Đây là tài liệu đề cương ôn tập môn thử tàu đã được biên soạn ra đầy đủ tất cả các câu hỏi dùng trong thi kết thúc môn học này. Các nội dung đã được soạn ra đầy đủ rồi nên các bạn chỉ cần tải về và ôn tập theo những nội dung trong tài liệu.
Trang 1Ôn tập
1 Trình bày những hiểu biết về phương pháp kiểm tra chụp ảnh bức xạ
- Phương pháp này dùng để xác định các khuyết tật bên ngoài cũng như bên trong của các sản phẩm,chi tiết rèn,hàn có vật liệu khác nhau
- Quá trình chụp ảnh bức xạ gồm 2 bước :
• Quá trình tạo ra 1 ảnh chụp bức xạ
• Quá trình giải đoán ảnh bức xạ đó
• Một phim chụp ảnh bức xạ thích hợp đặt phía dưới vật cần kiểm tra.Phía bên trên bố trí thiết bị phát ra nguồn bức xạ.Cường độ của các chùm tia này khi đi qua vật thể sẽ bị thay đổi tùy theo cấu trúc bên trong của vật thể và làm đen phim chụp.Sau khi rửa phim đã chụp sẽ cho ra bóng ảnh và giải đoán phim để tìm khuyết tật trong sản phẩm
• Ưu điểm
- Không bị hạn chế bởi vật liệu hay cấu trúc hạt
- Có khả năng phát hiện sự bất liên tục trên bề mặt hoặc bên trong vật kiểm tra
- Dễ dàng xác định được bản chất của bất liên tục
- Cung cấp kết quả kiểm tra lưu trữ được lâu
- Quá trình giải đoán phim được thực hiện trong điều kiện rất tiện nghi
Nhược điểm
- Gây nguy hiểm cho sức khỏe con người
- Khó phát hiện các khuyết tật dạng phẳng ,vuông góc với chùm tia bức xạ
- Cần phải tiếp xúc cả 2 mặt của vật thể kiểm tra
- Bị giới hạn về chiều dày của vật thể kiểm tra
- Cần nhân viên kiểm tra có nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực kỹ thuật chụp ảnh bức xạ và vật liệu
- Phương pháp tương đối đắt tiền và khó tự động hóa
2 Trình bày những việc chuẩn bị cần thiết cho công tác thử nghiêng lệch tàu
* Các điều kiện tự nhiên và vị trí tàu khi thử:
- TNL có thể được tiến hành tại cầu tàu nhà máy hoặc những nơi khác
có vị trí, độ sâu thích hợp
- TNL tốt nhất phải được tiến hành lúc trời lặng,nước yên, dòng chảy chậm.Nếu trong điều kiện không thuận lợi thì phải đặt tàu xuôi theo dòng chảy, hướng gió và được giữ bằng các dây chằng buộc theo mặt phẳng dọc tâm, trước mỗi lần đo, phải nới dây để không cản trở tàu nghiêng tự do
- Tàu phải cách bờ hoặc các tàu bên cạnh sao cho khi tàu nghiêng lớn nhất không xảy ra va chạm
Trang 2ÔN TẬP MÔN THỬ TÀU
Page 2
- Phải loại bỏ những chướng ngại vật như cầu thang qua lại, dây dẫn điện lên tàu trong khi thử
- Góc nghiêng ban đầu của tàu không quá 1o
* Yêu cầu về trạng thái tải trọng tàu khi TNL:
- Trạng thái tải trọng của tàu lúc thử phải cố gắng đảm bảo tối đa gần bằng lượng chiếm nước tàu không
- Trước khi TNL phải có bảng kê các thành phần trọng lượng thiếu,
thừa
- Trong đó, thể hiện rõ trọng lượng, vị trí trọng tâm của chúng
Tổng trọng lượng thiếu phải < 2% trọng lượng tàu không
Tổng trọng lượng thừa < 4% trọng lượng tàu không
* Yêu cầu về trọng vật dùng để TNL:
- Trọng vật dùng để TNL phải được đặt trên boong cao nhất ở gần mạn
và được chia thành 2 hoặc 4 nhóm có khối lượng bằng nhau Theo chiều ngang tàu, chúng được đặt đối xứng qua mặt phẳng dọc tâm tàu
và theo chiều dài thì phân ra về phía mũi và lái
- Trọng vật thường được chế tạo có hình dạng khối sao cho dễ di chuyển qua lại trong quá trình thử Trọng vật có thể là khối thép, khối gang, khối bêtông, cát đóng bao… Trọng vật trước khi thử phải được cân và đánh dấu
* Các yêu cầu khác:
- Dụng cụ dùng để TNL phải được chuẩn bị trước và xác định vị trí đặt chúng khi thử
- Tất cả các vật dụng, thiết bị trên tàu phải được cố định đúng vị trí của chúng Các trọng lượng thừa trên tàu nếu có thể thì phải di chuyển vào mặt phẳng dọc tâm tàu Các bộ phận có thể chuyển động trong lúc tàu nghiêng phải được giữ chặt
- Phải quy định hiệu lệnh bắt đầu đo và kết thúc đo trong mỗi lần di chuyển nhóm trọng vật
- Chỉ phát tín hiệu bắt đầu đo khi hệ máy chính – chân vịt dừng hoạt động,số người có mặt trên tàu phải di chuyển vào dọc tâm và đứng yên
tại đó
3 Trình bày những hiểu biết về phương pháp kiểm tra thấm lỏng
- Đây là 1 phương pháp dùng cho vật liệu không xốp,vật liệu sắt từ và đặc biệt tốt với vật liệu không sắt từ vì phương pháp bột từ không thể áp dụng cho loại vật liệu này
- Phương pháp này giúp phát hiện được các khuyết tật hở trên bề mặt của chi tiết,kết cấu,mối hàn,phát hiện các vết nứt gây rò rĩ trong các bồn chứa hoặc ống dẫn
- Trong phương pháp này,chất lỏng được phun lên bề mặt của sản phẩm cần kiểm tra trong 1 thời gian nhất định,các chất thấm sẽ đi sâu vào bên trong các bất liên tục.Sau đó phần chất thầm còn dư sẽ được rửa sạch khỏi bề mặt,bề mặt sau đó được làm khô và phun chất hiện lên nó.Những chất thấm nằm trong bất liên tục sẽ bị chất hiện hấp thụ tạo thành chỉ thị kiểm tra,phản ánh vị trí và bản chất của bất liên tục
Trang 3- Phân biệt theo màu sắc:
• Chất thấm có màu nhìn thấy trực tiếp thì chỉ cần dùng ánh sáng trắng, ánh sáng mặt trời là có thể quan sát được bất liên tục
• Chất thấm huỳnh quang: thè chỉ có thể thấy được bất liên tục dưới ánh sáng đen trong buồng tối
- Phân biệt theo chất tẩy rửa ta có:
• Chất thấm rửa bằng dung môi: được chế tạo để có thể rửa bằng một loại chất tẩy đặc biệt, những loại này rất gọn nhe và thường được dùng để kiểm tra tại hiện trường
• Chất thấm rửa bằng nước: được chế tạo sao cho có thể rửa trực tiếp bằng nước Quy trình này thường được sử dụng để kiểm tra trong phòng thí nghiệm và rất hiệu quả đối với các chi tiết nhỏ
• Chất thấm nhũ tương: là loại chất thấm không tan trong nước, thường được áp dụng để phát hiện các khuyết tật rất nhỏ, những vết nứt cạn
- Ưu điểm
• Rất nhạy với các khuyết tật hở trên bề mặt nếu được sử dụng phù hợp
• Thiết bị và vật tư được sử dụng cho phương pháp này tương đối rẻ tiền
• Qúa trình thấm lỏng tương đối đơn giản, nhân viên kiểm tra ít gặp khó khăn khi phải áp dụng trong kỹ thuật
• Không quá phụ thuộc vào hình dạng của chi tiết kiểm tra ít gặp các chỉ thị sai hay chỉ thị không thích hợp trên các bề mặt nhẵn phù hợp do đó
dễ giải đoán chỉ thị kiểm tra hơn phương pháp bột từ
• Qúa trình kiểm tra nhanh và giá thành tương đối rẻ
- Hạn chế:
• các khuyết tật phải hở ra trên bề mặt
• Vật liệu được kiểm tra phải không xốp
• Qúa trình kiểm tra khá bẩn
• Chất lượng kiểm tra phụ thuộc vào thị giác của người kiểm tra
• Một số chất có trong chất thấm có thể gây ra các tác dụng phụ như ăn mến, gỉ sét làm ảnh hưởng đến sự hoạt động sau này của các chi tiết, sản phẩm
• Kết quả khó giữ được lâu
4 Trình bày phương pháp xác định góc nghiêng ngang của tàu khi sử dụng dây dọi,thùng nước
Xác định góc nghiêng bằng dây dọi:
- Vị trí đặt dây dọi để đo, theo chiều rộng tàu thỡ đặt tại mặt phẳng dọc tâm, theo chiều dài thỡ phõn bố về phía mũi và lái Số lượng dây dọi thường là 02 hoặc 03 dây (tàu lớn nên sử dụng 3 dây)
- Dây dọi làm bằng vật liệu sợi tổng hợp khụng co dón, chiều dài dây dọi 2 á 3 mét, quả dọi có cánh nhúng vào thùng nước hoặc dầu để dao động giảm nhanh
Để đọc giá trị độ lệch ta căn cứ vào thước thẳng có vạch chia đặt trên thùng nước Giá treo dây phải được gắn cố
định trên mặt sàn
- Giá trị độ lệch K là biên độ tới hạn về bên trái hoặc bên phải so với vị trí cân bằng khi quả dọi dao động qua lại.Kết quả độ lệch đọc được phải được ghi vào bảng mẫu chuẩn bị trước
- Khoảng thời gian để lấy các giá trị này là từ lúc hệ con lắc bắt đầu dao động sau mỗi lần di chuyển nhóm trọng vật cho đến khi giảm dần và dừng hẳn Tuy nhiên, chúng ta chỉ cần lấy cần ghi lại khoảng 5 đến 10 giá trị để tính toán
Trang 4ÔN TẬP MÔN THỬ TÀU
Page 4
- Chiều dài dây dọi để tính toán là khỏang cách từ điểm treo dây tới thước dùng
để đo độ lệch
- Góc nghiêng ngang của tàu q ứng với mỗi lần dịch chuyển một nhóm trọng vật được tính theo công thức:
tg K
l
K : Độ lệch dây dọi (m)
l : chiều dài tính toán của dây dọi (m)
Hình vẽ: Dao động của dây dọi khi tàu nghiêng
5 Trình bày hiểu biết về quy trình thử tàu đường dài
Mục đích, ý nghĩa:
- Là bước tiếp theo của bước thử tàu tại bến, là một bước bắt buộc cuối cùng
trong trình tự công nghệ thi công đóng mới tàu
- Để kiểm nghiệm các tính năng của tàu có phù hợp với thiết kế hay không; kiểm nghiệm lại hoạt động của toàn bộ các hệ thống, thiết bị, máy móc trong điều kiện vận hành trên biển với thời gian tương đối dài Trên cơ sở đó, mới đưa ra quyết định đưa tàu vào khai thác hay chưa
Thử phần thân tàu
Thử tốc độ tăng dần
- Việc thử này được thực hiện tại các chế độ vòng quay của máy chính
nhằm xác định tốc độ của tàu theo thiết kế
Trang 5 Phương pháp
- Đo tốc độ tàu được thực hiện bằng cách cho tàu chạy với các tốc độ khác nhau trên quãng đường giữa các cột mốc (measure mile course) đã được chấp nhận với mỗi lần chạy tương ứng 50%, 75%, 85%,100% công suất liên tục cực đại (MCR)
- Thử tốc độ phải được bắt đầu từ vòng quay thấp nhất và tăng dần từng bậc cho đến vòng quay lớn nhất (MCR)
- Mỗi chế độ chạy thử phải cùng phạm vi công suất phát, không được gián đoạn mà phải thực hiện một cách liên tục
- Phải thực hiện hai lần chạy liên tiếp nhau cho mỗi cấp độ tàu, sự thay đổi hướng theo cột mốc thử và duy trì số vòng quay của động cơ là hằng số ở các chế độ thử
Thử quay vòng
- Mục đích thử này được thực hiện để đánh giá khả năng quay vòng của tàu ,đường kính quay vòng, thời gian quay vòng và các thông số liên quan khác
- Trước khi thử, tốc độ của tàu phải ổn định ở vòng quay liên tục cực đại của máy chính và bánh lái ở vị trí dọc thân tàu
- Quay bánh lái 1 góc 35 0 mạn phải và giữ bánh lái cho đến khi tàu quay vòng xong
- Cho tàu chuyển động đúng hướng và tốc độ ổn định trở lại, khi đó thực hiện tương tự cho việc thử quay sang mặt trái
- Tốc độ của tàu ở thời điểm thích hợp được đo bằng miếng gỗ làm dấu
Thử tiến và lùi khẩn cấp
- Công việc này được thực hiện trên phòng điều khiển cabin lái, nhằm để xác nhận khả năng điều động tàu trong những trường hợp khẩn cấp
- Trong khi tàu đang chạy tiến (lùi) ở vòng quay định mức và nhận được lệnh lùi (tiến) khẩn cấp, công việc được thực hiện như sau: Dừng máy chính, khởi động theo chiều lùi (tiến), cho lùi hết tốc (tiến đến vòng quay định mức) và duy trì trong khoảng thời gian cho đến khi tốc độ lùi (hoặc tiến) ổn định
- Công việc này thực hiện trong thời gian càng ngắn càng tốt
- Kiểm tra thời gian và tốc độ lùi (tiến) ổn định
Thử dừng quán tính tàu
- Việc thử này phải được thực hiện để xác định thời gian yêu cầu cho việc dừng từ khi tiến toàn tốc cho đến khi dừng hẳn
- Trong khi tàu đang hành trình tiến toàn tốc về phía trước theo qui trình thử
đường dài , khi đó ra lệnh dừng máy chính Vị trí tàu và thời gian được ghi nhận lại cho đến khi tốc độ của tàu ≤ 5 hải lý /giờ
Thử hoạt động các tời neo
- Việc thử này nhằm mục đích xác nhận khả năng họat động của tời kéo neo
- Việc thử này phải được thực hiện khi tàu đang ở vùng biển có độ sâu 30m
- Cả hai neo được thả xuống từ từ tới mặt nước
- Sau khi neo đã ở dưới nước thì thực hiện thử 1 neo để cho rơi tự do khoảng
30 xích
- Kéo đồng thời cả 02 neo lên khỏi mặt nước theo tư thế thẳng đứng
- Kéo từng neo một vào ống luồn neo
Trang 6ÔN TẬP MÔN THỬ TÀU
Page 6
- Hiệu quả của phanh trong khi thử phải đảm bảo và chiều dài phanh không vượt quá 7m
Thử phần máy tàu
- Máy chính được khởi động theo chiều tiến và lùi thay đổi luân phiên liên tục cho đến khi máy chính không thể khỏi động được nữa
- Việc thử này được thực hiện trong điều kiện máy chính ở trong trạng thái nguội và chỉ sử dụng 1 chai gió chính để dùng cho việc khởi động này
- Trước khi thử, chai gió phải được nạp nay gió đến mức quy định và trong quá trình thử không được nạp bổ sung
- Mục thử này được thực hiện để đánh giá khả năng quay vòng của tàu,
đường kính quay vòng, thời gian quay vòng và các thông số liên quan khác
Thử quay vòng tàu
- Trước khi thử, tốc độ của tàu phải ổn định ở vòng quay liên tục cực đại của máy chính và bánh lái ở vị trí dọc tâm tàu
- Quay bánh lái 1 góc 350 mạn phải va giữ bánh lái cho đến khi tàu quay vòng xong
- Cho tàu chuyển động theo đúng hướng và tốc độ ổn định trở lại, khi đó thưc hiện tương tự cho việc thử quay sang mạn trái
- Tốc độ của tàu ở thời điểm thích hợp được đo bằng miếng gỗ làm dấu
6 Tìm phương pháp tìm trọng lượng tàu không khi thử nghiêng lệch tàu
- Thao tác đo chiều chìm của tàu phải được tiến hành ngay trước lúc bắt đầu thử và sau khi thử trong điều kiện là tàu đang có trọng vật
- Cần đo chiều chìm tại 3 vị trí:sườn giữa, thước mớn nước mũi và thước mớn nước lái ở cả hai bên mạn tàu và khi tính toán ta lấy gía trị trung bình
số học để tránh ảnh hưởng của góc nghiêng ban đầu
- Chiều chìm mũi lái được ghi nhận bằng cách quan sát trên các thước mớn nước ở các vị trí tương ứng, chiều chìm tại sườn giữa có thể đo bằng cách
sử dụng thước thẳng, dây dọi hay ống thủy tinh hai đầu hở
- Để kiểm tra độ chính xác của kết quả đo chiều chìm, phải kẻ trên bản vẽ tuyến hình những đường nước lấy theo thước nước và theo các giá trị mạn khô đã đo được Nếu phép đo chính xác thì cả hai đường nước này phải trùng nhau Khi các đường nước đó không hoàn toàn trùng nhau thì nên dùng phương pháp mà trong điều kiện thí nghiệm cho độ chính xác cao hơn, hoặc lấy vị trí trung bình của các đường nước Khi các đường nước đó khác nhau nhiều quá thì phải đo lại chiều chìm Trên tàu phải có đủ hồ sơ chứng minh độ chính xác của các thước nước
- Tiếp theo, ta vẽ đường mớn nước vừa tìm được lên bản vẽ Tỉ lệ Bonjean và tính được lượng chiếm nước của tàu khi thử theo công thức :
D .K.V .K.L.Si
Trong đó :
: trọng lượng riêng của nước K: hệ số để ý đến lượng chiếm nước của các phần nhô và của
vỏ tàu
L: khoảng cách sườn
Trang 7Si : tổng các diện tích sườn lấy từ đồ thị Bonjean
- Trọng lượng tàu không được tính theo công thức:
D0 = D + Dthiếu – Dthừa Trong đó :
D0 : trọng lượng tàu không
D : trọng lượng tàu khi thử
Dthiếu : tổng trọng lượng thiếu (theo Bảng 4.1)
Dthừa : tổng trọng lượng thừa (theo Bảng 4.2)
- Hoành độ tâm nổi :
XB= IV
II
Cao độ tâmnổi
KB = V II
- Bán kính tâm nghiêng ngang :
BM= VII
II
Trang 8Kỹ thuật đo & thử tàu UT HCM
- 8 -
7 Tìm cách tìm tọa độ tâm nổi và bán kính tâm nghiêng khi thử nghiêng lệch tàu
8 Trình bày hiểu biết về quy trình thử tàu tại bến
* Thử thiết bị neo:
Thử thiết bị neo:
- Kiểm tra sự họat động của hệ thống neo khi thả và nhổ neo
- Sự phù hợp giữa xích neo và tang neo Xích neo phải đi qua tang một cách dễ dàng,không bị kẹt ở tang
- Kiểm tra góc ôm của xích với tang xích (Tang nằm ngang ≥ 115o ; Tang nằm dung ≥ 150o)
- Kiểm tra xớch neo qua hãm xích, lỗ neo, ống neo, neo vào thùng xích và
sự sắp xếp xích neo trong thùng
- Kiểm tra neo áp vào vỏ tàu: hai mỏ neo và đế neo Khi cán neo chui vào trong ống neo,mỏ, đế neo phải áp sát vào vỏ
- Cán neo không được thò lên boong qua ống neo
- Kiểm tra sự họat động của cẩu neo và đưa neo vào vị trí đặt trên boong
Đo tốc độ thả và nhổ neo:
- Nếu kéo bằng tay thì tốc độ kéo neo không nhỏ hơn 0,042 m/s, khi tốc
độ vòng quay không lớn hơn 1 m/s ứng với lực tác dụng của 1 người tác dụng lên tay quay không được lớn hơn 120 N (12 kG)
- độ sâu khi thả neo tùy theo lọai phương tiện theo thiết kế đó duyệt y
Kiểm tra sự làm việc của các thiết bị hãm xích neo
- Nếu kéo bằng tay: dao chặn xích, vít hãm vụ tận phải đảm bảo giữ không cho neo rơi tự do khi kéo
9 Trình bày công thức tính trọng lượng vật dung khi thử nghiêng lệch.Vẽ sơ
đồ di chuyển 4 nhóm trọng vật ở 9 trạng thái
10 Trình bày hiểu biết về phương pháp kiểm tra bằng siêu âm
- Là một trong những phương pháp kiểm tra không phá hủy được ứng dụng rộng rãi nhất
- Sóng siêu âm có tần số cao được truyền vào vật liệu cần kiểm tra nhằm phát hiện các bất liên tục bên trong và trên bề mặt Sóng siêu âm truyền qua vật liệu kèm theo sự mất mát năng lượng bởi tính chất của vật liệu và sau đó phản xạ tại các bề mặt phân cách chùm sóng âm phản xạ lại được thu nhận
và phân tích để xác định sự có mặt và vị trí khuyết tật
- Mức độ phản xạ của sóng âm phụ thuộc rất nhiều vào trạng thái vật lí của vật liệu ở phía đối diện với bề mặt phân cách và phụ thuộc ít hơn vào các tính chất vật lý đặc trưng của vật liệu đó
- các bất liên tục như : nứt, phân lớp, rổ khí, co ngót, các lỗi về mất liên kết …
có trạng thái giống như trạng thái giữa kim loại-khí đều có thể phát hiện một cách dễ dàng do sóng siêu âm gần như phản xạ hoàn toàn khi gặp các khuyết tật loại này
- Ứng dụng chính của phương pháp siêu âm là phát hiện và xác định bản chất của khuyết tật bên trong vật liệu nó cũng được dùng để phát hiện các bất liên tục bề mặt; xác định các đặc tính liên kết; đo bề dày vật liệu để khảo sÁt tình trạng ăn mòn; khảo sát cấu trúc hạt, độ sâu lớp thấm, độ cứng bề mặt, cơ
Trang 9tính vật liệu và các hằng số đàn hồi
- Ưu điểm:
• Có độ nhạy cao, cho phép xác định được các khuyết tật nhỏ
• Có khả năng xuyên thấu cao, cho phép kiểm tra các chi tiết rất dày
• Có độ chính xác cao trong việc xác định vị trí và kích thước khuyết tật
• Cho đáp ứng nhanh vè thế cho phép kiểm tra nhanh và tự động
• Chỉ cần tiếp xúc một phía của vật được kiểm tra
• Thiết bị gọn nhẹ, dễ vận chuyển
- Hạn chế:
• Các chi tiết có hình dạng phức tạp,bề mặt thô nhám,quá nhỏ hay quá mỏng,vật liệu không đồng nhất đều khó kiểm tra
• Phương pháp này cần phải sử dụng chất tiếp âm
• Đầu dế phải được tiếp xúc phù hợp với bề mặt mẫu trong quá trình kiểm tra
• Hướng của khuyết tật có ảnh hưởng đến khả năng phát hiện khuyết tật
• Thiết bị rất đắt tiền
• Nhân viên kiểm tra phải có nhiều kinh nghiệm
11 Trình bày hiểu biết về phương pháp kiểm tra bằng dòng điện xoáy
- Phương pháp dòng điện xoáy dùng để phát hiện các khuyết tật bề mặt hoặc sát
bề mặt trên vật thể kiểm tra Nó cũng được dùng để phân loại vật liệu, xác định độ từ thẩm, đo bề dày lớp mạ, lớp sơn trên các vật liệu khác nhau… và trong một vài ứng dụng khác để đo độ sâu lớp thấm cacbon
- Phương pháp này chỉ áp dụng được đối với những vật liệu dẫn điện trong trường hợp kiểm tra mối hàn, một dòng điện xoay chiều được cho chạy qua một cuộn dây đặt gần mối hàn sự thay đổi dòng điện trong cuộn dây sẽ tạo nên một từ trường xoay chiều trong vật liệu và ngược lại, khi có sự thay đổi từ trường trong mối hàn sẽ tạo ra một dòng điện cảm ứng trong vật liệu
- Dòng điện xoáy này, thay đổi theo từ trường,sẽ tạo ra một từ trường riêng của
nó Đầu dò sẽ cảm ứng về điện và phát hiện ra bất cứ sự thay đổi nào trong từ trường tương tác này.Bất liên tục trong mối hàn sẽ làm thay đổi biên độ và hướng của dòng điện xoáy, do đó chúng sẽ bị phát hiện qua tín hiệu kiểm tra,tín hiệu này sau đó được hiển thị trấn màn hình crt, máy vẽ x-y, máy ghi biểu đồ băng, đồng hồ analog ,đồng hồ digital,phụ thuộc vào từng loại ứng dụng và các loại thiết bị được sử dụng
- Ưu điểm:
• Cho tín hiệu về tènh trạng vật kiểm tra tức thời
• Dễ tự động hóa kiểm tra với tốc độ cao
• Phương pháp này đa năng ở chổ nó nhạy cảm với nhiều thông số vật lí cũng như cơ học
• Không cần tiếp xúc trực tiếp giữa đầu dò và vật thể kiểm tra
• Thiết bị gọn nhẹ, dễ cơ động di chuyển
- Hạn chế:
• Có quá nhiều thông số ảnh hưởng đến tín hiệu kiểm tra trong cùng một thời điểm cho nên nhân viên kiểm tra phải là người có nhiều kinh nghiệm
• Chỉ dùng được cho các vật liệu dẫn điện
• Bị giới hạn về khả năng xuyên sâu chỉ hiệu quả trên bề mặt
Trang 10Kỹ thuật đo & thử tàu UT HCM
- 10 -
12 Trình bày cách xác định góc nghiêng ngang của tàu khi sử dụng ống thủy bình
- Theo chiều rộng tàu thì 02 đầu ống thủy được đặt đối xứng nhau qua mặt phẳng dọc tâm ở hai bên mạn tàu Theo chiều dài thì phân bố về phía mũi và lái Số lượng ống thủy thường là 02 hoặc 03 (tàu lớn nên sử dụng 3)
- Bản chất của phương pháp này là sử dụng nguyên lý hai bình thông nhau Khi tàu tàu ơ trạng thái cân bằng, mực nước ở 02 đầu ống thủy xấp xỉ bằng nhau Khi tàu nghiêng đi một góc , mực nước ở 02 đầu ống thủy sẽ chênh nhau một lượng là 2K
- Góc nghiêng ngang của tàu ứng với mỗi lần dịch chuyển một nhóm trọng vật nào đó được tính theo công thức:
Trong đó:
tg K
L
K : Độ chênh lệch giữa hai đầu ống thủy (m)
L : Khoảng cách từ mặt phẳng dọc tâm tàu tới đầu ống thủy(m)