tập tin từ Server (máy từ xa) về máy cục bộ

hash Thể hiện 1 ký tự # cho mỗi block được truyền xong

help Thể hiện danh sách lệnh của FPT

lcd Thay đổi thư mục trên máy Client (máy cục bộ)

mget Lấy nhiều tập tin từ Server (máy từ xa) về máy cục bộ

mput Gửi nhiều tập tin đến Server (máy từ xa) từ máy cục bộ

open Kết nối đến Server (máy từ xa)

put Gửi một tập tin đến Server (máy từ xa) từ máy cục bộ

pwd Thể hiện thư mục hiện hành của Server (máy từ xa)

quit Terminates the FTP session

CÁC HỆ THỐNG FILE MẠNG (NFS)

NFS là một hệ thống file mạng được phát triển vào cuối năm 1990 bởi SNN

Microsystems và được thêm vào hệ điều hành SNNOS của nó (một phiên bản của UNIX) NFS đầu tiên được thiết kế và vẫn được dùng chính như là một hệ thống file mạng cục bộ NFS thuận lợi hơn những hệ thống file mạng cục bộ NFS thuận lợi hơn những hệ thống file mạng cục bộ đólà: NFS dùng IP như giao thức chuyển vận Do bởi điều này, kỹ thuật Tunneling (đường ống) là không cần thiết và giao thông NFS có thể được giữ trực tiếp qua liên mạng dựa trên IP

Dùng IP cho giao thức NFS cho phép khách hàng NFS trao đổi thông tin với máy phục vụ NFS một cách trực tiếp qua Internet mà không cần qua những máy trung gian (intermedia servers)

SUN Microsystem đã đưa ra một tiêu chuẩn hướng dẫn sử dụng Protocal cho NFS và đặt tiêu chuẩn trong phạm vi công cộng (RFC-1094) Tiêu chuẩn này trình bày giao thứccho phép nhũng người bán (vendors) thực hiện dễ dàng những phiên bản NFS vốn có thể liên hoạt động với phiên bản SUN của NFS SUN tin chắc rằng sẽ có một dãi bổ sung rộng từ phía người bán (vendors)

Ngày đăng: 26/10/2013, 19:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hìnhình 11.4 ñöa ra caùch moôt heô thoâng file coù theơ ñöôïc duøng chung trong NFS. Leônh mount keât hôïp moôt heô thoâng file máng vôùi ñöôøng daên cúc boô - Distribution System Project
nh ình 11.4 ñöa ra caùch moôt heô thoâng file coù theơ ñöôïc duøng chung trong NFS. Leônh mount keât hôïp moôt heô thoâng file máng vôùi ñöôøng daên cúc boô (Trang 13)
b. Thieât laôp DHCP Client - Distribution System Project
b. Thieât laôp DHCP Client (Trang 18)
Ñònh caâu hình DHCP Client cho maùy cúc boô. Chuù yù raỉng DHCP Client khođng ñöôïc coù ñòa chư IP coâ ñònh, töùc laø khođng ñöôïc nhaôp baât kyø ñòa chư naøo chư chón chöùc naíng DHCP cho DHCP Client  - Distribution System Project
nh caâu hình DHCP Client cho maùy cúc boô. Chuù yù raỉng DHCP Client khođng ñöôïc coù ñòa chư IP coâ ñònh, töùc laø khođng ñöôïc nhaôp baât kyø ñòa chư naøo chư chón chöùc naíng DHCP cho DHCP Client (Trang 18)
Khi chuùng ta nhìn thaây keât quạ nhö hình tređn, thöïc chaât trình töï laø Telnet keât noâi ñeân heô thoâng töø xa, baùo cho chuùng ta bieât noù ñaõ keât noâi, sau ñoù noù thieât laôp caùc tham soâ truyeăn thođng giöõa 2 heô  thoâng - Distribution System Project
hi chuùng ta nhìn thaây keât quạ nhö hình tređn, thöïc chaât trình töï laø Telnet keât noâi ñeân heô thoâng töø xa, baùo cho chuùng ta bieât noù ñaõ keât noâi, sau ñoù noù thieât laôp caùc tham soâ truyeăn thođng giöõa 2 heô thoâng (Trang 21)
set Thay ñoơi caùc giaù trò cụa bieân caâu hình - Distribution System Project
set Thay ñoơi caùc giaù trò cụa bieân caâu hình (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w