1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ẩn dụ ý niệm trong ca dao nam bộ

228 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 228
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong CDNB sẽ thấy được phương thức tư duy của người Việt Nam Bộ, tính nghiệm thân trong ngôn ngữ ẩn dụ thể hiện ở sự tương tác giữa con người với tự nhiên, con n

Trang 1

- - -

ĐÀO DUY TÙNG

ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG CA DAO NAM BỘ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA NƯỚC NGOÀI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2018

Trang 2

- - -

ĐÀO DUY TÙNG

ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG CA DAO NAM BỘ

CHUYÊN NGÀNH : NGÔN NGỮ HỌC

MÃ SỐ : 62 22 02 40

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA NƯỚC NGOÀI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS NGUYỄN CÔNG ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận án này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Công Đức

Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực Một số kết quả nghiên cứu trong luận án đã được công bố trong các bài báo khoa học của tôi trong thời gian thực hiện luận án, còn lại các nội dung khác chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Tác giả

Đào Duy Tùng

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Mục lục ii

Quy ước trình bày vi

Danh mục các bảng biểu vii

Danh mục các lược đồ viii

Danh mục các hình vẽ xi

DẪN NHẬP 1

0.1 Lý do chọn đề tài 1

0.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

0.2.1 Mục đích nghiên cứu 2

0.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

0.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

0.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

0.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

0.4 Ngữ liệu nghiên cứu 4

0.5 Phương pháp luận, phương pháp và thủ pháp nghiên cứu 4

0.5.1 Phương pháp luận 4

0.5.2 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu 5

0.5.2.1 Thủ pháp nhận dạng ẩn dụ ý niệm 5

0.5.2.2 Thủ pháp thống kê, phân loại 5

0.5.2.3 Phương pháp phân tích - tổng hợp 5

0.5.2.4 Phương pháp nghiên cứu liên ngành 5

0.5.2.5 Phương pháp mô hình hóa 5

0.5.2.6 Phương pháp khát quát hóa, trừu tượng hóa 6

0.6 Đóng góp của luận án 6

0.6.1 Về lý luận 6

0.6.2 Về thực tiễn 6

0.7 Bố cục của luận án 6

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 7

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm ở nước ngoài 7

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm ở trong nước 20

1.1.2.1 Các công trình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm ở các lĩnh vực ngoài ca dao Nam Bộ 20

1.1.2.2 Các công trình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong ca dao Nam Bộ 28 1.2 Những khái niệm cơ bản về ẩn dụ ý niệm 29

1.2.1 Khái niệm ẩn dụ ý niệm 29

1.2.2 Ý niệm 31

1.2.3 Ẩn dụ ý niệm và biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ 32

1.2.4 Miền nguồn, miền đích và ánh xạ 32

1.2.5 Tương đồng và tương quan 35

1.2.6 Các loại ẩn dụ ý niệm 37

1.2.7 Cơ sở kinh nghiệm 42

1.3 Ẩn dụ ý niệm trong thơ ca 47

Tiểu kết chương 1 52

Chương 2 ẨN DỤ CẤU TRÚC TRONG CA DAO NAM BỘ 54

2.1 Ẩn dụ ý niệm CON NGƯỜI LÀ THẾ LỰC SIÊU NHIÊN 55

2.2 Ẩn dụ ý niệm CON NGƯỜI LÀ TỰ NHIÊN 61

2.2.1 CON NGƯỜI LÀ HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN 63

2.2.2 CON NGƯỜI LÀ THỰC THỂ TỰ NHIÊN 66

2.2.3 CON NGƯỜI LÀ ĐỘNG VẬT 73

2.2.3.1 CON NGƯỜI LÀ CÁ 75

2.2.3.2 CON NGƯỜI LÀ CHIM 81

2.2.4 CON NGƯỜI LÀ THỰC VẬT 89

2.2.4.1 CON NGƯỜI LÀ TOÀN THỂ/BỘ PHẬN CÁI CÂY 91

2.2.4.2 GỐC CỦA CON NGƯỜI LÀ GỐC CỦA CÂY 95

Trang 6

2.2.4.3 TRỒNG NGƯỜI, VUN ĐẮP, XÂY DỰNG TÌNH CẢM LÀ GIEO

HẠT, TRỒNG CÂY 96

2.2.4.4 CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA CON NGƯỜI LÀ SỰ TĂNG TRƯỞNG SINH HỌC TỰ NHIÊN Ở THỰC VẬT/CỎ CÂY 97

2.2.4.5 PHẨM CHẤT, GIÁ TRỊ CỦA CON NGƯỜI LÀ THUỘC TÍNH, GIÁ TRỊ CỦA CÂY 98

Tiểu kết chương 2 100

Chương 3 ẨN DỤ BẢN THỂ TRONG CA DAO NAM BỘ 105

3.1 Ẩn dụ ý niệm DUYÊN 107

3.1.1 DUYÊN LÀ VẬT THỂ/CHẤT THỂ (KHÔNG ĐƯỢC ĐỊNH DANH) 109

3.1.2 DUYÊN LÀ SỰ VẬN ĐỘNG 112

3.1.3 DUYÊN LÀ SỢI DÂY 116

3.1.4 DUYÊN LÀ NGỌN LỬA 120

3.1.5 DUYÊN LÀ HÀNG HÓA 122

3.2 Ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU 126

3.2.1 TÌNH YÊU LÀ VẬT THỂ/CHẤT THỂ (KHÔNG ĐƯỢC ĐỊNH DANH) 128

3.2.2 TÌNH YÊU LÀ SỢI DÂY 131

3.2.3 TÌNH YÊU LÀ VẬT CHỨA hay TÌNH YÊU LÀ CHẤT THỂ TRONG VẬT CHỨA 133

3.2.4 TÌNH YÊU LÀ GIA VỊ CỦA THỨC ĂN 136

3.2.5 TÌNH YÊU LÀ CÁI VÒNG 139

3.3 Ẩn dụ ý niệm SẦU 141

3.3.1 SẦU LÀ VẬT THỂ/CHẤT THỂ (KHÔNG ĐƯỢC ĐỊNH DANH) 143

3.3.2 SẦU LÀ VẬT THỂ/CHẤT THỂ ĐƯỢC ĐỊNH LƯỢNG/ĐỊNH TÍNH 145

3.3.3 SẦU LÀ NƯỚC/MEN SAY 148

3.3.4 SẦU LÀ (THỰC THỂ) TÀN LỤI 150

Trang 7

Tiểu kết chương 3 151

Chương 4 ẨN DỤ ĐỊNH VỊ TRONG CA DAO NAM BỘ 152

4.1 Ẩn dụ định vị, sắc thái đánh giá và ẩn dụ kéo theo 152

4.2 Ẩn dụ ý niệm CƯƠNG THƯỜNG LÀ TÍCH CỰC/TIỀN TÀI LÀ TIÊU CỰC 156

4.2.1 CƯƠNG THƯỜNG LÀ TÍCH CỰC 156

4.2.1.1 TAM CƯƠNG LÀ TÍCH CỰC 157

4.2.1.2 HIẾU TRUNG/HIẾU NGHĨA LÀ TÍCH CỰC 160

4.2.1.3 NHÂN NGHĨA LÀ TÍCH CỰC 165

4.2.2 TIỀN TÀI LÀ TIÊU CỰC 170

4.3 Ẩn dụ ý niệm HẠNH PHÚC LÀ TÍCH CỰC/KHỔ ĐAU LÀ TIÊU CỰC 176 4.3.1 HẠNH PHÚC LÀ TÍCH CỰC 176

4.3.2 KHỔ ĐAU LÀ TIÊU CỰC 182

Tiểu kết chương 4 192

KẾT LUẬN 194

TÀI LIỆU THAM KHẢO 200

NGUỒN NGỮ LIỆU KHẢO SÁT VÀ TRÍCH DẪN 213

DANH MỤC CÁC BÀI BÁO, CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 214 PHỤ LỤC (đính kèm, 194 trang)

Trang 8

QUY ƯỚC TRÌNH BÀY

Số và chữ viết tắt trong ngoặc đơn ở cuối bài ca dao được quy ước như sau:

số là số trang, chữ viết tắt là tên tài liệu (viết tắt 2 chữ cuối), chẳng hạn:

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2 1 Bảng thống kê tần số xuất hiện của các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ có

miền ý niệm nguồn là “thế lực siêu nhiên” và “tự nhiên” trong ca dao Nam Bộ 55

Bảng 2 2 Bảng thống kê tần số xuất hiện của các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ thuộc

ẩn dụ ý niệm CON NGƯỜI LÀ THẾ LỰC SIÊU NHIÊN trong ca dao Nam Bộ 56

Bảng 2 3 Bảng thống kê tần số xuất hiện của các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ thuộc

ẩn dụ ý niệm CON NGƯỜI LÀ HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN trong ca dao Nam Bộ 63

Bảng 2 4 Bảng thống kê tần số xuất hiện của các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ thuộc

ẩn dụ ý niệm CON NGƯỜI LÀ THỰC THỂ TỰ NHIÊN trong ca dao Nam Bộ 66

Bảng 3 1 Bảng thống kê biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ của ẩn dụ ý niệm DUYÊN,

TÌNH YÊU và SẦU trong ca dao Nam Bộ 106

Bảng 3 2 Bảng thống kê biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ của ẩn dụ ý niệm DUYÊN

trong ca dao Nam Bộ 109

Bảng 3 3 Bảng thống kê biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ của ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU

trong ca dao Nam Bộ 127

Bảng 3 4 Bảng thống kê biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ của ẩn dụ ý niệm SẦU trong ca

dao Nam Bộ 142

Trang 10

DANH MỤC CÁC LƯỢC ĐỒ

Lược đồ 0.1 Quy trình phân tích ẩn dụ ý niệm trong ca dao Nam Bộ 2

Lược đồ 2.1 Tính tầng bậc và sự ánh xạ của ẩn dụ ý niệm 58

Lược đồ 2.2 Các thuộc tính ánh xạ của ẩn dụ ý niệm CON NGƯỜI LÀ THẾ LỰC

SIÊU NHIÊN trong ca dao Nam Bộ 59

Lược đồ 2.3 Tính tầng bậc và sự ánh xạ của ẩn dụ ý niệm CON NGƯỜI LÀ TỰ

NHIÊN trong ca dao Nam Bộ 62

Lược đồ 2.4 Các thuộc tính ánh xạ của ẩn dụ ý niệm CON NGƯỜI LÀ HIỆN

TƯỢNG TỰ NHIÊN trong ca dao Nam Bộ 63

Lược đồ 2.5 Tính tầng bậc và sự ánh xạ của ẩn dụ ý niệm

CON NGƯỜI LÀ SÔNG NƯỚC trong ca dao Nam Bộ 67

Lược đồ 2.6 Lược đồ ánh xạ của ẩn dụ ý niệm CON NGƯỜI LÀ ĐỘNG VẬT

trong ca dao Nam Bộ 74

Lược đồ 2.7 Tính tầng bậc và sự ánh xạ của ẩn dụ ý niệm

CON NGƯỜI LÀ ĐỘNG VẬT trong ca dao Nam Bộ 74

Lược đồ 2.8 Lược đồ ánh xạ của ẩn dụ ý niệm CON NGƯỜI LÀ THỰC VẬT/CỎ

CÂY trong ca dao Nam Bộ 90

Lược đồ 3.1 Các thuộc tính ánh xạ của ẩn dụ ý niệm DUYÊN LÀ VẬT

THỂ/CHẤT THỂ (KHÔNG ĐƯỢC ĐỊNH DANH) trong ca dao Nam Bộ 110

Lược đồ 3.2 Các thuộc tính ánh xạ của ẩn dụ ý niệm DUYÊN LÀ SỰ VẬN ĐỘNG

trong ca dao Nam Bộ 113

Lược đồ 3.3 Các thuộc tính ánh xạ của ẩn dụ ý niệm DUYÊN LÀ SỢI DÂY trong

ca dao Nam Bộ 117

Lược đồ 3.4 Thuộc tính ánh xạ của ẩn dụ ý niệm DUYÊN LÀ NGỌN LỬA trong

ca dao Nam Bộ 120

Lược đồ 3.5 Các thuộc tính ánh xạ của ẩn dụ ý niệm DUYÊN LÀ HÀNG HÓA

trong ca dao Nam Bộ 122

Lược đồ 3.6 Tính tầng bậc và sự ánh xạ của ẩn dụ ý niệm DUYÊN LÀ HÀNG

HÓA trong ca dao Nam Bộ 123

Trang 11

Lược đồ 3.7 Tính tầng bậc của ẩn dụ ý niệm DUYÊN LÀ VẬT THỂ/CHẤT THỂ

trong ca dao Nam Bộ 125

Lược đồ 3.8 Thuộc tính ánh xạ của ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ VẬT THỂ/CHẤT

THỂ (KHÔNG ĐƯỢC ĐỊNH DANH) trong ca dao Nam Bộ 128

Lược đồ 3.9 Lược đồ ánh xạ của ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ VẬT THỂ/CHẤT

THỂ trong ca dao Nam Bộ 130

Lược đồ 3.10 Thuộc tính ánh xạ của ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ SỢI DÂY trong

ca dao Nam Bộ 131

Lược đồ 3.11 Thuộc tính ánh xạ của ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ VẬT

CHỨA/CHẤT THỂ TRONG VẬT CHỨA trong ca dao Nam Bộ 133

Lược đồ 3.12 Tính tầng bậc và sự ánh xạ của ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ CHẤT

THỂ TRONG VẬT CHỨA trong ca dao Nam Bộ 136

Lược đồ 3.13 Tính tầng bậc và sự ánh xạ của ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ GIA VỊ

CỦA THỨC ĂN trong ca dao Nam Bộ 137

Lược đồ 3.14 Lược đồ ánh xạ của ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ GIA VỊ CỦA

THỨC ĂN trong ca dao Nam Bộ 139

Lược đồ 3.15 Lược đồ thực thể - liên kết các thuộc tính của SẦU trong ca dao Nam

Bộ 142

Lược đồ 3.16 Thuộc tính ánh xạ của ẩn dụ ý niệm SẦU LÀ VẬT THỂ/CHẤT THỂ

(KHÔNG ĐƯỢC ĐỊNH DANH) trong ca dao Nam Bộ 143

Lược đồ 3.17 Thuộc tính ánh xạ của ẩn dụ ý niệm SẦU LÀ VẬT THỂ/CHẤT THỂ

ĐƯỢC ĐỊNH LƯỢNG/ĐỊNH TÍNH trong ca dao Nam Bộ 145

Lược đồ 3.18 Thuộc tính ánh xạ của ẩn dụ ý niệm SẦU LÀ NƯỚC/MEN SAY

trong ca dao Nam Bộ 149

Lược đồ 4.1 Tính tầng bậc của ẩn dụ ý niệm CƯƠNG THƯỜNG LÀ TÍCH CỰC

trong ca dao Nam Bộ 157

Lược đồ 4.2 Cơ sở kinh nghiệm của ẩn dụ CƯƠNG THƯỜNG LÀ TÍCH

CỰC/TIÊU CỰC trong ca dao Nam Bộ 169

Trang 12

Lược đồ 4.3 Lược đồ hình ảnh TIỀN TÀI - NHÂN NGHĨA trong ca dao Nam Bộ

173

Lược đồ 4 4 Cơ sở kinh nghiệm của ẩn dụ CƯƠNG THƯỜNG LÀ TÍCH CỰC/

TIỀN TÀI LÀ TIÊU CỰC trong ca dao Nam Bộ 174

Trang 13

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Không gian pha trộn “Bác sĩ giải phẫu đó là một gã đồ tể” 17

Hình 4.1 Ẩn dụ lược đồ hình ảnh “TRỌN tam cương” 159

Hình 4.2 Ẩn dụ lược đồ hình ảnh “THIẾU chữ tình” 160

Hình 4.3 Ẩn dụ lược đồ hình ảnh “TRÒN hiếu trung” 160

Hình 4.4 Ẩn dụ lược đồ hình ảnh “làm dâu KHÔNG TRÒN” 163

Hình 4.5 Ẩn dụ lược đồ hình ảnh “nhân nghĩa VUÔNG TRÒN” 165

Hình 4.6 Ẩn dụ lược đồ hình ảnh “nghĩa nhân như BÁT NƯỚC ĐẦY” 166

Trang 14

lý (physiological), tâm lý (psychological), tâm linh (spiritual) Con người, đặc biệt

là sự trải nghiệm của con người có vai trò quan trọng trong việc tạo ra ý nghĩa và hình thức của phát ngôn Nghĩa không phải là đặc trưng của phát ngôn mà là sản phẩm của sự tương tác giữa phát ngôn với trải nghiệm của con người Đó là trải nghiệm hướng ngoại (extraversion) và hướng nội (introversion) thể hiện ở bốn chiều quan hệ: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội, quan hệ với chính mình và quan hệ với những thế lực vô thể (thế giới thần linh) Những điều này là cơ sở của

Bộ về thế giới quan, nhân sinh quan, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán… xã hội Các ý niệm này phần lớn là có tính ẩn dụ Chính vì vậy, ẩn dụ ý niệm trong CDNB thể hiện rõ mối quan hệ mật thiết giữa tư duy, ngôn ngữ và văn hóa của

Trang 15

người Việt Nam Bộ Nói cách khác, ẩn dụ ý niệm trong CDNB là kết quả của quá

trình trải nghiệm, nhận thức và cũng là cách nhìn thế giới của người Việt Nam Bộ

Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong CDNB, chúng ta sẽ khám phá được kho tàng kinh nghiệm, văn hóa dân gian trong đó Kinh nghiệm, văn hóa dân gian của mỗi dân tộc được đúc kết, tích lũy, lưu trữ, chuyển giao, sáng tạo trong cộng đồng bản ngữ từ thế hệ này đến thế hệ khác, từ địa phương này sang địa phương khác qua môi trường diễn xướng, bằng hình thức truyền miệng Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong CDNB sẽ thấy được phương thức tư duy của người Việt Nam Bộ, tính nghiệm thân trong ngôn ngữ ẩn dụ thể hiện ở sự tương tác giữa con người với tự nhiên, con người với con người trong một thể chế văn hóa - xã hội, chính trị, tín ngưỡng - tôn giáo, hay với chính bản thân mỗi con người Nói cách khác, phương thức tư duy, trải nghiệm nghiệm thân hay kinh nghiệm dân gian, lý thuyết dân gian về thế giới đều được tìm thấy khi nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong CDNB Đây là những vấn đề

thú vị, lôi cuốn chúng tôi thực hiện đề tài này

0.2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Phương thức tư duy

Lược đồ 0 1 Quy trình phân tích ẩn dụ ý niệm trong ca dao Nam Bộ

Về bản chất, ý niệm của con người phần lớn là mang tính ẩn dụ, nên được

gọi là ẩn dụ ý niệm Chính vì vậy, nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong CDNB, chúng tôi

Trang 16

hướng tới mục đích cuối cùng là tìm hiểu ý niệm ẩn dụ, phương thức tư duy của người Việt Nam Bộ Điều này được thực hiện theo một quy trình như lược đồ 0.1 ở trên

Do chưa quan sát trực tiếp được hoạt động của tư duy và ngôn ngữ trong não, nên ẩn dụ ý niệm nghiên cứu tư duy qua ngôn ngữ, mà thành tố cốt lõi của nó

là ý niệm

0.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Quy trình trên cũng xác định rõ những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

Quy trình này được thực hiện trong sự tương tác liên ngành, có sự hỗ trợ của

lý thuyết dân gian (folk theories) và lý thuyết khoa học (scientific theories), như: triết học, tâm lý học, thần kinh học, y học

0.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

0.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là ẩn dụ ý niệm trong CDNB Ẩn dụ ý niệm có đơn vị cơ sở là ý niệm Những ý niệm mà chúng ta chung sống (concepts

we live by), về bản chất, được hiểu một cách ẩn dụ, như CON NGƯỜI, DUYÊN, TÌNH YÊU, SẦU, CƯƠNG THƯỜNG, TIỀN TÀI, HẠNH PHÚC, KHỔ ĐAU, chi phối tư duy của chúng ta không chỉ là vấn đề của trí tuệ, mà còn là vấn đề của hoạt động thường nhật Các ý niệm này tồn tại trong não bộ, có liên hệ mật thiết với trải nghiệm của cơ thể Do vậy, ẩn dụ ý niệm - đối tượng nghiên cứu của luận án - là một sự phức hợp của nhiều nhân tố, cần làm sáng tỏ ở nhiều phương diện

0.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ ý niệm trong CDNB có rất nhiều vấn

đề đáng quan tâm, nhưng trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi chỉ tập trung

Trang 17

nghiên cứu những mô hình ánh xạ ẩn dụ từ miền nguồn THẾ LỰC SIÊU NHIÊN,

TỰ NHIÊN (HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN, THỰC THỂ TỰ NHIÊN, ĐỘNG VẬT, THỰC VẬT); VẬT THỂ/CHẤT THỂ (KHÔNG ĐƯỢC ĐỊNH DANH), SỰ VẬN ĐỘNG, SỢI DÂY, NGỌN LỬA, HÀNG HÓA,…; các sắc thái đánh giá TÍCH CỰC, TIÊU CỰC đến một số miền đích khác nhau, như: CON NGƯỜI, DUYÊN, TÌNH YÊU, SẦU, CƯƠNG THƯỜNG, TIỀN TÀI, HẠNH PHÚC, KHỔ ĐAU Cơ chế ánh xạ từ những miền nguồn sang miền đích này tạo thành các ẩn dụ cấu trúc,

ẩn dụ bản thể và ẩn dụ định vị trong CDNB

0.4 NGỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

Ca dao Nam Bộ hình thành cùng với lịch sử khẩn hoang vùng đất Nam Bộ, khoảng hơn 300 năm Tuy vậy, cho đến nay, kho tàng CDNB có số lượng tương đối nhiều Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong CDNB, luận án chỉ giới hạn trong phạm vi cứ liệu được sưu tầm ở ba công trình tiêu biểu: 1) Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát,

Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị (1984), Ca dao dân ca Nam Bộ, Nxb TP Hồ Chí Minh; 2) Khoa Ngữ văn, Đại học Cần Thơ (1999), Văn học dân gian Đồng bằng

sông Cửu Long (phần ca dao - dân ca), Nxb Giáo dục; 3) Huỳnh Ngọc Trảng

(2006), Ca dao dân ca Nam kỳ lục tỉnh, Nxb Tổng hợp Đồng Nai

0.5 PHƯƠNG PHÁP LUẬN, PHƯƠNG PHÁP VÀ THỦ PHÁP NGHIÊN CỨU

0.5.1 Phương pháp luận

Phương pháp luận của lý thuyết ẩn dụ ý niệm được thể hiện chủ yếu ở ba

đường hướng là chủ nghĩa kinh nghiệm (experientialism) hay chủ nghĩa hiện thực

kinh nghiệm (experiential realism), độ nổi trội (prominence view) và sự chú ý

(attentional view, windowing of attention) Trong đó, ba luận điểm quan trọng nhất, mang tính phương pháp luận, được vận dụng xuyên suốt luận án là: 1 “tâm trí vốn

dĩ là nghiệm thân” (the mind is inherently embodied), 2 “tư duy hầu hết là vô thức” (thought is mostly unconscious) và 3 “các ý niệm trừu tượng phần lớn là ẩn dụ” (abstract concepts are largely metaphorical)

Trang 18

Như trên đã đề cập, do chưa quan sát trực tiếp được hoạt động của tư duy và ngôn ngữ trong não, nên ẩn dụ ý niệm nghiên cứu tư duy qua ngôn ngữ, mà thành tố cốt lõi của nó là ý niệm Nghĩa là nghiên cứu ý niệm được thể hiện qua biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ, trên cơ sở kinh nghiệm và phương thức tri nhận của con người

Như vậy, có thể thấy, ba luận điểm cơ bản ở trên là nền tảng quan trọng chi

phối, định hướng những phương pháp và thủ pháp cụ thể, như: thủ pháp nhận dạng

ẩn dụ ý niệm; thủ pháp thống kê, phân loại; phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp nghiên cứu liên ngành; phương pháp mô hình hóa và phương pháp khát quát hóa, trừu tượng hóa

0.5.2 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu

0.5.2.1 Thủ pháp nhận dạng ẩn dụ ý niệm: Đây là thủ pháp nghiên cứu đặc

thù Luận án vận dụng thủ pháp nhận dạng ẩn dụ của nhóm Pragglejaz (thủ pháp MIP - Metaphor Identification Procedure) [157] và thủ pháp 5 bước của G Steen [162] [163]

0.5.2.2 Thủ pháp thống kê, phân loại: Sau khi nhận dạng được các biểu thức

ẩn dụ, luận án sẽ thống kê, phân loại thành những loại ẩn dụ ý niệm khác nhau trong CDNB

0.5.2.3 Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng

để phân tích ý niệm, cơ chế ánh xạ, các thuộc tính tương tác, tính nghiệm thân trong các ẩn dụ ý niệm Trên cơ sở đó, luận án tổng hợp, liên kết các mặt, các bộ phận đã được phân tích để tạo ra một hệ thống thông tin đầy đủ và sâu sắc về phương thức

tư duy, hay nguyên lý tri nhận của người Việt Nam Bộ, qua cứ liệu CDNB

0.5.2.4 Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Các tri thức, kinh nghiệm dân

gian và lý thuyết khoa học, như triết học, tâm lý học, thần kinh học, y học sẽ được vận dụng để lý giải cơ chế tri nhận của ẩn dụ ý niệm trong CDNB

0.5.2.5 Phương pháp mô hình hóa: Luận án làm sáng tỏ phương thức tư duy

của người Việt Nam Bộ qua các lược đồ ánh xạ, ẩn dụ lược đồ hình ảnh, trên cứ liệu

ca dao Nam Bộ

Trang 19

0.5.2.6 Phương pháp khát quát hóa, trừu tượng hóa: Luận án hệ thống hóa,

khái quát hóa cơ sở kinh nghiệm, đồng thời cũng là những đặc trưng nổi trội về văn hóa, vùng đất Nam Bộ tác động đến cách ý niệm hóa của người Việt Nam Bộ Trên

cơ sở những trường hợp điển hình, luận án còn rút ra bản chất, nguyên lý tổng quát chi phối cách ý niệm hóa của người Việt Nam Bộ

0.6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

0.6.1 Về lý luận

Các nhà nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm đưa ra một góc nhìn mới, đầy triển vọng Về bản chất, hệ thống ý niệm của con người phần lớn là có tính ẩn dụ Biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ là sự nối kết với những ý niệm ẩn dụ Chính vì vậy, biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ là cơ sở quan trọng để tìm hiểu bản chất của ý niệm ẩn dụ Ẩn dụ ý niệm tiếp cận biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ dựa trên kinh nghiệm của con người về thế giới, cách thức mà con người tri giác và ý niệm hóa thế giới Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong CDNB, ở một mức độ nào đó, luận án góp phần củng cố và khẳng định những vấn đề có tính chất lý luận đã được các học giả Âu - Mỹ đặt ra

0.6.2 Về thực tiễn

Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong CDNB là xác định cơ chế tri nhận của người Việt Nam Bộ, nói cách khác là làm sáng tỏ cách mà người Việt Nam Bộ nhận thức

về thế giới, trên cơ sở mô hình ba bình diện có quan hệ tương tác: ca dao Nam Bộ -

văn hóa Nam Bộ - người Việt Nam Bộ Những kết quả mà luận án đạt được sẽ đóng góp hữu ích cho các nhà nghiên cứu, giáo viên và cả những người quan tâm đến CDNB một góc nhìn về tư duy - ngôn ngữ - văn hóa - con người - vùng đất Nam Bộ trong tương quan với các đặc điểm tương ứng của dân tộc Việt Nam Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của luận án còn có thể ứng dụng vào việc giảng dạy CDNB trong nhà trường

0.7 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án được chia thành 4 chương

Trang 20

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

Chương này tổng thuật các kết quả nghiên cứu ẩn dụ ý niệm về mặt lý thuyết, ứng dụng ở nước ngoài và trong nước (các lĩnh vực ngoài ca dao Nam Bộ và

ca dao Nam Bộ) Qua đó, luận án giới thuyết một số khái niệm có tính chất công cụ,

như: khái niệm ẩn dụ ý niệm, ý niệm, ẩn dụ ý niệm và biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ,

miền nguồn, miền đích và ánh xạ, tương đồng và tương quan, các loại ẩn dụ ý niệm,

cơ sở kinh nghiệm và ẩn dụ ý niệm trong thơ ca

Chương 2 ẨN DỤ CẤU TRÚC TRONG CA DAO NAM BỘ

Chương này phân tích ẩn dụ cấu trúc có miền đích là CON NGƯỜI qua hai miền nguồn là THẾ LỰC SIÊU NHIÊN, TỰ NHIÊN

Chương 3 ẨN DỤ BẢN THỂ TRONG CA DAO NAM BỘ

Chương này phân tích ẩn dụ bản thể có miền ý niệm đích là DUYÊN, TÌNH YÊU và SẦU qua các miền nguồn tiêu biểu như VẬT THỂ/CHẤT THỂ (KHÔNG ĐƯỢC ĐỊNH DANH), SỰ VẬN ĐỘNG, SỢI DÂY, NGỌN LỬA, HÀNG HÓA, VẬT CHỨA/CHẤT LỎNG TRONG VẬT CHỨA

Chương 4 ẨN DỤ ĐỊNH VỊ TRONG CA DAO NAM BỘ

Chương này dựa vào sự định vị khoảng cách gần - xa, sự vận động, không gian của vật thể/vật chứa, hay trọng lượng, hình dáng của vật thể để phân tích các ý

niệm CƯƠNG THƯỜNG - TIỀN TÀI, HẠNH PHÚC - KHỔ ĐAU

- -

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm ở nước ngoài

Ẩn dụ được nghiên cứu từ thời cổ đại Aristotle (384 - 322 TCN) là một

trong những học giả đầu tiên nghiên cứu về ẩn dụ Chính vì vậy, A Ortony nhận

Trang 21

định rằng: “Bất kỳ nghiên cứu nghiêm túc nào về ẩn dụ hầu như bắt buộc phải bắt đầu với những tác phẩm của Aristotle” [156, tr.3] Aristotle xem ẩn dụ là hình thức trang trí trong ngôn ngữ nghệ thuật và thuật hùng biện bằng phương thức chuyển nghĩa Từ quan niệm của Aristotle, ngôn ngữ học truyền thống xem ẩn dụ là một phương thức phát triển nghĩa mới của từ (ẩn dụ từ vựng) hoặc là một biện pháp tu

từ (ẩn dụ tu từ) Tư tưởng khởi thủy về ẩn dụ của Aristotle đã ảnh hưởng trong suốt

20 thế kỷ Phải đến đầu những năm 50 của thế kỷ XX, cuộc cách mạng tri nhận (congnitive revolution) tạo ra khuynh hướng ngôn ngữ học tri nhận (cognitive linguistics), nhưng đến năm 80 thì lý thuyết mới về ẩn dụ mới chính thức được nhìn nhận - lý thuyết ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor theory) Ẩn dụ được quan niệm không chỉ là một phương tiện tu từ dùng trong thơ ca, mà còn là một phương thức tri nhận thế giới của con người Tuy nhiên, theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, những tư tưởng mang tính đột phá về ẩn dụ đã được hai tác giả I A Richards và M Black bàn luận trước đó (1936, 1955) Bởi lẽ, về thực chất, hai tác giả này quan niệm ẩn dụ là một phương tiện tri nhận

Trong tiểu luận The Philosophy of Rhetoric (Triết học tu từ), I A Richards (1936) đã đưa ra thuyết tương tác (interaction theory) trong quá trình nghiên cứu ẩn

dụ Quan niệm này tiêu biểu cho một hướng tiếp cận mới vượt qua giới hạn của nghiên cứu ẩn dụ trước đó I A Richards quan niệm ẩn dụ không chỉ là một biện pháp tu từ, mà ẩn dụ còn có tính tư tưởng và hành vi của con người Cách tiếp cận mới về ẩn dụ của I A Richards thể hiện ở ba điểm quan trọng: 1 ẩn dụ là một nguyên tắc của ngôn ngữ xuất hiện rộng khắp; 2 ý nghĩa của ẩn dụ là kết quả của sự tương tác giữa cái ẩn dụ và cái được ẩn dụ trong tư duy con người; 3 ẩn dụ là một vấn đề của tư duy, kết quả của sự tương tác giữa tư duy và ngữ cảnh [158, tr.92-94]

I A Richards đề xuất hai thuật ngữ có tính kỹ thuật cho hai phần căn bản

của ẩn dụ: Tenor và Vehicle Tenor là “ý tưởng cơ bản hoặc chủ đề chính”, vehicle

là phương tiện mô tả tenor Nói cách khác, “tenor” là “ý tưởng gốc” (original idea),

“vehicle” là “ý tưởng phái sinh” (borrowed idea) Cùng tương tác với nhau, chúng tạo ra ý nghĩa; không có sự chuyển nghĩa ở cấp độ từ từ nghĩa đen sang nghĩa bóng

Trang 22

Chúng ta có thể mượn ví dụ của M Black để chứng minh cho điều này, trong

trường hợp của một phép ẩn dụ đơn giản, “con người là chó sói” (man is a wolf), ý

tưởng gốc “con người” được miêu tả thông qua ý tưởng phái sinh “chó sói”

Có thể nói, I A Richards đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của ngữ nghĩa Với ba luận điểm của mình, I A Richards đã thành công trong việc gợi mở một hướng tiếp cận mới về ẩn dụ Tuy nhiên, phải gần 20 năm sau, qua sự kế thừa và phát triển của M Black, nghiên cứu về ẩn dụ mới tạo được một bước ngoặt thực

thụ Năm 1955, M Black cho xuất bản tiểu luận Metaphor trình bày ba quan điểm

về ẩn dụ hoạt động như thế nào (three views of how metaphors operate) Đó là quan

điểm thay thế (the substitution view), quan điểm so sánh (the comparison view) và quan điểm tương tác (the interaction view) Tiểu luận này có lẽ đánh dấu một bước

chuyển biến thực sự trong cái nhìn về ẩn dụ

Theo quan điểm thay thế, ẩn dụ được dùng để truyền đạt cái ý mà về nguyên tắc có thể được biểu hiện một cách trực tiếp bằng nghĩa đen Chẳng hạn, ẩn dụ

“Richards là một con sư tử” (Richards is a lion) có nghĩa là “Richards dũng mãnh” Bản chất của ẩn dụ là sự tương đồng giữa những từ “sư tử” (lion) và “dũng mãnh” (brave) Quan điểm về sự thay thế cho rằng ẩn dụ là yếu tố hoa mĩ, thay thế

cho một tên gọi bình thường với hiệu quả tu từ ẩn bên trong mà không mang đến cho câu nói một nhận thức nào mới

Còn với quan điểm so sánh, M Black cho rằng đó là trường hợp đặc biệt của

quan điểm thay thế “Ẩn dụ bao gồm trong đó việc trình hiện sự tương tự hay tương đồng cơ bản, do đó nói rõ điều gì về từng phần của ẩn dụ” [133, tr.35]

M Black bài bác quan điểm cũ dưới ảnh hưởng của Aristotle về ẩn dụ dựa trên sự so sánh và thay thế Theo M Black, quan điểm so sánh thực ra chỉ là một trường hợp đặc biệt của quan điểm thay thế, vốn xuất phát từ quan điểm về sự tương tự của Aristotle Trên cơ sở chỉ ra những hạn chế của quan điểm thay thế và quan điểm so sánh, M Black đề xuất một quan điểm mới về ẩn dụ - quan điểm tương tác

Trang 23

Theo quan điểm tương tác của M Black, ẩn dụ hoạt động bằng cách gắn đặc tính của những “hàm ý kết hợp” vào chủ đề chính, tức là “tenor” Ngoài ra, M

Black còn đưa ra một luận cứ đầy thách thức đối với quan điểm cố hữu: ẩn dụ gần

như tạo ra sự tương tự giữa những sự vật thay vì chỉ hình thành trên những tương

tự có sẵn

M Black tóm tắt bản chất của quan điểm tương tác qua 7 luận điểm sau:

và một chủ thể “phụ” (subsidiary)

of things) thì tốt hơn là xem chúng như “những sự vật” (things)

thống đặc trưng của “những hàm ngôn liên tưởng” (associated implications) có liên

hệ với chủ thể phụ

trong ý thức của người nói, chúng liên hệ với chủ thể phụ, nhưng trong một số trường hợp, đó có thể là những hàm ngôn không chuẩn (deviant implications) được khám phá bởi nhà văn/nhà thơ

chính có thể ứng dụng cho chủ thể phụ

nhóm hay cùng hệ thống với biểu thức ẩn dụ Một số trong những thay đổi đó có thể trở thành những chuyển nghĩa ẩn dụ

đổi về nghĩa, không có quy tắc chung nào cho phép giải thích tại sao một số ẩn dụ

có thể chấp nhận sự thay đổi nghĩa, số khác thì không [133, tr.44-45]

Như vậy, quan điểm của M Black khác với quan điểm cũ dưới ảnh hưởng của Aristotle về ẩn dụ dựa trên sự so sánh và thay thế Theo M Black, ẩn dụ gần như tạo ra sự tương tự giữa những sự vật, thay vì chỉ hình thành trên những tương

tự có sẵn Ông cho rằng: trong ngữ cảnh của một phát ngôn mang tính ẩn dụ, hai

Trang 24

chủ thể “tương tác” theo các cách sau: (a) sự hiện diện của chủ thể chính (the primary subject) tác động làm người nghe lựa chọn một số thuộc tính của chủ thể phụ (secondary subject’s properties); và (b) “lôi cuốn” người nghe đặt ra một hàm ý phức hợp tương ứng mà nó có thể phù hợp với chủ thể chính; và (c) diễn tả quan hệ

tương hỗ, đem lại sự thay đổi tương ứng ở chủ thể phụ Chẳng hạn, ẩn dụ Con

người là chó sói (Man is a wolf) có chủ thể chính là con người và chủ thể phụ là chó sói Sự hiện diện của chủ thể chính con người làm cho ta lựa chọn một số thuộc tính

ở chủ thể phụ, từ đó xây dựng một ý nghĩa tương ứng và phù hợp với ý nghĩa của

chủ thể chính, như dã man, sẵn sàng cắn xé nhau để giành miếng ăn… Những thuộc tính ấy xuất hiện ở từ chó sói Qua đó, những hiểu biết của chúng ta về cả hai đối tượng con người - chó sói cũng được xem xét trong quan hệ tương tác

Đóng góp của M Black là ông đã thấy được quá trình và phương thức sản sinh ý nghĩa ẩn dụ, đặt ý nghĩa ẩn dụ và ngữ cảnh trong mối quan hệ gắn bó mật thiết Cách tạo nghĩa của ẩn dụ là dùng ý nghĩa chủ thể phụ xây dựng nên ý nghĩa chủ thể chính Quan niệm của M Black là một bước ngoặt thực thụ, chuyển việc nghiên cứu ẩn dụ là một biện pháp tu từ sang ẩn dụ là một phương thức tri nhận

Từ nửa sau thế kỷ XX, tình hình nghiên cứu ngôn ngữ học trên thế giới có những thay đổi cơ bản “Những năm này được đánh dấu bằng một mốc son chói lọi,

đó là sự ra đời của ngôn ngữ học tri nhận (cognitive linguistics), con đẻ của cuộc cách mạng tri nhận (congnitive revolution) diễn ra vào đầu những năm 50 ở Mỹ” [17, tr.33] Tuy nhiên, phải đến thập niên 80, hai tác giả G Lakoff và M Johnson

cho xuất bản công trình Metaphors We Live By thì ngôn ngữ học tri nhận mới thực

sự bùng nổ Trong khuynh hướng ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ được xem như một phương thức quan trọng để ý niệm hóa các phạm trù trừu tượng trong khả năng tư duy của con người Từ 1980 đến nay, nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận gắn với những tên tuổi tiêu biểu, như G Lakoff, M Johnson, Z Kövecses, G Fauconnier,

R Langacker, Fillmore, Sweetser, E Rosch, L Talmy, M Turner, J Grady, A Wierzbicka, R Gibbs, R Jackendoff, Goldberg, Regier, Narayanan, Feldman,…

Trang 25

Chính vì nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, ngôn ngữ học tri nhận

được tri nhận sẽ là lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong thế kỷ XXI

Trong khoảng gần 40 năm qua, lý thuyết về ẩn dụ phát triển mạnh mẽ và không ngừng được đào sâu, mở rộng, phong phú, đa dạng Ẩn dụ được xem xét ở nhiều khía cạnh, như: 1 miền nguồn - miền đích; 2 biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ; 3 ánh xạ nguồn - đích, 4 không gian pha trộn hay tích hợp ý niệm; 5 tri nhận và ngôn ngữ; 6 cơ sở kinh nghiệm (nghiệm thân cơ thể, nghiệm thân tự nhiên, nghiệm thân

xã hội); 7 mô hình văn hóa; 8 lý thuyết thần kinh về ẩn dụ; 9 ẩn dụ hình ảnh, lược

đồ hình ảnh và ẩn dụ lược đồ hình ảnh; 10 ẩn dụ ý niệm trong ngôn ngữ thường nhật và trong thơ ca,… Trong khuôn khổ giới hạn của luận án, chúng tôi không trình bày tất cả các vấn đề vừa nêu theo thứ tự, mà chỉ lựa chọn một số vấn đề hoặc

đã được vận dụng trong Việt ngữ học, hoặc có liên quan đến định hướng của luận

án và tổng thuật theo sự đan xen, tích hợp

G Lakoff và M Johnson quan niệm ẩn dụ không chỉ là vấn đề của ngôn ngữ

mà còn là vấn đề của tư duy và hành động Xuất phát từ luận điểm hệ thống ý niệm của con người có tính ẩn dụ, nghĩa là ẩn dụ nằm trong tư tưởng con người, G Lakoff và M Johnson cho rằng cách thức chúng ta suy nghĩ, những gì chúng ta trải nghiệm và những gì chúng ta làm hàng ngày cũng thực sự là một vấn đề của ẩn dụ

Ý niệm đóng vai trò trung tâm trong ẩn dụ ý niệm Ý niệm cấu trúc cái ta lĩnh hội được, cách ta nhận thức thế giới và cách ta liên hệ với những người khác trong xã hội Về bản chất, ý niệm phần lớn là có tính ẩn dụ, nên được gọi là ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) Ẩn dụ ý niệm nghiên cứu tư duy qua ngôn ngữ, mà thành tố cốt lõi của nó là ý niệm

Luận điểm quan trọng nhất mà G Lakoff và M Johnson chỉ ra là coi ẩn dụ không chỉ là một vấn đề của ngôn ngữ, tức là của từ ngữ thuần túy, mà còn là quá

trình tư duy của con người “Bản chất của ẩn dụ là hiểu và trải nghiệm một loại sự

vật trên cơ sở một loại sự vật khác” [153, tr.5] Nền tảng triết học của ẩn dụ ý niệm

là chủ nghĩa kinh nghiệm (empiricism) G Lakoff và M Johnson đã đặt ra những

vấn đề đầy thách thức không chỉ đối với các nhà ngôn ngữ học, mà cả với các nhà

Trang 26

triết học theo quan điểm chủ nghĩa khách quan (objectivism) và chủ nghĩa chủ quan (subjectivism) Theo các tác giả, không có chân lý tuyệt đối, vô điều kiện, cũng không có chân lý đạt được chỉ qua tưởng tượng, không bị ảnh hưởng bởi ngoại cảnh, do đó, ẩn dụ là sự thống nhất giữa lý trí và tưởng tượng G Lakoff và M Johnson đặt ra vấn đề rất thú vị, nhưng cũng đầy thách thức: nghiên cứu ẩn dụ không thể tách khỏi cơ sở kinh nghiệm của nó Nói cách khác, nghiên cứu ẩn dụ là phải minh định được cơ chế tri nhận

Theo G Lakoff và M Johnson, “đầu thập niên 1980, Lakoff và Kövecses đã chỉ ra rằng hệ thống ẩn dụ về sự tức giận tồn tại trong các nền văn hóa và ngôn ngữ khác nhau, có cơ sở sinh lý học từ chính sự tức giận (G Lakoff 1987; Z Kövecses

1986, 1990)” [153, tr.250] Ngoài sự tức giận, các khía cạnh khác của ý niệm cảm xúc cũng rất được các nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là trong ngôn ngữ Anh, có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu, như: G Lakoff, M Johnson (1980), G Lakoff (1987), G Lakoff, M Turner (1989), R Langacker (1987, 1991),

M Johnson (1987, 1993), M Turner (1987), E Sweetser (1990), R Gibbs (1994)

Trên cơ sở tiếp thu thành tựu của những công trình này, trong công trình Ẩn dụ và

cảm xúc (Metaphor and Emotion), Z Kövecses (2000, 2002, 2010) đã tổng hợp lại

thành chín ý niệm, như: TỨC GIẬN (ANGER), SỢ HÃI (FEAR), HẠNH PHÚC (HAPPINESS), NỖI BUỒN (SADNESS), TÌNH YÊU (LOVE), HAM MUỐN (LUST), TỰ HÀO (PRIDE), XẤU HỔ (SHAME) và NGẠC NHIÊN (SURPRISE) [145] Z Kövecses vận dụng sự hiểu biết của dân gian (còn gọi là lý thuyết dân gian/mô hình dân gian (folk theories/models), mô hình văn hóa (cultural models), hay mô hình tri nhận lý tưởng (idealized cognitive models)) và sự hiểu biết của khoa học để lý giải ẩn dụ cảm xúc Lý thuyết dân gian hay mô hình văn hoá của ý niệm cảm xúc chính là ngôn ngữ được sử dụng trong giao tiếp thường ngày; còn lý thuyết khoa học hay lý thuyết của chuyên gia là lý thuyết của các nhà tâm lý học (psychologists), triết học (philosophers) Trong đó, lý thuyết dân gian về cảm xúc, hay mô hình tri nhận được Z Kövecses mô tả là một kịch bản gồm năm giai đoạn:

“Nguyên Nhân  Cảm xúc  Kiểm soát  Mất kiểm soát  Phản ứng hành vi

Trang 27

(Cause (Cau)  Emotion (Emo)  Control (Con)  Loss of Control (LoCon)  Behavioral Response (BeRe))” [145, tr.58] Sau đó, mô hình này được tác giả rút gọn lại thành: “Nguyên nhân của cảm xúc  cảm xúc  (kiểm soát cảm xúc ) phản ứng (cause of emotion  emotion  (controlling emotion ) response)” [147, tr.110]

Ẩn dụ được sử dụng rất sớm và phổ biến trong các nền văn hóa khác nhau

Z Kövecses (2000, 2002, 2005, 2010) cho rằng ẩn dụ vừa có tính phổ quát, vừa có tính đặc trưng trong các nền văn hóa “Các nguyên nhân mà ẩn dụ mang tính phổ quát và có sự khác biệt phụ thuộc vào tính nghiệm thân (tức là cơ sở thần kinh - cơ thể (neural-bodily)), kinh nghiệm/bối cảnh văn hoá - xã hội (social-cultural) và các quá trình tri nhận (cách tri nhận và sự ưu tiên tri nhận)” [146, tr.293] Nói cách khác, tính nghiệm thân phổ quát có thể dẫn đến khả năng ẩn dụ có tính phổ quát Tuy vậy, những trải nghiệm văn hoá - xã hội khác nhau và các quá trình tri nhận khác nhau có thể dẫn đến sự khác biệt trong ẩn dụ

Tính phổ quát hay sự khác biệt trong ẩn dụ là do sự trải nghiệm của con người sống chung trong một thế giới, nhưng lại bị chi phối bởi các nhân tố văn hóa-

xã hội, môi trường vật chất… Nói cách khác, đây là những nhân tố phức tạp thuộc

cơ sở kinh nghiệm trong nghiên cứu ẩn dụ ý niệm Nền tảng triết học của ẩn dụ ý niệm nói riêng và ngôn ngữ học tri nhận nói chung là cơ sở kinh nghiệm - “triết lý

nghiệm thân” (embodied philosophy) - được thể hiện qua các công trình Ẩn dụ mà

chúng ta sống (Metaphors We Live By, G Lakoff - M Johnson, 1980), Phụ nữ, lửa

và những thứ nguy hiểm (Woman, Fire, and Dangerous Things), Triết học trong thân xác (Philosophy in the Flesh, G Lakoff - M Johnson, 1999), Tại sao ngôn ngữ học tri nhận cần chủ nghĩa hiện thực nghiệm thân (Why Cognitive Linguistics Require Embodied Realism, M Johnson - G Lakoff, 2002), Giải thích các kết quả tri nhận nghiệm thân (Explaining Embodied Cognition Results, G Lakoff, 2012),…

Trong đó, ba luận điểm quan trọng được G Lakoff và M Johnson đưa ra là: 1 “tâm trí vốn dĩ là nghiệm thân” (the mind is inherently embodied), 2 “tư duy hầu hết là

vô thức” (thought is mostly unconscious) và 3 “các ý niệm trừu tượng phần lớn là

Trang 28

ẩn dụ” (abstract concepts are largely metaphorical) Các thuộc tính của ý niệm được tạo ra là kết quả của cách mà não bộ và cơ thể được cấu trúc, cách chúng hoạt động trong các quan hệ liên nhân và cách chúng hoạt động trong thế giới vật chất

Ẩn dụ ý niệm là vấn đề của tư duy, được hình thành trong não bộ của con người, nên các nhà nghiên cứu rất chú trọng đến lý thuyết thần kinh về ẩn dụ (the neural theory of metaphor) “Năm 1997, lý thuyết ẩn dụ có bước tiến quan trọng với các quan niệm nền của Joseph Grady (1997), Christopher Johnson (1997) và Srinivas Narayanan (1997)” [153, tr.255] Grady chỉ ra rằng ẩn dụ phức hợp (complex metaphor) được tạo ra từ các ẩn dụ cơ sở (primary metaphor), có cơ sở trực tiếp từ kinh nghiệm hằng ngày nối liền trải nghiệm tri giác - vận động (sensory-motor) với miền đánh giá chủ quan của con người “Sử dụng các thuật toán cho mô hình thần kinh, Narayanan đã phát triển một lý thuyết mà trong đó ẩn dụ ý niệm được tính toán theo hướng thần kinh học, thông qua các sơ đồ thần kinh - các mạch điện thần kinh nối kết hệ thống tri giác - vận động với các vùng vỏ não cao cấp hơn” [153, tr.256]

Trong các bài viết gần đây cập nhật về lý thuyết ẩn dụ, G Lakoff [149] [150] [151] [152] cũng nghiên cứu sự hoạt động của não bộ, mà tác giả gọi là “lý thuyết thần kinh về ẩn dụ” (the neural theory of metaphor) Lý thuyết thần kinh về ẩn dụ tập trung vào sự liên kết thần kinh, hay sự kết nối giữa các ý niệm cho một thực thể duy nhất G Lakoff [150, tr.20] đưa ra ví dụ, hãy tưởng tượng về một quảng trường xanh Chúng ta biết rằng màu sắc và hình dạng không được xử lý ở cùng một vị trí trong não: chúng được xử lý ở các vùng khác nhau Tuy nhiên, quảng trường xanh xuất hiện với chúng ta như một tổng thể duy nhất - không phải là sự tách biệt giữa quảng trường và màu xanh G Lakoff gọi hiện tượng này là “liên kết thần kinh” (neural binding) Sự liên kết thần kinh mà G Lakoff chỉ ra chính là sự tích hợp hai hoặc nhiều thực thể tri giác hay thực thể ý niệm khác nhau vào một thực thể duy

nhất, như quảng trường và màu xanh trong một chỉnh thể quảng trường xanh

Bên cạnh lý thuyết thần kinh về ẩn dụ, các nhà nghiên cứu còn mở rộng không gian hai miền (nguồn - đích) trong lý thuyết ẩn dụ ý niệm của G Lakoff và

Trang 29

M Johnson (1980) thành lý thuyết không gian pha trộn Năm 2002, G Fauconnier

và M Turner đã phát triển lý thuyết không gian pha trộn (blending theory) có nhiều điểm giống với lý thuyết thần kinh về ngôn ngữ học Theo G Lakoff và M

Johnson, “lý thuyết không gian pha trộn giả định toàn bộ cấu trúc được biểu thị

bằng các tham số, bao gồm các ánh xạ ẩn dụ từ miền nguồn đến miền đích, các lược

đồ hình ảnh (image-schemas), lược đồ động lực (force-dynamic), khung (frames), điển dạng (prototypes), các ánh xạ hoán dụ, ” [153, tr.262]

Lý thuyết pha trộn ý niệm đề cập đến sự tích hợp ý niệm (conceptual

integration): cấu trúc ý niệm được kết hợp như thế nào trong các trường hợp sử dụng cụ thể, đặc biệt là trong những trường hợp tưởng tượng Chẳng hạn, một ví dụ

đã được G Fauconnier và M Turner (2002) đưa ra: “Bác sĩ giải phẫu đó là một gã

đồ tể” (That surgeon is a butcher) Ẩn dụ này được mô tả như sau: 1 Có hai không

gian đầu vào (input spaces): việc giết mổ (butchery) và việc phẫu thuật (surgery)

Có một bộ ánh xạ mô tả mối quan hệ giữa hai đầu vào này 2 Có một không gian chung (generic space), mà trong đó một người với vai trò công việc của mình, dùng một công cụ sắc bén đưa vào cơ thể nhằm mục đích nào đó Hai không gian đầu vào chia sẻ cấu trúc này 3 Ngoài ra, còn có một không gian pha trộn (blended space) Không gian này chứa đựng một số cấu trúc từ không gian đầu vào nguồn (source input) và không gian đầu vào đích (target input) Nó chứa đựng không gian đầu vào đích là: bệnh nhân (patient), một số công cụ (some tool), phòng phẫu thuật (operating room) và mục đích chữa bệnh (goal of healing) Từ không gian đầu vào nguồn, nó chứa đựng vai trò của người đồ tể (butcher) và các phương tiện dùng cho công việc giết mổ 4 Vì vậy, trong không gian pha trộn có một bác sĩ phẫu thuật trong vai trò của một người đồ tể, người sử dụng dụng cụ và những phương tiện của việc giết mổ với mục đích chữa bệnh cho bệnh nhân Điều này dẫn đến việc giải thích rằng bác sĩ phẫu thuật là người không có năng lực Toàn bộ sự lý giải trên được thể hiện qua hình 1.1 bên dưới

Ở trên, chúng tôi đã tổng thuật một số vấn đề về lý thuyết ẩn dụ ý niệm Bên cạnh việc phát triển lý thuyết, các nhà nghiên cứu còn ứng dụng lý thuyết ẩn dụ vào

Trang 30

các lĩnh vực cụ thể Theo G Lakoff và M Johnson, “các nhà nghiên cứu trong những lĩnh vực khác nhau như lý thuyết văn học, luật học, ngôn ngữ học và khoa học triết học đã có những ứng dụng thú vị Họ đã nhận ra ẩn dụ ý niệm ở ngay trung tâm của thơ ca, luật, chính trị, tâm lý, vật lý, khoa học máy tính, toán học và triết học” [153, tr.268] Những nghiên cứu này chỉ ra rằng ẩn dụ đã cấu trúc cách suy nghĩ của chúng ta

G Lakoff và M Turner đã chỉ ra rằng ẩn dụ ý niệm quy ước nằm ở trung

tâm của tục ngữ Năm 1987, trong công trình Death is the Mother of Beauty,

“Turner đã cho thấy ẩn dụ ý niệm hằng ngày có thể tạo cơ sở cho phúng dụ (allegory) trong cấu trúc cốt truyện” [153, tr.268]

blend

Hình 1.1 Không gian pha trộn “Bác sĩ giải phẫu đó là một gã đồ tể”

(Nguồn: Z Kövecses (2005), [146, tr.268-269])

Trong công trình More Than Cool Reason (1989), “Lakoff và Turner đã

chứng minh rằng ẩn dụ trong thơ ca phần lớn là sự mở rộng và là những trường hợp

Trang 31

đặc biệt của ẩn dụ ý niệm ổn định, mang tính quy ước, được sử dụng trong tư duy

và ngôn ngữ thường nhật” [153, tr.268] Tương tự, Z Kövecses cho rằng: “ẩn dụ hàng ngày không phải là những điều mà các nhà thơ, nhà văn từ bỏ khi họ sáng tác nên những tác phẩm “sáng tạo” của họ Trái lại, chứng cứ đầy đủ cho thấy rằng người “sáng tạo” tận dụng các ẩn dụ mang tính quy ước hàng ngày, và tính sáng tạo cũng như năng lực sáng tạo của họ bắt nguồn từ chúng” [147, tr.52] G Lakoff, M Turner và R Gibbs cũng từng nhấn mạnh rằng nhà thơ thường xuyên sử dụng các phương tiện là những chất liệu mang tính quy ước của ngôn ngữ và tư duy hàng ngày để tạo ra ngôn ngữ và “hình ảnh” quy ước, không mang tính mới lạ Các thủ

pháp được nhà thơ sử dụng là mở rộng (extending), chi tiết hóa (elaboration), nêu

nghi vấn (questioning) và kết hợp (combining)

Ẩn dụ trong văn chương còn được M Turner phân tích trong công trình

Literary Mind (1996) “Turner đã giải thích những pha trộn ẩn dụ nằm phía sau các

truyện ngụ ngôn và các sản phẩm tưởng tượng, hư cấu văn học thông thường khác” [153, tr.268-269] Bên cạnh đó, “cơ sở ẩn dụ của phương diện đạo đức trong văn học trở nên rõ ràng hơn từ sự thảo luận về ẩn dụ và đạo đức của Johnson trong

Moral Imagination (1993), của Lakoff trong Moral Politics (1996) và của Lakoff -

Johnson trong Philosophy in the Flesh (1999)” [153, tr.269]

Ở lĩnh vực tâm lý học, “phân tích ẩn dụ đã được chứng thực có vai trò quan trọng đối với cả tâm lý học tri nhận và tâm lý học lâm sàng Tâm lý học tri nhận bị thống trị bởi tư tưởng cũ cho rằng tất cả ý niệm đều là cụ thể và không mang tính nghiệm thân Tài liệu về lý thuyết ẩn dụ cung cấp nhiều chứng cứ chống lại quan điểm này và mở ra khả năng có một tâm lý tri nhận thú vị hơn nhiều, mà có thể trong chừng mực nào đó đã hiện hữu (Gibbs 1994)” [153, tr.270]

Ở lĩnh vực ngôn ngữ học tri nhận, “lý thuyết ẩn dụ là một phân ngành chính yếu của lĩnh vực ngôn ngữ học tri nhận, mà nó tìm cơ sở giải thích hệ thống ý niệm

và ngôn ngữ trong việc nghiên cứu não bộ và tâm trí nói chung Với vai trò đó, nó

sử dụng và tìm cách tích hợp những công trình gần đây về tâm lý học tri nhận, thần kinh học tri nhận và tâm lý học phát triển để tạo nên một bức tranh tổng thể nhằm lý

Trang 32

giải càng nhiều khía cạnh của ngôn ngữ càng tốt, từ cú pháp đến ngữ nghĩa học và diễn ngôn” [153, tr.271]

Trong lĩnh vực nhân học (Anthropology), các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều bằng chứng chứng minh ẩn dụ được sử dụng rất sớm và phổ biến ở các nền văn hoá trong lịch sử nhân loại Slingerland (2005) nhận định rằng việc sử dụng ẩn

dụ và pha trộn ý niệm xuất hiện từ thời Hậu Đồ đá cũ Tác giả chứng minh điều này qua văn bản viết được tìm thấy ở thời cổ đại (thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên) thuộc ngôn ngữ Hán-Tạng (Sino-Tibetan), hoàn toàn không liên quan đến ngôn ngữ Ấn-Âu (Indo-European) hiện đại Bên cạnh đó, Wiseman (2007) cũng đã phân tích một số ẩn dụ được sử dụng ở La Mã cổ đại, đặc biệt là trong nghệ thuật diễn thuyết của Cicero, trong sử thi Odyssey, Mahabharata Qua một số dẫn chứng vừa nêu, T

M Gill kết luận rằng: “Việc sử dụng ẩn dụ và sự pha trộn ý niệm đã tồn tại trên thế giới hàng ngàn năm” [141, tr.13] Đây chính là những tiền đề đáng tin cậy và có cơ

sở vững chắc để T M Gill nghiên cứu “Ẩn dụ, sự pha trộn ý niệm và cấu trúc nghĩa trong Kỷ Băng Hà ở châu Âu: Một sự truy vấn về tính khả thi của việc ứng dụng lý thuyết khoa học tri nhận vào chiều sâu của lịch sử nhân loại” [141]

Có thể nói, gần 40 năm qua, kể từ công trình Metaphors We Live By (1980)

của G Lakoff và M Johnson được xuất bản, các nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm từ góc

độ lý thuyết và ứng dụng xuất hiện ngày càng nhiều Ẩn dụ ý niệm đã được mở rộng phạm vi nghiên cứu, không chỉ trong lĩnh vực ngôn ngữ, mà còn ở cả các lĩnh

vực khác, như văn chương, pháp luật, chính trị, tâm lý, khoa học máy tính, toán

học, triết học, nhân chủng học, khảo cổ học,… Tư duy ẩn dụ xuất hiện từ rất sớm

trong lịch sử nhân loại, vừa có tính phổ quát, vừa có tính đặc thù trong các nền văn hóa Về bản chất, ý niệm của con người phần lớn là có tính ẩn dụ, nên ẩn dụ đã cấu trúc cách suy nghĩ của con người

Trang 33

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm ở trong nước

1.1.2.1 Các công trình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm ở các lĩnh vực ngoài ca dao Nam Bộ

Ngôn ngữ học tri nhận nói chung và ẩn dụ ý niệm nói riêng là một lĩnh vực còn tương đối mới mẻ trong Việt ngữ học Các chuyên luận, chuyên khảo về ngôn ngữ học tri nhận và ẩn dụ ý niệm còn rất ít, nhưng các bài viết, luận văn, luận án về lĩnh vực này có thể nói là tương đối nhiều Trong khuôn khổ giới hạn của luận án, ngoài những công trình, thì bài viết được chúng tôi lựa chọn tổng thuật trong mục này có hai lý do: hoặc là các bài viết tiêu biểu của các nhà Việt ngữ học tiêu biểu,

có tầm ảnh hưởng và được trích dẫn nhiều trong lĩnh vực tri nhận, hoặc là các bài viết liên quan đến định hướng nghiên cứu của luận án

Trước tiên, chúng tôi xin điểm qua lịch sử của hai khái niệm then chốt trong

ngôn ngữ học tri nhận được các nhà nghiên cứu rất quan tâm là tri nhận và ý niệm Năm 1994, trong bài viết Ngôn ngữ và sự tri nhận không gian [98], Lý Toàn Thắng

đã giới thiệu ngôn ngữ học tri nhận vào Việt Nam Tác giả dịch chữ cognition là tri

nhận Sau đó, tác giả tiếp tục cho công bố các bài viết về sự tri nhận không gian và

chuyên luận Ngôn ngữ học tri nhận: Từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt

(2005) [101]

Năm 2007, trong bài viết Nhận thức, tri nhận - hai hay một, Trần Văn Cơ cho rằng cách dịch thuật ngữ tri nhận của Lý Toàn Thắng là hợp lý hơn cả, không

có thuật ngữ nào hợp lý hơn Trần Văn Cơ viết: “Lý Toàn Thắng đã dựa vào từ điển

Anh - Hán để dịch cognition là tri nhận (Lý Toàn Thắng, 2005) Cho đến nay chưa

có thuật ngữ nào hợp lý hơn có thể thay thế thuật ngữ này dù chỉ để làm việc Trong

bất cứ trường hợp nào cũng không thể đồng nhất tri nhận với nhận thức” [13, tr.19]

Thực ra, như chúng tôi đã đề cập, Lý Toàn Thắng dịch thuật ngữ này từ năm 1994

Tác giả Trần Văn Cơ cũng cho rằng concept dịch là ý niệm thì hợp lý hơn khái

niệm, vì ý niệm - đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ học tri nhận - là kết quả của quá

trình tri nhận, chứ không phải là khái niệm

Trang 34

Năm 2008, trong bài viết “Cognition: nhận tri và nhận thức, concept: ý niệm

hay khái niệm?”, trên cơ sở khảo cứu các từ điển tiếng Việt, Hán - Việt, Việt - Anh,

Trung, Trung - Anh, Anh, Pháp, Nga, Diệp Quang Ban đã lựa chọn cách chuyển

dịch cognition sang tiếng Việt là nhận thức (không dùng nhận tri) và concept là

khái niệm (không dùng ý niệm) [5]

Sau bài viết của Diệp Quang Ban, cũng trong năm 2008, Lý Toàn Thắng đã

đưa ra những lý do giải thích cho cách dùng thuật ngữ tri nhận và ý niệm trong các

bài viết, công trình của mình Tác giả cho rằng từ góc nhìn của tâm lý học, cần phải phân biệt rõ quá trình, hoạt động “nhận thức” với quá trình, hoạt động “tri nhận” Vì nhận thức là sự phản ánh “cảm tính” (cảm giác, tri giác) và “lý tính” (biểu tượng, khái niệm); còn tri nhận là sự thu nhận, tàng trữ và xử lý thông tin, chế biến thành các tri thức [102] Tác giả cũng không dùng thuật ngữ đã quen thuộc là “khái niệm”

để dịch chữ “concept”, mà dùng “ý niệm” Tác giả cho rằng nếu khái niệm là đơn vị của tư duy, thì ý niệm là đơn vị của ý thức Chính trong khi nghiên cứu ý thức (bằng ngôn ngữ), người ta phải quan tâm đến các quá trình ý niệm hoá và phạm trù hoá thế giới khách quan Thêm vào đó, theo tác giả, ý niệm cũng bao quát hơn, toàn diện hơn cái “nghĩa biểu niệm” của từ Vấn đề tưởng chừng đã khép lại, nhưng năm

2010, trong bài viết Việt ngữ học tri nhận (Phác thảo một hướng nghiên cứu tiếng

Việt), Trần Văn Cơ tiếp tục khẳng định: “… Ý niệm không phải là khái niệm, bởi vì

khái niệm là kết quả của quá trình nhận thức, nó thuộc bức tranh khoa học về thế giới, còn ý niệm là kết quả của quá trình tri nhận, nó thuộc bức tranh ngôn ngữ về thế giới” [17, tr.42-43]

Có thể nói, những tranh luận, biện giải của các nhà Việt ngữ học về hai khái

niệm then chốt tri nhận và ý niệm càng góp phần làm sáng tỏ thêm nội hàm của

chúng, mà vốn dĩ chúng vừa mới mẻ lại vừa mơ hồ khi được du nhập vào Việt

Nam

Như đã đề cập, tri nhận được Lý Toàn Thắng giới thiệu lần đầu ở Việt Nam

vào năm 1994 Chính vì vậy, qua các bài viết và công trình của Lý Toàn Thắng [97] [98] [99] [100] [101] [102], chúng ta có thể khẳng định rằng Lý Toàn Thắng, một

Trang 35

cách chính danh, đã đưa khuynh hướng Ngôn ngữ học tri nhận vào Việt Nam Trong công trình xuất bản năm 2005, tác giả đã tổng kết và giới thiệu các quan điểm, nguyên lý của ngôn ngữ học tri nhận, như: 1 ngôn ngữ không phải là một khả năng tri nhận tự trị (autonomous); ngữ nghĩa và ngữ pháp là sự ý niệm hóa (conceptualisation); 3 tri thức ngôn ngữ nảy sinh từ sự sử dụng ngôn ngữ [101, tr.13-16] Tác giả cũng tổng kết và giới thiệu ba xu hướng tiếp cận trong nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận: 1 tính kinh nghiệm (experiential), 2 mức độ nổi trội (prominence), 3 mức độ thu hút sự chú ý (attentional) [101, tr.18-20] Trong công trình của mình, Lý Toàn Thắng cũng giới thuyết một số khái niệm quan trọng, như:

sự ý niệm hóa, các quá trình ý niệm, điển dạng, phạm trù tri nhận Theo tác giả, ẩn

dụ là sự ý niệm hóa trong ngôn ngữ, vì ẩn dụ không phải chỉ là một phương thức biểu thị tư tưởng bằng ngôn ngữ mà còn là một phương thức để tư duy về các sự vật Tác giả viết: “ẩn dụ ý niệm là một sự “chuyển di” (transfer) hay một sự “đồ họa” (mapping) cấu trúc và các quan hệ nội tại của một lĩnh vực hay mô hình tri nhận nguồn sang một lĩnh vực hay mô hình tri nhận đích” [101, tr.25] Lý Toàn Thắng đã vận dụng một số quan điểm, nguyên tắc tri nhận để làm sáng tỏ sự định vị định hướng không gian của cộng đồng ngôn ngữ - văn hóa Việt Nam, như: không gian vật lý; không gian văn hóa - xã hội; không gian tâm lý; sự ý niệm hóa ngây thơ (naive); sự ý niệm hóa hình học; ngyên lý dĩ nhân vi trung (anthropocentric); bản đồ tri nhận (cognitive/mental maps)… Có thể nói, Lý Toàn Thắng đã làm nổi bật sự định vị định hướng không gian của cộng đồng ngôn ngữ - văn hóa Việt Nam trên nhiều phương diện, trong đó, hai phương diện có tính chi phối mạnh hơn cả là “tâm

lý dân tộc” (ethnopsychological) và “văn hóa dân tộc” (ethnocultural)

Ngoài công trình và các bài viết của Lý Toàn Thắng, chúng ta còn có thể kể đến các bài viết và hai chuyên khảo của Trần Văn Cơ Năm 2006, trong bài viết

Ngôn ngữ học tri nhận là gì? [12], Trần Văn Cơ đã xác định đối tượng nghiên cứu

và giới thuyết một số thuật ngữ quan trọng của ngôn ngữ học tri nhận Theo tác giả, đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học tri nhận là ngôn ngữ thường nhật của con người ở dạng tự nhiên nhất với những dữ kiện ngôn ngữ có thể quan sát trực tiếp

Trang 36

được và cả những dữ kiện không thể quan sát trực tiếp được, như trí tuệ, tri thức, ý niệm, Tác giả phê phán một số tài liệu ngôn ngữ học tri nhận viết bằng tiếng Việt

là sử dụng thuật ngữ một cách mặc nhiên, không giải thích, chỉ chua thêm từ tương đương trong tiếng nước ngoài, mà theo tác giả, “đó là lối dùng cái không biết để giải thích cái chưa biết” [12, tr.3] Còn về khái niệm ẩn dụ, tác giả viết: “ẩn dụ tri nhận (ẩn dụ ý niệm - cognitive/conceptual metaphor) - đó là một trong những hình thức ý niệm hóa, một quá trình tri nhận biểu hiện và hình thành những khái niệm mới mà không có nó thì không thể nhận được tri thức mới [12, tr.10-11] Khái niệm này được nhiều công trình trích dẫn làm phương tiện nghiên cứu ẩn dụ Cũng trong bài viết này, tác giả tổng kết và giới thiệu hai nguyên lý của ngôn ngữ học tri nhận:

1 ngôn ngữ học tri nhận giương cao ngọn cờ “hướng tới con người” (anthropocentric - “dĩ nhân vi trung”, “lấy con người làm trung tâm”); 2 ngôn ngữ phản ánh mối tương quan giữa những nhân tố tâm lý, giao tiếp, chức năng và văn hóa [12, tr.12-13] Vấn đề quan trọng khác cũng được tác giả giới thuyết trong bài

viết này là ý niệm con người với bộ nhị nguyên xác/hồn

Những vấn đề trong bài viết trên được tác giả Trần Văn Cơ nhắc lại trong các

chuyên khảo sau đó vào năm 2007, 2009 Năm 2007, trong chuyên khảo Ngôn ngữ

học tri nhận (Ghi chép và suy nghĩ) [14], tác giả Trần Văn Cơ đã dành từ trang 292

đến 326 trình bày về ẩn dụ tri nhận Hai năm sau, năm 2009, tác giả Trần Văn Cơ đã

dành hẳn một chuyên khảo trình bày về ẩn dụ tri nhận Cuốn Khảo luận ẩn dụ tri

nhận [16], theo tác giả, là sự tiếp tục của cuốn Ngôn ngữ học tri nhận (Ghi chép và suy nghĩ) Chuyên khảo này là những “thu hoạch” bước đầu của tác giả từ việc

nghiên cứu tác phẩm Metaphors We Live By của G Lakoff, M Johnson (1980) và một phần tác phẩm Women, Fire, and Dangerous Things: What Categories Reveal

about the Mind của G Lakoff (1987) Tuy vậy, theo tác giả, ““KHẢO LUẬN” của

chúng tôi không thể thay cho một bản dịch nguyên văn tác phẩm của Lakoff và Johnson” [16, tr.13]

Năm 2010, trong bài viết Việt ngữ học tri nhận (Phác thảo một hướng

nghiên cứu tiếng Việt), tác giả Trần Văn Cơ lý giải vấn đề người Việt suy nghĩ, hành

Trang 37

động và cảm xúc như thế nào qua lăng kính tiếng Việt, văn hóa Việt và qua kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của người Việt Kết lại, tác giả đề xuất “Việt ngữ học tri

nhận gồm những phân môn như Ý niệm học tri nhận, Ngữ pháp học tri nhận, bao gồm Hình thái học tri nhận và Cú pháp học tri nhận” [17, tr.44] Trong đó, ẩn dụ ý niệm thuộc phạm vi nghiên cứu của hình thái học tri nhận (cognitive morphology) Bởi theo tác giả, hình thái học tri nhận nghiên cứu cấu trúc của ý niệm, những phương thức cấu tạo ý niệm; mà cấu trúc ý niệm liên quan đến các không gian như miền nguồn, miền đích trong ẩn dụ ý niệm, nên thuộc phạm vi nghiên cứu của hình thái học ý niệm

Ngoài chuyên luận, chuyên khảo và các bài viết của Lý Toàn Thắng, Trần Văn Cơ, chúng ta còn có thể kể đến công trình và các bài viết của Nguyễn Đức Tồn

Công trình Tìm hiểu đặc trưng văn hoá - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở

người Việt (trong sự so sánh với các dân tộc khác) của Nguyễn Đức Tồn (2002)

[110] tuy không đề cập đến ngôn ngữ học tri nhận, nhưng tinh thần chung cũng nằm trong đường hướng của ngôn ngữ học tri nhận Trong công trình sau đó được xuất bản năm 2008, tái bản năm 2010, qua việc đối chiếu giữa tiếng Việt với tiếng Nga,

Nguyễn Đức Tồn đã chỉ ra những đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và tư

duy theo tinh thần tri nhận luận, như: đặc trưng văn hóa - dân tộc của “sự phạm trù hóa hiện thực”, “bức tranh ngôn ngữ về thế giới” và đặc trưng văn hóa - dân tộc của tư duy ngôn ngữ Công trình của Nguyễn Đức Tồn (tái bản năm 2010) cập nhật

một số bài viết mà tác giả đã công bố trên Tạp chí Ngôn ngữ, như: Bản chất của ẩn

dụ (2007) [111] [112], Bản chất của hoán dụ trong mối quan hệ với ẩn dụ (2008)

[113], Đặc trưng tư duy của người Việt qua ẩn dụ tri nhận trong thành ngữ (2008,

2009) [114] [115] Tác giả cho rằng: “bản chất của ẩn dụ là kiểu tư duy phạm trù” [116, tr.464] “Ẩn dụ là phép thay thế tên gọi của các sự vật, hiện tượng,… không thuộc cùng một loại dựa trên cơ sở sự liên tưởng đồng nhất hóa chúng theo đặc điểm, thuộc tính nào đó cùng có ở chúng” [116, tr.486] Trên cơ sở tiếp thu quan điểm của các nhà tri nhận luận, tiêu biểu là G Lakoff và M Johnson, tác giả kết luận: “Ẩn dụ là phép thay thế tên gọi hoặc chuyển đặc điểm, thuộc tính của sự vật,

Trang 38

hiện tượng này sang sự vật, hiện tượng thuộc loại khác theo lối loại suy dựa trên cơ

sở sự liên tưởng đồng nhất hóa chúng theo đặc điểm, thuộc tính nào đó cùng có ở chúng” [116, tr.499-500] Trong phép thay thế, tên gọi của sự vật, hiện tượng mang tính cụ thể hơn được dùng để thay cho sự vật, hiện tượng mang tính trừu tượng hơn

Chúng tôi nói thêm về bài viết Đặc trưng tư duy của người Việt qua ẩn dụ tri

nhận trong thành ngữ (2008, 2009) Trong bài viết này, Nguyễn Đức Tồn đã phân

tích “các nguồn và đích quy chiếu của ẩn dụ cấu trúc trong thành ngữ” [115, 18] Miền nguồn gồm: bộ phận cơ thể con người, thế giới tự nhiên (động vật, thực vật, hiện tượng tự nhiên); những sự việc hay hiện tượng xảy ra trong cuộc sống (các hiện tượng thuộc phong tục, hiện tượng thuộc đời sống lao động sản xuất và sinh hoạt hàng ngày) Miền đích gồm: các hoạt động, tình thế trong cuộc sống, tính chất, phẩm chất của con người Qua đó, tác giả rút ra kết luận: “đặc điểm tư duy của người Việt là lấy cái cụ thể để nói về cái trừu tượng, khái quát… Đó cũng chính là biểu hiện của sự nổi trội của kiểu tư duy cảm giác, hành động - trực quan thuộc loại hình tư duy hình tượng ở người Việt” [115, tr.19] Lý giải về điều này, tác giả dẫn lại nhận định của Trần Ngọc Thêm và cho rằng cách nói, lối nghĩ ấy của người Việt bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế, văn hóa Việt Nam - văn hóa nông nghiệp lúa nước với hai đặc trưng bản sắc điển hình là tính chất thực vật và sông nước Tác giả khẳng định: “tư duy ngôn ngữ ở người Việt là mang tính cụ thể, thiên

tr13-về kiểu tư duy cảm giác, hành động - trực quan Đó là loại hình tư duy hình tượng đối lập với loại hình tư duy lôgic hay tư duy phạm trù ở các dân tộc phương Tây…

Do vậy, người Việt thường tri nhận các sự vật từ gần đến xa, từ bộ phận đến chỉnh thể, từ nhỏ đến lớn, từ cụ thể đến trừu tượng” [115, tr.20]

Có thể nói, những chuyên luận, chuyên khảo về Ngôn ngữ học tri nhận nói chung và ẩn dụ ý niệm nói riêng còn rất khiêm tốn, nhưng các bài viết, luận văn, luận án về ngôn ngữ học tri nhận và ẩn dụ ý niệm lại tương đối nhiều Như đã đề cập, trong khuôn khổ có giới hạn của luận án, chúng tôi hoặc chỉ tổng thuật một số công trình, bài viết tiêu biểu, được trích dẫn nhiều, hoặc một số bài viết có liên quan đến định hướng của luận án

Trang 39

Trên tinh thần đó, chúng ta có thể kể đến các bài viết của tác giả Trịnh Sâm [80] [81] [82] [83] [84] [85] [86] [87] [88] [89] [90] Trong nhiều bài viết của mình, tác giả Trịnh Sâm đã dành sự ưu tiên cho “miền ý niệm sông nước” [80] [81] [82] [84] Dựa vào các trải nghiệm tự nhiên, sự tương tác giữa con người với môi trường xung quanh, giữa con người với con người, hay trong chính bản thân con người, tác giả Trịnh Sâm phân tích sự tương tác giữa SÔNG NƯỚC và CON NGƯỜI Những trải nghiệm tương tác, dựa vào vóc dáng, tư thế, vận động của cơ thể trong môi trường sông nước, con người rút ra được các phương thức “đồng xuất hiện trải nghiệm” và “tương đồng trải nghiệm” để tri nhận SÔNG NƯỚC - CUỘC ĐỜI Nói cách khác, CUỘC ĐỜI được tri nhận dựa trên các thuộc tính tương tác, trải nghiệm trong môi trường SÔNG NƯỚC, tạo ra một số ẩn dụ HÀNH TRÌNH ĐỜI NGƯỜI

LÀ HÀNH TRÌNH CỦA DÒNG SÔNG, CUỘC ĐỜI LÀ DÒNG SÔNG (CUỘC ĐỜI LÀ VẬT CHỨA, MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI LÀ VẬT CHỨA) và ỨNG XỬ CỦA CON NGƯỜI LÀ VẬN ĐỘNG CỦA NƯỚC

Cũng dựa trên lý thuyết nghiệm thân (nghiệm thân sinh lý, nghiệm thân tự

nhiên, nghiệm thân văn hóa), trong bài viết Một vài nhận xét về ý niệm tim (2014)

[85], tác giả Trịnh Sâm đưa ra giả thuyết về ba mô hình tri nhận trong một số ngôn ngữ rất đáng chú ý: 1 nhị nguyên - nhị vị (tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức…); 2 nhất nguyên - nhất vị (tiếng Thái, tiếng Trung, tiếng Mông…); 3 nhất nguyên - đa

vị (tiếng Việt, tiếng Nhật…)

Trong một bài viết khác, Phổ quát và đặc thù thông qua một số miền ý niệm

nguồn tiếng Việt (2016) [87], trên cứ liệu một số ngôn ngữ, chủ yếu là tiếng Việt và

tiếng Anh, tác giả Trịnh Sâm phân tích tính phổ quát của một số miền nguồn như CÂY CỐI, THỰC PHẨM, SÔNG NƯỚC Theo tác giả, chúng xuất hiện trong các ngôn ngữ khác nhau, nhưng ở một mức độ nào đó, chúng cũng có cách thể hiện khác nhau trong các ngôn ngữ Điều này do sự lựa chọn thang độ ưu tiên (priority scale), độ nổi trội (prominence) và sự kích hoạt các vùng không gian tinh thần khác nhau để biểu đạt

Trang 40

Bên cạnh những công trình, bài viết ở trên, chúng ta còn có thể kể đến các nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm không gian, thời gian của Nguyễn Đức Dân [19] [20], Nguyễn Hòa [38],… Nguyễn Đức Dân [19] đã nghiên cứu những giới từ không gian qua sự chuyển nghĩa và ẩn dụ Xuất phát từ phương thức con người lấy mình làm trung tâm để nhận thức vũ trụ và nhận thức không gian xung quanh, Nguyễn Đức Dân đã phân tích những cặp khái niệm nguyên thủy trong nhận thức không gian liên

hệ tới sự tồn tại và vận động của con người Đó là trên - dưới (theo phương thẳng đứng), trước - sau (theo phương nhìn ngang của con người), gần - xa (theo tầm nhìn

và đường đi), trong - ngoài (theo định vị ranh giới) và vận động thường có hướng như ra, vào, lên, xuống… Tác giả Nguyễn Đức Dân đã giải thích những hiện tượng ngôn ngữ này trên cơ sở nhận thức dĩ nhân vi trung và xuất phát từ sự nhận thức

không gian xung quanh để khám phá “dấu vết những nhận thức thế giới của con người đọng lại trong ngôn ngữ” [19, tr.42] Cũng xuất phát từ các ẩn dụ không gian, Nguyễn Hòa [38] đã nghiên cứu về sự tri nhận và biểu đạt thời gian trong tiếng Việt Tác giả cho rằng: “Quá trình ý niệm hóa thời gian như là không gian xảy ra trên cơ sở sử dụng các ý niệm không gian sẵn có Tuy nhiên, cũng nên lưu ý rằng quá trình từ vựng hóa các khái niệm của thời gian không hoàn toàn đồng nhất trong các nền văn hóa khác nhau” [38, tr.2] Theo tác giả, mặc dù các phương thức biểu hiện thời gian có khác nhau giữa các ngôn ngữ, song việc chuyển di các ý niệm không gian sang thời gian là một hiện tượng ngôn ngữ phổ quát xảy ra trong nhiều ngôn ngữ

Ngoài những công trình, bài viết đã được tổng thuật ở trên, trong suốt những năm qua, các bài viết, luận văn, luận án nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận nói chung và ẩn dụ ý niệm nói riêng xuất hiện ngày càng nhiều Các công trình tập trung bàn luận về ẩn dụ ý niệm không gian, thời gian; ẩn dụ ý niệm về tình cảm, cảm xúc; ẩn dụ ý niệm hành chức qua các tác phẩm thơ, văn, âm nhạc và ẩn dụ ý niệm liên quan đến một số phạm trù khác trong tiếng Việt

Có thể nói, ẩn dụ ý niệm đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trên thế giới gần 40 năm qua, nhưng thực sự nở rộ ở Việt Nam khoảng hai mươi năm trở

Ngày đăng: 22/12/2020, 15:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w