1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Kỹ thuật nuôi tôm: Phần 2

51 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 20,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu Tôm - Kỹ thuật nuôi và chăm sóc còn giới thiệu chi tiết một số phương pháp nuôi các loại tôm ở nước ta như: Kỹ thuật nuôi tôm hùm, kỹ thuật nuôi tôm càng xanh, kỹ thuật nuôi tôm thẻ trắng.... Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.

Trang 1

TH Ứ C Ă N N U Ô I T Ô M

Tiêu chuẩn thức ăn cho tôm và hệ số thức nuôi tôm

Tiếu ch u ân thứ c ăn d à n h cho tôm

Thức ăn dùng để nuôi thâm canh tôm hiện nay có

2 loại, chúng chê biến theo phương pháp khác nhau: Thức ăn dạng khô viên và thức ăn tươi.

Theo chuẩn phần trăm của từng độ tuổi của con tôm mà ta sẽ tính được lượng thức ăn cho tôm là:

Sản lượng tôm trong ao nuôi là kết quả tổng hỢp

từ việc sử dụng thức ăn thiên nhiên, thức ăn thiên

&

Trang 2

nhiên làm từ phân và'thức ăn công nghiệp (artificial feed), có thê biểu hiện như sau: s ả n lượng tôm trong (Thức ăn thiên nhiên + thức ăn thiên nhiên làm ao

từ phân) + thức ăn công nghiệp.

Do đó có thể thấy rằng, trong ao nuôi cần phải tạo nguồn thức ăn thiên nhiên cho tôm khi đang còn

giai đoạn đầu.

Việc tạo nguồn thức ăn thiên nhiên (màu nước) trong ao nuôi trước khi thả tôm là cần thiết và quan trọng đổi vối tôm khi đang còn nhỏ và việc sử dụng thức ăn công nghiệp (artificial fedd) thêm sẽ giúp tôm có đầy đủ chất dinh dưỡng, làm cho tôm tăng trưởng tốt và tỷ lệ sông cao Khi so sánh với dạng nuôi quảng canh mà không dùng thức ăn, tôm sẽ có

tỷ lệ sông thấp và tăng trưởng không đều Việc sử dụng thức ăn công nghiệp (thức ăn viên) phải xem xét đến giá trị dinh dưỡng, hiệu quả của việc hấp thụ

và khả năng sử dụng tốt để từ đó duy trì cuộc sông,

ổn định về sau hoặc giúp tôm tăng trưởng và để duy trì giông Do đó, thức ăn tôm tôt cần phải xem xét đến các thành phần chính như sau:

- Giá trị dinh dưỡng; Phải đảm bảo đầy đủ và phù hỢp các chất như đạm (protein), chất béo, hydrat cacbon (carbohydrate), vitamin và khoáng chất; Có thể xem xét dựa trên tôc độ tăng trưởng hằng ngày (ADG), tỷ lệ chuyển đổi thức ăn thành thịt trong từng giai đoạn tuổi và suốt vụ nuôi (FCR period and FCR pond) và khả năng kháng bệnh của tôm.

k48

Trang 3

- Quy trình sản xuất thức ăn tôm phải tạo ra sản phẩm đạt hiệu quả cao nhất đế không ảnh hưởng đến môi trường nuôi về sau, do đó tức ăn tôm đưỢc sản xuất ra cần phải;

+ Dây chu3^ển sản xuất phải có khả năng tạo ra nhiều kích cỡ thức ăn: thức ăn dạng viên nhỏ (Crumble)

và lốn (Pellet) để phù hỢp vối các cở tôm, để tôm dễ bắt mồi và hấp thụ tốt (CP 4001-s, 4001, 4002, 4003, 4004-s

và 4005).

+ Nhà máy có quy định trong quá trình sản xuất, có nghiên cứu, phát triển sản xuất và sản phẩm tốt hơn, giá cả phù hỢp và sản phẩm từ nhà máy phải qua kiểm nghiệm trưốc khi đến người tiêu dùng.

+ Nguyên liệu để sản xuất thức ăn tôm phải đảm bảo giá trị dinh dưỡng, không có độc và phải được nghiền nhuyễn để tôm có thể tiêu hoá nhanh và hấp thụ tôt.

+ Giữ mùi thơm để hấp dẫn tôm ăn theo thời gian quy địrứi (2 giò).

+ Ediả năng bền trong nưốc tô"t để thức ăn không

bị hư, vitamin và khoáng cất không bị thất thoát ra

Trang 4

bên ngoài và không làm cho đáy ao bị bẩn, tuy nhiên thức ăn mà có khả năng bền lâu trong nước sẽ làm cho tôm khó bắt mồi vì tôm không thề đánh mùi được.

Hệ s ố thức ăn nu ôi tôm (HSTĂ)

Hệ sô" này là sô kilôgam thức ăn phải tiêu tốn để thu được Ikg tôm tăng trọng, được tính bởi công thức:

HSTA = Khối lượng thức ăn đã cho ăn trong suốt thời gian nuôi/sản lượng (tôm) thu hoạch được.

Ví dụ để tính hệ sô" thức ăn nếu sản lượng tôm cá thu hoạch ở một đầm nuôi là l i o o k g và lượng thức

ăn đã sử dụng để nuôi tôm là 2950kg.

- Trong trường hỢp nếu muôn so sánh một loại thức ăn tươi với thức ăn công nghiệp thì hai loại thức

kSO

Trang 5

ăn này cần phải quy về thức ăn khô, tức là phải biết được độ ẩm của từng loại thức ăn.

Ví dụ: So sánh hiệu quả của một loại thức ăn khô có hệ sô' thức ăn 2,5/1 so vối một loại thức

ăn tươi có hệ sô' thức ăn là 4,6/1 Biết độ ẩm của thức ăn khô là 10% và thức ăn tươi là 45%.

Để dễ dàng so sánh, quy hệ sô' thức ăn của công thức tươi ra như sau:

100 - 45

100 - 1 0 Trong trường hỢp này thức ăn khô (hệ sô' thức ăn 2,5/2) tô't hơn thức ăn tươi (hệ sô' thức

ăn 2,82/1) Ví dụ trên đây chỉ là một cách đơn giản để so sánh hiệu quả sử dụng của hai loại thức ăn với nhau.

Trong thực tế, muốn so sánh hiệu quả sử dụng của các loại thức ăn thì người nuôi tôm cần phải căn cứ vào những cơ sở sau:

+ Hệ sô' thức ăn.

+ Giá thức ăn.

+ Tô'c độ tăng trưởng của tôm cá nuôi.

+ Chi phí thức ăn (vận chuyển thức ăn, chê' biến thức ăn (tươi), lao động cho ăn).

+ Giá trị thị trường của sản phẩm (tôm).

Trên đây là việc tính hệ sô' thức ăn và so sánh theo điều kiện tiêu chuẩn nuôi tôm, đặt trong cùng một điều kiện của kỹ thuật nuôi như nhau Nhưng trong thực tế, hệ sô' thức ăn còn phụ thuộc rất nhiều

Trang 6

vào các yếu tô ao, hồ, kỹ thuật nuôi và chăm sóc Vì vậy, quá trình nuôi tôm không tách rời các yếu tố chỉ quan tâm đến hệ sô thức ăn, trong khi các điều kiện

kỹ thuật nuôi và chăm sóc yếu kém được mà phải có

sự kết hỢp tất cả các điều kiện có lợi để nuôi tôm.

Kỹ thuật chế biến thức ăn nuôi tôm

N guyên liệu

- Nguyên liệu dùng để chê biến thức ăn khô viên chủ yếu ở dạng khô, như: bột cá, bột tôm, bột đầu tôm, bột mực, bột thịt xương, dịch đạm cá cô đặc, các loại khô dầu đã trích ly chất béo, dịch chiết từ đầu tôm, lúa mì, cám lúa mì, ngô, nấm men, dầu gan cá, dầu gan mực, các premix khoáng, premix vitamin, các chất kết dmh, các phụ gia (chống oxy hoá, chống mốc ).

- Còn thức ăn tươi tuỳ theo công thức phải có sự phối chế, thành phần các nguyên liệu có khác nhau Song thường dùng có 2 loại:

+ Loại nguyên liệu khô: Tấm gạo, cám gạo, ngô, bột mì, bột khoai mì, bột cá, khô đậu nành, khô lạc, khô dầu dừa

+ Loại nguyên liệu tươi; Cá tạp và các loại rau tươi như; bí đỏ, rau muông, bèo tấm

C h ế b iến

- Đôl với thức ăn khô dạng viên: ở các nước và khu vực có công nghiệp nuôi tôm phát triển như:

152

Trang 7

Nhật, Mỹ, Thái Lan, có các nhà máy chế biến thực hiện trên các dây chuyền thiết bị hiện đại, công suất cao.

Còn ỏ Việt Nam, sản xuất thức ăn nuôi tôm đang thực hiện dây chuyền thiết bị không lốn, quy mô nhỏ công suất 500 - 2.000kg/ngày.

+ Thiết bị để chế biến: Cây bàn, máy nghiền nguyên liệu thô (máy nghiền lúa), máy trộn (trục nằm ngang), máy tạo viên, lò sấy, thiết bị sửa viên

và máy sàng.

+ Các công đoạn chê biến: Tùy vào từng loại nguyên liệu nghiền riêng để lấy độ mịn 0,7 - 0,8mm, sau đó đưa nguyên liệu được cân chính xác theo tỷ lệ trong công thức chê biến đưa vào máy trộn theo thứ

tự (nguyên liệu có khối lượng lớn trộn trước, nguyên liệu khối lượng nhỏ tiếp sau) Riêng premix khoáng, premix vitamin, các phụ gia được trộn đều ở bên ngoài, sau đó đưa vào máy trộn chung Còn các bột làm bằng chất kết dính như bột mì, bột sắn, bột gạo được nấu chín riêng, sau đó trộn với các nguyên liệu khô cùng vối các nguyên liệu dạng lỏng như (dầu gan cá) Toàn bộ hỗn hỢp thức ăn sau khi đã trộn đều được đưa sang máy tạo viên Sau đó, các viên thức ăn được đưa vào lò sấy ở nhiệt độ 50 - 60°c, sấy cho đên khi độ ẩm nhỏ hơn hoặc bằng 10% Rồi các viên thức

ăn đưa sang thiết bị sửa viên để phân cỡ viên thức

ăn Khâu cuối cùng là đóng gói bảo quản.

Trang 8

- Đôi với thức ăn dạng tươi:

Công nghệ chê biến dạng nàv đơn giản hơn Đầu tiên, các nguyên liệu khô được nghiền riêng từng loại Sau khi xay nguyên liệu tươi (cá tạp tươi hoặc

đã nấu chín), các nguyên liệu khô được cân chính xác theo từng hàm lượng của công thức rồi đưa vào máy trộn theo tuần tự (nguyên liệu có khôi lượng % lốn trộn trước) Sau đó, nguyên liệu trộn xong có độ ẩm thích hỢp (35 - 40”C) được đưa vào máy đùn ép tạo thành sợi hoặc dạng viên.

Cách thức ứng d ụ n g từ n g lo a i thức ăn

Thức ăn dạng khô viên có thể thuận tiện cho việc

sử dụng, bảo quản và lưu thông, sản xuất chủ động không phụ thuộc vào mùa vụ nguyên liệu Người nuôi có thể sản xuất tập trung để nuôi tôm lớn Song giá hiện nay cao (18.000 - 20.000đ/kg thức ăn).

Đốì với thức ăn tươi chê biến tại chỗ có ưu điểm

là tận dụng được những nguồn nguyên liệu tại địa phương, giá thành hạ, hơn nữa lại phù hỢp với phát triển nuôi Tôm ỏ quy mô gia đình Tuy nhiên, khi sử dụng thức ăn tươi để chăn nuôi tôm nếu không tuân theo quy trình sẽ dẫn đến môi trường bị ô nhiễm Công nghệ sản xuất thức ăn nuôi tôm gồm các công đoạn ban đầu như: Xay, nghiền, trộn cũng giông như sản xuất thức ăn cho gia súc Ngày nay, trong sản xuất thức ăn cho gia cầm người ta đã tạo dạng viên giông như thức ăn nuôi tôm, chỉ khác ở chỗ thức

l 54

Trang 9

ăn dùng cho gia cầm không cần dùng các chất dính lâu tan trong nước như thức ăn nuôi tôm cá Vì vậy, những dây chuyền thiết bị sản xuất thức ăn cho gia súc cần thêm máy tạo viên cùng với chất kêt dính cho viên thức ăn lâu tan thích hỢp sẽ dùng được cho sản xuất thức ăn nuôi tôm.

Những năm gần đây, do sự phát triển của việc sử dụng thức ăn chế biến công nghiệp để nuôi tôm, nên

đã hình thành và phát triển các đại lý bán các nguyên liệu chế biến thức ăn để nuôi tôm Vì vậy, muôn tìm hiểu sâu về công nghệ chế biến thức ăn trong nuôi tôm cá cũng như mua sắm dây chuyền thiết bị chê biến, người nuôi có thể liên hệ vối Viện nghiên cứu môi trường thuỷ sản I (xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) để có thêm những thông tin cần thiết.

Phương pháp cho tôm ăn

- Chia thức ăn trong ngày ra nhiều bữa, tháng thứ nhất từ 2 - 3 bữa, các tháng sau từ 4 - 5 bữa.

- Nên cho tôm ăn theo những giò cô' định, tránh thòi gian môi trường nước không thuận lợi (từ 12 giờ khuya đến 4 giờ sáng là thòi gian lượng oxy hòa tan thấp nhất và từ 11 giờ 30 phút đên 2 giờ chiều là thời gian nhiệt độ nước trên bề mặt cao nhất).

- Khi chuyển cỡ thức ăn, chú ý không nên chuyến đột ngột mà chuyển chậm từ 5 - 7 ngày, tỷ lệ thức ăn

.5 5

Trang 10

cỡ nhỏ : cỡ lớn lần lưỢt là 7:3, 5:5, 3:7 rồi mới toàn cỡ lốn, khi cho ăn thì cho cỡ nhỏ trưốc, cỡ lớn sau, rải đều khắp ao, với ao mối thả, lưỢng thức ăn ban đầu tạm tính tương ứng 80% lượng tôm, sau đó điều chỉnh lại.

- Cách rải thức ăn cho ao đất: Trong quá trình nuôi truyền thông, người nuôi tôm thường cho tôm

ăn bằng cách rải thức ăn đều trên toàn mặt ao Tuy nhiên, trong việc nuôi tôm, phương pháp này có thể làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của con tôm Bởi vì, thức ăn d ư thừa chìm xuông đáy và bị dẫm lên bơi con tôm, mà tập quán của con tôm khi di chuyên chúng đi từng đàn, những thức ăn d ư thừa này sẽ bị đạp xuông bùn, không được con tôm nhặt ăn hết, do

đó thức ăn d ư thừa này sẽ bị thôi rữa và phân hủy thành “Ammonia”.

Trong đó ammonia là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường nước, mà môi trường nước bị ô nhiễm này lại tạo ra môi trường thuận lợi cho những

vi khuẩn gây bệnh dễ dàng phát triển Vì vậy, để phòng ngừa và ngăn chặn cơ hội phát triển của vi khuẩn người nuôi trồng cần phải có sự nhận thức đúng về chúng để phòng chông dịch bệnh một cách hiệu quả hơn ở nhiều nước Nam Mỹ như Ecudor, Panama, Nicaragua đã dùng những cái “sàng ăn” để ngăn chặn thức ăn dư thừa của tôm.

Trang 11

- 0 nhiễm liên quan đến ao nuôi tôm:

Công nghệ nuôi tôm bắt đầu từ những năm 80 với việc phát triển kỹ thuật nuôi con giông nhân tạo một cách hiệu quả Từ đó, hoạt động nuôi tôm

có sự chuyển đổi từ nuôi quảng canh, bán thâm canh sang nuôi thâm canh Kỹ thuật nuôi tôm thâm canh bao gồm:

+ Tăng mật độ thả (trurLg bình 250.000 - 500.000 con giông/lha).

+ Sự phụ thuộc lớn vào các trại nuôi con giống + Phụ thuộc vào thức ăn chế biến.

+ Sử dụng hệ thông quạt khí.

+ Tăng chu kỳ trao đổi nước.

Như vậy, càng tăng cường hoạt động nuôi thâm canh thì nhu cầu quản lý môi trường nuôi càng cần

Trang 12

thiết Trong đó mức đậhủy hoại môi trường nuôi bên trong ao nuôi và bên ngoài xuất phát từ các nguyên nhân sau:

+ Mật độ nuôi cao.

+ Sử dụng nhiều thức ăn chê biến sẵn.

+ Các ao bố trí dầy đặc bên cạnh nhau dọc theo miền duyên hải.

+ Không có ao xử lý nước trưốc khi đưa vào ao nuôi + Tăng chu kỳ thay nước.

+ Chu kỳ làm sạch ao chưa hiệu quả.

- Mức độ bài tiết của con tôm tăng lên.

- 0 nhiễm do việc sử dụng thuốc và các hóa chất trong quá trình nuôi tôm:

+ Phần lổn sản phẩm dư thừa trong quá trình nuôi tôm đã tích tụ dưối đáy ao Đây chính là nguồn gây nguy hại cho con tôm và cho hoạt động nuôi tôm Bởi vì, lớp bùn đáy ao này rất độc, thiếu oxy và chứa nhiều chất độc như ammonia, nitrite, hydrogen sulfide Con tôm luôn có xu hướng tránh khỏi vùng

k58

Trang 13

nàv và tập trung vào những khu vực sạch sẽ hơn Do vậy việc tôm tập trung vào một vùng sẽ làm giảm bót diện tích cho ăn, cũng như tăng tính cạnh tranh trong khi ăn Nếu như toàn bộ đáy ao bị dơ bẩn thì tôm bắt buộc phải sông trong môi trường ô nhiễm Hơn nữa, lớp bùn dơ bẩn còn tác động lên nước trong

ao khi nuôi tôm, làm giảm chất lượng nước.

+ Chất lượng nước và chất lượng đáv ao dơ bẩn sẽ tác động trực tiếp tới con tôm Từ đó, con tôm luôn bị căng thẳng, thể hiện qua việc tôm kém ăn, mức tăng trưởng giảm và dễ bị mắc bệnh do vi khuẩn như Vibriosis và dẫn đến việc tôm chết hàng loạt Phần lớn các bệnh của con tôm đều có nguồn gôc từ môi trường mà chúng sinh sống.

- Môi trường bên ngoài trại nuôi tôm, chất thải dơ bẩn thường không được quản lý tốt cũng sẽ làm ảnh hương tới hệ sinh thái ven biển Điều này không chỉ tác động ảnh hưởng tối môi trường đất mà còn lên các tài nguyên ven biển, bao gồm cả các trại nuôi tôm Việc tái

sử dụng ao bị ô nhiễm hay đổ rác ra môi trường xung quanh sẽ làm cho nguồn nước bị ô nhiễm và tác động lên các hoạt động ven biển.

Tại một sô" nơi, hoạt động nuôi ì:ôm đem lại kêt quả rất tốt trong một vài năm, nhưng sau đó lại gặp thời kỳ sa sút trầm trọng dẫn đến phá sản mà nguyên nhân chủ yếu liên quan các mầm bệnh trong môi trường nuôi.

Thông thường, nhà nông hay dùng thuốc kháng sinh để trị bệnh cho tôm, nhưng việc đó không giải

,59

Trang 14

quyết được vấn đề cốt yếu Hiện nay, việc áp dụng công nghệ sinh học và các chê phẩm sinh học đế gìn giữ và cải thiện năng suất nuôi đã đưỢc sử dụng rộng rãi như một phương thức chữa trị hiệu quả, tiết kiệm

và tôt hơn nhiều so với việc sử dụng kháng sinh Hơn nữa, sử dụng chê phẩm sinh học và việc quản lý cho tôm ăn ỏ một mức độ lớn là một phương thức kiểm soát mầm bệnh trong các ao nuôi tôm Chẳng hạn khi sử dụng vi khuẩn Bacillus sp đã làm tăng thòi gian nuôi lên gấp đôi so với ao nuôi không sử dụng chê phẩm sinh học và ao bị nhiễm bệnh Vibrio harveyi Tại những ao có sử dụng chê phẩm sinh học thì mức phát sáng do vi khuẩn V harveyi thấp, gần như triệt tiêu và cho kết quả thu hoạch rất tôt Việc

bố sung thêm Bacillus sp đã đem lại lợi ích cho tôm, giúp tôm chống lại bệnh phát sáng (Vibriosis) và khỏe mạnh hơn làm tăng sản lượng nuôi tôm Chê phẩm sinh học còn chứa acid lactic (Lactobacillus và Carnobacterium sp.) là một loại vi khuẩn có tác dụng chổng lại mầm bệnh và cung cấp một nguồn kích thích miễn dịch Carnobacterium divergens là một loại chê phẩm sinh học tiềm năng khác có tác dụng làm giảm áp lực gây bệnh của vi khuẩn Vibrio anguillarum Như vậy, các lợi ích khác của chế phẩm sinh học bao gồm:

- Tăng cường vi thực vật đường ruột.

- Cung cấp acid amino căn bản và vitamin từ vi thực vật đường ruột.

- Tăng khả năng hấp thụ vitamin và chất khoáng.

i60

Trang 15

- Nâng cao hệ sô" tiêu thụ thức ăn.

- Nâng cao năng suất và sản lượng.

- Tăng sô vụ nuôi.

- Loại bỏ việc sử dụng kháng sinh trong nuôi trồng.

- Cải thiện môi trường nuôi giảm tỷ lệ mắc bệnh Theo nghiên cứu của Trung tâm Phát triển Thủy sản Đông Nam Á (SEAPDEC) cho thấy: Hiệu quả của chê phẩm men vi sinh dựa vào sô" lượng bào

tử vi khuẩn tồn tại vào thòi điểm mà chê phẩm men

vi sinh được đem sử dụng tại ao nuôi Như vậy, vào thòi điểm sử dụng trong ao phải có trên một tỷ bào

tử vi khuẩn tồn tại trong Igr hay Iml thì sản phẩm mới có hiệu quả Những chế phẩm men vi sinh có sô' lượng bào tử vi khuẩn thấp thường đưỢc đóng gói dạng lỏng Bởi vì, hệ sô' tồn tại của bào tử bị giảm đi nhanh chóng trong quá trình vận chuyển và lưu kho đối với các sản phẩm ở dạng lỏng và chúng có thời hạn sử dụng dưới ba tháng.

Phòng bệnh cho tôm do môi trường biến động trong mùa mưa bão

P h ò n g bệnh cho tôm tro n g m ù a m ưa bão

Nuôi tôm trong mùa mưa sẽ gặp rất nhiều trở ngại,

vì môi trường thay đổi mà người nuôi chưa chủ động không chê" được Do đó, để hạn chê" các rủi ro cho việc nuôi tôm thì người nuôi cần có biện pháp phòng bệnh cho tôm kịp thời Các biện pháp sau đây sẽ giúp người nuôi tôm giải quyết được các rủi ro không đáng có.

Trang 16

- xử lý ao nuôi tôm trong khu vực đất phèn:

+ Nếu ao đã phơi khô một thòi gian dài trong mùa nắng, thì lúc mưa xuông ao sẽ bị xì phèn nhiều

ỏ đáy ao và bò ao.

+ Cách xử lý:

Trước khi dùng vôi hoặc chuẩn bị ao thì người nuôi nên rửa ao bằng vôi nung (CaO) 20 - 30kg/1600m2 nên thực hiện ít nhất 1 lần, tôt nhất nên rửa ao từ 2 - 3 lần Bên cạnh đó, người nuôi phải kiểm tra độ pH của nước (nên cao hơn 7) và sau đó từ

từ nâng độ pH lên 7,2 - 7,8.

- Xử lý độ mặn của ao nuôi:

ớ mỗi khu vực nuôi khác nhau sẽ có độ mặn của nước khác nhau, do đó việc quan trọng là người nuôi phải kiểm tra độ mặn trong nước chính xác ở trại sản xuất giông để điều chỉnh độ mặn tương đương nhau ở hai môi trường nuôi Tuy nhiên, người nuôi cần chú ý

độ mặn ở hai môi trường nuôi không đưỢc chênh lệch quá 5ppt để giảm sôc và tăng tỷ lệ sống của tôm.

162

Trang 17

- Diệt tạp ở ao nuôi trước khi thả giông;

Nếu thời gian chuẩn bị nước lâu quá thì trước khi thả giông người nuôi phải kiểm tra xem trong

ao có các loài cá tạp, tôm đất, tép hay không Nếu

có các loài này thì người nuôi phải diệt chúng trước khi thả giống, có thể dùng thuôd để diệt, cá Saponin, bọ cạp hay rùa vàng hoặc thay nước mới Nêu không tỷ lệ sông của tôm giảm đi rất nhiều và tôm rất dễ bị nhiễm bệnh từ các sinh vật đó.

- Xử lý ao nuôi khi trời mưa lúc đang thả giông: Bình thường tròi hay mưa vào buổi chiều hoặc buổi tôi, do đó người nuôi nên tiến hành thả giốiig vào buổi sáng sẽ an toàn hơn, đặc biệt là khu đất có phèn nhiều.

Ví dụ: Khi đang thả tôm mà có mưa xuông, tôm giông dễ bị sôc do phèn và môi trường, tôm giông yếu

và sẽ chết.

+ Cách xử lý:

Dùng vôi CaCO;j, SUPER CANXIMAX (CaCOa 98,5%) rải trên bờ liên tục và sau khi mưa rải CaCO„ SUPER CANXIMAX hoà tan với nước (chú ý nên đo độ pH trong ao trước khi dùng).

- Đối vối hiện tượng tôm bị nổi đầu lên khi mưa: Sau khi mưa tôm thường bị nổi đầu ở những khu vực đất phèn nhiều và ao cũ hoặc ao có độ sâu thấp ít thay nước Khi mưa lượng phèn trên bờ sẽ theo nưốc mưa chảy vào ao, làm cho độ pH trong nước trong ao thấp dẫn đến H^s ở đáy ao, có độc tô' tăng lên khiến tôm nổi đầu lên mặt nước.

.63

Trang 18

+ Cách xử lý;

Đe khắc phục hiện tượng này thì người nuôi nên thay nưốc ở đáy ao dùng vôi SUPER CANXIMAX rải đều khắp ao để tăng pH trong nưốc cao hơn 7,5, sau

đó phải giảm lượng thức ăn xuôhg.

- Xử lý hiện tượng nước nuôi tôm quá trong:

Sau khi mưa xuống, nước ở khu vực đất phèn cát

bị trong do khi mưa sự thay đổi môi trường nước diễn

ra quá nhanh (tảo trong ao chết đột ngột), làm cho nước rong và thiếu chất dinh dưỡng cho tôm

+ Cách xử lý:

Nên thay nước cũ, thêm nước mối vào hoặc dùng

-30kg/1600m^) và bón phân 2 ngày 1 lần trong vòng

50 ngày đầu, nếu ao không lên màu thì có thể dùng màu giả.

- Xử lý các chất hữu cơ, chất lơ lửng và bụi đất:

ở các khu vực đất cát hoặc đất cát pha thịt sau những cơn mưa lớn sẽ xuất hiện các chất lơ lửng, bụi đất ở trong nước và trên mặt nước.

+ Cách xử lý:

Nên thay nước nhiều và dùng vôi CaCOg hoặc SUPER CAXIMAX từ 10 - 20kg/1000mVngày, từ đó nâng cao mực nước lên và tắt máy đạp nước (nếu có) trong buổi chiều Nếu không hết thì dùng THIO 5000 với liều lượng 2 - 41/10002, ASAHI ZEALITE với liều lượng 150 - 200kg/ha (sử dụng 1 lần).

Chú ý: Khi gặp hiện tượng này tôm sẽ giảm ăn, vì vậy người nuôi phải giảm lượng thức ăn từ 20 - 50%.

8^

Trang 19

- Hiện tượng tôm không lột vỏ đưỢc:

Khi tôm không lột vỏ được ở khu vực đất phèn và những nơi có độ cứng thấp, do các chất khoáng trong nưốc sông không cân bằng thì tôm sẽ yếu, khó lột vỏ

và không ăn được.

Như vậy, trên đây là những vấn đề thường xảy ra khi nuôi tôm vào mùa mưa (ngoài ra còn có các yêu

tố khác như nguồn nưốc, đất đai ) Vì thê, điều quan trọng nhất trong quá trình nuôi tôm là người nuôi tôm phải quản lý theo dõi liên tục chất lượng nưốc, sức khoẻ tôm, khi xảy ra sự cố thì cần có biện pháp xử lý nhanh, kịp thời để giảm hiện tượng tôm chết vào mùa mưa, đem lại hiệu quả cao cho việc nuôi tôm.

M ôt sô lưu ý k h i d ù n g thu ốc hay hoá ch â t đ ế

p h ò n g bệnh cho tôm và các biện p h á p xử lý môi trư ờn g

- Khi dùng thuốc hay hóa chất trị bệnh cho tôm thì; + Người nuôi cần tìm hiểu xem tôm bị bệnh gì? Bệnh ấy có thể trị được không? Và nêu trị sẽ có hiệu quả không? Sau đó, người nuôi phải tìm đúng loại thuốc hay hóa chất cần dùng, dùng đúng liều, đúng

Trang 20

phương pháp và phải tìm hiểu sem sức chịu đựng của tôm đối với thuốc và hóa chất đó Ngoài ra, người nuôi tôm còn phải xem xét đến vấn đê dùng thuốc hay hóa chất đế trị bệnh cho tôm có mang lại hiệu quả kinh tê không?

+ Bên cạnh đó, để trị bệnh cho tôm có hiệu quả, thì người nuôi cần phải dựa trên kết quả chẩn đoán bệnh chính xác để chọn thuôc hay hóa chất cho đúng Bơi vì, có rất nhiều trường hỢp người nuôi tôm thực hiện các biện pháp trị bệnh tôm cho không hiệu quả

là do xác định nguyên nhân gây bệnh sai hoặc sử dụng thuốc, hóa chất không đúng.

+ Mặt khác, người nuôi tôm cũng cần phải xem xét một số yếu tô” môi trường có thể ảnh hưởng đến kết qủa điều trị và đến tôm như: nhiệt độ, pH, độ đục của nước có thể làm ảnh hưởng đến tác dụng của từng loại thuốc hay hóa chất, cần xem lượng oxy hoà tan thấp hay pH cao sẽ ảnh hưởng đến tôm khi dùng thuốc Vì vậy, khi dùng thuốc hay hóa chất thì người nuôi tôm phải càn cứ vào hưống dẫn để dùng cho đúng Liều dùng thuốc hay hóa chất cho tôm phải tuỳ thuộc vào loại kích cỡ tôm và thời gian trị liệu Sức chịu đựng thuốc hay hóa chất của tôm nhỏ kém hơn tôm lớn Vì vậy, người nuôi nên thử nghiệm nồng độ thuốc và hóa chất với quy mô nhỏ trong xô hoặc chậu trưốc khi sử dụng cho bể hay ao nuôi.

Chú ý, hầu hết các loại thuốc hay hóa chất để trị bệnh tôm đều độc, nếu dùng không đúng liều lượng hay không đúng kỹ thuật Thuốic hay hóa chất sử

Trang 21

dụng phải phân huỷ nhanh để hạn chế sự tồn lưu trong tôm hay môi trường Tuy nhiên, dùng thuôc hay hóa chất cần kết hỢp vói việc cải thiện môi trường nuôi, thậm chí phải cải thiện môi trường nuôi trước khi dùng thuốc hay hóa chất.

- Một sô" quy định về việc sử dụng thuốc kháng sinh cho tôm nuôi:

Kháng sinh chỉ có tác dụng đốì với tôm bị nhiễm bệnh, vi khuẩn Còn thuốc kháng sinh không có tác dụng đối với các bệnh do virus hay do nấm và nguyên sinh động vật gây ra Vì vậy, việc sử dụng thuốc kháng sinh phải chọn đúng loại kháng sinh cần dùng, dùng đúng liều và đúng thòi gian quy định Mặt khác, thuốc kháng sinh có thể tồn lưu trong môi trường

và trong tôm, vì thế người nuôi tôm chỉ nên sử dụng thuốc kháng sinh khi thật cần thiết An toàn nhất là không được dùng thuổc khoảng 3 tuần trước khi thu hoạch Thuốc kháng sinh thường dùng có kết quả tổt khi môi trường nuôi được cải thiện.

- Một sô" lưu ý khi dùng hóa chất để xử lý môi trường nuôi tôm:

+ Hóa chất dùng để xử lý môi trường nuôi tôm có rất nhiều loại, vì thê" người nuôi tôm phải hiểu hoạt tính của từng loại và dùng đúng theo hưống dẫn để

có hiệu quả cao Hơn nữa, khi dùng hóa chất để xử lý nước thải thì người nuôi tôm phải biết thòi gian hóa chất tác dụng để đảm bảo khi đưa vào ao nuôi không ảnh hưởng đến tôm.

Trang 22

+ Khi dùng hóa chất đế xử lý nước cho ao đang nuôi tôm thì người nuôi phải lưu ý để hóa chất không làm chết tảo và các vi sinh vật có lợi trong ao Thông thường, sau khi dùng hóa chất thì môi trường nước

có thể thay đổi, ví như khi tảo chết làm nước ao trong, giảm quang hỢp để cung cấp oxy cho ao, nền đáy ao sẽ bị bẩn hơn khi tảo chết lắng xuống đáy ao Đặc biệt, sau khi dùng hóa chất thì người nuôi nên cải thiện môi trường ao nuôi như cấp thêm nưốc mới cho ao Bên cạnh đó, người nuôi cần chú ý khi dùng thuốc để xử lý môi trường ao đang nuôi tôm phải dùng đúng liều và dùng 1 lần, tránh dùng liều thấp và dùng nhiều lần liên tiếp nhau, vì thế màu nước ao sẽ bị mất và khó gây màu trở lại.

Phòng tránh hiện tượng tôm chết hàng loạt Nguyên nhân tôm thường bị chết hàng loạt là do người nuôi mua phải giống tôm nhiễm virus từ nguồn cung cấp trôi nổi không được kiểm soát Bên cạnh đó, cũng có ruộng tôm, giông tô"t không bệnh nhưng sau một thời gian chúng bị nhiễm bệnh virus ngay trong ruộng hay lây nhiễm từ ruộng bên cạnh,

từ nguồn nước ô nhiễm chứa virus Tuy nhiên, dù là virus có nguyên nhân từ đâu thì hậu quả vẫn là tôm chê hàng loạt mà người dân nuôi tôm quen gọi là

“bệnh đầu trắng” Tôm ở mọi lứa tuổi khi bị nhiễm, nổi lên vật vờ rồi chết, cần có sự theo dõi sát sao và làm chỉ dẫn của các chuyên gia.

l6 8

Trang 23

Bên cạnh đó, một nguyên nhân rất quan trọng là

do môi trường nuôi tôm bị ô nhiễm Có th ể đây là

nguyên nhân chính làm cho tôm chết hàng hoạt Trước hêt, có thề là do nguồn nưổc nuôi tôm bị nhiễm phèn Trong đó, phèn cũng có hai loại phèn sắt (phèn nóng) và phèn nhôm (phèn lạnh), cũng có khi do hỗn hỢp của cả hai loại phèn này, trong điều kiện pH của môi trường nước thấp Phèn thường xuất hiện khi ta

xử lý ruộng, đào kinh, lên liếp, bao ví thành vuông tôm Đặc biệt, đất vùng nuôi tôm chủ yêu là vùng đất mặn trên nền phèn tiềm tàng.

Đặc tính nổi bật của loại đất này là trong điều kiện có nưốc mặn, nước lợ thường xuyên trên mặt, sẽ khống chế, đất không bị phèn hóa, ruộng tôm vẫn an toàn Nhưng nếu ta đào đắp hay xáo trộn đất hay đê đất tiếp xúc với oxy trong không khí thì quá trình phèn hóa xuất hiện và phát triển nhanh chóng Kết quả của quá trình này là các chất như: AP'^, Fe^^,

.69

Trang 24

S0 4(- 2) sẽ xuất hiện rất nhanh và rất nhiềụ Còn trình tự xuất hiện thì trước hết là Fế" rồi đến S0 4(- 2) và cuôi cùng, khi pH xuỗhg thấp thì giải phóng ra rất nhiều Al’^ từ các lớp đất sét Lúc này, nồng độ các độc chất tăng nhanh, đột ngột, có thể từ Oppm (phần triệu) tăng lên đên hàng trăm và có thể hàng ngàn ppm Tuy nhiên, khả năng chịu đựng của tôm với các chất độc này rất thấp, nhất là với nhôm, chỉ 4,5 - 10,5ppm là có ảnh hưởng tối tôm, nhất là đối với tôm con Cho nên, khi xây dựng ruộng thành vuông tôm thì người nuôi phải chú ý, không cho quá trình phèn hóa xảy rạ

Mặt khác, những người nuôi tôm ở vùng này phải chú ý tránh không cho nưốc rỉ ra từ bờ đắp chảy vào vuông tôm, sau những ngày mới đắp và nhất là sau những trận mưa đầu mùa hay trận mưa nghịch mùa (giữa mùa khô) Bởi vì, trong nguồn nước này chứa rất cao nồng độ độc chất AL^, và SƠ4(- 2) có thể gây tình trạng tôm bị chêt hàng loạt Một điều rất đặc biệt trong trường hỢp này người nuôi tôm rất khó nhận biết hiện tượng Bởi vì, nó xuất hiện rất nhanh, sau

đó liền bị khỏa lấp hỏi nước triều lên Với những người chưa có kinh nghiệm nuôi tôm thì rất khó phát hiện đúng nguyên nhân gây bệnh, do đó kết luận là virus.

Một nguyên nhân khác làm cho tôm chết hàng loạt là tôm bị nhiễm độc hữu cơ từ đáy aọ Điều này thường xảy ra ỏ vuông tôm sau 3 - 4

70

Trang 25

năm nuôi trồng Bởi chất hữu cơ từ thức ăn thừa lắng xuông đáy ao, kết hợp các loại rong tảo chết, phân giải yếm khí, sản sinh nhiều độc tố như khí hydro sunfua hay mêtan hoặc các hỢp chất dạng cơ kim Tôm có thói quen vùi mình trong các lớp trầm tích ở đáy ao để ngủ nghỉ hay tránh nắng nóng, khi gặp độc chất này thì gây chết rất nhanh.

Như vậy, việc nuôi tôm ở vùng ven biển rất có lợi Tuy nhiên, muôn phát triển bền vững việc nuôi thì người nuôi phải nghiên cứu kỹ các yếu tô môi trường, nắm vững kỹ thuật nuôi vối những điều kiện từng nơi Bên cạnh đó, cần thận trọng hơn trong việc nuôi tôm 'ruộng lúa đã ngọt hóa, trong rừng ngập mặn và nhất là nhũng ruộng nằm trên nền đất phèn tiềm tàng.

Phòng và điều trị các bệnh thường gặp

ỏ tôm

B ênh đốm trắ n g

- Tác nhân gây bệnh là White spot syndrome virus.

- Các loài chịu tác động của bệnh này là tôm sú, tôm chân trắng, tôm lớt, tôm rảo, tôm rằn Cụ thể là: + Dấu hiệu bệnh:

Dấu hiệu đặc trưng nhất của bệnh này là ở tôm xuất hiện những đô"m trắng ở dưối vỏ (dễ nhìn thấy nhất ở vỏ giáp đầu ngực) Những con tôm khi mắc bệnh thường nổi lên ở tầng mặt, bỏ ăn, hoạt động

Ngày đăng: 03/12/2020, 12:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w