1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

đề ôn thi lớp 10

20 515 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyện người con gái Nam Xương
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Đề ôn thi
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 125,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nõi oan tình của Vũ Nơng đã đợc minh oan và giải toả, nhng âm – dơng đã đôi đờng cách trở, nàng chẳng thể trở lại dơng gian, chẳng bao giờ còn đợc làm mẹ, làm vợ nữa.. Tác phẩm tập trun

Trang 1

Đề 4

Em hãy phân tích tác phẩm “ Chuyện ng ời con gái Nam xơng” – Rút trong

t/p “ Truyền kì mạn lục” – của T/giả Nguyễn Dữ

yêu cầu cần đạt.

A Phần mở bài.

- “ Chuyện ng ời con gái Nam xơng” – Rút trong t/p Truyền kì mạn lục“ ” –

là áng văn xuôi viết bằng chữ Hán của T/giả Nguyễn Dữ trong thế kỉ XVI, một kiệt tác văn chơng cổ đợc ca ngợi là “ Thiên cổ tuỳ bút

- Truyện kể về một câu chuyện truyền kì có nhiều yếu tố hoang đờng lu truyền trong nhân gian về bi kịch một gia đình ở Nam Xơng cạnh dòng sông Hoàng Giang vào cuối thế kỉ XIV, đầu thế kỉ XV, một thời loạn lạc đầy biến động Nhân vật chính của chuyện là Vũ Nơng – ngời con gái bạc mệnh đáng thơng – có bao phẩm chất tốt đẹp tiêu biểu cho đức hạnh của ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến ngày xa

B Phần thân bài.

1 – Tên của nàng là Vũ Thị Thiết, quê ở Nam Xơng, phủ Lí Nhân, tỉnh Hà

Nam ngày nay.Xuất thân trong một gia đình “ kẻ khó”, nhng Vũ Nơng vừa có nhan sắc vừa có đức hạnh: “ tính đã thuỳ mị, nết na, lại thêm có t dung tốt đẹp” Nàng là

một cô gái danh giá nên Trơng Sinh, con nhà hào phú “ mến vì dung hạnh” đã xin với mẹ đem trăm lạng vàng cới về

- Trong đạo vợ chồng, Vũ Nơng là một ngời phụ nữ thông minh, đôn hậu, biết chồng có tính “ đa nghi”, nàng đã “ giữ gìn khuân phép” không để vợ chồng phải xảy ra cảnh “ bất hoà

- Sống giữa thời loạn lạc, Trơng Sinh phải tòng quân đi chinh chiến ở biên ải

xa xôi Buổi tiễn chồng ra trận, Vũ Nơng đã rót chén rợu đầy chúc chồng đợc hai chữ “ bình yên”, nàng chẳng mong chồng đợc đeo ấn hầu phong, mặc áo gấm trở về quê cũ Ước mong của nàng thật bình dị, vì nàng đã coi trọng hạnh phúc gia đình… hơn mọi công danh phù phiếm ở đời những năm tháng xa cách, Vũ Nơng thơng chồng thơng xiết kể: “… mỗi khi thấy b ớm lợn đầy vờn, mây che kín núi, thì nõi buồn chân trời góc bể không thể nào găn cản đợc”.

- Tâm trạng nhớ thơng đau buồn ấy của Vũ Nơng cũng là tâm trạng chung của những ngời chinh phụ trong mọi thời loạn lạc xa nay - trong chinh phụ ngâm -

Đoàn Thị Điểm cũng đã từng viết:

… “Nhớ chàng đằng đẵng đờng lên bằng trời, Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong…”.

( Chinh phụ ngâm - Đoàn Thị Điểm-)“ ”

 Thể hiện tâm trạng ấy, Nguyễn Dữ vừa cảm thôngvới nỗi đau khổ của Vũ Nơng, vừa ca ngợi tấm lòng thuỷ chungthơng nhớ đợi chờ chồng của nàng

- Vũ Nơng là một phụ nữ đảm đang, giàu tình thơng Chồng ra trận mới đợc một tuần thì nàng sinh ra một đứa con trai đặt tên là Đản Mẹ chồng già yếu, ốm

đau, nàng “ hết sức thuốc thang , ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn ” “ ” Vừa phụng

Trang 2

dỡng mẹ già, vừa nuôi dạy con thơ Lúc mẹ chồng qua đời, nàng đã “ hết lời th ơng xót”, việc ma chay tế lễ đợc lo liệu, tổ chức rất chu đáo “ nh đối với cha mẹ đẻ của mình

 Qua đó, ta thấy trong con ngời Vũ Nơng cùng xuất hiện 3 con ngời tốt đẹp:

nàng dâu hiếu thảo, ngời vợ đảm đang thuỷ chung, ngời mẹ hiền đôn hậu Đó là hình ảnh ngời phụ nữ lí tởng trong xã hội phong kiến ngày xa

2 – Sau ba năm, việc quân kết thúc“ ”, Trơng Sinh từ miền chinh chiến xa trở

về Thế nhng, Vũ Nơng không đợc hởng hạnh phúc trong cảnh vợ chồng xum họp Chỉ vì chiếc bóng qua miệng đứa con thơ mới tập nói, mà Trơng Sinh “ đinh ninh

là vợ h ,” đã “ mắng nhiếc” và “ đánh đuổi đi” Vốn là kẻ vô học lại hồ đồ vũ phu, Trơng Sinh đã bỏ ngoài tai mọi lời “ bày tỏ” của vợ, mọi sự “ biện bạch ” của họ hàng làng xóm Vũ Nơng đã bị chồng đẩy vào bi kịch, bị vu oan là ngời vợ “ mất nết h thân” Vũ Nơng phải nhảy xuống sông Hoàng Giang tự tử để tỏ rõ là ngời phụ

nữ “ đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng”, mãi mãi soi tỏ với đời “ vào n ớc xin làm ngọc Mị Nơng, cỏ Ngu Mĩ”

=> Bi kịch Vũ Nơng là bi kịch, nhng nguyên nhân sâu xa là do chiến tranh loạn lạc gây ra

- Chỉ một thời gian ngắn, sau khi Vũ Nơng tự tử, một đêm khuya dới ngọn

đèn, chợt đứa con chỉ lên vách nói rằng: “ Cha Đản lại đến kia kìa!” Lúc bấy giờ Trơng Sinh “ mới tỉnh ngộ thấu nỗi oan của vợ, nh ng việc chót đã qua rồi!

=> Ngời đọc xa nay chỉ biết thở dài, cùng Nguyễn Dữ thơng xót cho ngời con gái Nam Xơng và bao phụ nữ bạc mệnh khác trong cõi đời

3 – Phần cuối của truyện mang đậm tính chất hoang đờng Nào là Phan Lang

nằm mộng thấy ngời con gái áo xanh đến xin tha mạng, hình ảnh Vũ N… ơng ngồi kiệu hoa, phía sau có 50 chiếc xe có cờ tán, võng lọng rực rỡ đầy sông, lúc ẩn lúc hiện Nh… ng đã tô đậm thêm nỗi đau của ngời phụ nữ “ bạc mệnh duyên phận

hẩm hiu”, và có giá trị tố cáo lễ giáo vô nhân đạo Câu nói của Vũ Nơng sau khi

chết ở giữa dòng sông vọng vào: “ Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian đợc nữa” đã làm cho giá trị nhân đạo của truyện càng trở nên bi thiết Nõi oan

tình của Vũ Nơng đã đợc minh oan và giải toả, nhng âm – dơng đã đôi đờng cách trở, nàng chẳng thể trở lại dơng gian, chẳng bao giờ còn đợc làm mẹ, làm vợ nữa

Bé Đản mãi mãi là đứa con mồ côi mẹ

C Phần kết bài.

- Tóm lại, Vũ Nơng là ngời con gáidung hạnh mà bạc mệnh Nguyễn Dữ đã

kể lại cuộc đời oan khổ của nàng với bao tình xót thơng sâu sắc

- Tuy mang yếu tố hoang đờng , nhng tác phẩm “ Chuyện ng ời con gái Nam Xơng” giàu giá trị nhân đạo Vũ Nơng là một điển hình cho bi kịch của ngời phụ nữ

trong gia đình và xã hội

************************@**************************

Đề 5.

Em hãy phân tích tác phẩm “ Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh” , trích “

Vũ trung tuỳ bút ” của tác giả Phạm Đình Hổ

yêu cầu cần đạt.

Trang 3

A Phần mở bài.

- Phạm Đình Hổ (1768 – 1839), là ngời có bút pháp nghệ thuật tinh tế tài hoa, một phong thái th nhàn cao nhã, ông tiêu biểu cho cốt cách kẻ sĩ Bắc Hà cuối thời Lê – Trịnh và thời kì đầu nhà Nguyễn

- “ Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” là một trang tuỳ bút đặc sắc, rút trong

Vũ trung tuỳ bút

“ ” của Phạm Đình Hổ Tác phẩm tập trung đi sâu vào phản ánh cảnh ăn chơi xa hoa của Chúa Trịnh Sâm, cảnh bán hàng của bọn nội thần nội thị, cảnh tấu nhạc của bọn nhạc công cung đình tại chùa Trấn Quốc nơi Hồ Tây giữa

TK XVIII, sự nhũng nhiễu của bọn hoạn quan khắp chốn dân gian…

B Phần thân bài.

- Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh“ ” đã sảy ra vào 2 năm Giáp Ngọ – ất mùi (1774 – 1775), đó là lúc Đàng Ngoài “vô sự”, là những năm tháng hoàng kim của Chúa Trịnh Sâm – Khi Đặng Thị Huệ đợc Chúa sùng ái trở thành nguyên phi – Trịnh Sâm sống xa hoa “ thích đi chơi ngắm cảnh đẹp, th ờng ngự ở các li cung trên Tây Hồ, núi Tử Trầm, núi Dũng Thuý…”

- Cảnh đón tiếp với các nghi lễ thật tng bừng độc đáo Có “ binh lính dàn hầu vòng quanh bốn mặt hồ” Có tổ chức hội chợ, do quan nội thần cải trang đầu

bịt khăn, mặc áo đàn bà, bày bách hoá chung quanh hồ để bán” Thuyền ngự đi

đến đâu thì các quan hô tụng đại thần tuỳ ý nghé vài bờ để mua bán các thứ Gác… chuông chùa Trấn Quốc trở thành nơi hoà nhạc của bọn nhạc công cung đình Đền

đài cung điện đợc xây dựng “ liên tục” nhằm thoả mãn cuộc sống ăn chơi của bọn vua chúa và bọn quan lại Bao nhiêu tiền của, vàng bạc, châu báu, nớc mắt, mồ hôi của nhân dân bị bòn vét đến kiệt cùng

=> Phạm Đình Hổ đã đợc mắt thấy, tai nghe những “ Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” nên cách kể , cách tả của ông ở đây hết sức sống động.

- Để đợc sống trong xa hoa, hởng lạc cuộc đời vàng son đế vơng, từ Chúa đến quan đều trở thành bọn cớp ngày ra sức hoành hành, trấn lột khắp chốn cùng quê Chúa thì “ sức thu lấy” những “ loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn nhân gian , không thiếu một thứ gì… ” có những cây cảnh “ cành lá rờm rà nh cây cổ thụ mọc trên đầu non hốc đá, rễ dài đến vài trợng” ở bên

bắc “phải dùng dến một cơ binh mới mang về nổi” cũng đợc chúa trở qua sông

đem về Trong phủ chúa “ điểm xuyết” bao núi non bộ trông lạ mắt nh “ bến bể đầu non” Vờn ngự uyển trong những đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vợn hót ran

khắp bốn bề, hoặc nửa đêm “ ồn ào nh trận ma xa, bão táp, vỡ tổ tan đàn

- Bọn hoạn quan trong phủ Chúa vừa trắng trợn vừa xảo quyệt, nh dân gian

đã khinh bỉ chửi vào mặt Cớp đêm là giặc, cớp ngày là quan” Chúng dùng thủ

đoạn “ nhờ gió bẻ măng, ra ngoài doạ dẫm” Chỉ bằng hai chữ “ phụng thủ” biên ngay vào chậu hoa cây cảnh, chim tốt khiếu haycủa bất cứ nhà nào là chúng cớp

đ-ợc Chúng còn lập mu “đêm đến” cho tay chân sai lính lẻn vào “ lấy phăng đi, rồi buộc tội đem dấu vật cung phụng để doạ dẫm lấy tiền” Chúng ngang ngợc phá

nhà, huỷ tờng” của dân để khiêng hòn đá hoặc cây cối gì mà chúng cớp đợc Đối

với nhà giàu thì chúng lập mu vu cho là “dấu vật cung phụng”để hành hạ, để làm

Trang 4

tiền, nhiều ngời phải “ bỏ của ra kêu van chí chết , ” có gia đình phải đập bỏ núi“

non bộ, hoặc phá bỏ cây cảnh để tránh khỏi tai vạ

- Gia đình tác giả thuộc hàng quan lại, quý tộc thời Lê – Trịnh Trớc sự nhũng nhiễu hoành hành, mẹ của Phạm Đình Hổ là bà Cung Nhân phải sai ngời nhà chặt cây lê “ cao vài m ơi trợng, lúc nở hoa, trắng xoá thơm lừng” đây là chi tiết rất

sống, rất thực là chuyện có thực của chính gia đình tác giả => tạo niềm tin cho ngời

đọc, vừa phê phán bộ mặt tham lam, ghê tởm của bọn quan lại thời Lê – Trịnh, vạch trần sự thối tha trong phủ Chúa

=> Cuộc sống cực kì xa hoa và tàn ác ấy chính là nguyên nhân cho

sự sụp đổ ngai vàng sảy ra đối với nhà Chúa Lê – Trịnh sau này - Đó là vào năm

1782, Trịnh Sâm qua đời, loạn kiêu binh bùng nổ, kinh thành Thăng Lonh bị đốt phá tan hoang => 1786 , Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc Hà lần thứ nhất, cơ nghiệp

họ Trịnh đã tan trong nháy mắt Đó là quy luật cuộc đời vô cùng cay nghiệt nhng

cũng hết sức sòng phẳng nh Nguyễn Du đã từng nói trong tác phẩm Văn chiêu

hồn”.

Thịnh mãn lắm, oán thù càng lắm, Trăm loài ma mồ nấm chung quanh.

Nghìn vàng không đổi đợc mình Lầu ca viện hát, tan tành còn đâu?

C Phần kết bài.

- Trang tuỳ bút “ Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh” của Phạm Đình Hổ là tác phẩm có giá trị lịch sử sâu sắc, nó đã làm hiện lên cảnh vật và con ngời, cuộc sống ăn chơi xa hoa của vua chúa, hành động ăn cớp, làm tiền trắng trợn của bọn quan lại trong phủ Chúa

- Tác phẩm thể hiện một ngòi bút rất trầm tĩnh và hết sức sâu sắc Mọi cảm hứng, suy nghĩ của tác giả về nhân tình thế sự đã đợc gửi gắm qua những chi tiết, tình tiết, mẩu chuyện rất sống, rất chọn lọc, đậm đà và sâu sắc

***************************@****************************

đề 6.

Em hãy phân tích và trình bày suy nghĩ của bản thân về Hồi thứ XIV“ ” – Trích trong tác phẩm “ Hoàng Lê nhất thống chí” – của Ngô gia văn phái để làm nổi bật lên hình tợng ngời anh hùng Nguyễn Huệ.

yêu cầu cần đạt.

Trang 5

A phần mở bài.

- Cho đến nay, trong lịch sử VHVN cha có tác phẩm văn học nào tái hiện lại một cách chân thực và sinh động một giai đoạn lịch sử nớc nhà nh cuốn tiểu thuyết lịch sử “Hoàng Lê nhất thống chí” – của Ngô gia văn phái Tác phẩm đã khái quát lại một giai đoạn lịch sử với bao biến cố dữ dội, đẫm máu từ khi Trịnh Sâm lên ngôi Chúa đến khi Gia Long chiếm Bắc Hà ( 1868 – 1802) nh: loạn kiêu binh, triều Lê – Trịnh sụp đổ, Nguyễn Huệ đại phá quânThanh, Gia Long lật đổ triều đại Tây Sơn,…

- Sự sụp đổ không thể cỡng nổi của triều đại Lê – Trịnh và khí thế sấm sét của phong trào nông dân Tây Sơn là hai nội dung lớn đợc phản ánh qua “Hoàng Lê nhất thống chí” Đặc biệt là “Hồi thứ XIV” đã thể hiện một cách hào hùng sức mạnh quật khởi của dân tộc trớc thù trong giặc ngoài và khắc hoạ hình tợng Nguyễn Huệ – ngời anh hùng dân tộc - đã làm nên chiến công Đống Đa bất tử

B phần thân bài.

1 - Mở đầu tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí“ ” tác giả Ngô gia văn phái đã viết:

Đánh Ngọc Hồi, quân Thanh bị thua trận,

Bỏ Thăng Long, Chiêu Thống trốn ra ngoài ” => Hai câu thơ trên đã đa ngời đọc trở lại những giờ phút khó khăn

nh-ng cũnh-ng rất hào hùnh-ng của dân tộc vào cuối năm Mậu Thân ( 1788), đầu năm Kỉ Dậu ( 1789) khi Lê Chiêu Thống rớc 29 vạn quân Thanh sang xâm lợc nớc ta Vị cứu tinh của dân tộc thủa ấy là Nguyễn Huệ – ngời anh hùng áo vải Tây Sơn – Trong

đoạn trích, hình tợng Nguyễn Huệ hiện lên với những phẩm chất tốt đẹp của ngời anh hùng nh:

+ Hành động mạnh mẽ, quyết đoán.

Trong mọi tình huống, Nguyễn Huệ luôn luôn thhể hiện là một con ngời hành động một cách xông xáo, nhanh gọn, có chủ đích và rất quả quyết Nghe tin giặc đã đánh chiếm đến tận Thăng Long, chiếm cả một vùng đất đai rộng lớn, Nguyễn Huệ vẫn không hề nao núng, “định thân chinh cầm quân đi ngay” Rồi sau đó, chỉ trong vòng một tháng ( từ 24/11 -> 30/chạp), Nguyễn Huệ đã làm đợc bao nhiêu việc lớn : “ tế cáo trời đất” lên ngôi Hoàng đế, “đốc xuất đại binh” ra bắc, gặp gỡ ngời cống sĩ ở huyện La Sơn” Nguyễn Thiếp, tuyển mộ

quân lính và mở cuộc duyệt binh ở Nghệ An, phủ dụ tớng sĩ, định kế hoạch hành quân, đánh giặc và lên kế hoạch đối phó với nhà Thanh sau chiến thắng

+ Trí tuệ sáng suốt, sâu sắc và nhạy bén.

- > Trí tuệ ấy đợc biểu hiện trong việc xét đoán và dùng ngời Khi đến Tam Điệp, gặp Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân “đều mang g ơm trên lng và xin chịu tội”, Nguyễn Huệ đã xử trí vừa có lí vừa có tình Ông rất hiểu sở trờng , sở

đoản của các tớng sĩ, khen chê đều đúng ngời, đúng việc

- > Trí tuệ ấy còn đợc biểu hiện trong việc phân tích tình hình thời cuộc

và tơng quan ta - địch Trong lời phủ dụ quân lính ở Nghệ An, vua Quang Trung khẳng định chủ quyền dân tộc của ta và hành động xâm lăng phi nghĩa,

Trang 6

trái đạo trời của giặc; nêu bật dã tâm của giặc “bụng dạ ắt khác giết hại

nhân dân, vơ vét của cải”; nêu cao truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân

tộc ta từ xa; kêu gọi quân lính “đồng tâm hiệp lực”; ra kỉ luật nghiêm minh;… Lời phủ dụ nh một bài hịch nhắn gọn mà ý tứ thật phong phú, sâu xa, có tác dụng kích thích lòng yêu nớc và truyền thống quật cờng của dân tộc

+ ý chí quyết thắng và tầm nhìn xa, trông rộng.

Mới khởi binh đánh giặc, cha giành lại một tấc đất nào, vậy mà Quang Trung vẫn tuyên bố chắc nh đinh đóng cột “ph ơng lợc tiến đánh đã có tính sẵn”, lại còn tính sẵn cả kế hoạch ngoại giao sau khi chiến thắng với một nớc lớn gấp m

ời nớc mình” để có thể dẹp chuyện binh đao , cho ta đ“ ” “ ợc yên ổn

để nuôi dỡng lực lợng

+ Tài dụng binh nh thần.

Đến tận hôm nay, chúng ta vẫn còn kinh ngạc vì cuộc hành quân thần tốc của nghĩa quân Tây Sơn do Quang Trung chỉ huy Ngày 25 tháng chạp bắt

đầu xuất quân ở Phú Xuân ( Huế), ngày 29 đã tới Nghệ An, vợt khoảng 350km qua núi, qua đèo Đến Nghệ An, vừa tuyển quân, tổ chức đội ngũ, vừa duyệt binh, chỉ trong vòng một ngày Hôm sau, tiến quân ra Tam Điệp ( cách khoảng 150km) và đêm 30 tháng chạp đã “lập tức lên đ ờng”, tiến quân ra Thăng Long

Mà tất cả đều là đi bộ (Có sách nói vua Quang Trung còn dùng cả võng khiêng, cứ hai ngời khiêng thì một ngời đợc nằm nghỉ, luân phiên nhau suốt đêm ngày).

Mặt khác, từ Tam Điệp ra Thăng Long (khoảng hơn 150km), vừa hành quân, vừa đánh giặc mà vua Quang Trung chỉ định trong vòng 7 ngày, (mồng 7 tháng giêng) sẽ vào ăn tết ở Thăng Long Nhng trên thực tế, đã thực hiện sớm 2 ngày – tra mồng 5 đã vào Thăng Long – Hành quân liên tục nh vậy, thờng quân đội sẽ mệt mỏi, rã rời, nhng nghĩa quân Tây Sơn thì cơ nào đội ấy vẫn chỉnh tề đó là do tài tổ chức của ngời cầm quân: hơn một van quân mới tuyển

đặt ở trung quân và quân tinh nhuệ từ đất Thuận Quảng đã bao bọc ở bốn doanh tiền, hậu, tả, hữu

+ Lẫm liệt trong chiến trận.

Hoàng đế Quang Trung thân chinh cầm quân không chỉ trên danh nghĩa, Ông là tổng chỉ huy chiến dịch thực sự: hoạch dịnh phơng lợc tiến đánh,

tổ chức quân sĩ, tự mình thống lĩnh một mũi tiến công, cỡi voi đi đốc thúc, xông pha tên dạn, bày mu tính kế Mặt khác, đội quân của vua Quang Trung không… phải là toàn lính thiện chiến, lại vừa trải qua những ngày hành quân cấp tốc, không có thì giờ nghỉ ngơi, thế nhng dới sự lãnh đạo tài tình của vua Quang

Trung, đội quân ấy đã đánh những trận thật hào hùng, thắng áp đảo kẻ thù ( bắt hết quân do thám của địch ở Phú Xuyên, giữ dợc bí mật để tạo thế bất ngờ, vây kín làng Hà Hồi, quân lính luân phiên nhau rạ ran“ ” làm cho lính trong

đồn ai nấy rụng rời sợ hãi“ ” xin hàng; công phá đồn Ngọc Hồi, lấy ván ghép

phủ rơm dấp nớc để làm mộc che, dàn trận tiến đánh, khi giáp la cà thì

quăng ván xuống đất, ai nấy cầm dao ngắn chém bừa, những ng

khí theo sau nhất tề xông tới”…). Khí thế của đội quân này làm cho kẻ thù phải khiếp vía, thật là “ t ớng ở trên trời rơi xuống, quân ở dới đất chui lên” Hình

ảnh ngời anh hùng cũng dợc khắc hoạ một cách lẫm liệt, đặc biệt là trong trận

đánh đồn Ngọc Hồi, giữa cảnh “khói toả mù trời, cách gang tấc không thấy

Trang 7

gì”, nổi bật lên là hình ảnh nhà vua cỡi voi đi đốc thúc” (Có sách ghi khi Quang Trung vào đến Thăng Long, tấm áo bào màu đỏ đã sạm đen khói súng).

2 Nghệ thuật:

- Cách trần thuật của đoạn văn thật đặc sắc, không chỉ nhằm ghi lại những

sự kiện lịch sử diễn biến gấp gáp, khẩn chơng qua từng mốc thời gian,mà còn chú ý miêu tả cụ thể từng hành động, lời nói của nhân vật chính, từng trận đánh và những

mu lợc tính toán, thế đối lập giữa hai đội quân ( một bên thì xộc xệch, trễ nải, nhát gan, một bên thì xông xáo dũng mãnh, tổ chức nghiêm minh) Qua đó, hình ảnh

ng-ời anh hùng đợc khắc hoạ khá đậm nét, có tính cách quả cảm, mạnh mẽ, có trí tuệ sáng suốt, nhạy bén, có tài dụng binh nh thần,là ngời tổ chức và là linh hồn của những chiến công vĩ đại

- Dờng nh có sự mâu thuẫn giữa nhan đế tác phẩm với nội dung tác phẩm Nhan đề mang ý nghĩa ca ngợi nhà Lê, nhng nội dungtác phẩm lại vạch rõ sự thối nát, mục ruỗng của triều đình nhà Lê, và ca ngợi ngời anh hùng áo vải Tây Sơn Nguyễn Huệ Điều đó nói lên quan điểm phản ánh hiện thực của các tác giả là tôn

trọng sự thực lịch sử và ý thức dân tộc dù có cảm tình với nhà Lê, họ không thể

bỏ qua sự thực một ông vua nhà Lê hèn yếu đã cõng rắn cắn gà nhà Dù không theo Tây Sơn, họ không thể không thấy chiến công lừng lẫy của vua Quang Trunglà niềm tự hào lớn lao của dân tộc Bởi thế mà hình tợng ngời anh hùng áo vải Nguyễn Huệ hiện lên một cách oai phong lẫm liệt và hết sức chân thực trong tác phẩm

C Phần kết bài.

- Tóm lại, với quan điểm lịch sử đúng đắn và niềm tự hào dân tộc, cá tác

giả Hoàng Lê nhất thống chí“ ” đã tái hiện chân thực, sinh động hình ảnh ngời anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ qua những chiến công thần tốc đại phá quân Thanh và tự hào hơn về truyền thống yêu nớc của dân tộc ta, đồng thời càng hiểu thấu tim đen của quân xâm lợc phơng Bắc và âm mu của Thiên triều cũng nh bộ mặt dơ bẩn của bọn Việt gian bán nớc

- Học sinh nêu bài học cho bản thân

************************@************************

đề 7.

1- Câu 1: Hãy tóm tắt và nêu giá trị nội dung, nghệ thuật của tác

phẩm Truyện Kiều – Nguyễn Du.

2- Câu 2: Em hãy phân tích đoạn trích:

a- Cảnh ngày xuân.

b- Kiều ở lầu Ngng Bích.

c- Mã Giám Sinh mua Kiều.

d- Thuý Kiều báo ân báo oán.

( Trích: Truyện Kiều“ ” – Nguyễn Du)

Trang 8

yêu cầu cần đạt.

I C âu I:

a Tóm tắt.

* Gặp gỡ và đính ớc.

Dới thời Gia Tĩnh Triều Minh, ông bà Vơng Viên ngoại ở Bắc Kinh sinh đợc

3 ngời con , 2 gái, 1 trai

“Một con trai thứ rốt lòng,

Vơng Quan là chữ nối dòng nho gia.

Đầu lòng hai ả tố nga, Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân ” Hai chị em Kiều có nhan sắc “mỗi ng ời một vẻ mời phân vẹn mời”, và đã đến tuần cập kê

Mùa xuân năm ấy 3 chị em đi thanh minh (tảo mộ) Lúc ra về khi bóng chiều

đã ngả, họ gặp chàng văn nhân Kim Trọng “vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa” Sau cuộc kì ngộ ấy, Kiều và Kim Trọng yêu nhau, hai ngời thề nguyền Trăm năm tạc một chữ đồng đến x

vội về Liễu Dơng “hộ tang ” chú

* Gia biến và lu lạc.

Sau đó, gia đình Kiều gặp tai biến, bị thằng bán tơ vu oan Cha và em Kiều bị bắt , bị tra tấn rã man Bọn sai nha, lũ đầu trâu mặt ngựa ập đến đập phá nhà cửa tan hoang, cớp bóc tài sản “sạch sành sanh vét cho đầy túi tham” Kiều phải bán mình cho Mã Giám Sinh để đút lót cho bọn quan lại để cứu cha và em Nàng đã trao duyên cho Thuý Vân Mã Giám Sinh đa nàng về Lâm Tri Kiều biết mình bị

đẩy vào lầu xanh bèn rút dao tự vẫn nhng không chết Nàng đợc Đạm Tiên báo mộng là phải đến sông Tiền Đờng sau này mới hết kiếp đoạn trờng Mụ Tú Bà dỗ dành Kiều ra ở lầu Ngng Bích, mụ thuê Sở Khanh đánh lừa Kiều, đa Kiều đi trốn Kiều bị Tú Bà đánh đập, ép nàng phải sống cuộc đời ô nhục Tại lầu xanh Kiều gặp Thúc Sinh, một khách làng chơi giàu có Thúc Sinh chuộc Kiều ra và lấy Kiều làm

lẽ Hoạn Th, Vợ cả Thúc Sinh lập mu bắt cóc Kiều đa về Vô Tích để đánh ghen

Kiều bỏ trồn , nơng tựa cửa chùa Giác Duyên Kiều lại rơi vào tay Bạc Bà,… Bạc Hạnh, bị đẩy vào lầu xanh lần thứ hai Kiều gặp Từ Hải (ngời anh hùng nổi dậy chống lại triều đình), Từ Hải chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh và cới nàng làm vợ “Phỉ nguyền sánh phợng, đẹp duyên cỡi rồng” Một năm sau, Từ Hải đã có mời vạn

tinh binh, rạch đôi sơn hà, lập nên một triều đình “ Năm năm hùng cứ một ph ơng hải tần” và đã giúp kiều báo ân báo oán.

* Đoàn viên.

Sau nửa năm về Liễu Dơng hộ tang chú, Kim Trọng trở lại Bắc Kinh, tìm

đến vờn Thuý Kim Trọng kết duyên với Thuý Vân Kim Trọng và Vơng Quan thi

đỗ, đợc bổ đi làm quan Cả gia đình đến sông Tiền Đờng lập đàn giải oan cho Kiều Bất ngờ vãi Giác Duyên đi qua và cho biết Kiều còn sống, đang tu ở chùa

Kiều gặp lại cha mẹ, hai em và chàng Kim sau 15 năm trời lu lạc Trong bữa tiệc đoàn viên, cả nhà ép Kiều phải lấy Kim Trọng, nhng rồi hai ngơiù đã đem tình vợ chồng đổi thành tình bạn bè: “Duyên đôi lứa cũng là duyên ban bầy

Trang 9

2 Giá trị.

Nguyễn Du đã dựa vào tác phẩm “Kim Vân Kiều truyện” để tạo nên “Đoạn trờng tân thanh” – Truyện Kiều – kiệt tác số một của thi ca cổ điển Việt Nam.

a Nội dung.

- Giá trị hiện thực:

+ Bức tranh về XHPK bất công, tàn bạo trà đạp lên quyền sống của con ngời

+ Số phận bất hạnh của ngời con gái đức hạnh, tài hoa trong xã hội cũ

- Giá trị nhân đạo:

+ Lên án chế độ phong kiến vô nhân đạo

+ Cảm thơng trớc số phận của con ngời

+ Khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm ,ớc mơ và khát vọng chân chính của con ngời

Hoặc nh Hoài Thanh đã từng đánh giá Đó là một bản án, một tiếng

kêu th ơng, một ớc mơ và một cái nhìn bế tắc

b Giá trị nghệ thuật.

“Truyện Kiều” đạt đến đỉnh cao mẫu mực cổ điển “ ” Chất tự sự và trữ tình kết hợp hài hoà Với 3254 câu thơ lục bát toàn bích; lời thơ đẹp, hình t-ợng thơ mĩ lệ, nhạc điệu, vần điệu trau chuốt, tinh luyện, mợt mà Nghệ thuật tả cảnh, tả ngời, tả tình rất biến hoá, đa dạng, phong phú, lúc thì bằng bút pháp ớc lệ tợng trng, lúc thì bằng bút pháp hiện thực Ngoại hình và tâm

lí nhân vật đợc khắc hoạ một cách sâu sắc, tinh tế, cá thể hoá cao độ Thi liệu, văn liệu Trung Hoa, thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam đợc vận dụng rất linh hoạt tài tình => “Truyện Kiều” đã trở thành “tếng th ơng , lời” “

ru của mẹ hiền”, vô cùng thân thiết với con ngời Việt Nam chúng ta.

***********************@*********************

II- Câu II.

A Câu 1. Cảnh ngày xuân.

yêu cầu cần đạt.

* Phần mở bài

- Nêu vài nét về giá trị Nghệ thuật ( Phần 2b Câu I).

- Trang thơ của Nguyễn Du đang mở rộng trớc mắt chúng ta Sau bức chân dung giai nhân là bức hoạ về cảnh xuân trong tiết Thanh minh và cảnh du xuân của trai tài gái sắc, của chị em Thuý Kiều Đoạn thơ “Cảnh ngày xuân” gồm có 18 câu, trích trong tác phẩm “ Truyện Kiều” là một đoạn trích tiêu biểu cho bút pháp tả cảnh và tả tình của Đại thi hào Nguyễn Du

* Phần thân bài.

1 Bốn câu thơ đầu:

Trang 10

Mở ra một không gian nghệ thuật hữu sắc, hữu hơng,hữu tình và hết sức nên thơ

- Giữa không gian bao la mênh mông là những cánh én bay qua bay lại nh

đ

a thoi” Hai chữ đa thoi” rất gợi hình, gợi cảm Cánh én nh con thoi vút qua vút

lại , chao liệng

=> Câu thơ gợi ta nhớ tới hai câu tục ngữ, thành ngữ trong kho tàng ca dao

– dân ca thời gian thấm thoắt thoi đa, nh ngựa chạy, nh nớc chảy qua cầu”

=> Bớc đi của thời gian, của mùa xuân

- Sau cánh én “đ a thoi” là ánh xuân, là thiều quang“ ” khi “chín chục đã ngoài sáu mơi” Cách tính thời gian và miêu tả cảnh đẹp mùa xuân của Nguyễn Du

thật hay và đầy thi vị (cái hay, cái ý vị ấy nó là nét chung của các thi nhân xa và nay VD: - Xuân hớng lão, trong thơ của Nguyễn Trãi; - Xuân hồng ,trong thơ Xuân Diệu )… Mặc dù mùa xuân đã sang tháng ba, nhng cái ấm áp của khí xuân,

ánh xuân, cái mênh mông bao la của đất trời vẫn hiện lên một cách ý vị, lạ kì

( thiều quang“ ”- > gợi lên màu hồng)

- Tiếp theo là sắc “xanh” mơn mởn, ngọt ngào của cỏ non trải dài, trải rộng nh tấm thảm đến “tận chân trời” Là sắc “trắng” tinh khôi, thanh khiết của hoa lê mới hé lộ, khoe sắc khoe hơng của “một vài bông hoa

=> Nguyễn Du đã vận dụng một cách sáng tạo cổ thi Trung Hoa Phơng thảo liên thiên bích Lê chi sổ điểm hoa– ” vào trong thơ của mình:

=> Hai chữ “trắng điểm” là nhãn tự , là cách chấm phá điểm xuyết của thi pháp cổ gợi lên vẻ đẹp thanh xuân trinh trắng của thiên nhiên cỏ hoa

=> Đoạn thơ đã thể hiện một bút pháp nghệ thuật phối sắc tài tình: trên cái nền “xanh” của cỏ non là một vài bông lê “trắng điểm”.Giữa điểm và diện: giữa nền xanh và sắc trắng của cảnh vật mùa xuân là những cánh én “đ a thoi”, Là màu

hồng của ánh thiều quang, là khát vọng mùa xuân ngây ngất, đắm say lòng ngời

=> “Cảnh ngày xuân” là bức tranh xuân hoa lệ, là vần thơ tuyệt bút của Nguyễn Du để lại cho đời, điểm tô cho cuộc sống của mỗi chúng ta

2 Tám câu thơ tiếp theo.

Tác giả tập trung vào tả cảnh trẩy hội mùa xuân “Lễ là tảo mộ,

Điệp ngữ “lễ là hội là… …” -> gợi lên những cảnh lễ hội dân gian cứ liên tiếp diễn ra bao đời nay; -> cảnh trẩy hội đông vui, tng bừng, náo nhiệt

- Các từ ngữ “ nô nức”, “dập dìu” và các ẩn dụ so sánh “ nh nớc , nh” “

nêm”-> đã gợi tả lễ hội mùa xuân tng bừng náo nhiệt.

- Trong đám tài tử, giai nhân “gần xa” ấy, có 3 chị em Kiều Câu thơ “Chị

em sắm sửa bộ hành chơi xuân” mới đọc qua tởng nh chỉ là thông báo Nhng sâu

xa hơn, nó ẩn chứa bao nỗi niềm chờ trông mong đợi Có bao bóng hồng xuất hiện trong đám tài tử, giai nhân ấy -> một bức tranh ru xuân tng bừng, tơi trẻ

- Thơ là nghệ thuật của ngôn từ Các từ ghép: “yến anh, chị em, tài tử, giai nhân, ngựa xe, áo quần, (danh từ); gần xa, nô nức, sắm sửa, dập dìu (tính từ, động

từ) đợc thi hào Nguyễn Du sử dụng chọn lọc tinh tế, làm sống dậy không khí lễ hội mùa xuân – một nét đẹp lâu đời của nền văn hoá phơng Đông cũng nh nếp sống phong lu của chị em Thuý Kiều

- Đời sống tâm linh, phong tục dân gian cổ truyền trong lễ tảo mộ, đợc Nguyễn Du nói đến với nhiều cảm thông chia sẻ

Ngày đăng: 25/10/2013, 16:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w