Cũng có thể kể đến Nguyễn Văn Hán [68] nghiên cứu về định vị thời gian dưới góc nhìn tri nhận, Ly Lan [72] khảo sát ẩn dụ ý niệm chỉ tình cảm, Nghiêm Hồng Vân [80] nghiên cứu đối chiếu ẩ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hồng Cổn
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nội dung luận án có tham khảo và sử dụng ngữ liệu được trích dẫn từ các diễn ngôn chính trị tiếng Anh và tiếng Việt được liệt kê trong Phụ lục của luận án
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Tiến Dũng
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 9
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ẩn dụ trong ngôn ngữ học 9
1.1.2 Ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị 15
1.2 Cơ sở lý thuyết 21
1.2.1 Khái quát về khoa học tri nhận và ngôn ngữ học tri nhận 21
1.2.2 Ý niệm và ý niệm hóa 23
1.2.3 Ẩn dụ ý niệm 26
1.2.4 Diễn ngôn và diễn ngôn chính trị 344
1.3 Tiểu kết 38
Chương 2: KHẢO SÁT ẨN DỤ CẤU TRÚC TRONG CÁC DIỄN NGÔN CHÍNH TRỊ TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 38
2.0 Dẫn nhập 399
2.1 Ẩn dụ cấu trúc trong các diễn ngôn chính trị tiếng Anh 411
2.1.1 Ẩn dụ cấu trúc có miền nguồn HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI 422
2.1.2 Ẩn dụ cấu trúc có miền nguồn MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN 60
2.2 Ẩn dụ cấu trúc trong các diễn ngôn chính trị tiếng Việt 67
2.2.1 Ẩn dụ cấu trúc có miền nguồn HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI 68
2.2.2 Ẩn dụ cấu trúc có miền nguồn MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN 77
2.3 Một số nhận xét chung về ẩn dụ cấu trúc trong các diễn ngôn chính trị tiếng Anh và tiếng Việt 83
2.4 Tiểu kết 85
Chương 3: KHẢO SÁT ẨN DỤ BẢN THỂ TRONG CÁC DIỄN NGÔN CHÍNH TRỊ TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 88
Trang 53.1 Ẩn dụ bản thể trong các diễn ngôn chính trị tiếng Anh 88
3.1.1 Ẩn dụ bản thể có miền nguồn HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI 88
3.1.2 Ẩn dụ bản thể có miền nguồn MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN 100
3.1.3 Ẩn dụ bản thể có miền nguồn CƠ THỂ SỐNG 104
3.2 Ẩn dụ bản thể trong các diễn ngôn chính trị tiếng Việt 107
3.2.1 Ẩn dụ bản thể có miền nguồn là HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI 107
3.2.2 Ẩn dụ bản thể có miền nguồn là MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN 117
3.2.3 Ẩn dụ bản thể có miền nguồn là CƠ THỂ SỐNG 124
3.3 Một số nhận xét chung về ẩn dụ bản thể trong các diễn ngôn chính trị tiếng Anh và tiếng Việt 1277
3.4 Tiểu kết 12929
PHẦN KẾT LUẬN 1311
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1354
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1365
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê lượt xuất hiện của miền nguồn CHÍNH TRỊ LÀ
MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH 44 Bảng 2.2: Thống kê lượt xuất hiện của miền nguồn CHÍNH TRỊ LÀ
XÂY DỰNG 50 Bảng 2.3: Thống kê lượt xuất hiện của ẩn dụ ý niệm CHÍNH TRỊ LÀ
CHIẾN TRANH 56 Bảng 2.4: Thống kê lượt xuất hiện của ẩn dụ ý niệm CHÍNH TRỊ LÀ
HIỆN TƯỢNG THỜI TIẾT 61 Bảng 2.5: Thống kê lượt xuất hiện của ẩn dụ ý niệm CHÍNH TRỊ LÀ
ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI 65 Bảng 2.6: Thống kê lượt xuất hiện của ẩm dụ ý niệm CHÍNH TRỊ LÀ
HÀNH TRÌNH 68 Bảng 2.7: Thống kê lượt xuất hiện của ẩm dụ ý niệm CHÍNH TRỊ LÀ
XÂY DỰNG 71 Bảng 2.8: Thống kê lượt xuất hiện của ẩn dụ ý niệm CHIẾN TRANH
LÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 75 Bảng 3.1: Thống kê lượt xuất hiện của ẩn dụ ý niệm THẾ GIỚI LÀ
MỘT CỘNG ĐỒNG 93 Bảng 3.2: Thống kê lượt xuất hiện ẩn dụ ý niệm QUỐC GIA LÀ MỘT
GIA ĐÌNH 97 Bảng 3.3: Thống kê lượt xuất hiện của ẩn dụ ý niệm CHÍNH QUYỀN
LÀ CỖ MÁY 101 Bảng 3.4: Thống kê lượt xuất hiện của ẩn dụ ý niệm CHÍNH TRỊ LÀ
ĐỘNG THỰC VẬT 103 Bảng 3.5 Thống kê lượt xuất hiện của ẩn dụ ý niệm THẾ GIỚI LÀ MỘT
CỘNG ĐỒNG 111
Trang 7Bảng 3.6: Thống kê lượt xuất hiện của ẩn dụ ý niệm QUỐC GIA LÀ
MỘT GIA ĐÌNH 113 Bảng 3.7: Thống kê lượt xuất hiện của ẩn dụ ý niệm CHÍNH QUYỀN
LÀ CỖ MÁY 118 Bảng 3.8: Thống kê lượt xuất hiện của ẩn dụ ý niệm CHÍNH TRỊ LÀ
ĐỘNG THỰC VẬT 120 Bảng 3.9: Thống kê lượt xuất hiện của ẩn dụ ý niệm QUỐC GIA LÀ CƠ
THỂ SỐNG và CÁI XẤU LÀ VẾT THƯƠNG / BỆNH TẬT 124
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận, ngôn ngữ là công cụ tri nhận của con người, trong đó ẩn dụ là một công cụ tri nhận tiêu biểu và hiệu quả Hầu hết quá trình tri nhận của con người về thế giới xung quanh là dựa trên các ý niệm mang tính ẩn dụ và những ý niệm này có nhiệm vụ cấu trúc hóa và có ảnh hưởng đến ngôn ngữ con người sử dụng Lakoff [121: 229] đã nhận định rằng: “Nếu không có hệ thống ẩn dụ thì chúng ta không thể có triết
lý hóa, lý thuyết hóa mà chỉ có đôi chút hiểu biết chung chung về đời sống cá nhân và xã hội thường ngày mà thôi” Ngôn ngữ học tri nhận đã nghiên cứu ẩn
dụ trong mối tương quan giữa ngôn ngữ và tâm lý, và hiện ẩn dụ đã trở thành đối tượng nghiên cứu của khoa học liên ngành, phát huy vai trò quan trọng trong các lĩnh vực từ thi ca, kinh tế, ngoại giao đến khoa học, chính trị …
Không chỉ có tầm quan trọng, ẩn dụ còn hiện diện vô cùng phổ biến trong mọi mặt của đời sống con người Theo Lakoff và Johnson [124: 3], “ẩn
dụ hiện diện ở khắp mọi nơi trong đời sống chúng ta, không chỉ trong ngôn ngữ mà còn trong tư duy và hành động” Ẩn dụ được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày và cả trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, khoa học Những ý niệm cơ bản và mang tính phổ quát nhất về thế giới được chúng ta tri nhận thông qua các phép đồ họa ẩn dụ vốn xuất phát từ những kinh nghiệm thực tế và cụ thể mà chúng ta trải nghiệm hoặc tích lũy từ cuộc sống hàng ngày Sự phổ biến của ẩn dụ được phản ánh qua quan sát của Geary [101: 5-7], theo đó, cứ 10 đến 20 từ chúng ta nói ra có thể xuất hiện một ẩn dụ và chúng ta sử dụng khoảng sáu ẩn dụ trong vòng một phút
Trên thế giới, có nhiều tác giả đã nghiên cứu về ẩn dụ trong các lĩnh vực văn học, thi ca, khoa học, pháp luật, báo chí và đã có nhiều công trình nghiên cứu về ẩn dụ trong diễn ngôn chính trị (DNCT) Tuy nhiên, ở Việt
Trang 9dùng trong thi ca (Hữu Đạt [19]; Nguyễn Lai [36]; Ngũ Thiện Hùng và Trần Thị Thanh Thảo [31]; Phan Văn Hòa và Nguyễn Thị Tú Trinh [29]; Nguyễn Thị Bích Hạnh [26]; Phạm Thị Hương Quỳnh [77], Trần Thế Phi [75]) hoặc trong thành ngữ tiếng Việt (Trần Bá Tiến [78], Vi Trường Phúc [76]) hoặc trong diễn ngôn báo chí kinh tế (Hà Thanh Hải, [67]) Cũng có thể kể đến Nguyễn Văn Hán [68] nghiên cứu về định vị thời gian dưới góc nhìn tri nhận,
Ly Lan [72] khảo sát ẩn dụ ý niệm chỉ tình cảm, Nghiêm Hồng Vân [80] nghiên cứu đối chiếu ẩn dụ ý niệm chỉ trạng thái tình cảm vui mừng và tức giận trong tiếng Nhật và tiếng Việt, Lê Thị Kiều Vân [79] nghiên cứu đặc trưng văn hóa và tri nhận của người Việt qua một số từ khóa, Trần Thị Phương Lý [73] tìm hiểu về ẩn dụ ý niệm phạm trù thực vật, Nguyễn Thị Bích Hợp [70] nghiên cứu ẩn dụ ý niệm phạm trù đồ ăn và Nguyễn Thị Như Ngọc [74] chọn chủ đề nghiên cứu là ẩn dụ và dịch ẩn dụ trong văn bản diễn thuyết chính trị Mỹ Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Lý Toàn Thắng [56], các công trình nghiên cứu ẩn dụ theo quan điểm ý niệm ở Việt Nam còn chưa nhiều và chưa đa dạng Đặc biệt trong lĩnh vực DNCT, số lượng các công trình nghiên cứu ẩn dụ ý niệm ở Việt Nam lại càng hạn chế mặc dù ẩn dụ ý niệm trong các DNCT là một vấn đề phức tạp nhưng vô cùng hấp dẫn bởi ẩn chứa bên trong mỗi DNCT là chiến thuật, là sách lược, là tác động của cả một chế độ chính trị, của một nền văn hóa được biểu đạt một cách sinh động và thuyết phục qua hành vi sử dụng ẩn dụ ý niệm của các diễn giả chính trị
Tiếp nối các nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong DNCT ở ngoài nước và với mong muốn bổ sung thêm minh chứng về lĩnh vực nghiên cứu này ở Việt
Nam, chúng tôi quyết định chọn “Ẩn dụ ý niệm trong các diễn ngôn chính trị (trên tư liệu tiếng Anh và tiếng Việt)” làm đề tài luận án tiến sỹ Luận án sẽ
tìm hiểu về việc sử dụng ẩn dụ ý niệm trong DNCT tiếng Anh và tiếng Việt, xác định những loại ẩn dụ ý niệm phổ biến trong hai ngôn ngữ; từ đó giúp làm sáng tỏ thêm về phương thức tri nhận thế giới của người bản ngữ nói tiếng
Trang 10Anh và tiếng Việt, ngõ hầu giúp ích cho việc dạy-học và nghiên cứu tiếng Anh ở Việt Nam Có thể nói đây là một đề tài có tính cấp thiết cả về lý luận
và dị biệt của các ẩn dụ ý niệm trong DNCT của hai ngôn ngữ Từ đó, luận án đưa ra những kiến giải đối với các điểm tương đồng và dị biệt (nếu có) dựa trên mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy Với mục đích nghiên cứu
đó, luận án đặt ra các câu hỏi nghiên cứu cụ thể như sau:
i Những loại ẩn dụ ý niệm nào được sử dụng trong các DNCT tiếng Anh và tiếng Việt? Các ẩn dụ ý niệm này có tần suất sử dụng như thế nào?
ii Vai trò của các ẩn dụ ý niệm là gì khi được sử dụng trong các DNCT tiếng Anh và tiếng Việt?
iii Các ẩn dụ ý niệm xuất hiện trong các DNCT tiếng Anh và tiếng Việt có những điểm tương đồng và dị biệt gì?
iv Những điểm tương đồng và dị biệt (nếu có) sẽ được giải thích như thế nào thông qua mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy?
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nêu trên, luận án phải giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết về ẩn dụ ý niệm trong DNCT tiếng Anh và tiếng Việt
- Thu thập, miêu tả ngữ liệu ẩn dụ ý niệm trong các DNCT tiếng Anh và tiếng Việt nhằm làm sáng tỏ tình hình sử dụng, phương thức ý niệm hóa và
Trang 11- Đối chiếu nhằm chỉ ra những tương đồng và khác biệt, đồng thời phân tích sự tác động của các yếu tố ngôn ngữ, văn hóa và tư duy để giải thích các đặc trưng trên của ẩn dụ ý niệm trong các DNCT tiếng Anh và tiếng Việt
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các ẩn dụ ý niệm được sử dụng trong một số DNCT của các nguyên thủ các nước nói tiếng Anh như Hoa Kỳ, Anh Quốc và Australia, và các nhà lãnh đạo chính trị của Việt Nam
Kỳ khác nhau thực hiện tại thời điểm có những sự kiện lịch sử quan trọng như
sự kiện 11/9 năm 2011, sự kiện bức tường Berlin sụp đổ và một số bài diễn văn tranh cử tổng thống và tuyên bố thắng cử và một số bài diễn văn của một
số Thủ tướng Anh Quốc như Margaret Thatcher, Tony Blair, Gordon Brown, David Cameron và một số Thủ tướng Australia như Paul Keating, Bob Hawke, John Howard, Julia Gillard, Malcolm Turnbull, Scott Morrison Các diễn ngôn được lựa chọn có nội dung phản ánh các sự kiện, quan điểm, lập trường
Trang 12chính trị để đảm bảo đối tượng nghiên cứu là các DNCT tiếng Anh Tổng độ dài của 58 bài diễn văn là 128.485 từ
Ngữ liệu tiếng Việt gồm 56 bài diễn văn tiếng Việt của các nhà lãnh đạo chính trị Việt Nam trong giai đoạn từ 1945 đến nay mà tiêu biểu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Lê Duẩn, Tổng Bí thư Trường Chinh, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Tổng
Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch nước Trần Đại Quang Các diễn ngôn tiếng Việt được lựa chọn cũng có nội dung phản ánh các sự kiện, quan điểm, lập trường chính trị phù hợp với đặc diểm của DNCT nói chung Các DNCT tiếng Việt có tổng độ dài là 126.180 từ (Cụ thể, xem danh mục các DNCT tiếng Anh và tiếng Việt được dùng làm tư liệu nghiên cứu ở Phụ lục 1)
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện việc khảo sát và nghiên cứu đề tài, chúng tôi sẽ áp dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp miêu tả ngôn ngữ, cụ thể là phương pháp phân tích ngữ nghĩa theo các khung lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận được sử dụng để miêu tả và phân tích quá trình ý niệm hóa, đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của các ẩn dụ ý niệm thuộc hai loại: ẩn dụ cấu trúc và ẩn dụ bản thể được sử dụng trong các DNCT tiếng Anh và tiếng Việt mà luận án khảo sát Các ẩn dụ ý niệm sau khi được nhận diện sẽ được liệt kê và phân loại theo loại ẩn dụ cấu trúc hoặc ẩn dụ bản thể và sau đó là theo miền nguồn và tiếp đến là theo tầng bậc là ẩn dụ thượng danh hay ẩn dụ hạ danh Luận án cũng sẽ phân tích tần suất sử dụng của các ẩn dụ ý niệm và các biểu thức ngôn ngữ chứa đựng các thuộc tính miền nguồn ý niệm trong nguồn ngữ liệu là các DNCT Luận án sẽ
cố gắng phác họa các mô hình tri nhận của người bản ngữ nói tiếng Anh và
Trang 13người Việt khi lựa chọn sử dụng ẩn dụ ý niệm trong các DNCT trong hai chương chính của luận án
- Phương pháp phân tích diễn ngôn được sử dụng để phân tích vai trò của
ẩn dụ ý niệm trong việc tạo lập diễn ngôn và thể hiện tư tưởng, quyền lực, tạo
ra hiệu lực xã hội, hiệu lực chỉ đạo và điều hành trong các DNCT tiếng Anh
Ngoài các phương pháp trên, chúng tôi còn sử dụng các thủ pháp thống kê, phân loại Cụ thể:
- Thủ pháp thống kê được dùng để khảo sát, thống kê ngữ liệu, cung cấp các thông tin định lượng cần thiết cho việc miêu tả, nhận xét, đánh giá về đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa, xu hướng sử dụng ẩn dụ ý niệm trong các DNCT tiếng Anh và tiếng Việt
- Thủ pháp phân loại được dùng để phân loại và hệ thống hóa các miền nguồn và các loại ẩn dụ ý niệm trong các DNCT tiếng Anh và tiếng Việt theo các nhóm để phục vụ mục tiêu nghiên cứu
5 Những đóng góp mới của luận án
Mặc dù ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận với việc ứng dụng các thành tựu của các khung lý thuyết ngôn
Trang 14ngữ học tri nhận trong nhiều lĩnh vực nhưng luận án là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong DNCT của các nước nói tiếng Anh
và tiếng Việt, một lĩnh vực lâu nay chưa nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ ở Việt Nam Các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần củng cố lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận, hệ thống hóa các vấn đề cơ bản của ẩn dụ ý niệm trên cơ sở phân tích nguồn ngữ liệu DNCT tiếng Anh và tiếng Việt Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có giá trị ứng dụng trong công tác giảng dạy, nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm cũng như công tác nghiên cứu, phân tích văn bản học, cụ thể là thể loại DNCT
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa khoa học
Các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm khái niệm, biểu thức, ngữ nghĩa, ngữ dụng và cơ chế ánh xạ của các ẩn dụ ý niệm trong DNCT tiếng Anh và tiếng Việt, một lĩnh vực chưa được nghiên cứu nhiều tại Việt Nam Nghiên cứu cũng khẳng định ưu thế của ngôn ngữ học tri nhận và lý thuyết ẩn dụ ý niệm trong việc nghiên cứu và phân tích DNCT tiếng Anh và tiếng Việt
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu này cũng sẽ giúp cho những người làm công tác nghiên cứu ngôn ngữ hiểu sâu hơn về vấn đề ẩn dụ ý niệm theo góc độ ngôn ngữ học tri nhận trong văn cảnh là các DNCT tiếng Anh và tiếng Việt Đồng thời, nghiên cứu cũng sẽ giúp cho những người làm công tác biên - phiên dịch tiếng Anh chuyên ngành chính trị, giảng viên và sinh viên tiếng Anh hiểu sâu hơn về vấn đề ẩn dụ tri nhận trong các DNCT tiếng Anh và tiếng Việt
Các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ giúp ích cho công tác biên-phiên dịch tài liệu chính trị, biên soạn và thiết kế tài liệu giảng dạy tiếng Anh, đặc biệt là việc giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành chính trị, góp phần nâng cao
Trang 15hiệu quả, chất lượng sử dụng tài liệu giảng dạy, công tác dạy và học môn tiếng Anh tại các trường đại học
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án được tổ chức thành 3 chương chính sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương này trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và các vấn đề lý thuyết làm cơ sở cho việc phân tích ẩn dụ ý niệm trong DNCT ở các chương sau
Chương 2: Khảo sát ẩn dụ cấu trúc trong các diễn ngôn chính trị tiếng Anh và tiếng Việt
Chương 2 của luận án phân tích các ẩn dụ ý niệm cấu trúc và các biểu thức ẩn dụ cấu trúcphổ biến trong DNCT tiếng Anh và tiếng Việt
Chương 3: Khảo sát ẩn dụ bản thể trong các diễn ngôn chính trị tiếng Anh và tiếng Việt
Chương 3 của luận án phân tích các ẩn dụ ý niệm bản thể và các biểu
thức ẩn dụ bản thể phổ biến trong DNCT tiếng Anh và tiếng Việt
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ẩn dụ trong ngôn ngữ học
1.1.1.1 Nghiên cứu ẩn dụ theo hướng truyền thống
Ẩn dụ, theo nhận định của Al-Zoubi, Al-Ali và Al-Hasnawi [83], là một phương tiện ngôn ngữ độc đáo xuất hiện trong đại đa số ngôn ngữ trên thế giới Ẩn dụ hiện diện trong mọi cấp độ hoạt động xã hội và phong cách ngôn ngữ, không chỉ trong ngôn ngữ văn chương mà còn trong ngôn ngữ báo chí, luật học, triết học, và đặc biệt trong ngôn ngữ chính trị nhờ vào khả năng biểu cảm, có khả năng cụ thể hóa những ý niệm trừu tượng với tính liên hội cao, và, theo Charteris-Black [89], nhờ vào việc ẩn dụ có sức nặng thuyết phục đối với
lý trí cũng như tình cảm của người nghe
Các ẩn dụ của một ngôn ngữ là sự chắt lọc các giá trị nền văn hóa dân tộc của ngôn ngữ đó Ẩn dụ là công cụ nhận thức và hành động của các thành viên cùng sống trong một cộng đồng văn hóa, phản ánh quan điểm, thái độ của họ đối với thế giới khách quan nói chung và đời sống xã hội của cộng đồng văn hóa đó nói riêng Vì thế, có thể nhận định rằng, ẩn dụ là một sản phẩm của văn hóa
Ẩn dụ được các nhà nghiên cứu dành nhiều sự quan tâm từ thời Cổ đại và được coi như là một phương thức chuyển nghĩa dựa trên sự so sánh ngầm giữa hai sự vật có điểm tương đồng Aristotle đã định nghĩa ngắn gọn về ẩn dụ: “Ẩn
dụ là phương thức chuyển đổi tên gọi” [dẫn theo Trần Văn Cơ, 12: 58]
Theo Lakoff [120], lý thuyết ngôn ngữ học cổ điển coi ẩn dụ là một vấn đề thuộc địa hạt ngôn ngữ, không phải là vấn đề của tư duy hay hành động; và lối nói ẩn dụ được cho là không hiện diện trong ngôn ngữ hàng ngày mà chỉ
Trang 17xuất hiện trong các địa hạt bên ngoài ngôn ngữ đời thường, như trong thi ca
và hoa mĩ tu từ - một loại ngôn ngữ đặc biệt
Trần Văn Cơ [11] đã mô tả hai quan điểm hoàn toàn trái ngược nhau về ẩn dụ: các nhà triết học duy lý chủ nghĩa người Anh quan niệm lời nói là nhằm biểu đạt tư tưởng và truyền đạt kiến thức, do vậy chỉ cần sử dụng những từ được dùng với nghĩa đen và vì thế vai trò của ẩn dụ bị xem nhẹ Chẳng hạn, nhà triết học người Anh T Hobbes gọi ẩn dụ là “đám ma trơi” và xem việc sử dụng ẩn dụ như “đi loạng quạng giữa vô số những điều xằng bậy”; còn triết gia người Anh J Locke thì cho rằng việc sử dụng ẩn dụ có thể tạo ra những tư tưởng ngụy tạo và làm sai lệch suy nghĩ Ngược lại, các nhà triết học và học giả theo trường phái lãng mạn lại cho rằng ẩn dụ là phương thức duy nhất để biểu hiện tư tưởng và biểu đạt tư duy Ví dụ, một trong những người sáng lập
Triết học cuộc sống, F Nietzsche cho rằng mối quan hệ giữa chủ thể và khách
thể là quan hệ mỹ học được biểu hiện bằng ẩn dụ, sự nhận thức về nguyên tắc mang tính ẩn dụ và nếu không có ẩn dụ thì con người sẽ mất đi khả năng tranh luận về chân lý
Theo nhận xét của Kovecses [114: ix – x], tu từ học truyền thống chỉ xem
ẩn dụ như một đặc điểm của từ ngữ, được sử dụng với mục đích nghệ thuật và không thường xuyên xuất hiện trong giao tiếp hàng ngày Nói cách khác, ẩn
dụ là cách nói bóng bẩy, bắt nguồn từ nhu cầu biểu đạt các khái niệm mà ngôn từ biểu đạt không tồn tại và ẩn dụ trở nên phổ biến chính nhờ sức mạnh thẩm mỹ này Ẩn dụ dựa trên khái niệm tương đồng hoặc so sánh giữa nghĩa đen và nghĩa hình ảnh của một biểu thức và chính sự tương đồng giữa các biểu vật cho phép giải thích việc sử dụng một đơn vị từ theo lối ẩn dụ Tuy nhiên, theo hướng nghiên cứu này, việc sử dụng ẩn dụ chỉ là phản xạ vô thức Ngôn ngữ học truyền thống không xem ẩn dụ là hành động diễn ngôn mang tính chất thuyết phục và không thể giúp người nói hình thành các quan điểm
Trang 18của mình Nói cách khác, ẩn dụ chưa được nhìn nhận một cách đúng đắn như một phương thức tư duy
Ở Việt Nam, nhiều nhà ngôn ngữ học có quan điểm coi ẩn dụ là dựa trên
sự tương đồng Đỗ Hữu Châu [4: 54] nhận định: “Ẩn dụ là cách gọi tên một
sự vật này bằng tên một sự vật khác, giữa chúng có mối quan hệ tương đồng” Nguyễn Thiện Giáp [22: 162] cũng có quan điểm tương tự: “Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng
được so sánh với nhau.”
1.1.1.2 Nghiên cứu ẩn dụ theo hướng ngôn ngữ học tri nhận
i) Các nghiên cứu ở ngoài nước
Từ khi ngôn ngữ học tri nhận ra đời, quan điểm về ẩn dụ bắt đầu có sự thay đổi Các nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận khởi nguồn từ những năm
1980 với những tên tuổi như G Lakoff, M Johnson, G Fauconnier, Ch Fillmore, R Jackendoff, R Langacker, L Talmy, M Turner, A Wierzbicka
Năm 1980 với tác phẩm “Metaphors we live by” viết chung với nhà triết học
M Johnson, Lakoff bắt đầu phát triển lý thuyết về ẩn dụ tri nhận (ẩn dụ ý niệm) Lý thuyết này làm cho danh tiếng Lakoff vượt ra ngoài phạm vi thuần túy ngôn ngữ học, báo hiệu một sự thay đổi lớn trong lĩnh vực nghiên cứu về ngôn ngữ trong mối liên hệ với các ngành khoa học khác
Các nhà ngôn ngữ học tri nhận cho rằng ẩn dụ chủ yếu liên quan đến tư duy hơn là liên quan đến ngôn ngữ Ngôn ngữ học tri nhận coi ẩn dụ là công cụ quan trọng để ý niệm hóa các khái niệm trừu tượng và tư duy về sự vật Theo Lakoff và Johnson [113: 14], “hệ thống ý niệm thông thường của chúng ta, dựa vào đó chúng ta vừa suy nghĩ vừa hành động, về cơ bản mang bản chất ẩn dụ”
Trong những năm qua, lý thuyết ẩn dụ ý niệm đã phát triển mạnh mẽ và sâu rộng Xu hướng nghiên cứu ban đầu cho rằng phép ẩn dụ ý niệm chủ yếu căn cứ vào nghiệm thể Tuy nhiên, Lakoff [116] đã cho rằng những ẩn dụ
Trang 19học của con người Grady [105] có một tiến bộ quan trọng trong lý thuyết ẩn
dụ khi chỉ ra rằng kinh nghiệm hàng ngày, kinh nghiệm cảm giác của con người là cơ sở đưa ra các đánh giá chủ quan của nhận thức ngôn ngữ Cùng với một số nhà nghiên cứu khác, Lakoff đã phát triển tư tưởng về vai trò của
ẩn dụ trong quá trình tạo lập hệ thống ý niệm của con người và cấu trúc của ngôn ngữ tự nhiên thành học thuyết “trí tuệ ngiệm thân” (embodied mind), nghiên cứu sự phụ thuộc của năng lực tư duy và những quan niệm về thế giới vào đặc điểm cấu tạo của cơ thể và bộ não con người
Kể từ khi phát hiện ra ẩn dụ ý niệm, các nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau đã ứng dụng lý thuyết ẩn dụ để nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong các linh vực pháp luật, thi ca, chính trị, tâm lý học, vật lý, khoa học máy tính, toán học và triết học Các kết quả nghiên cứu về cấu trúc ẩn dụ đã góp phần làm sáng tỏ cách thức con người tư duy trong một số lĩnh vực trí tuệ
Trong lĩnh vực văn học, Lakoff và Turner [126] đã chứng minh rằng phép
ẩn dụ chủ yếu tồn tại trong thơ ca và chỉ khi đã trở nên ổn định, ẩn dụ ý niệm mới được sử dụng trong tư tưởng và ngôn ngữ hàng ngày Các sáng tạo ẩn dụ của nhà thơ chủ yếu nằm trong cơ chế ánh xạ ẩn dụ Các cơ sở ẩn dụ về yếu tố đạo đức trong văn học được làm rõ nhờ các cuộc thảo luận về ẩn dụ và đạo đức của Lakoff trong lĩnh vực chính trị và đạo đức [122], và Lakoff và Johnson trong triết học [125]
Trong các lĩnh vực pháp luật, chính trị và các vấn đề xã hội, Lakoff và Johnson [124: 159] đã đưa ra nhiều bằng chứng cho thấy rằng “ẩn dụ đóng vai trò then chốt trong việc kiến tạo thực trạng xã hội và chính trị Lakoff [122]
đã phân tích chính trị thế giới quan của những người có quan điểm bảo thủ và cấp tiến ở Mỹ, xem xét các quan điểm về kiểm soát súng, án tử hình, thuế, các chương trình xã hội, môi trường và nghệ thuật trong một khung tri nhận nhất định Trong lĩnh vực tâm lý học, ẩn dụ cũng thể hiện vai trò quan trọng trong lĩnh vực nhận thức và tâm lý học; và nghiên cứu của Gibbs [103] và Lakoff
Trang 20[116] đã chứng minh điều này.Có thể nói rằng lý thuyết ẩn dụ ý niệm ngày càng được hoàn thiện và phát huy vai trò quan trọng không chỉ trong lĩnh vực ngôn ngữ học mà còn trong các lĩnh vực nghiên cứu đa ngành khác
Ngôn ngữ học tri nhận coi ẩn dụ ý niệm là công cụ quan trọng để ý niệm hóa Theo Lakoff [120], ẩn dụ ý niệm là các ánh xạ có tính hệ thống giữa hai miền ý niệm: miền nguồn là một phạm trù trải nghiệm được ánh xạ hay phóng
chiếu vào miền đích là một miền trải nghiệm khác Ví dụ, câu “Argument is war” (Tranh luận là cuộc chiến tranh) có miền nguồn chiến tranh được ánh xạ vào miền đích tranh luận và được biểu hiện qua những biểu thức ngôn ngữ như tấn công, chống đỡ, bảo vệ… theo đó miền đích tranh luận có những đặc điểm của miền nguồn chiến tranh Trọng tâm của ẩn dụ ý niệm không phải là
ngôn ngữ mà là phương thức chúng ta ý niệm hóa một miền tâm trí qua một miền tâm trí khác
Các ẩn dụ hoạt động như các “công cụ tri nhận”, nghĩa là các ẩn dụ không chỉ là cách thức biểu hiện tư tưởng bằng phương tiện ngôn ngữ mà còn là cách thức tư duy về sự vật Lakoff và Johnson [124]chứng minh rằng chúng ta không
chỉ phát hiện ra ẩn dụ ý niệm “thời gian là tiền bạc” về mặt ngôn ngữ học mà thực ra chúng ta đã suy nghĩ hoặc ý niệm hóa phạm trù đích thời gian qua phạm trù nguồn tiền bạc, khi chúng ta sử dụng các diễn ngôn sau đây:
a) You’re wasting my time (Anh đang làm lãng phí thời gian của tôi) b) How do you spend your time? (Anh tiêu dùng thời gian ra sao?) c) Is that worth your time? (Việc đó có đáng bỏ thời gian của anh không?)
ii) Các nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, Nguyễn Lai được xem là nhà ngôn ngữ học đầu tiên nghiên
cứu khuynh hướng tri nhận trong Giáo trình chuyên luận “Từ chỉ hướng vận động tiếng Việt” [35] Tuy không sử dụng thuật ngữ “tri nhận” nhưng Nguyễn
Lai đã nghiên cứu về quá trình phát triển ngữ nghĩa của các từ chỉ hướng vận
Trang 21đường hướng của ngôn ngữ học tri nhận với giả thuyết nghiệm thân với mốc xác định là cơ thể con người
Người chính thức đặt nền móng nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam một cách có hệ thống với khung lý thuyết cụ thể là Lý Toàn Thắng [56]
với công trình “Ngôn ngữ học tri nhận – từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt” Tác giả nghiên cứu cách thức tri nhận không gian và thời gian
trong ngôn ngữ khi đưa ra hướng tiếp cận không gian theo nguyên lý “Dĩ nhân vi trung” (lấy con người làm trung tâm của vũ trụ); theo đó, ngôn ngữ phản ánh cách con người tri nhận về thế giới quanh mình qua các cặp phạm trù được định vị căn cứ vào vị trí của con người trong không gian như: trên - dưới, trước - sau, phải - trái, trong - ngoài, và các phạm trù chỉ thời gian định
vị theo vị trí của con người qua ba thời: quá khứ, hiện tại và tương lai Năm
2008, tác giả Nguyễn Văn Hiệp [28] nghiên cứu cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận đối với vai trò của nghĩa khi phân tích và miêu tả cú pháp Năm
2009, tác giả Trần Văn Cơ [12] tổng thuật lại một cách có hệ thống và toàn diện những vấn đề trung tâm có liên quan đến lý thuyết ẩn dụ ý niệm từ hai
công trình kinh điển của Lakoff và Johnson [124] “Metaphors we live by” và của Lakoff [116] “Women, Fire and The Dangerous Things: What Categories Reveal about The Mind”
Trong những năm trở lại đây, đa số các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận đều quan tâm đến ẩn dụ ý niệm (ẩn dụ tri nhận) Phan Thế Hưng [32: 12] đã phủ nhận dòng quan điểm so sánh trong ẩn dụ khi nhận định rằng
“ẩn dụ không đơn giản là phép so sánh ngầm mà chính là câu bao hàm xếp loại thuộc cấu trúc bề sâu của tư duy” Tác giả chỉ ra rằng: bản chất của sự xếp loại là cơ sở của tính ẩn dụ; ẩn dụ không thể đảo ngược và mối quan hệ của hai sự vật trong ẩn dụ không mang tính đối xứng Võ Kim Hà [66] nghiên cứu cách diễn đạt ẩn dụ trong tiếng Việt theo lý thuyết nguyên mẫu trong quan hệ so sánh với tiếng Anh và tiếng Pháp trên cơ sở ngữ liệu báo chí và
Trang 22các tác phẩm văn học Hà Thanh Hải [67] nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trên cơ sở ngữ liệu báo chí kinh tế Anh – Việt dựa trên mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy Ly Lan [72] xem xét một cách đa chiều về phương diện
“nghiệm thân” trong cách biểu đạt các ý niệm tình cảm VUI, YÊU, SỢ, GIẬN Trần Thị Phương Lý [73] nghiên cứu ẩn dụ ý niệm về thực vật, tìm hiểu mô hình chuyển di ý niệm từ ý niệm thực vật để nhận thức các phạm trù
ý niệm khác Nguyễn Thị Bích Hạnh [26] sử dụng lý thuyết ẩn dụ ý niệm nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong ca từ của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, phản ánh một nghiên cứu có sự giao thoa giữa ngôn ngữ, thi ca và âm nhạc; Nguyễn Thị Bích Hợp [70] cũng vận dụng lý thuyết ẩn dụ ý niệm nghiên cứu đặc trưng tri nhận và bản sắc văn hóa người Việt qua ẩn dụ ý niệm “đồ ăn”
1.1.2 Ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong các
DNCT Trước tiên phải kể đến Lakoff [122], trong cuốn sách Moral Politics: What Conservatives Know That Liberals Don’t xuất bản năm 1996, đã phân
tích những quan điểm là nền tảng tư duy chính trị ở Hoa Kỳ và nhận định rằng ẩn dụ ý niệm GIA ĐÌNH đứng ở vị trí trung tâm của hệ thống ý niệm hóa về xã hội của chính trị Hoa Kỳ Lakoff đã liệt kê một số ẩn dụ ý niệm phổ biến như QUỐC GIA LÀ MỘT GIA ĐÌNH (THE NATION IS A FAMILY), CHÍNH PHỦ LÀ CHA MẸ (THE GOVERNMENT IS A PARENT), CÔNG DÂN LÀ CON CÁI (THE CITIZENS ARE THE CHILDREN) [122: 154-155]
Một tác giả khác, Vestermark [147] đã xem xét việc lựa chọn và sử dụng
ẩn dụ ý niệm trong các bài diễn văn nhậm chức của bốn Tổng thống Hoa Kỳ: Ronald Reagan, George H.W Bush, Bill Clinton và George W Bush và đi đến kết luận về việc sử dụng có chủ đích các ẩn dụ ý niệm trong diễn văn của bốn vị Tổng thống Hoa Kỳ nhằm tác động đến thái độ và suy nghĩ của người
Trang 23là một ý niệm mang tính xuyên suốt trong các bài diễn văn của các vị Tổng thống này Ví dụ, trong bài diễn văn nhậm chức của mình vào năm 1981, Tổng thống Ronald Reagan sử dụng ẩn dụ ý niệm QUỐC GIA LÀ MỘT CON NGƯỜI (NATION AS A PERSON) và QUỐC GIA MANG NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA CON NGƯỜI (NATION WITH HUMAN ATTRIBUTES)
trong câu: “The economic ills we suffer have come upon us over several decades” (Chúng ta đã phải chịu đựng những căn bệnh kinh tế nhiều thập kỷ
qua) Cách nói này phản ánh một thực tế là nước Mỹ, tại thời điểm ông nhậm chức, đang phải gồng mình gánh chịu những khó khăn kinh tế kéo dài giống như một con người đang phải chịu đựng những căn bệnh kinh niên dai dẳng Còn Tổng thống George H.W Bush trong bài diễn văn nhậm chức của mình năm 1989 sử dụng ẩn dụ ý niệm QUỐC GIA HÀNH ĐỘNG NHƯ MỘT CON NGƯỜI (NATION ACTING AS HUMAN) trong câu: “But this is a
time when the future seems a door you can walk right through into a room called tomorrow” (Nhưng đây là thời điểm mà tương lai giống như cánh cửa
để bạn bước qua và tiến vào một căn phòng có tên gọi ngày mai) Trong bối
cảnh nước Mỹ đang đứng trước cơ hội đổi mới, ông ý niệm hóa sự thay đổi như một cánh cửa và nước Mỹ như một người đang sẵn sàng bước qua cánh cửa đó để tiến vào tương lai
Phân tích 06 bài diễn ngôn của Tổng thống George W Bush, Fadda [100] ghi nhận sự xuất hiện của ẩn dụ ý niệm CHIẾN TRANH NHƯ MỘT CÂU CHUYỆN CỔ TÍCH (WAR AS A FAIRY TALE) trong bối cảnh nước Mỹ vừa bị chấn động bởi vụ khủng bố được biết đến với tên gọi “sự kiện 11 tháng 9” Tổng thống George W Bush, với mục đích kêu gọi người dân Mỹ ủng hộ
kế hoạch tấn công triệt để các phần tử khủng bố, đã ý niệm hóa chiến tranh như một câu chuyện cổ tích, trong đó Bin Laden, Al Queda và chính quyền Taliban là những kẻ hung ác và nước Mỹ đảm nhận sứ mệnh người hùng tiêu diệt kẻ ác, mưu cầu hòa bình và tự do dù phải trả bất kỳ giá nào
Trang 24Meadows [133] khi phân tích các bài diễn văn của chính giới Hoa Kỳ về vấn đề Iraq trong những năm 2004-2005 cũng xác nhận sự phổ biến của ẩn dụ
ý niệm CHIẾN TRANH NHƯ MỘT CÂU CHUYỆN CỔ TÍCH (WAR AS A FAIRY TALE) Kết quả nghiên cứu này trùng khớp với những nghiên cứu trước đó của Lakoff [119 & 123] khi ông phân tích những DNCT của Hoa Kỳ
về Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất và Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ hai với miền nguồn CÂU CHUYỆN CỐ TÍCH được ánh xạ lên miền đích CHIẾN TRANH, trong đó nước Mỹ được mô tả như người anh hùng với vai trò “cứu nhân độ thế”, ác nhân là Tổng thống Iraq Saddam Hussein và nạn nhân cần được giải cứu là nhân dân Kuwait (1992) và nhân dân Iraq (2003) Arcimaviciene [81] ghi nhận sự phổ biến của ẩn dụ ý niệm HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ LÀ HOẠT ĐỘNG THỂ THAO / CỜ BẠC ở Anh Quốc trong khi ẩn dụ HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ LÀ MỘT CUỘC CHƠI ĐỒNG ĐỘI / MỘT CUỘC ĐI SĂN lại phổ biến ở Cộng hòa Latvia tuy cùng chung ẩn dụ ý niệm phổ quát HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ LÀ THỂ THAO Ẩn dụ ý niệm HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ LÀ HOẠT ĐỘNG THỂ THAO được nhắc đến trong bài xã luận đăng tải trên tờ The Economist (2005) trong câu “ICM
revealed that Labour is well ahead of the Conservatives on seven out of the
eight isues that voters say are most important to them” (ICM công bố thông
tin Đảng Lao động đã vượt xa đối thủ Đảng Bảo thủ ở bảy trên tổng số tám
vấn đề mà cử tri đánh giá là có tầm quan trọng bậc nhất) Còn ẩn dụ ý niệm HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ LÀ CỜ BẠC được sử dụng với dụng ý so sánh việc các chính khách Anh Quốc chấp nhận những rủi ro trong việc đưa ra các quyết định chính trị cũng giống như hành vi chơi cờ bạc, “It was another
gamble to fly to Singapore on the eve of the G8 summit” (Việc họ bay đến
Singapore vào đêm trước khi diễn ra Hội nghị Thượng đỉnh G8 lại là một
canh bạc nữa)
Trang 25Taiwo [142] chỉ ra sự xuất hiện phổ biến của những ẩn dụ ý niệm liên quan đến quốc gia, chính trị gia và chính trị trong các bài diễn văn chính trị tiếng Anh của các nhà lãnh đạo nước Nigeria: QUỐC GIA LÀ MỘT GIA ĐÌNH (NATION AS A FAMILY), QUỐC GIA LÀ MỘT CON NGƯỜI (NATION AS A PERSON), CHÍNH TRỊ GIA LÀ THỢ XÂY (POLITICIAN
AS BUILDER) – các chính trị gia thường quan niệm họ là những người thợ xây dựng và kiến tạo đất nước và quan niệm này được biểu hiện trong nhiều bài diễn văn chính trị, CHÍNH TRỊ LÀ MỘT TRẬN CHIẾN (POLITICS AS
A BATTLE), và CHÍNH TRỊ LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH (POLITICS
AS A JOURNEY) Một ví dụ về ẩn dụ ý niệm QUỐC GIA LÀ MỘT GIA ĐÌNH (NATION AS A FAMILY) là khi Tổng thống Nigeria Olusegun Obasanjo, trong bài diễn văn khai mạc của Ủy ban Độc lập bàn về các biện pháp mang tính bước đệm đối với vấn đề giá xăng tăng cao (2004), có câu
nói: “Only a bad father thinks of himself while alive and not of his springs In doing that, such a father will be seen as wicked and irresponsible” (Chỉ có người cha tồi mới sống mà chỉ nghĩ đến bản thân mình, thay vì nghĩ đến những người con Người cha đó sẽ bị xem là xấu xa và vô trách nhiệm)
off-với hình tượng vị lãnh tụ đất nước như một người cha phải có trách nhiệm off-với những con dân của mình Đối với ẩn dụ ý niệm QUỐC GIA LÀ MỘT CON NGƯỜI (NATION AS PERSON) và CHÍNH TRỊ LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH (POLITICS AS JOURNEY), cựu tổng thống Nigeria Atiku Abubakar trong bài diễn văn tuyên bố những mục tiêu chính trị của mình vào năm 2006
đã phát biểu rằng: “Today, we are embarking on a long and challenging journey to create a united, stable, safe, free and prosperous country” (Ngày hôm nay, chúng ta đang tiến bước trong một hành trình dài đằng đẵng và đầy
thách thức để hướng tới việc tạo lập một đất nước thống nhất, ổn định, an toàn, tự do và phồn vinh) Ông dùng hình ảnh đất nước trong quá trình vận
Trang 26động và phát triển như những con người cất bước trong một chặng hành trình đầy gian khổ
Trong cuốn Political Language and Metaphor (Carver & Pikalo [86]),
nghiên cứu đối tượng ngôn ngữ chính trị, Stenvoll đã chỉ ra sự hiện diện của
ẩn dụ ý niệm CHÍNH TRỊ LÀ VẬT LÝ (POLITICS IS PHYSICS), Pikalo nêu lên ẩn dụ ý niệm CÁ NHÂN LÀ HẠT NHÂN XÃ HỘI, NHÀ NƯỚC LÀ KHỐI VẬT CHẤT (INDIVIDUALS AS SOCIAL ATOMS, STATES AS MASS PARTICLES), còn Ringmar thì đánh giá NHÀ NƯỚC LÀ NHẠC TRƯỞNG (STATE AS A MUSICAL DIRECTOR) và NHÀ NƯỚC LÀ CỖ MÁY (STATE AS A MACHINE)
Khảo sát về ẩn dụ ý niệm QUỐC GIA LÀ MỘT GIA ĐÌNH (NATION AS
A FAMILY) trong các bài phát biểu của các chính khách Hoa Kỳ như Barack Obama, Hillary Clinton, John McCain, các tác giả Ahrens và Sphia Yat Mei Lee [82] nhận thấy các biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CHÍNH PHỦ LÀ NGƯỜI CHA GIÁO DƯỠNG (GOVERNMENT AS A NURTURING PARENT) được sử dụng một cách phổ biến hơn so với ẩn dụ CHÍNH PHỦ
LÀ NGƯỜI CHA NGHIÊM KHẮC (GOVERNMENT AS A STRICT FATHER) không phân biệt đó là người thuộc Đảng Cộng hòa hay Đảng Dân chủ Kết quả nghên cứu này có sự khác biệt so với nhận định của Lakoff trước
đó [122] rằng các thành viên của Đảng Cộng hòa có xu hướng sử dụng mô hình NGƯỜI CHA NGHIÊM KHẮC (STRICT FATHER) trong các diễn ngôn của mình
Có thể thấy các nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong các DNCT tiếng Anh tuy khá đa dạng nhưng kết quả nghiên cứu cho thấy sự tập trung cao đối với các cấu trúc ẩn dụ ý niệm QUỐC GIA LÀ MỘT CON NGƯỜI (NATION AS
A PERSON), QUỐC GIA MANG NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA CON NGƯỜI (NATION WITH HUMAN ATTRIBUTES) và QUỐC GIA LÀ MỘT GIA ĐÌNH (NATION AS A FAMILY) phù hợp với nhận định của Lakoff [123]
Trang 27Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong
DNCT Nguyễn Thị Như Ngọc [74] đã khảo sát “Ẩn dụ trong văn bản diễn thuyết chính trị Mỹ và việc dịch ẩn dụ từ tiếng Anh sang tiếng Việt” Tác
giả đã phân loại và mô tả các ADYN trong DNCT theo 14 miền ý niệm nguồn (gồm 13 miền nguồn đã được đề cập đến trong các tài liệu nghiên
cứu trước đây và một miền nguồn mới phát hiện – giá trị kinh tế / tài chính) và 4 nhóm miền ý niệm đích thông dụng Đặc biệt, tác giả đã tập
trung nghiên cứu các ẩn dụ đề cập đến các chủ đề thuộc phạm trù Giấc mơ
Mỹ theo hướng điển cứu với 3 điển cứu cụ thể: chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, tự do và chiến tranh, xung đột chính trị và chính sách chính trị 14 nhóm miền ý niệm nguồn được đề cập đến trong luận án của Nguyễn Thị Như Ngọc bao gồm: (1) Cơ thể con người; (2) Sức khỏe và bệnh tật; (3) Động vật; (4) Nhà cửa và hoạt động xây dựng; (5) Máy móc, xe cộ và công cụ; (6) Trò chơi và thể thao; (7) Thực phẩm và việc nấu nướng; (8) Thực vật; (9) Thời tiết; (10) Độ nóng, độ lạnh và lửa; (11) Ánh sáng, bóng tối và màu sắc; (12) Phương hướng và sự chuyển động; (13) Sức mạnh của tự nhiên / vật chất; (14) Giá trị kinh tế / tài chính Bốn nhóm miền ý niệm đích gồm có: (1) Quyền: quyền bình đẳng, quyền con người, phân biệt chúng tộc; (2) Chiến tranh và hòa bình: tự do, hòa bình, chiến tranh, chủ nghĩa khủng bố; (3) Chính sách chính trị - xã hội: quan hệ quốc tế, viện trợ quốc tế, thuế khóa, giáo dục, vấn đề nhập cư, tệ nạn xã hội; (4) Tôn giáo Ngoài ra, có thể kể đến một số nghiên cứu khác Nguyễn Tiến Dũng [15] tìm hiểu ẩn dụ ý niệm cấu trúc QUỐC GIA LÀ MỘT TÒA NHÀ (NATION
IS A BUILDING) trong DNCT tiếng Anh và tiếng Việt và xác định có sự tương đồng mang tính phổ quát về cách thức các chính trị gia Hoa Kỳ và Việt Nam diễn đạt ẩn dụ ý niệm QUỐC GIA LÀ MỘT TÒA NHÀ Trong một nghiên cứu khác, Nguyễn Tiến Dũng [16] khảo sát ẩn dụ ý niệm trong DNCT tiếng Anh và ghi nhận thực tế ẩn dụ ý niệm trong DNCT tiếng Anh khá đa
Trang 28dạng nhưng phổ biến và tập trung là các ẩn dụ ý niệm bản thể QUỐC GIA LÀ MỘT CON NGƯỜI (NATION AS A PERSON), QUỐC GIA MANG NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA CON NGƯỜI (NATION WITH HUMAN ATTRIBUTES) và QUỐC GIA LÀ MỘT GIA ĐÌNH (NATION AS A FAMILY) Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm CHÍNH TRỊ LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH trong các bài viết trên báo Nhân dân điện tử, Nguyễn Thị Bích Hạnh và Hồ Thị Thoa [27] đã chỉ ra bốn ẩn dụ ý niệm hạ danh: CHÍNH TRỊ LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH NHIỀU CHÔNG GAI, CHÍNH TRỊ LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐỒNG HÀNH CÓ CÙNG MỤC TIÊU, CHÍNH TRỊ LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH CỦA SỰ ĐIỀU HƯỚNG VÀ LỰA CHỌN và CHÍNH TRỊ LÀ MỘT CUỘC CHẠY ĐUA TỐC ĐỘ VỀ ĐÍCH và xác nhận sự tồn tại của cơ chế sao phỏng giữa hai miền không gian (cuộc hành trình và chính trị) trong tư duy ngôn ngữ và văn hóa của người Việt Một nghiên cứu khác là của Nguyễn Tiến Dũng [17] khi tìm hiểu về ẩn dụ ý niệm trong các bài diễn văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và xác định sự phổ biến của các miền nguồn như HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI, GIA ĐÌNH, HÀNH TRÌNH, XÂY DỰNG, THỰC VẬT và CƠ THỂ SỐNG với 22 tiểu loại ẩn dụ ý niệm khác nhau
Có thể thấy một thực tế là các nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong DNCT trên thế giới là tương đối nhiều Tuy nhiên, ở Việt Nam số lượng các công trình còn hạn chế và đối tượng ADYN trong DNCT chưa thu hút được nhiều
sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Việt Nam theo đường hướng tri nhận
1.2 Cơ sở lý thuyết
1.2.1 Khái quát về khoa học tri nhận và ngôn ngữ học tri nhận
Khoa học tri nhận ra đời vào nửa cuối thế kỷ XX với mục đích nghiên cứu trí tuệ con người từ tri giác đến hành động, từ ngôn ngữ đến lập luận Khoa
Trang 29bộ Khoa học tri nhận đặt mục tiêu tìm kiếm lời giải cho các vấn đề lập luận, trải nghiệm về thế giới, hệ thống ý niệm và cách thức tổ chức hệ thống ý niệm của con người
Vào những năm cuối thập niên 1970, một số khuynh hướng nghiên cứu trong lĩnh vực ngôn ngữ học bắt đầu hướng đến vấn đề tri nhận luận với sự quan tâm đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tâm trí, cụ thể là cách thức con người nhận thức và phân loại các sự vật và hiện tượng trong thế giới xung quanh được ánh xạ vào ngôn ngữ Đến cuối thập niên 1980, lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận được phát triển bởi các nhà nghiên cứu như Fillmore, Talmy,
và đặc biệt là Lakoff nổi tiếng với công trình nghiên cứu về phép ẩn dụ và Langacker với sự hình thành lý thuyết ngữ pháp tri nhận
Theo Lý Toàn Thắng [57], ngôn ngữ học tri nhận là một trường phái mới của ngôn ngữ học hiện đại với trọng tâm là “nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở vốn kinh nghiệm và sự cảm thụ của con người về thế giới khách quan cũng như cách thức mà con người tri giác và ý niệm hóa các sự vật của thế giới khách quan” Tác giả Trần Văn Cơ [11] quan niệm ngôn ngữ học tri nhận định hướng nghiên cứu quá trình tinh thần của con người thông qua ngôn ngữ
tự nhiên và phân biệt hai bức tranh về thế giới qua góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận: bức tranh khoa học về thế giới vốn được hình thành nhờ những khái niệm logic phản ánh nhận thức con người về thực tại khách quan; và bức tranh ngôn ngữ về thế giới là cách con người biểu hiện thế giới quan qua những chất liệu ngôn ngữ, theo đó hiện thực khách quan được các bộ phận thân thể của con người tri giác Tác giả Nguyễn Thiện Giáp [23] mô tả ngắn gọn: ngôn ngữ học tri nhận là sự kết hợp của ngôn ngữ học với khoa học tri nhận với định hướng nghiên cứu là khảo sát các quá trình tâm trí trong việc thụ đắc và sử dụng tri thức và ngôn ngữ
Có thể nói, ngôn ngữ học tri nhận là một cách tiếp cận ngôn ngữ dựa trên kinh nghiệm của con người về thế giới và cách thức con người tri giác và ý
Trang 30niệm hóa thế giới Ngôn ngữ học tri nhận giới hạn trong phạm vi những tri nhận có liên quan đến việc học tập và vận dụng ngôn ngữ của con người Hiện thực khách quan được phản ánh trong não người hình thành nên thế giới tri nhận và cấu trúc tri nhận Ngôn ngữ học tri nhận nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc tri nhận và quy luật của cấu trúc tri nhận đối với ngôn ngữ
Do ngôn ngữ là sản phẩm của trí óc con người, tuân thủ các nguyên lý tổ chức và vận hành tương tự như các lĩnh vực tri nhận khác, ngôn ngữ không đơn giản là một tập hợp các ký hiệu có tính võ đoán mà chịu sự chi phối của các quy luật và cách con người nhận thức về thế giới xung quanh nên muốn miêu tả ngôn ngữ một cách toàn diện thì phải có những giải thích về các hiện tượng ngôn ngữ, phải có những nghiên cứu về quy luật tri nhận của con người Ngôn ngữ học tri nhận, theo Triệu Diễm Phương [47: 42], “nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở kinh nghiệm, tri giác, ý niệm và phương thức tri nhận của con người về thế giới”
Lý Toàn Thắng [56] nhận định: ngôn ngữ học tri nhận phân ra ba xu hướng tiếp cận chính với những trọng điểm khác nhau: cách tiếp cận thứ nhất
có tính “kinh nghiệm”: nghiên cứu xem khi người ta tạo sinh các từ và các câu thì điều gì diễn ra trong trí óc anh ta; cách tiếp cận thứ hai chủ yếu quan tâm đến yếu tố “nổi trội” của các cấu trúc ngôn ngữ; và cách tiếp cận thứ ba hướng đến mức độ “thu hút sự chú ý” của các yếu tố và các bình diện khác nhau của một sự tình
1.2.2 Ý niệm và ý niệm hóa
1.2.2.1 Ý niệm
Nếu như ngôn ngữ học truyền thống xem ý nghĩa là đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất của mình thì ngôn ngữ học tri nhận xem ý niệm là đối tượng nghiên cứu hàng đầu Ý niệm được hiểu là một đơn vị của ý thức, là những biểu tượng tinh thần phản ánh cách thức con người tri giác về thế giới xung
Trang 31tưởng và những ấn tượng là một trong những kinh nghiệm của người sử dụng ngôn ngữ Ý niệm bao quát các bình diện chức năng dụng học, tương tác và
xã hội - văn hóa của ngôn ngữ trong sử dụng Ý niệm không chỉ là kết quả của quá trình phản ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người, mà còn là sản phẩm của quá trình tri nhận Ý niệm vừa mang tính nhân loại, vừa mang tính dân tộc vì nó gắn chặt với ngôn ngữ và văn hóa của dân tộc Nói cách khác, ý niệm không chỉ là quá trình tư duy, quá trình phản ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người, mà còn là sản phẩm của hoạt động tri nhận, chứa đựng tri thức và sự hiểu biết của con người về thế giới trên cơ sở đúc kết và truyền
bá kinh nghiệm từ đời này qua đời khác, với đặc tính nhân loại phổ quát và đặc thù dân tộc (Lý Toàn Thắng, [57]) Theo Langacker [127], ý niệm về những sự vật cụ thể bắt nguồn từ những trải nghiệm của các giác quan, còn ý niệm về những sự vật trừu tượng là kết quả quá trình điều chỉnh, tổng hợp và
xử lý thông tin trên cơ sở các ý niệm về sự vật cụ thể Ý niệm không chỉ được biểu hiện bằng từ mà những ý niệm phức tạp có thể được biểu đạt bằng cả một câu Cấu trúc ý niệm là sự thể hiện tâm lý của ngôn ngữ, là tầng trung gian liên kết giữa ngôn ngữ và tri nhận Cấu trúc ý niệm bao gồm các điển dạng, xuất hiện từ kinh nghiệm tri giác và được tạo ra bởi cấu trúc thần kinh Năng lực tri nhận đóng vai trò then chốt trong việc tổ chức ngôn ngữ nhưng không nằm cụ thể trong ngôn ngữ Năng lực tri nhận liên quan đến cách lý giải, điểm nhìn, phối cảnh, tổ chức hình-nền và kết hợp ý niệm (Nguyễn Đức Dân, [14])
Theo tác giả Trần Văn Cơ [11], ý niệm được hình thành trong ý thức con người, có cấu trúc nội tại bao gồm một mặt là nội dung thông tin về thế giới hiện thực và thế giới tưởng tượng mang những nét phổ quát và mặt khác là tất
cả những yếu tố làm ý niệm chứa đựng những nét đặc trưng văn hóa – dân tộc Cách nhìn thế giới khác nhau của con người tạo thành những mảnh (ý niệm) khác nhau về thế giới và được gọi là sự ý niệm hóa thế giới, từ đó có bức
Trang 32tranh ý niệm về thế giới và được thể hiện trong ngôn ngữ tạo thành bức tranh ngôn ngữ về thế giới
Cơ sở của ý niệm là kinh nghiệm cảm tính trực tiếp mà con người tri nhận trong quá trình tri giác thế giới bằng các giác quan, thông qua hoạt động tư duy và giao tiếp bằng công cụ ngôn ngữ Do vậy, ý niệm là cái chứa đựng sự hiểu biết của con người về thế giới xung quanh – hiểu biết này được hình thành trong ý thức, trong quá trình tri nhận và được hiện thân trong ngôn ngữ
Ý niệm có cấu tạo đa chiều bao hàm cả những khái niệm được định nghĩa và những đặc điểm hàm chỉ, hình ảnh liên tưởng có thể hỗ trợ quá trình miêu tả ý niệm Ý niệm không tồn tại riêng lẻ mà liên kết với nhau, hình thành nên hệ thống ý niệm Mỗi hệ thống ý niệm có những ý niệm cơ sở và ý niệm phái sinh
Ý niệm và khái niệm đôi khi rất khó phân định và khu biệt bởi lẽ cả hai
thuật ngữ cùng xuất phát từ một từ tiếng Anh concept Tuy nhiên, trong quá
trình phát triển của khoa học tri nhận nói chung và ngôn ngữ học tri nhận nói
riêng, nội hàm từ concept được tách làm hai: một phần là khái niệm và phần kia là ý niệm Nếu như khái niệm là một hình thức của tư duy phản ánh những
thuộc tính cơ bản và những mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong sự
mâu thuẫn và phát triển của chúng và khái niệm được hình thành nhờ những
phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, lý tưởng hóa, thí
nghiệm thì ý niệm là kết quả của quá trình tri nhận tạo ra các biểu tượng tinh thần nhờ ba thành tố: trí tuệ, cảm xúc và ý chí Ý niệm có tính ẩn dụ còn khái niệm thì không Nói về sự khác biệt này, tác giả Trần Trương Mỹ Dung [18] nhận định, ý niệm chứa đựng ba thành tố: thành tố khái niệm, thành tố cảm xúc – hình tượng và thành tố văn hóa Theo nhận định này, có thể thấy ý niệm
đã bao chứa khái niệm trong nó
1.2.2.2 Ý niệm hóa
Ý niệm hóa được hiểu là quá trình hình thành ý niệm, là quá trình phát
Trang 33trình phát triển của nhận thức từ tư duy trừu tượng đến trực quan sinh động Theo Langacker [127], một trong những luận thuyết cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận là: ngữ nghĩa là sự ý niệm hóa Các đơn vị ngôn ngữ đều biểu đạt những ý niệm và những ý niệm này đều tương ứng về nghĩa với những đơn vị ngôn ngữ đó Mối quan hệ này được hình dung trong một cấu trúc ý niệm, thường gồm hai thành tố: hình bóng ý niệm và hình nền ý niệm; trong đó, hình bóng ý niệm là ý niệm được biểu đạt bởi từ đã cho và hình nền ý niệm là tri thức hay cấu trúc ý niệm được tiền giả định bởi hình bóng ý niệm; vì lý do
đó, hình bóng ý niệm sẽ trở nên vô nghĩa nếu thiếu vắng hình nền ý niệm Do vậy, để xác định ý nghĩa của một đơn vị ngôn ngữ, cần xét đến cả hình bóng ý niệm và hình nền ý niệm
Langacker, Filmore và Lakoff gọi ý niệm nền là “hình nền” hay
“khung/lĩnh vực”; theo đó mọi ý niệm phải được biểu hiện trên một khung/lĩnh vực nhất định Ví dụ, ý niệm “bán kính” là đoạn thẳng nối từ tâm của một hình tròn đến bất kỳ điểm nào của đường tròn Như vậy, ý niệm “bán kính” phải được hiểu trên cơ sở của ý niệm nền “đường tròn” và ý niệm “bán kính” không phải là một đoạn thẳng bất kỳ
Theo Hữu Đạt [20], quan hệ giữa ý niệm và khung có thể giúp giải thích các hiện tượng đa nghĩa và hiện tượng phái sinh nghĩa trong ngôn ngữ và quá trình hình thành nghĩa ẩn dụ trong ngôn ngữ là ví dụ điển hình của quá trình ý niệm hóa
1.2.3 Ẩn dụ ý niệm
Ẩn dụ ý niệm là một trong những hình thức ý niệm hóa, là sự chiếu xạ một cấu trúc từ một miền ý niệm này lên một miền ý niệm khác, là công cụ tri nhận của loài người nói chung Do vậy, giữa các ngôn ngữ khác nhau, sự giống nhau giữa các ẩn dụ ý niệm là cơ bản, có khác biệt chăng là ở những phương diện được kích hoạt; nói cách khác, các ẩn dụ ý niệm của các ngôn ngữ về cơ bản là giống nhau và chỉ khác nhau ở các biểu đạt ngôn từ phản ánh
Trang 34sự khác biệt về cách thức lựa chọn các phương diện của một ý niệm hay các ý niệm bộ phận trong một miền ý niệm
1.2.3.1 Bản chất và cấu trúc của ẩn dụ ý niệm
Tổng kết về ẩn dụ ý niệm, Lakoff và Johnson [124] và Lakoff [119] đã nhận định bản chất của ẩn dụ ý niệm như sau:
- Ẩn dụ là cơ chế chủ yếu giúp chúng ta hiểu được các ý niệm trừu tượng
và truy xuất các suy luận
- Hầu như mọi vấn đề từ những điều đơn giản nhất đến những lý thuyết khoa học thâm sâu nhất đều có thể được hiểu thông qua ẩn dụ
- Về cơ bản, bản chất ẩn dụ là ý niệm, không phải là ngôn ngữ
- Ẩn dụ ngôn ngữ chỉ là biểu hiện bề mặt của ẩn dụ ý niệm
- Mặc dù phần lớn hệ thống ý niệm của chúng ta là ẩn dụ nhưng một phần đáng kể của hệ thống ý niệm là phi ẩn dụ
- Ẩn dụ cho phép chúng ta lĩnh hội về một vấn đề trừu tượng hoặc không
có cấu trúc dưới dạng thức vấn đề cụ thể hơn hoặc có cấu trúc cao hơn
- Ẩn dụ được sử dụng một cách tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày bởi những con người bình thường, không chỉ bởi những người có khả năng đặc biệt Tóm lại, ẩn dụ không phải là một trường hợp đặc biệt của ngôn ngữ mà chỉ
là một hình thức bình thường của ngôn ngữ và được sử dụng trong ngôn ngữ hàng ngày Ẩn dụ tồn tại trong tư duy, trong hệ quan niệm, trong simh hoạt hàng ngày của chúng ta bên cạnh sự tồn tại trong ngôn ngữ với tư cách là một hình thái tư duy của con người về thế giới, giúp con người ý niệm hóa các khái niệm trừu tượng
Lakoff [119] cũng tổng kết về cấu trúc của ẩn dụ ý niệm như sau:
- Ẩn dụ ý niệm là sự ánh xạ giữa các miền ý niệm
- Ánh xạ giữa các miền ý niệm không đối xứng và có tính cục bộ, nghĩa là chỉ một bộ phận của miền nguồn được phóng chiếu tới miền đích và đó là
Trang 35những thuộc tính có giá trị tri nhận Nhờ tính cục bộ này nên miền nguồn và miền đích có sự tương ứng nhưng không bị đồng nhất
- Mỗi ánh xạ là một tập hợp cố định các tương đương bản thể giữa các thực thể trong một miền nguồn và các thực thể trong một miền đích
- Bản chất của ánh xạ là đơn tuyến: chiều của ánh xạ là từ miền nguồn đến miền đích, không có chiều ngược lại
- Khi các tương đồng được kích hoạt, các ánh xạ có thể phóng chiếu mô hình miền nguồn lên mô hình miền đích
- Ánh xạ ẩn dụ tuân theo nguyên lý bất biến: cấu trúc lược đồ hình ảnh của miền nguồn được phóng chiếu lên miền đích theo cách thức phù hợp với cấu trúc cố hữu của miền đích
- Các ánh xạ bắt nguồn từ nghiệm thể hàng ngày và tri thức của chúng ta
- Một hệ thống ý niệm có thể bao chứa hàng nghìn ánh xạ, tạo nên một tiểu
hệ thống cấu trúc chặt chẽ trong hệ thống ý niệm
- Có hai kiểu loại ánh xạ: ánh xạ ý niệm và ánh xạ hình ảnh, và cả hai loại đều tuân theo nguyên lý bất biến
Tóm lại, ánh xạ giúp tạo nên cấu trúc mới, lược đồ mới chưa tồn tại trước
đó trong miền đích do sự phản chiếu từ mô hình tri nhận của miền nguồn Việc xác lập được sơ đồ ánh xạ giữa hai miền cho phép chúng ta tìm hiểu về
ẩn dụ ý niệm Sự ánh xạ từ miền nguồn đến miền đích thường có nền tảng là những tương liên trong kinh nghiệm, tương đồng cấu trúc trong tri giác, những cội rễ sinh học và văn hóa
1.2.3.2 Miền nguồn và miền đích
Theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ ý niệm là một cơ chế tri nhận nhờ đó logic của những khái niệm có tính trừu tượng được thay thế bằng logic của những khái niệm có tính cụ thể hơn Cơ chế tri nhận của ẩn dụ ý
niệm liên quan đến hai miền tri thức là miền nguồn và miền đích tồn tại tiền
giả định trong ý thức con người Hai miền này liên hệ với nhau một cách có
Trang 36hệ thống vì giữa hai miền tri thức đó có một số nét tương đồng mang tính hệ thống, hoặc có mối liên hệ theo kinh nghiệm của con người (Lakoff & Johnson, [125])
Theo Taylor [144: 83], miền (hay lĩnh vực) là một cấu trúc tri nhận làm nhiệm vụ cung cấp ngữ cảnh nền tảng giúp con người hiểu được ý nghĩa của các thuật ngữ Miền / lĩnh vực có thể được hiểu là các bình diện kinh nghiệm khác nhau của con người về thế giới xung quanh như không gian, màu sắc, cảm xúc … hoặc được hiểu là kiến thức nền mà con người tiếp nhận qua trải nghiệm các lĩnh vực cụ thể của cuộc sống
Ẩn dụ ý niệm là một tập hợp các ánh xạ từ miền nguồn đến miền đích, ở
đó các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ (ẩn dụ ngôn ngữ) có chức năng hiển thị các
ẩn dụ ý niệm Hai miền nguồn và miền đích đều là những ý niệm được cấu trúc hóa theo mô hình trường – chức năng: trung tâm – ngoại vi, với hạt nhân
là ý niệm nằm ở trung tâm mang tính phổ quát toàn nhân loại, và ngoại vi là những yếu tố ngôn ngữ, văn hóa dân tộc, nằm trong một “khung” văn hóa nhất định có tính đặc thù
Theo quan niệm của Lakoff và Johnson [124], ẩn dụ ý niệm có đặc trưng tiêu biểu sử dụng một ý niệm vật chất cụ thể làm nguồn để phản ánh một ý niệm trừu tượng hơn là đích Miền nguồn là miền ý niệm mà từ đó chúng ta rút ra được các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ cụ thể để có thể hiểu được một miền
ý niệm khác Miền đích là miền ý niệm được hiểu thông qua việc sử dụng miền nguồn Những miền nguồn thông dụng có tần số xuất hiện cao trong ẩn
dụ ý niệm là cơ thể con người, sức khỏe và bệnh tật, động vật, thực vật, nhà cửa và xây dựng, máy móc và công cụ, trò chơi và thể thao, tiền bạc và giao dịch kinh tế, nấu ăn và thực phẩm, nóng và lạnh, ánh sáng và bóng tối, lực và sức mạnh, chuyển động và chiều hướng … và những miền đích thông dụng là cảm xúc, ham muốn, đạo đức, tư duy, xã hội, quốc gia, chính trị, kinh tế, quan
Trang 371.2.3.3 Ánh xạ trong ẩn dụ ý niệm
Sơ đồ ánh xạ trong cấu trúc ẩn dụ ý niệm là một hệ thống cố định các tương ứng giữa các yếu tố hợp thành miền nguồn và miền đích Khi hệ thống các tương ứng này được kích hoạt, từ miền nguồn, các sơ đồ ánh xạ có thể phóng chiếu sang miền đích Sơ đồ ánh xạ trong ẩn dụ tuân theo Nguyên tắc bất biến (Lakoff, [117]); cụ thể, cấu trúc lược đồ hình ảnh của miền nguồn được phóng chiếu vào miền đích theo một phương thức nhất quán với cấu trúc
có sẵn và cố định của miền nguồn Các sơ đồ ánh xạ không mang tính quy ước mà bắt nguồn từ sự vận động của thân thể con người trong không gian, từ các trải nghiệm cá nhân và những hiểu biết trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của con người Ngôn ngữ học tri nhận chia sơ đồ ánh xạ thành hai loại căn cứ vào quá trình tri nhận của con người: sơ đồ ánh xạ ý niệm và sơ đồ ánh
xạ hình ảnh
Để hiểu ý nghĩa của một ẩn dụ ý niệm, cần hiểu hệ thống sơ đồ ánh xạ của
một cặp nguồn – đích Lakoff [120] đã gọi tên quá trình ánh xạ từ miền nguồn
sang miền đích này là TARGET-DOMAIN IS SOURCE-DOMAIN (MIỀN ĐÍCH LÀ MIỀN NGUỒN) Ví dụ, trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ MỘT
CUỘC HÀNH TRÌNH, một cuộc hành trình có điểm bắt đầu và điểm kết thúc,
tình yêu cũng tương tự có điểm bắt đầu và điểm kết thúc – đó là ánh xạ bản
thể luận Trong một cuộc hành trình chúng ta có thể phải vượt qua nhiều
chướng ngại vật và tương ứng với đó, trong tình yêu đôi khi chúng ta cũng gặp phải rất nhiều những trắc trở – đó là ánh xạ khoa học luận
Lý Toàn Thắng [56: 30] nhận định: ẩn dụ ý niệm là một sự “chuyển di” (transfer) hay một sự “đồ họa” (mapping) cấu trúc và các quan hệ nội tại của một lĩnh vực hay mô hình tri nhận “nguồn” (source) sang một lĩnh vực hay
mô hình tri nhận “đích” (target).
Các khái niệm trừu tượng như lý thuyết/lập luận, ý tưởng (miền đích) thường được biểu đạt thông qua các hiện tượng vật lý cụ thể tương ứng là một
Trang 38tòa nhà và cây cối (miền nguồn); qua đó chúng ta có thể xác định được các ánh xạ cho lý thuyết/lập luận và ý tưởng thông qua các ẩn dụ ý niệm sau: LÝ
THUYẾT/LẬP LUẬN LÀ MỘT TÒA NHÀ; Ý TƯỞNG LÀ CÂY CỐI Các
ẩn dụ ý niệm này được thể hiện qua ngôn ngữ như sau:
(a) Tình duyên của họ đã trải qua vô vàn chông gai, trắc trở
(b) Để xây dựng lý thuyết/lập luận có tính thuyết phục, chúng ta cần có
nền tảng vững chắc
(c) Tư tưởng lớn của Người đã đơm hoa, kết trái cho đời
Trong ví dụ (b), đặc điểm của một tòa nhà ở miền nguồn (xây dựng, nền tảng vững chắc) được ánh xạ lên lý thuyết/lập luận trong miền đích, theo đó cấu trúc vật lý của một tòa nhà được dùng để ý niệm hóa cấu trúc của lý thuyết Tương tự, trong ví dụ (c), các đặc điểm của cây cối trong miền nguồn (đơm hoa, kết trái) ánh xạ lên tư tưởng trong miền đích với hàm ý chỉ kết quả tốt đẹp mà tư tưởng lớn của Người mang lại cho xã hội, tạo sự đổi thay tích
cực cũng giống như cây trái cho hoa thơm, quả ngọt
1.2.3.4 Phân loại ẩn dụ ý niệm
1.2.3.4.1 Phân loại theo chức năng tri nhận
Theo cách phân loại của Lakoff và Johnson [124], có ba loại ẩn dụ ý niệm:
ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể và ẩn dụ định hướng
(i) Ẩn dụ cấu trúc là loại ẩn dụ mà trong đó một ý niệm này được cấu trúc
hóa về mặt ẩn dụ thông qua một ý niệm khác; loại ẩn dụ này giúp chúng ta hiểu miền đích thông qua cấu trúc của miền nguồn với quá trình đồ họa các thành tố của miền nguồn với miền đích Một ví dụ của ẩn dụ cấu trúc là THỜI GIAN LÀ TIỀN BẠC, trong đó TIỀN BẠC là miền nguồn và THỜI GIAN là miền đích và ý niệm TIỀN BẠC giúp chúng ta rõ nghĩa của ý niệm THỜI GIAN Theo giải thích của Nguyễn Văn Trào [64], quan niệm về thời gian trong văn hóa phương Tây gắn liền với khái niệm công việc; theo đó, công
Trang 39Thời gian được lượng hóa theo giờ, theo tuần, theo năm và người làm việc được trả tiền theo những đơn vị lượng hóa ấy Vì thế, TIME IS MONEY -
thời gian chính là tiền bạc Vì thế, có thể nói “tiêu tốn thời gian”, “lãng phí
thời gian”, “tiết kiệm thời gian” Người Anh cũng có cách nói như:
a) I can’t spend time on you (Tôi không thể tiêu tốn thời gian cho anh) b) This method of production is time-saving (Phương thức sản xuất này rất tiết kiệm thời gian)
Ẩn dụ cấu trúc không những làm sáng tỏ các ẩn dụ ngôn từ mà còn cung cấp các loại cấu trúc về ý niệm đích của chúng
(ii) Ẩn dụ bản thể là quá trình “vật thể hóa” những bản thể trừu tượng bằng
cách gán cho một khái niệm trừu tượng trong miền đích một vị thế mang tính thực thể và vạch ranh giới của chúng trong không gian Ẩn dụ bản thể là phương cách giúp con người phân loại, tập hợp, suy luận về những đối tượng khó nhận biết trong thực tại TRÍ NÃO LÀ VẬT CHỨA có thể xem là một ví
dụ tiêu biểu cho ẩn dụ bản thể bởi ý niệm trừu tượng trí não đã được vật thể hóa bằng ý niệm vật chứa và trở nên cụ thể hơn và có biểu thức ngôn ngữ
tương ứng là: Đầu óc tôi bỗng trở nên trống rỗng Ẩn dụ vật chứa được coi là
tiêu biểu cho ẩn dụ bản thể Bản thân mỗi người là một vật chứa và ý niệm vật chứa được phóng chiếu lên các sự vật khác nên trong tiếng Anh có các biểu
thức miêu tả quá trình giao tiếp như dưới đây:
a) The sentence was filled with emotions (Câu văn này chứa đầy cảm xúc.) b) You should try to get your thoughts across better (Anh nên cố gắng
truyền tải suy nghĩ của anh cho tốt hơn.)
Các ví dụ trên đây chỉ ra rằng chúng ta thường sử dụng ẩn dụ vật chứa để ý niệm hóa quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ Ví dụ (a) minh họa hình ảnh quy ước việc chúng ta chứa đựng tình cảm (emotion) trong các từ, ngữ; và ví dụ (b) phản ánh giao tiếp ngôn ngữ như là sự truyền tải tư tưởng bằng các phương tiện ngôn ngữ Bức tranh tổng thể là các ý niệm được người gửi đặt
Trang 40vào vật chứa (từ, ngữ) và chuyển cho người nhận, và người nhận sẽ nhận các các ý niệm này từ trong các vật chứa (từ, ngữ)
(iii) Ẩn dụ định hướng tổ chức cả một hệ thống ý niệm trong mối tương quan
với nhau đối với một hệ thống khác với nền tảng là các trải nghiệm của con người về không gian xung quanh mình trong sinh hoạt hàng ngày Ý niệm định hướng là ý niệm được con người tạo ra sớm nhất và có thể lý giải trực tiếp như:
lên, xuống, trong, ngoài, tâm, biên, trước, sau,…Thực tế, quá trình tư duy của
con người chứa đựng những ý niệm không gian cơ bản, hay nói như Levinson [128], tri nhận về không gian là trung tâm quá trình tư duy của con người Từ đó các khái niệm trừu tượng khác có thể phóng chiếu lên các vùng định hướng cụ thể HẠNH PHÚC ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN và NỖI BUỒN ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI là hai ẩn dụ định hướng phổ biến được biểu đạt thông
qua ngôn ngữ như: tinh thần đang lên, niềm vui tột đỉnh, niềm hạnh phúc dâng trào, nỗi buồn khổ khiến nàng suy sụp
1.2.3.4.2 Phân loại theo miền nguồn
Bên cạnh việc phân loại ẩn dụ ý niệm theo chức năng tri nhận, chúng ta cũng có thể nhóm các ẩn dụ ý niệm theo các miền nguồn Deignan [98] đã xác định 12 miền nguồn ẩn dụ ý niệm thông dụng trong tiếng Anh gồm:
(1) cơ thể con người