Những trang thơ Nôm Đường luật viết về mùa xuâncủa họ khắc họa vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước, con người Việt Nam đồng thời hé mởthế giới tâm hồn phong phú với nhiều cung bậc cảm xúc.Xu
Trang 1-PHẠM THỊ THIỆN
MÙA XUÂN TRONG THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thái Nguyên – 2017
Trang 2-PHẠM THỊ THIỆN
MÙA XUÂN TRONG THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã ngành: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Thanh
Thái Nguyên - 201
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫncủa PGS.TS Vũ Thanh Các nội dung, số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ cơông trình nào khác
Thái Nguyên, ngày 12 tháng 05 năm
2017
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thiện
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoasau đại học, Khoa Văn - Xã hội,Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên vàcác Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quátrình học tập và nghiên cứu
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Vũ Thanh - người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài
Cũng cho phép em được gửi lời cảm ơn tới Trường THPT Phù Cừ, Sở Giáo dục
và Đào tạo tỉnh Hưng Yên đã tạo điều kiện cho em tham dự khoá học này
Cuối cùng, em cũng xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên
và góp ý để em hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, ngày 12 tháng 05 năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thiện
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 8
3.1 Đối tượng nghiên cứu 8
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 8
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu: 8
4.2 Phương pháp nghiên cứu: 9
5 Phạm vi nghiên cứu: 9
5.1 Phạm vi nội dung: 9
6 Cấu trúc của luận văn 10
7 Đóng góp của luận văn 11
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CÁC VẤN ĐỀ KHÁC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 12
1.1 Thời gian nghệ thuật và quan niệm về Mùa trong thơ trung đại 12
1.1.1 Mùa – tín hiệu chỉ thời gian trong quan niệm của con người và trong thơ trung đại 12 1.1.2 Tính biểu tượng và những giá trị thẩm mỹ của Mùa 19
1.2 Chủ đề mùa xuân trong thơ ca trung đại và tương quan giữa các mùa 28
1.2.1 Chủ đề mùa xuân trong thơ ca trung đại 28
1.2.2 Tương quan của mùa xuân với mùa hạ, thu, đông 35
Tiểu kết Chương 1 40
Chương 2 NỘI DUNG THỂ HIỆN MÙA XUÂN TRONG THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT 41
2.1 Phân loại thơ Nôm Đường luật viết về mùa xuân 41 2.1.1 Biểu bảng về số lượng tác giả, tác phẩm thơ Nôm Đường luật viết về mùa xuân 41
Trang 62.1.2 Nhận xét, đánh giá qua biểu bảng 41
2.2 Những biểu hiện của mùa xuân trong thơ Nôm Đường luật 42
2.2.1 Vẻ đẹp mùa xuân thể hiện tình yêu quê hương, đất nước và niềm tự hào dân tộc 42 2.2.2 Mùa xuân thể hiện mong ước về một tương lai tốt đẹp, một cuộc sống ấm no, hạnh phúc 52
2.2.3 Mùa xuân thể hiện tâm trạng, nỗi niềm của nhà thơ trước cuộc đời và những thăng trầm thời cuộc 58
Tiểu kết Chương 2 73
Chương 3 NGHỆ THUẬT PHẢN ÁNH MÙA XUÂN TRONG THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT 74
3.1 Thời gian và không gian nghệ thuật 74
3.1.1 Thời gian nghệ thuật 74
3.1.2 Không gian nghệ thuật 78
3.2 Bút pháp nghệ thuật: 84
3.2.1 Bút pháp tượng trưng, ước lệ 84
3.2.2 Bút pháp chấm phá, thi trung hữu họa 87
3.2.3 Bút pháp tả cảnh, ngụ tình 90
3.2.4 Bút pháp trào phúng 94
3.3 Ngôn ngữ thơ 96
3.3.1 Thành phần ngôn ngữ Hán học 97
3.3.2 Thành phần ngôn ngữ dân tộc 104
Tiểu kết Chương 3 115
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢ O 118
PHỤ LỤC 1
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
1.1 Trong vũ trụ, vạn vật và con người đều chịu sự chi phối bởi yếu tố thời gian Thờigian chính là một phạm trù của văn học nghệ thuật Trong đó, mùa là một trong những đơn vịthời gian cơ bản của văn học trung đại Bằng tài năng và tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, các nhànho xưa đã tái hiện bước luân chuyển của đất trời, vũ trụ với sự hiện diện của bốn mùa: Xuân– hạ – thu – đông trong những sáng tác thơ ca của mình Mỗi mùa trong văn học trung đại lạimang một sắc thái riêng với sức hấp dẫn riêng Qua những bài thơ viết về thiên nhiên bốnmùa, chúng ta không chỉ được chiêm ngưỡng những cảnh quan tuyệt đẹp trên mọi miền đấtnước, những biến chuyển tinh vi của đất trời mà còn cảm nhận được những tình cảm riêng tư,thầm kín cùng những chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời của các tác giả Đó là cơ sở cho thấycác nhà nho xưa thường lấy mùa làm tín hiệu để bộc lộ tâm tư, tình cảm của mình Và trongsức hút của bốn mùa ấy, thơ ca trung đại nói chung và thơ Nôm Đường luật nói riêng đã dànhcho mùa xuân một vị trí đặc biệt
Trong vòng tuần hoàn bốn mùa của vũ trụ thì mùa xuân là mùa quyến rũ nhất, làmùa được thiên nhiên ưu ái hơn cả Mùa xuân mở đầu cho một năm mới, mùa của hoakhoe sắc thắm, chim hót líu lo, bướm lượn rập rờn, cây cối đâm chồi nảy lộc Không gianmùa xuân trong trẻo, tràn đầy sự sống, âm thanh, hương sắc khiến tâm hồn con người trởnên xốn xang, rạo rực trước bước chân của xuân về Mùa xuân chính là thời khắc để hồnthơ bay bổng của người nghệ sĩ cất cánh, thăng hoa Vì vậy, thơ viết về mùa xuân thườnghay và luôn chiếm một tỉ lệ rất lớn
1.2 Thơ Nôm Đường luật là tài sản tinh thần, là kết quả nỗ lực sáng tạo không ngừngcủa bao thế hệ nhà thơ trong quá trình Việt hóa thể thơ Đường luật Trung Quốc Trải qua nămthế kỉ hình thành và phát triển (từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX) thơ Nôm Đường luật đã gặt háiđược những thành tựu rực rỡ, trở thành dòng văn học chủ lực của văn học trung đại Việt Namgắn liền với tên tuổi của các tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông và các tác giảthời Hồng Đức, Nguyễn Bỉnh Khiêm, bà Hồ Xuân Hương, kết thúc là
Trang 9Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương Những trang thơ Nôm Đường luật viết về mùa xuâncủa họ khắc họa vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước, con người Việt Nam đồng thời hé mởthế giới tâm hồn phong phú với nhiều cung bậc cảm xúc.
Xuất phát từ sức ảnh hưởng sâu rộng của thơ Nôm Đường luật và niềm yêu thíchnhững trang thơ viết về thiên nhiên đất nước, viết về mùa xuân của cổ nhân đã tạo động
lực thôi thúc chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Mùa xuân trong thơ Nôm Đường
luật Thông qua việc nghiên cứu đề tài này, người viết rất mong muốn có thể góp chút
hiểu biết, suy nghĩ của mình về thơ Nôm Đường luật nói chung và mảng thơ viết về mùaxuân trong thơ Nôm Đường luật nói riêng
1.3 Hiện nay các tác phẩm viết bằng thể thơ Nôm Đường luật chiếm số lượng
đáng kể trong chương trình giảng dạy ở các cấp học Do đó việc thực hiện đề tài Mùa
xuân trong thơ Nôm Đường luật nhằm góp phần phục vụ đắc lực khi dạy các tác phẩm
thơ Nôm Đường luật và thể Đường luật trong nhà trường.
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu thơ trung đại viết về mùa ở Việt Nam:
Thơ Nôm Đường luật là một thành tựu rực rỡ của văn học trung đại nên ngay từkhi mới ra đời, thơ Nôm Đường luật đã thu hút được sự quan tâm, đánh giá của nhiều nhànghiên cứu Hơn nữa, mảng đề tài viết về thiên nhiên bốn mùa lại có một vị trí đặc biệttrong thơ Nôm Đường luật
Trước hết phải kể đến cây đại thụ trong ngành thi pháp học ở Việt Nam – giáo sư Trần
Đình Sử Trong cuốn Trần Đình Sử tuyển tập – tập 1, tác giả đã đưa ra những những nhận xét
khái quát về thời gian nghệ thuật trong thơ cổ điển trên cơ sở đi sâu nghiên cứu văn học trungđại Việt Nam Mặt khác, giáo sư Trần Đình Sử còn đưa ra ý kiến của L Ây-đơ-lin – nhà Hán
học Nga trong công trình giới thiệu thơ Trung Quốc và Việt Nam: "Các mùa trong năm (xuân, hạ, thu, đông) tượng trưng cho thời gian trôi vô tình Chúng gây xúc động cho con người hơn bất cứ hiện tượng nào khác Chúng là cái nền trữ tình phổ biến"
Trang 10[44; 501] để khẳng định cảm thức thời gian trong thơ trung đại Việt Nam được thể hiệnbằng các mùa trong năm (xuân, hạ, thu, đông).
Còn trong cuốn Thi pháp Truyện Kiều, giáo sư Trần Đình Sử đã chỉ ra mối liên hệ
giữa thời gian vật lí, thời gian lịch sử với thời gian tâm lí, tâm trạng của nhân vật:
"Truyện Kiều của Nguyễn Du còn có một thời gian bốn mùa mải mốt trôi chảy, khách quan, vô tình Nó như giữ nhịp cho cuộc đời và thông báo cho con người sự mất mát, vơi cạn của cuộc đời mà không có cách gì dừng lại được" [42; 184].
Trong cuốn Dẫn luận thi pháp học – giáo trình dành cho hệ đào tạo từ xa, giáo sư
Trần Đình Sử đã bày tỏ những suy nghĩ, quan niệm của mình về thời gian nghệ thuật trọn
vẹn trong một chương với hơn 30 trang viết Theo giáo sư, thời gian thiên nhiên là: "cuộc vận hành của vũ trụ, bốn mùa, xuân hạ thu đông, mùa mưa, mùa khô, mùa nào thức ấy "
[41; 91] Đến với cuốn giáo trình này, chúng ta còn thấy được mối liên hệ chặt chẽ giữathiên nhiên bốn mùa với đời sống tâm hồn của con người Mùa chính là người bạn tri âm,
tri kỉ để con người giãi bày tâm sự, gửi gắm nỗi lòng mình: "Thiên nhiên, vũ trụ, với các biểu hiện, biến đổi của cỏ hoa bốn mùa xuân, hạ, thu, đông luôn là tấm gương" [41; 416] để mỗi con người nhận thấy rõ hơn giá trị và sự tồn tại của bản thân.
Có thể thấy rằng, những công trình nghiên cứu của giáo sư Trần Đình Sử đã đemđến cho chúng ta những nhận xét khái quát về thời gian nghệ thuật trong thơ ca trung đại.Đặc biệt, tác giả đã khẳng định vai trò của mùa – một hình thức biểu hiện của thời giannghệ thuật Đây được coi là cơ sở quan trọng để chúng tôi nghiên cứu đề tài này
Bốn mùa trong văn học trung đại nói chung thường mang tính ước lệ cao Mỗi mùa lại
có những tín hiệu riêng để nhận biết và nó bị chi phối bởi đối tượng được miêu tả Trong bài
viết Sự đa dạng và thống nhất trên quá trình chuyển động một phong cách và dấu hiệu chuyển mình của tư duy thơ dân tộc, tác giả Nguyễn Huệ Chi đã nhận định: "Trong tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập, cảnh vật được quy ước bằng xuân, hạ, thu, đông, bằng 12 tháng, bằng năm canh Và đọc hết bài này đến bài khác sẽ thấy các vòng quay tháng năm, tháng năm trở thành hình thức biểu hiện nghệ thuật của thơ" [2; 70] Cũng như các thi sĩ
Trang 11khác, các nhà thơ thời Hồng Đức đã nhìn thiên nhiên bằng con mắt say đắm và thời gianđược cảm thức theo một vòng tròn tĩnh tại, tuần hoàn.
Trong lịch sử văn học Việt Nam, mỗi chặng đường đều được ghi dấu bởi tên tuổicủa những tác gia tiêu biểu với những đóng góp lớn lao cho nền văn học dân tộc về cảphương diện nội dung và nghệ thuật Nguyễn Trãi là một trong những cây đại thụ của nền
văn học thời kỳ trung đại, người đã "khai sơn, phá thạch" ra thể thơ Nôm Đường luật ở
Việt Nam Ông yêu thiên nhiên tha thiết, mỗi mùa bước vào trang thơ với những nét đặc
trưng riêng Trong chuyên luận Thơ Nôm Đường luật, nhà nghiên cứu Lã Nhâm Thìn nhận xét về thời gian trong tập thơ QÂTT của Nguyễn Trãi: "Những bức tranh thiên nhiên nhiên của Nguyễn Trãi phong phú và nhiều tới mức phòng tranh thiên nhiên không đủ chỗ trưng bày và nhà thơ phải treo sang cả những phòng dành cho mảng đề tài khác” [53; 57] Cụ thể hơn trong cuốn sách "Các nhà thơ cổ điển Việt Nam", Xuân Diệu đã có những đánh giá về thiên nhiên bốn mùa trong "Quốc âm thi tập" của Nguyễn Trãi như sau: "khi nói về thời tiết bốn mùa, khi tiếc cảnh, trong khi vịnh các hoa, các cây mà Nguyễn Trãi đã
có nhiều câu tình tứ, phóng khoáng nhất, đầy dẫy những chân tình, ân tình" [6; 42] Lời nhận xét cũng chính là lời khẳng định vẻ đẹp thiên nhiên bốn mùa là yếu tố nổi bật nhất
trong "Quốc âm thi tập" của Nguyễn Trãi.
Trên đây là những công trình nghiên cứu và những ý kiến tiêu biểu nhất của một sốcác nhà nghiên cứu về thiên nhiên nói chung và hình ảnh bốn mùa nói riêng trong thơ catrung đại Có thể khẳng định, đây là những tài liệu quý giá để người viết tham khảo trongquá trình viết luận văn của mình
2.2 Lịch sử nghiên cứu thơ trung đại viết về mùa xuân ở Việt Nam:
Trong vòng tuần hoàn bốn mùa xuân, hạ, thu, đông thì mùa xuân là mùa đẹp nhất,quyến rũ nhất Đó là khoảng thời gian mở đầu cho một năm mới, khép lại ba tháng lạnh giávới những cơn mưa dầm, gió bấc khắc nghiệt của mùa đông Mùa xuân đến với khí hậu ônhòa kèm theo những ngọn gió đông se se lạnh là chất xúc tác mạnh khiến vạn vật chợt bừngtỉnh sau một giấc ngủ đông dài Thời gian là vô hình nhưng điều thú vị là đến với mùa
Trang 12xuân, thời gian lại hiện hữu trên những đóa hoa rực rỡ sắc màu, trên chồi biếc, lá non,trong tiếng chim ca líu lo hay trong màu xanh bất tận của cỏ được điểm xuyết màu trắngtinh khiết của hoa lê:
Cỏ non xanh rợn chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa (Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Đó cũng là lí do quan trọng khiến các thi nhân từ cổ đến kim yêu và say xuân đếnthế Đề tài về mùa xuân trong thơ Nôm Đường luật không còn là mới mẻ nhưng luôn là đềtài hấp dẫn, huyền bí, là mảnh đất hứa thu hút hồn thơ của các thi sĩ muôn đời Việc tìmhiểu, nghiên cứu, đánh giá những giá trị nội dung và nghệ thuật của thể thơ Nôm Đườngluật có một lịch sử khá lâu dài, nhưng việc nghiên cứu cụ thể các bài thơ nói chung và thơNôm nói riêng viết về mùa xuân thì không nhiều
Viết về mùa xuân trong thơ Thiền Lý - Trần trước hết phải kể đến công trình Khảo sát nghệ thuật thơ Thiền Việt Nam từ thế kỉ X – XIV của Đoàn Thị Thu Vân Dưới góc độ thi liệu, tác giả đã chỉ ra mối quan hệ gắn kết, song hành giữa hai mùa xuân – thu: "cặp hình ảnh xuân thu thường đi liền với nhau biểu tượng cho quy luật sinh trưởng và tàn lụi của vạn vật"[60; 88] Tác giả cũng nhấn mạnh, ở hai mùa này: "sinh vật đang phát triển theo hai hướng trái ngược nhau, nhưng chưa phải là tột độ để dừng lại và sắp biến đổi về chất "[60; 94].
Đến với bài Tản mạn Xuân - Thu và triết lý thơ Thiền thời Lý - Trần đăng trên tạp
chí Nghiên cứu tôn giáo, số 4 2009, tác giả Hà Thúc Minh cũng chỉ ra mối quan hệ khăngkhít của cặp hình ảnh Xuân – Thu Trong thơ Thiền, các Thiền sư dựa vào sự cảm nhận vềbước đi của thời gian làm phương tiện để thể hiện triết lí đạo Phật Tác giả cũng nhấn
mạnh: "thi sĩ Thiền Tông trước hết vẫn là con người "thế gian" nhưng lại là con người
"xuất thế gian" của "thế gian", cho nên càng cảm nhận được Xuân – Thu của Đất, Trời, Xuân – Thu của con người, của nhân tình thế thái nhưng lại từ triết lý của "đạo" chứ không phải của đời "[26; 7].
Trang 13Mùa xuân là một phần trong mạch chảy tuần hoàn của tự nhiên, để làm sáng tỏ cácluận điểm nêu ở trên, các công trình nghiên cứu còn dẫn các ý thơ, các thi phẩm viết về
thiên nhiên, mùa xuân Trong Thi kệ và thủ pháp văn học, Nguyễn Phạm Hùng đã lấy tác phẩm Cáo tật thị chúng để làm minh chứng cho việc "sử dụng rất thành công cho các thủ pháp tượng trưng, ước lệ để trình bày một cách sinh động cái bất biến của bản thể trước
sự vạn biến của đời người và cảnh vật"[18; 31] Hai bài thơ xuân nổi tiếng của Trần Nhân Tông (Mộ xuân tức sự, Xuân vãn) đã thu hút sự khám phá của các nhà nghiên cứu Nguyễn Kim Sơn – Trần Thị Mỹ Hòa với bài viết Mấy phương diện thẩm mỹ của thơ Nho gia và Thiền gia (trong Văn học Việt Nam thế kỷ X - XIX – những vấn đề lý luận và lịch
sử, NXB Giáo dục, 2007) Khi bàn luận về mùa xuân, các tác giả đó đã khẳng định đây là
"mùa xuân vĩnh cửu", "không gian siêu thế, an tĩnh hằng nhiên", thể hiện "con người trong trạng thái con người vô ngôn, vô sự"[66; 370].
Ngoài những công trình nghiên cứu về thơ Thiền nói chung, các tác giả còn hướng
ngòi bút của mình để khám phá những tác phẩm cụ thể Cáo tật thị chúng là một thi phẩm đặc sắc viết về mùa xuân của Mãn Giác Thiền sư Trong bài viết Mãn Giác và bài thơ Thiền, tác giả Nguyễn Huệ Chi khẳng định: "Tác giả khéo léo hình tượng hóa thời gian
và đời người bằng hai đại lượng rất giàu thi hứng xuân và hoa".
Trong công trình nghiên cứu Trần Nhân Tông với cảm hứng mùa xuân, Nguyễn Công Lý đã nhận định về thơ xuân Trần Nhân Tông có khi là "những ý xuân, cảnh xuân bất chợt"; có khi là "những vần thơ trực tiếp tả cảnh mùa xuân, bộc lộ tình xuân"… Trên
cơ sở tìm hiểu, đánh giá về ba bài thơ Xuân hiểu, Xuân cảnh và Xuân vãn gắn với những chặng đời quan trọng của vị tổ Thiền phái Trúc Lâm, tác giả đã kết luận: "Thơ là tiếng lòng, là tiếng nói của thi nhân trước hiện thực… Cảm hứng mùa xuân trong thơ của nhà vua – thi nhân – Thiền sư – vị phật Hoàng Trần Nhân Tông là thế"[25].
Thơ Nôm Đường luật là một thành tựu rực rỡ khẳng định bước phát triển nhảy vọt củathơ ca dân tộc thời trung đại Trong những bức tranh thiên nhiên muôn màu nói chung thìnhững bức tranh mùa xuân đã thu hút niềm đam mê, khám phá của nhiều nhà nghiên cứu
Trong cuốn Nguyễn Trãi về tác giả, tác phẩm do Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn và giới
Trang 14thiệu, ở bài nghiên cứu Cảm quan mùa xuân trong thơ Nôm Nguyễn Trãi ông cho rằng:
"Trong thơ Nguyễn Trãi mùa xuân được cảm nhận như là biểu tượng của vẻ đẹp toàn mỹ, hoàn chỉnh, phổ biến"[35; 535] Còn nhà nghiên cứu Lê Trí Viễn trong bài Cảnh tình mùa
hè đã đưa ra những nhận xét về sự ưu ái của thi nhân dành cho mùa xuân: "Xưa thơ thích thơ xuân, mến thu chứ chẳng ai đoái hoài đến hè"[35; 541] Lời nhận xét cũng là lời khẳng định vì sao thơ viết về mùa xuân chiếm một tỉ lệ lớn so với các mùa khác trong năm Tác giả Nguyễn Thiên Thụ trong bài viết Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi thì nhấn mạnh vị trí vai trò của mùa xuân trong thơ ca nói chung: "Thi nhân thường ca tụng mùa xuân vì mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm Mùa xuân có nắng ấm, có hoa tươi và bướm khoe màu sắc"[35; 675].
Còn trong cuốn Nguyễn Khuyến về tác giả, tác phẩm do Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu ở bài viết Những vần thơ xuân, tác giả Phạm Ngọc Lan đã nhấn mạnh cái hay, cái đẹp trong thơ Xuân của Nguyễn Khuyến là: "thường hướng vào việc miêu tả xác thực khung cảnh mùa xuân ở nông thôn với không khí của hội làng, hội xuân và những sinh hoạt nông thôn cổ truyền… Nó không chỉ có ý nghĩa xã hội sâu sắc mà còn là những bức tranh xuân vừa chân thực, sinh động, vừa mang đậm màu sắc và phong vị làng quê"[34; 202].
Luận văn Thạc sĩ khoa học của Bế Diệu Hồng với đề tài Biểu tượng mùa trong thơ trung đại, Đại học sư phạm Hà Nội 2013, tác giả đã khẳng định: "Biểu tượng mùa là một hình thức của thời gian nghệ thuật "[13; 16] Khi luận giải về vai trò của biểu tượng mùa trong thơ trung đại, Bế Diệu Hồng cũng khẳng định: "Bức tranh mùa xuân bao giờ cũng đẹp bởi mùa xuân là mùa của sự bắt đầu, tươi mới và tràn đầy nhựa sống "[13; 16] thông
qua bức tranh thiên nhiên mà người đọc thấy được bức tranh tâm hồn con người Tác giả
đã bước đầu chỉ ra mối quan hệ gắn kết giữa mùa xuân và tâm trạng nhà thơ
Các công trình nghiên cứu về thơ viết về mùa và về mùa xuân đều hết sức có giátrị, nhưng đó mới là các bài viết tập trung vào một tác giả, một tác phẩm mà chưa có côngtrình nào đi sâu nghiên cứu về thơ Nôm Đường luật viết về mùa xuân Tuy nhiên, tất cảnhững công trình nghiên cứu trên đều là những cơ sở quan trọng, những kiến thức quýbáu giúp chúng tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài này
Trang 153 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu Mùa xuân trong thơ Nôm Đường luật qua một
số sáng tác của các tác giả tiêu biểu từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XIX
- Việc tìm hiểu những bức tranh mùa xuân còn giúp chúng ta mở ra thế giới tâm hồnđầy phong phú, những tâm tư, tình cảm thầm kín được bộc lộ trong những sáng tác của cácthi nhân
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài Mùa xuân trong thơ Nôm Đường luật hướng đến các mục tiêu sau:
- Thứ nhất: Đề tài bước đầu đi sâu vào tìm hiểu biểu tượng mùa - một trong những đơn vị thời gian cơ bản của văn học trung đại
- Thứ hai: Luận văn cố gắng làm rõ nội dung và nghệ thuật biểu hiện của mùa xuân trong thơ Nôm Đường luật
- Thứ ba: Qua việc nghiên cứu đề tài góp phần vào việc giảng dạy thơ Nôm Đườngluật nói riêng và văn học trung đại nói chung trong nhà trường, đồng thời là cơ hội tìmhiểu sâu hơn về thể loại văn học dân tộc độc đáo này
4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Thực hiện đề tài: Mùa xuân trong thơ Nôm Đường luật, chúng tôi chủ yếu tìm
hiểu về quan niệm về Mùa trong văn học trung đại; mối tương quan giữa mùa xuân vớicác mùa khác trong văn học trung đại và đặc biệt đi sâu tìm hiểu nội dung và nghệ thuậtthể hiện mùa xuân trong thơ Nôm Đường luật
- Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành khảo sát trên những tác phẩmthơ Nôm Đường luật của các tác giả tiêu biểu: Nguyễn Trãi, các nhà thơ thời Hồng Đức,Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương để làm căn cứ
Trang 164.2 Phương pháp nghiên cứu:
Để đạt được mục đích mà đề tài đặt ra trong luận văn này, chúng tôi kết hợp sử dụng một số phương pháp thông dụng trong nghiên cứu như sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại nhằm để chỉ ra quy mô và số lượng của tư liệu,xác định tần số xuất hiện của các yếu tố thống kê đi tới phân loại chúng theo yêu cầu củaluận văn
- Phương pháp loại hình học giúp người đọc xác định loại hình tác phẩm đangnghiên cứu thuộc dòng thơ vịnh cảnh mùa xuân trong thơ Nôm Đường luật, qua đó kháiquát được đặc trưng cơ bản của mùa xuân trong thơ vịnh cảnh trung đại Việt Nam để thấyđược sự vận động và phát triển của đề tài thơ này
- Phương pháp đối chiếu, so sánh văn học nhằm tìm ra những nét tương đồng vàkhác biệt về đề tài mùa xuân trong trong thơ Nôm của các tác giả, đồng thời thấy được sự
kế thừa và cách tân, sáng tạo ở nội dung cũng như phương diện nghệ thuật thơ của họ
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sửdụng phương pháp phân tích để rõ cái hay, cái đẹp của hình tượng thơ trong các bài tiêubiểu mà các tác giả sáng tạo nhằm gửi gắm tâm tư, tình cảm của mình Đồng thời chúngtôi còn sử dụng phương pháp tổng hợp để tổng kết vấn đề sau khi đã phân tích
- Phương pháp văn học sử nhằm nghiên cứu mùa xuân trong tiến trình phát triển thơ Nôm để từ đó đưa ra kết luận chính xác về đối tượng
5. Phạm vi nghiên cứu:
5.1 Phạm vi nội dung:
- Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề nội dung và nghệ thuật của bộ phận thơNôm Đường luật viết về mùa xuân trong các sáng tác của các tác giả tiêu biểu như: NguyễnTrãi, các nhà thơ thời Hồng Đức, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn
Khuyến, Trần Tế Xương
-Tác giả Huyện Thanh Quan, theo khảo sát của chúng tôi, không có thơ xuân
Trang 175.2 Phạm vi tư liệu:
Khi triển khai đề tài này chúng tôi đã tiến hành khảo sát, thống kê các tập thơ, các công trình tuyển thơ sau:
- Quốc âm thi tập trong Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, Mai Quốc Liên chủ biên,
Nxb văn học và Trung tâm nghiên cứu Quốc học, năm 2000
- Hồng Đức quốc âm thi tập do nhóm tác giả Phan Trọng Điềm, Bùi Văn Nguyên
phiên âm – chú giải – giới thiệu, Nxb Văn học, năm 1982
-Bạch Vân Quốc ngữ thi tập (1989), Bùi Văn Nguyên, Nxb giáo dục, Hà Nội.
- Hồ Xuân Hương - thơ chữ Hán, chữ Nôm và giai thoại, Nxb Văn hóa Thông tin
năm 1995 của Bùi Hạnh Cẩn
- Nguyễn Khuyến tác phẩm do Nguyễn Văn Huyền dịch, biên soạn và giới thiệu,
Nxb Khoa học Xã hội, năm 1984
- Tú Xương toàn tập, Nxb Văn học, Hà Nội, 2010.
- Tổng tập văn học Nôm Việt Nam – Thơ Nôm Hàn luật tập 1, tập 3, Nxb Khoa học
xã hội, năm 2008 của Viện Khoa học xã hội Việt Nam - Viện Nghiên cứu Hán Nôm doPGS TS Nguyễn Tá Nhí chủ biên, Lưu Đình Tăng, Hoàng Thị Ngọ, Đỗ Thị Bích Tuyền,Nguyễn Thị Lâm, Lã Minh Hằng, Trần Thị Giáng Hoa biên soạn làm đối tượng khảo sáttrong luận văn của mình
-Các cuốn Tổng tập Văn học Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội về các tác giả có liên quan.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn của chúng tôi gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và các vấn đề khác liên quan đến đề tài
Chương 2: Nội dung thể hiện mùa xuân trong thơ Nôm Đường luật
Chương 3: Nghệ thuật phản ánh mùa xuân trong thơ Nôm Đường luật
Trang 187 Đóng góp của luận văn
Dựa trên cơ sở vận dụng những thành quả của của lớp người đi trước cùng vớinhững suy nghĩ, tìm tòi của bản thân, với vấn đề được triển khai nghiên cứu trong luậnvăn này, chúng tôi hi vọng sẽ bổ sung thêm những phát hiện, những ý kiến có giá trị vềmảng đề tài viết về mùa xuân trong thơ Nôm Đường luật Luận văn đã chỉ ra quan niệm
về Mùa cũng như mối tương quan giữa mùa xuân và các mùa khác trong thơ ca trung đại
Bước đầu luận văn đã làm rõ nét đặc sắc trong nội dung cũng như nghệ thuật miêu
tả mùa xuân trong thơ Nôm Đường luật của các tác giả tiêu biểu Chính những nét đặc sắc
ấy đã góp phần tạo nên một nền văn học trung đại đa dạng, độc đáo đồng thời cũng gópphần đắc lực trong thực tế giảng dạy những bài thơ Nôm Đường luật trong nhà trường
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CÁC VẤN ĐỀ KHÁC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI 1.1 Thời gian nghệ thuật và quan niệm về Mùa trong thơ trung đại
1.1.1 Mùa – tín hiệu chỉ thời gian trong quan niệm của con người và trong thơ trung đại
1.1.1.1 Mùa – thời gian vũ trụ tĩnh tại, tuần hoàn
Trong vũ trụ, vạn vật tồn tại, vận động, phát triển đều gắn liền với một thời giannhất định Thời gian được xem là hình thức tồn tại của vật chất Mùa cũng là một trongnhững đơn vị thời gian cơ bản nên có sự tương đồng với thời gian nghệ thuật trong thơ catrung đại Thời gian nghệ thuật không chỉ mang tính khách quan mà còn mang tính chủ
quan Giáo sư Trần Đình Sử đã nhấn mạnh: “Thời gian nghệ thuật là thời gian mà ta có thể chiêm nghiệm được trong tác phẩm nghệ thuật với tính liên tục và độ dài của nó, với nhịp độ nhanh hay chậm, với các chiều dài thời gian quá khứ, hiện tại hay tương lai Nó
có thể kéo dài hay rút ngắn thời gian thực tế Nó có thể đảo ngược hay vượt tới tương lai.
Nó có thể dừng lại"[41; 77] Điều đó có nghĩa là thời gian nghệ thuật không đơn thuần là thời gian vật lí luân chuyển tuần tự mà còn là thời gian tâm lí mang dấu ấn tâm trạng, cảm
xúc của con người
Trong văn học nói chung và văn học trung đại nói riêng, cảm nhận về thời gian càng
có ý nghĩa quan trọng Nó thể hiện nhận thức của con người về thế giới, về sự tồn tại của bảnthân trong mối quan hệ với thế giới xung quanh Do chịu ảnh hưởng về quan niệm thời giantrong thơ Đường và các hệ tư tưởng đặc biệt là Phật giáo nên đặc điểm nổi bật nhất trongcách cảm nhận về thời gian trong thơ ca trung đại là thời gian mang tính tĩnh tại, tuần hoàn.Thời gian bốn mùa xuân, hạ, thu, đông được các tác giả miêu tả sinh động trong các tác phẩmthơ ca giống như một vòng tròn với điểm bắt đầu là mùa xuân và kết thúc là mùa đông theo
đúng chu trình: “xuân sinh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàng” Hết một vòng quay lại trở về với
vị trí xuất phát ban đầu và cứ như vậy trở đi, trở lại không bao giờ thay đổi Qua các chặngbiển đổi thành, thịnh, suy, hủy của vạn vật mà con người cảm nhận được rõ hơn về quy luậtsinh, lão, bệnh, tử của đời người Vòng tròn tĩnh tại ấy vừa đem lại cho con
Trang 20người chiêm nghiệm về lẽ tất yếu của cuộc sống nhưng đồng thời cũng đem lại cảm giác biquan, chán nản Dòng thời gian của vũ trụ cứ chảy trôi bất tận trước sự ngắn ngủi, mongmanh của đời người là nỗi ám ảnh thường trực trong quan niệm của người trung đại.
Quan niệm về thời gian tĩnh tại, tuần hoàn trước hết được thể hiện trong thơ Thiền.Thơ Thiền là thơ của các nhà sư, các cư sĩ làm để thể hiện sự ngộ đạo của mình trước lẽ
hư vô của cuộc đời, để thể hiện cái tâm trong sáng Trong bài thơ Cáo tật thị chúng, thiền
sư Mãn Giác đã cảm nhận được sự luân chuyển nhịp nhàng của thời gian bốn mùa trong
năm qua các hình ảnh: xuân qua, xuân tới, hoa rụng, hoa cười được đặt trong sự đối lập
tương phản với tuổi già của con người:
Xuân qua trăm hoa rụng Xuân tới trăm hoa cười Trước mắt việc đi mãi Trên đầu, già tới rồi.
Bên cạnh một thời gian luôn vận động, chảy trôi không ngừng đẩy con người tới
bờ vực thẳm của tuổi già, bệnh tật thì nhà sư còn cảm nhận có một thời gian tĩnh tại, bấtbiến, không sinh, không diệt Đó là kết quả của sự ngộ đạo, khi ấy con người sẽ mang mộtsức mạnh diệu kì vượt lên những buồn đau, tuyệt vọng của sinh, lão, bệnh, tử mà tràn đầytinh thần lạc quan như cành mai kia vẫn tươi xanh khoe sắc bất chấp xuân tàn:
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua sân trước một nhành mai
Thời gian trong thơ Thiền là loại thời gian bất biến, thường trụ bởi không sinh màcũng không diệt Đó là loại thời gian dường như bị đóng băng trong hiện tại mà không cóquá khứ, không có tương lai Ở đấy các nhà thơ say sưa, chìm đắm trong vẻ đẹp thanh tịnhcủa thiên nhiên, của mây ngàn hạc nội, của những thú vui điền viên nên không còn có ýniệm về thời gian Chỉ khi nhìn thấy tín hiệu cúc khoe sắc vàng mới biết thu sang, thấyhoa nở mới biết xuân về:
Trang 21Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật Cúc hoa khai xứ tức trùng dương.
(Năm cuối trong rừng không có lịch,Kìa hoa cúc nở ấy trùng dương)
(Hoa cúc – Huyền Quang Thiền sư).
Thấy nguyệt tròn thì kể tháng Nhìn hoa nở mới hay xuân
(Tự thán, bài 32 – QÂTT)
Không chỉ trong thơ Thiền mà trong thơ của các nhà Nho, thời gian bốn mùa cũng
được cảm nhận là thời gian tĩnh tại, tuần hoàn Trong tập thơ cung đình HĐQÂTT, các
nhà thơ thời Hồng Đức đã tinh tế lắng nghe được nhịp bước của thời gian trong những
khoảnh khắc: bốn mùa, 12 tháng trong năm, năm canh trong đêm Tất cả các khoảnh
khắc thời gian ấy đều trở thành những đối tượng tĩnh, không hề có sự vận động Điều đó
được thể hiện rõ qua bài thơ Vịnh mùa hè:
Nghi ngút tàn mây tán lửa che, Rùng người thay bấy gọi là hè.
Hồng bay lựu, màn vây liễu, Hương nức sen, bóng rợp hòe.
Tường nọ nhặt khoan vang tiếng cuốc, Cành kia dắng dỏi gẩy cầm ve.
(Vịnh mùa hè – HĐQÂTT)
Thời gian bốn mùa tuần hoàn, tĩnh tại được thể hiện qua các biểu tượng mùa tiêu biểu,
đặc biệt là các cặp từ sóng đôi: xuân – thu; đông – hè Các biểu tượng mùa ở đây xuất hiện
như một quy luật muôn đời và không bao giờ thay đổi Điều đó thể hiện sự bất biến, vĩnh
Trang 22hằng của vũ trụ Chính vì thế, mỗi mùa thiên nhiên có một nét đặc trưng riêng, mang một
vẻ đẹp riêng, muôn đời biến thiên:
Mưa thu tưới ba đường cúc, Gió xuân đưa một lảnh lan.
(Ngôn chí, bài 16 - QÂTT)
Thiên nhiên, vũ trụ muôn đời vẫn thế, luôn âm thầm vận hành theo bốn mùa xuân,
hạ, thu, đông Nhà thơ đến với thiên nhiên, nương nhờ vào thiên nhiên như đứa con thơ sàvào lòng mẹ hiền, tùy từng mùa mà họ tìm ra niềm vui cho riêng mình:
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
(Thơ Nôm, bài 73 - Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Hai câu thơ mở ra trước mắt chúng ta cảnh sinh hoạt giản dị mà không kém phầnthích thú của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nơi thôn dã với bốn mùa xuân, hạ, thu,đông nhịp nhàng luân chuyển Chuyện tắm, chuyện ăn trong đời sống sinh hoạt hàng ngàytuy đơn sơ nhưng thích thú ở chỗ mùa nào thức ấy, tất cả đều có sẵn trong tự nhiên, chẳngphải nhọc công tìm kiếm Đời sống sinh hoạt nhịp nhàng ấy cho ta cảm nhận rõ về niềmhạnh phúc, sự thanh thản của cụ Trạng Trình khi từ quan về ở ẩn, xa lánh chốn quantrường ra luồn vào cúi, đang được sống tự do, tự tại, hòa hợp với thiên nhiên thuần khiết
Còn trong bài Tự tình II, quan niệm về vòng tuần hoàn tĩnh tại của thời gian được Hồ
Xuân Hương cảm nhận rõ qua bước chân của mùa xuân đi rồi lại đến:
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con
Sự đi - đến của mùa xuân nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người bởi đây làquy luật tuần hoàn của vũ trụ Và trong vẻ đẹp bất diệt của mùa xuân ấy, con người mangbao nhiêu những nỗi niềm, thổn thức riêng tư
Trang 23Hay trong Chinh phụ ngâm của tác giả Đặng Trần Côn và dịch giả Đoàn Thị Điểm,
ta thấy tính liên tục tuần hoàn của thời gian được hiện lên qua những hình ảnh biểu trưng:
Thuở lâm hoành oanh chưa bén liễu (xuân) Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca (chuyển xuân sang hè) Nay quyên đã giục oanh già (hè)
Ýnhi lại gáy trước nhà líu lo (thu) Thuở đăng đồ mai chưa dạn gió (đông) Hỏi ngày về chỉ độ đào bông (xuân) Nay đào đã quyến gió đông (hết xuân chuyển sang hè) Phù dung lại rã bên sông ba xòa (thu)
Nét đặc sắc trong cách thể hiện bước luân chuyển thời gian bốn mùa của tác giảĐặng Trần Côn, dịch giả Đoàn Thị Điểm là thông qua những hình ảnh của những sinh thể
trong đời sống tự nhiên: chim oanh, chim đỗ quyên, chim én, hoa mai, hoa đào, hoa phù dung Nó là những biểu tượng muôn đời về mùa mang tính ước lệ, tượng trưng trong thơ
ca trung đại Chính vì thế, cả đoạn thơ không có một từ nào nói về thời gian nhưng ngườiđọc vẫn cảm nhận được sự tuần hoàn trôi chảy bất tận của thời gian Thời gian vũ trụ cứtuần hoàn, vô hạn, vĩnh hằng đối lập tương phản với sự ngắn ngủi, phù du của kiếp người.Đây là cảm thức chủ đạo chi phối các tác phẩm thơ ca trung đại Trong cái nhìn đối sánhvới độ dài vô tận của thời gian và sự chờ đợi của người chinh phụ chúng ta sẽ thấy nổi bậtlên hình ảnh của một con người mòn mỏi, ngóng trông người chinh phu trở về trong nỗi
cô đơn, thời gian cứ trôi đi mà bóng người chinh phu vẫn mịt mù tăm cá
Như vậy, trong quan niệm của con người nói chung và thơ ca trung đại nói riêng,mùa chính là quy luật tuần hoàn, tĩnh tại của tự nhiên Bốn mùa xuân, hạ, thu, đông củađất trời cứ nhịp nhàng luân chuyển tạo nên sự trôi chảy bất tận của thời gian Nó hoànhoàn đối lập với sự ngắn ngủi, hữu hạn của đời người Chính vì thế mùa đi vào trong thơ
ca trung đại mang bao nhiêu nỗi ám ảnh, day dứt
Trang 241.1.1.2 Mùa - sự hòa hợp tương quan giữa thiên, địa, nhân
Thiên – địa – nhân hợp nhất là một trong những tư tưởng tiêu biểu của triết học vùngvăn hóa Đông Á Tư tưởng này đã chỉ ra giữa con người và tự nhiên là một thể thống nhất, sựsinh tồn và sự phát triển chất lượng cuộc sống loài người chủ yếu dựa vào sự sinh tồn pháttriển của vạn vật trong tự nhiên Mối quan hệ hòa hợp giữa thiên - địa - nhân được thể hiện rõ
qua câu nói của Trang Tử: Thiên địa dữ ngã tịnh sinh, vạn vật dữ ngã vi nhất (Trời đất cùng sinh ra với ta, vạn vật với ta là một) và câu nói của Mạnh Tử: Vạn vật giai bị ư ngã (Vạn vật đều có đầy đủ trong ta) Trong triết học cổ đại, người ta thường gọi mối quan hệ giữa con
người và tự nhiên là mối quan hệ giữa tiểu vũ trụ với đại vũ trụ vô thủy, vô chung Thời giancủa đời người chẳng qua là một khoảnh khắc trong dòng chảy luân hồi của vũ trụ Tư tưởngtriết học trên có ảnh hưởng sâu sắc tới quan niệm sáng tác trong thơ ca trung đại và đặc biệt lànhững bài thơ chứa biểu tượng mùa Ở góc độ tự nhiên, góc độ sinh thái, con người là sảnphẩm của tự nhiên, hòa điệu với tự nhiên, chịu sự tác động của tự nhiên Nếu nước là môitrường sống của các loài thủy tộc thì thiên nhiên chính là môi trường sống của con người, môi
trường tự nhiên thay đổi thì tất ảnh hưởng đến cuộc sống của loài người: “ Cái trong và nhẹ dâng lên cao tạo thành trời, cái đục và nặng lắng xuống tạo thành đất, chúng va chạm vào nhau và tạo thành con người Tạo thành bộ ba nổi tiếng
– Tam tài: Thiên, Địa, Nhân" [69 ;55] Chính vì vậy trong thơ ca nghệ thuật, các nhà thơ
thường miêu tả thế giới tự nhiên sâu xa là để hướng đến thế giới con người
Trong thơ ca trung đại, sự hòa hợp tương quan giữa thiên, địa, nhân trước hết đượcthể hiện ở quan niệm mùa hay được đồng nhất với năm tháng, tuổi tác, cuộc đời gắn liềnvới những thay đổi của vạn vật và con người Quan niệm ấy được thể hiện rõ trong thơcủa Nguyễn Bỉnh Khiêm:
Lần lữa ngày qua, tháng qua, Một phen xuân tới, một phen già.
(Thơ Nôm, bài 1 – Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Trang 25Mỗi năm, mỗi mùa xuân đến con người lại thêm một tuổi, cái tuổi nó đuổi xuân đi.Trong sự tươi non tràn đầy sức sống của mùa xuân đất trời là tuổi già sức yếu của cuộcđời con người Chính cái vòng tròn bất tử ấy của mùa xuân đã khiến cho bà Hồ XuânHương chán ngán, đau buồn:
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con.
(Tự tình II – Hồ Xuân Hương)
Mùa còn được nói tới gắn liền tuổi trẻ, với hạnh phúc trần thế nhưng đồng thời lạithể hiện sự nuối tiếc, khao khát hạnh phúc trường tồn của con người Tâm trạng đầy mâuthuẫn ấy là xuất phát từ sự hữu hạn, phù du của kiếp người như nhà sư Vạn Hạnh từng
nói: “Thân như bóng chớp có rồi không" Nhà Phật thì nhấn mạnh quan niệm “sống gửi thác về" khiến con người ngay cả trong những tháng ngày tuổi trẻ, trong những phút giây
hạnh phúc cũng không tránh khỏi cảm giác buồn, hụt hẫng, tiếc nuối vì hạnh phúc sắptuột khổi tầm tay Trong nhiều bài thơ của Nguyễn Trãi tâm trạng ấy được thể hiện rõ nét.Mùa xuân đến càng đẹp bao nhiêu thì nhà thơ càng tiếc nuối bấy nhiêu khi xuân đi:
Xuân xanh chưa dễ hai phen lại Thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên
(Tiếc cảnh, bài 3 - QÂTT)
Mùa xuân của đất trời được liên tưởng giống như giai đoạn tuổi trẻ của đời người –giai đoạn gợi một cuộc sống tươi vui, sôi động, đáng sống nhất trong cuộc đời mỗi con
người Nhưng nó lại là giai đoạn một đi không trở lại nên tác giả đã “Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm"(Tiếc cảnh, bài 7 - QÂTT) để tận dụng triệt để cái quỹ thời gian ngắn ngủi
của tuổi trẻ đó Hành động của Nguyễn Trãi là sự tự thức tỉnh cái hữu hạn của đời ngườitrước sự dài dặc, mênh mang của vũ trụ Tâm trạng đó sau này được nhà thơ Xuân Diệu
tiếp nối thể hiện một cách táo bạo, mãnh liệt hơn trong bài thơ Vội vàng.
Hay tác giả Cao Bá Quát trong một lần say rượu qua đầm sen đã hỏi sen một câu:
Trang 26Sen ơi, sen đỏ có như mặt rượu của ta không
(Nam nam tự dữ liên hoa thuyết/ Khả đắc hồng như tửu diện vô)
Câu hỏi ấy của Cao Bá Quát không đơn thuần là câu nói bâng quơ của người say
mà sâu sa hơn là thể hiện triết lí về mối quan hệ gắn bó khăng khít giữa con người với thếgiới tự nhiên, thể hiện lối sống cởi mở, vượt ngoài khuôn thước của con người để đến với
1.1.2 Tính biểu tượng và những giá trị thẩm mỹ của Mùa
1.1.2.1 Tính biểu tượng của bốn mùa xuân, hạ, thu, đông
a Mùa xuân
Mùa xuân là mùa đầu tiên trong dòng chảy nhịp nhàng của tạo hóa mang một sứcsống diệu kỳ làm hồi sinh vạn vật nên nhắc đến mùa xuân ta không thể không nhắc đếnhoa lá Hoa lá và mùa xuân giống như một cặp tình nhân khăng khít không bao giờ rời xa
Sự xuất hiện của hoa lá làm nên nét đặc sắc nghệ thuật của mùa xuân Trong văn học ViệtNam, những bức tranh xuân khiến người đọc say đắm và mê hoặc bởi sự có mặt của các
loài hoa quen thuộc như: Hoa đào, hoa mai, hoa thủy tiên, hoa bưởi, hoa cam, hoa mơ, hoa xoan cùng với những lá xanh rờn, chồi nhú biếc, cỏ non tơ trải dài tận chân trời Điểm tô cho khu vườn xuân ấy thêm sinh động là sự xuất hiện của các loài động vật: chim
én, chim oanh, ong, bướm sinh sản, phát triển mạnh vào mùa xuân như một dấu hiệu đặc biệt để nhận biết xuân về.
Thời tiết mùa xuân rất lí tưởng với nắng xuân dịu dàng, gió xuân khẽ khàng, với khítrời ấm áp khiến cho vạn vật, vũ trụ bừng tỉnh sau một giắc ngủ dài trong ba tháng mùa
Trang 27đông lạnh giá Cả đất trời như được khoác lên mình một tấm áo mới của một màu xanhtràn đầy sức sống Bên cạnh đó, thời tiết mùa xuân còn được hiện lên qua các tín hiệu:
mưa xuân, tiếng sấm mùa xuân
Mùa xuân mang ý nghĩa thiêng liêng bởi đây là mùa gắn liền với nhiều các phongtục, lễ hội Phong tục, lễ hội là một trong những nét đặc sắc của nền văn hóa việt Nam gópphần khẳng định nền độc lập của dân tộc Trên dải đất hình chữ S thân thương ấy, các
phong tục lễ hội diễn ra rất phong phú và đa dạng Tết, những đêm hát chèo, những buổi
lễ chùa, rằm tháng giêng đã trở thành những tín hiệu gần gũi, thiêng liêng cho các phong tục, lễ hội của mùa xuân trong văn học Việt Nam.
Do những đặc điểm của mùa xuân như trên nên đi vào trong thơ ca với công thứcmiêu tả riêng: Mùa xuân là mùa của sự sinh trưởng, nên vạn vật được miêu tả trongnhững bức tranh mùa xuân bao giờ cũng gắn liền với sự sinh sôi, nảy nở, căng tràn sứcsống được kết thành sắc xuân, hương xuân và tình xuân
b Mùa hạ
Khi những bông hoa xoan cuối mùa rơi rụng, khi những tiếng chim cuốc vang lênchính là lúc báo hiệu hè đã sang Mùa hè mang một dấu ấn riêng với ánh nắng chói chang,tiết trời oi ả, những cơn mưa bất ngờ đến rồi đi Đây chính là những yếu tố tác động khiếncho muôn loài phát triển sung mãn nhất, trưởng thành nhất
Trước hết, chúng ta có thể nhận biết tín hiệu mùa hè qua hệ thống thực vật Nếunhư mùa xuân luôn gắn liến với hoa đào, mai thì mùa mùa hè lại gắn liền với hoa sen.Hoa sen đi vào trong văn học không chỉ quyến rũ bởi hương và sắc mà còn làm dịu lòngngười bởi vẻ đẹp thanh tịnh, bản lĩnh gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn Ngoài hoa sen,bức tranh mùa hè còn được nhận biết qua sắc đỏ của hoa lựu, màu xanh lục của cây hòehay vị chua dịu của quả vải
Hệ thống động vật như: chim cuốc, chim quyên, tu hú, ve, muỗi, dế, đom đóm cũng
là tín hiệu quan trọng để nhận biết bước chuyển của thời gian từ xuân sang hạ Âm thanh
Trang 28của những con vật đó đã tạo nên dàn đồng ca sôi động để chào đón hè về trong niềm hânhoan bất tận.
Thời tiết mùa hè đem lại cảm giác oi nồng, khó chịu bởi sự tỏa rọi của ánh mặt trờichói chang lên muôn loài với những cơn gió nồm đông rát bỏng Nắng lắm thì mưa nhiều
đã trở thành quy luật cân bằng của thiên nhiên và cũng có lúc dẫn đến lụt lội
Với đặc trưng riêng biệt về thời tiết, khí hậu nên mùa hè được miêu tả trong văn họcrất sống động với những âm thanh rộn ràng, những sắc màu đậm nhất Mùa hè thường được
vẽ lên bởi những gam màu nóng để thể hiện sự sinh trưởng tận cùng của vạn vật Bức tranhmùa hè còn gắn liền với cái nóng oi ả hay những cơn mưa xối xả khiến cảnh vật sau khi đượctắm gội mang vẻ đẹp tinh khôi, long lanh sắc xanh dưới ánh nắng mặt trời
c Mùa thu:
Nằm trong chuỗi chu kì bốn mùa, mùa thu là mùa chuyển giao từ hạ sang đông nênmùa thu vừa có cái rạo rực, nồng nàn của mùa hạ lại vừa mang vẻ ảm đạm của mùa đông Sựkết hợp tuyệt vời giữa những trạng thái đối lập nhau về thời tiết đã mang lại cho bức tranhmùa thu một vẻ đẹp thanh sơ, dịu nhẹ Mùa thu được nhận biết bởi hệ thống thực vật vớinhững hình ảnh cốm, hồng, ổi là những sản vật đặc trưng của mùa thu Ngoài ra mùa thu cònđược miêu tả với các tín hiệu của hoa cúc, bông lau, lá ngô đồng rụng, lá vàng rơi
Nếu chim én gọi xuân về, mùa hè ám ảnh với tiếng chim cuốc kêu ròng rã suốtnăm canh thì mùa thu lại được gợi ra với hình ảnh cánh chim nhạn, với âm thanh tiếngchim cúc cu Hình ảnh những cánh nhạn bay thưa thấp thoáng trên bầu trời cao đã trởthành những tín hiệu quen thuộc để nhận biết mùa hè đã khép lại để đón chào mùa thuđang khẽ khàng đến bên
Thời tiết mùa thu được mở ra với một bầu trời cao trong xanh vời vợi, nắng vàngnhư trải thảm, gió thu mát rượi, sương thu bảng lảng, khí thu se se lạnh, không gian mênhmông, vắng lặng… Tất cả góp phần tạo nên vẻ đẹp êm đềm, quyến rũ, như thực như mơcủa mùa thu Cũng vì lẽ đó, mùa thu đã trở thành niềm cảm hứng vô tận trong thơ ca.Ngoài ra, mưa ngâu cũng là một trong những đặc điểm nổi bật của thời tiết mùa thu
Trang 29Mùa thu thường được nhận biết qua các phong tục, lễ hội quen thuộc như: tết trung thu, rằm tháng 7
Mang những đặc điểm riêng như vậy nên mùa thu đi vào trong thơ ca với côngthức miêu tả riêng Bức tranh mùa thu được vẽ lên gắn liền với những làn gió heo maykhiến đất trời se lạnh, trời cao hơn, trong xanh hơn Mùa thu thường được nhận biết vớihình ảnh lá màu vàng của hoa cúc, của lá vàng rơi rụng, cây cối úa tàn
d Mùa đông
Đây là mùa cuối cùng khép lại một chu trình khép kín Mùa đông được nhận biết
qua các tín hiệu: trời rét căm căm, hơi lạnh thấu xương, tuyết trắng, sương giá, sếu giang
Mùa đông được miêu tả với hình ảnh bầu trời u ám, xám, lạnh, vắng vẻ, cây cối trơtrụi, khẳng khiu đi đến tận cùng của sự hủy diệt Trước không gian mênh mông con ngườidường như trầm tư hơn với biết bao nỗi niềm tâm sự vơi đầy
1.1.2.2 Mùa và những giá trị thẩm mĩ
Trong văn học nghệ thuật, mùa không đơn thuần là chiếc đồng hồ khổng lồ của vũtrụ, thiên nhiên mà nó còn ẩn chứa những giá trị thẩm mĩ mang nhiều tầng ý nghĩa sâusắc Chính những tầng ý nghĩa sâu sắc đó đã tạo nên nét đặc sắc nghệ thuật muôn đời hấpdẫn con người khi khám phá về mùa
Trước khi trở thành một tác phẩm nghệ thuật thì mùa chính là thời gian gắn liền vớinông lịch (lịch của nhà nông) Việt Nam cổ truyền là một đất nước nông nghiệp, cuộc sốngcủa người dân bình lặng sau lũy tre làng gắn liền với những cánh đồng cò bay thẳng cánh chonên cuộc sống của họ phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố tự nhiên Trong mối quan hệ gắn bókhăng khít với tự nhiên, người nông dân có rất nhiều nỗi trông chờ Nếu trời yên biển lặng,mưa thuận gió hòa thì người nông dân được mùa, cuộc sống ấm no hạnh phúc còn ngược lạinếu thiên nhiên trở mình khó tính, mưa nắng, gió bão thất thường thì mùa màng thất bát,nhân dân đói kém Trong khi đó, thời xa xưa nền nông nghiệp của nước ta còn lạc hậu, khoahọc kĩ thuật chưa phát triển Vì vậy để hạn chế những rủi ro đáng tiếc xảy ra,
Trang 30người nông dân đã quan sát những hiện tượng tự nhiên để có bản dự báo thời tiết củariêng mình Về đêm, họ đã phát hiện ra:
Nhiều sao thì nắng, vắng sao thì mưa
Còn ban ngày để đoán biết được điều đó cũng chẳng mấy khó khăn với họ:
Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mưa.
Qua quá trình quan sát những hiện tượng tự nhiên đó, người nông dân đã có nhữngứng dụng vào sản xuất nông nghiệp cho kịp thời vụ và đạt hiệu quả năng suất cao:
Bao giờ đóm đóm bay ra Hoa gạo rụng xuống ta tra hạt vừng
(Ca dao)
Quy luật tuần hoàn bốn mùa xuân, hạ, thu, đông còn thể thể hiện lý tưởng thẩm mỹcủa các nhà thơ xưa hướng về quá khứ tươi đẹp Trong tiềm thức của họ, quá khứ là khuônmẫu, là chuẩn mực của cái đẹp mà không cái đẹp của thời đại nào có thể vượt qua được.Chính tư tưởng ngưỡng vọng, tôn sùng quá khứ ấy của các nhà nho đã tạo nên những hìnhảnh tượng trưng, ước lệ, lối văn chương khuôn mẫu Cùng khám phá bức tranh bốn mùa ta dễdàng nhận thấy tâm trạng nuối tiếc quá khứ, hoài niệm dĩ vãng qua cái ngoái đầu nhìn lại mùatrước khi đang sống ở mùa này với những kí ức không thể lãng quên của các nhà nho Trong
bài thơ Thăng Long hoài cổ, từ một chiều thu, bà Huyện Thanh Quan đã đưa ta trở về với một
thời vàng son của kinh thành Thăng Long nay chỉ còn vang bóng:
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
(Thăng Long hoài cổ - Huyện Thanh Quan)
Cái nhìn của tác giả không phải say đắm với hiện tại, mơ màng hướng tới tương lai
mà là cái nhìn đau đáu, ngược dòng trở về với quá khứ Cái nhìn ấy đã góp phần tạo nênmột cảm quan hoài cổ trong thế giới thơ của bà Ám ảnh trong lòng người đọc là một sắc
Trang 31vàng tàn tạ: màu vàng úa của thu thảo (cỏ mùa thu); màu vàng nhạt của bóng tịch dương
(bóng mặt trời sắp lặn) Sắc vàng đó, thời gian đó càng khiến lòng thi nhân dâng trào baonỗi niềm hoài cổ, nhớ tiếc quá khứ Câu thơ cũng là tiếng nấc nghẹn ngào của bà HuyệnThanh Quan trước cuộc đời dâu bể, trước biến thiên vật đổi sao dời của cảnh vật Còn đâunhững con đường bàn cờ ngang dọc suốt ngày đêm rộn rịp ngựa xe của các ông hoàng, bàchúa, những xe tứ mã của các vương công quốc thích, còn đâu những cung điện nguy nga,những lầu son gác tía của một đế đô Thăng Long vàng son rực rỡ Thay vào đó là hồn thuthảo, là bóng tịch dương héo úa, điêu tàn Cảnh vật thiên nhiên được nhìn qua lăng kínhtâm trạng đầy tiếc nuối, bâng khuâng Con người của hiện tại nặng lòng với quá khứ đượcđặt trong sự tương phản đối lập với sự hoang tàn, đổ nát của cảnh vật khiến lòng bàHuyện Thanh Quan quặn thắt từng khúc:
Cảnh đấy, người đây luống đoạn trường
Với âm điệu du dương, trầm bổng, bà Huyện Thanh Quan đã đưa người đọc trở vềvới thế giới của hoài niệm, của thời một đi không trở lại Đó cũng chính là nỗi niềm uhoài của một kiếp người không biết đến tháng năm, thời đại
Nhịp bước của mùa trong năm còn thể hiện tình yêu thiên nhiên tha thiết và niềm
mong ước về một xã hội an lành, tốt đẹp Đến với bài thơ Cảnh xuân của Trần Nhân
Tông, người đọc như lạc vào một thế giới cảnh mùa xuân thật yên bình, thư thái:
Khách lai bất vấn nhân gian sự Cộng ỷ lan can khán thúy vi
(Xuân cảnh – Trần Nhân Tông)
(Khách sang không hỏi chuyện đờiCùng nhau dựa ngắm núi trời xanh xanh)Trước cảnh mùa xuân ấy, chủ nhân được sự đồng thuận của khách đã gạt đi những
lo lắng việc đời, những bon chen, danh lợi để cùng đắm mình trong những phút giây thoáttục tuyệt vời, trong cái xanh thăm thẳm của đất trời, rừng núi ngày xuân Trong sự im lặng
Trang 32của chủ - khách mà lại nói lên được bao điều Qua cái nhìn, ánh mắt của họ cùng say sưangắm nhìn trời đất mà ta cảm nhận được sự đồng điệu trong tâm hồn của những con ngườitri âm tri kỉ Họ đều vui sướng, mãn nguyện trước vẻ đẹp của mùa xuân tuy đơn sơ, thanhđạm nhưng lại thanh cao, khoáng đạt, trong sáng đến lạ kì Bức tranh cảnh ngày xuân yênbình đó là phản chiếu một triều đại thịnh vượng, phản chiếu một cuộc sống ấm no củanhân dân trong mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người Là một nhà vua –người đứng đầu đất nước với những bộn bề lo âu, trăn trở để mang lại cuộc sống yên vuicho nhân dân thì dường như niềm vui ấy càng được nhân lên gấp nhiều lần Những phútgiây thanh thản của chủ - khách trong im lặng để lắng nghe hơi thở của đất trời và củalòng mình là mong muốn cháy bỏng của mỗi người, ngay cả những bậc vĩ nhân.
Trong bài thơ Bảo kính cảnh giới, bài 43 của Nguyễn Trãi, qua bức tranh cảnh
ngày hè sôi động, rực rỡ, tràn đầy sức sống, tác giả đã thể hiện niềm mong ước về một xãhội an lành tốt đẹp, đặc biệt là ở bốn câu thơ cuối:
Lao xao chợ cá làng ngư phủ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng Dân giàu đủ khăp đòi phương
Trong ngày nhàn rỗi rãi, Nguyễn Trãi đã thả hồn mình vào bức tranh cảnh ngày hènơi làng quê, lắng nghe được hơi thở của thiên nhiên cũng như hơi thở của cuộc sống qua
âm thanh "lao xao chợ cá" - tiếng trao đổi của kẻ mua người bán của một làng chài từ xa
vọng lại Đó là âm thanh báo hiệu một cuộc sống bình yên, no đủ của người dân nơi đây.Trước cảnh tượng ấy tác giả chỉ có khao khát cháy bỏng muốn có được cây đàn của vuaNgu để gẩy lên khúc Nam phong ca ngợi cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.Niềm mong ước đó càng làm ngời sáng thêm vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi – một bậcanh hùng suốt đời vì nước, vì dân
Như vậy, trong những bức tranh thiên nhiên nói chung thì những bức tranh chứabiểu tượng mùa vừa diễn tả được sự trôi chảy của thời gian vừa giúp người đọc khám phá
Trang 33ra những vẻ đẹp kì thú của tạo hóa Nhưng cái tạo nên sức lôi cuốn nhất của mùa vẫn lànhững tâm trạng, cảm xúc của các thi nhân trước thời gian, không gian ấy Những biểutượng mùa luôn có sức ảm ảnh, gợi những suy nghĩ, trăn trở, day dứt trong thẳm sâu tâmhồn của mỗi nhà thơ.
1.1.3 Mùa xuân – thời điểm đặc biệt trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông
Đã từ lâu, bốn mùa xuân, hạ, thu, đông không chỉ được biết đến là bước chuyểncủa thời gian trong năm mà còn trở thành đối tượng thẩm mĩ để các thi nhân miêu tả vàbộc lộ nỗi niềm Trong chuỗi thời gian đó thì mùa xuân là mùa khởi điểm trong năm vớinhững đặc điểm riêng về khí hậu, thời tiết gắn liền với sự sinh trưởng và phát triển củacác loài động, thực vật Do vị trí địa lý đã tạo nên đặc điểm chung của khí hậu Việt Nam
là tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa với bốn mùa luân chuyển rõ rệt Mỗi mùa lại có đặcđiểm nhận biết riêng được thể hiện ở sự đổi thay của hệ thống động, thực vật Trong thiênvăn học, mùa xuân được xem là bắt đầu từ thời điểm diễn ra xuân phân (khoảng 21 tháng
3 ở Bắc bán cầu và 23 tháng 9 ở Nam bán cầu và kết thúc vào thời điểm diễn ra tiết hạ chí(khoảng ngày 21 tháng 6 ở Bắc bán cầu và 21 tháng 12 ở Nam bán cầu) Ở Việt Nam,người dân thường lấy ngày lập xuân là ngày bắt đầu của mùa xuân và kết thúc vào ngàydiễn ra tiết lập hạ (khoảng từ tháng 2 đến tháng 5)
Trong mùa xuân, trục tự quay của trái đất nghiêng tăng dần về phía mặt trời chonên đất trời sang xuân bao giờ cũng ấm áp, nhiệt độ tăng lên đáng kể so với mùa đông Ởnước ta khí trời mùa xuân đặc biệt ôn hòa, bầu trời trong xanh, nắng xuân nhè nhẹ - thứnắng tươi non đem lại cho vạn vật cảm giác dễ chịu chứ không phải cái nắng oi nồng củamùa hè Nếu mùa đông đến mang theo những cơn gió bấc oan nghiệt cắt da, cắt thịt, nếunhững cơn gió Lào mùa hạ cho ta cảm giác rát thịt, bỏng da thì những cơn gió xuân lại êmđềm, mơn trớn như bàn tay nhẹ nhàng mơn man trên da thịt Chính vì vậy mà mặc dù mùaxuân vẫn lạnh nhưng cái rét mùa xuân là cái rét ngọt – cái rét kích thích thực vật đâm chồinảy lộc, đơm hoa kết nụ chứ không phải hủy diệt sự sống
Trang 34Mùa xuân còn khiến thiên nhiên thêm đẹp, lòng người thêm xốn xao bởi làn mưabụi giăng mắc trên những thảm cỏ, trên những cánh đồng hoa đồng nội khiến cho cảnh
như thực, như mơ Những "cơn mưa nụ ái ân ngọt ngào" của mùa xuân làm duyên làm
dáng khiến đất trời càng trở nên có hồn hơn, tình tứ hơn Những gì thuộc về mùa xuân:
nắng, gió, mưa, rét đã hội tụ lại tạo nên điều kiện thời tiết lí tưởng để cỏ cây, muôn loài chợt bừng tỉnh giấc tiếp nhận một nguồn năng lượng vô biên mà đất trời ban tặng Tất cả
những đặc điểm đó đã tạo nên dấu ấn không thể phai mờ của mùa xuân – mùa đặc biệttrong năm Đứng trước bức tranh thiên nhiên với sức sống diệu kì ấy, tâm hồn tinh tế vànhạy cảm của các thi sĩ đã thu trọn kết lại thành những kiệt tác thơ xuân
Mùa xuân thường gắn liền với hoa, xuân đến các loài thảo mộc thi nhau phô sắc,khoe hương góp phần tạo nên những bức tranh thiên nhiên rực rỡ sắc màu, ngào ngạthương thơm Xuân về trăm hoa đua nở bởi lẽ khí hậu mùa xuân là khí hậu lí tưởng chonhiều thức hoa, vừa đủ ấm cho những loại hoa này cũng đủ lạnh cho những loài hoa kia
Những loài hoa đặc trưng mang hơi thở và dấu ấn của mùa xuân như: hoa mai, hoa đào, hoa lan, hoa mơ, hoa ban, hoa thủy tiên Được tích nhựa và vượt qua ba tháng mùa đông
gió tuyết nên những loài hoa này còn mang ý nghĩa cho lời chúc may mắn, thịnh vượngtrong năm mới
Nằm trong mạch phát triển ấy, các loài động vật cũng hân hoan đón chào mùa xuânbởi mùa xuân đem lại nguồn thức ăn dồi dào giúp chúng sinh trưởng và phát triển nhanhchóng Mùa xuân còn là thời điểm lí tưởng để chúng đi tìm bạn tình, là môi trường thuận
lợi để chúng sinh sản, tiếp tục duy trì phát triển giống loài Từ các loài mãnh thú như: hổ, báo, sư tử đến các loài chim én, chim oanh cũng sinh sản mạnh vào mùa xuân Hình ảnh
cánh chim én chao liệng trên bầu trời hay tiếng hót rộn ràng của chim oanh sau lùm cây
đã trở nên quen thuộc để báo hiệu xuân về Sự xuất hiện của chúng khiến bức tranh mùaxuân không chỉ đa sắc, đa hương mà còn đa thanh và gợi cảm
Trong không gian hòa quyện của khí trời ấm áp, vạn vật hồi sinh, chim hót líu lo,bướm lượn rập rờn, tâm hồn con người hòa cùng theo nhịp với đất trời cũng trở nên hânhoan, xốn xang, rạo rực chào đón những lễ hội truyền thống của dân tộc Trong tiềm thức
Trang 35của người Phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng, mùa xuân còn là mùa củanhững lễ hội truyền thống Trên dải đất hình chữ S thân thương của chúng ta, khi tết đến xuân
về đâu đâu cũng ngập tràn trong niềm vui, niềm hân hoan của những điệu hò câu hát, nhữngnghi lễ truyền thống Hương sắc mùa xuân quyện hòa trong khói hương trầm làm mỗi chúng
ta cảm thấy ấm lòng, xúc động bởi sự nối kết vô hình giữa hai thế giới âm dương, giữa thếgiới của người đã khuất với con cháu mai sau Đất nước ta là một đất nước nông nghiệp chonên mùa xuân là khoảng thời gian nhàn rỗi hiếm hoi của người lao động quanh năm vất vả,lam lũ Lúc này, người dân đã làm xong vụ chiêm mà vụ mùa chưa tới, thời tiết lại lý tưởngcho nên đó là khoảng thời gian thư thái tuyệt vời để họ thưởng xuân Hơn nữa, Việt Nam là
một dân tộc luôn đề cao đạo lý "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả nhớ kẻ trồng cây" cho nên đến với lễ hội cũng là cách người dân tỏ lòng biết ơn, sự ngưỡng vọng đối với những vị thần
linh – trong đó có những nhân vật lịch sử có thật Lễ hội còn là dịp để người dân bày tỏnhững mong ước về một năm mưa thuận gió hòa, gặp nhiều may mắn Đây là một loại hìnhsinh hoạt văn hóa, sản phẩm tinh thần của dân tộc được hình thành và phát triển trong quá
trình lịch sử Chúng ta không thể không nhắc đến một số các lễ hội nổi tiếng như: lễ hội chùa Hương, bà Chúa Kho, lễ hội khai ấn đền Trần, hội Lim, lễ hội chùa Yên Tử Sự phong phú của lễ hội cả nước vừa là nét đẹp văn hóa dân tộc đồng thời cũng là nhu cầu về đời sống văn
hóa tín ngưỡng của người dân Việt Nam
Tóm lại, có thể khẳng định mùa xuân là một món quà kỳ diệu mà tạo hóa đã bantặng cho con người chốn nhân gian Sức sống mãnh liệt của mùa xuân đã lan tỏa và chiphối tâm trạng, cảm xúc của con người Niềm vui ấy càng trọn vẹn hơn khi con ngườiđược hành hương trở về với thế giới của Phật trong những lễ hội truyền thống được tổchức vào mùa xuân Mùa xuân vừa là thời điểm đặc biệt của đất trời, vừa là thời điểm đặcbiệt của lòng người trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông
1.2 Chủ đề mùa xuân trong thơ ca trung đại và tương quan giữa các mùa
1.2.1 Chủ đề mùa xuân trong thơ ca trung đại
Trang 36Từ bao đời nay, thiên nhiên luôn là niềm say mê, đắm đuối đối với người nghệ sĩ.
Trong bài Cảm tưởng đọc thiên gia thi, Hồ Chí Minh đã viết:
Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp Mây, gió,trăng, hoa, tuyết, núi sông.
Quả thật như vậy! Các nhà thơ xưa thường yêu cái đẹp mà cái đẹp gần gũi nhất với thinhân đó là thiên nhiên Thi nhân thường thả hồn mình theo áng mây bay, theo dòng nướcchảy, ánh trăng ngần Trong vẻ đẹp chung ấy của thiên nhiên thì vẻ đẹp tươi non, căngmọng, tràn đầy sức sống của mùa xuân có sức mê hoặc khiến các nhà thơ khó cưỡng lại được.Hầu như người nghệ sĩ nào trong cuộc đời cầm bút của mình cũng có dăm ba bài thơ xuân
đắc ý Mùa xuân với khí hậu thời tiết lý tưởng: nắng xuân dịu dàng, gió xuân khe khẽ, mưa xuân sương sương, rét xuân ngòn ngọt là chất xúc tác khiến hồn thơ của các thi nhân cất
cánh, thăng hoa Các thi nhân bằng tâm hồn tinh tế, nhạy cảm của mình đã chớp lấy nhữngkhoảnh khắc tuyệt vời của mùa xuân để dệt lên những vần thơ xuân còn mãi với thời gian.Điểm qua các sáng tác của các nhà thơ trong văn học trung đại Việt Nam có thể thấy mùaxuân xuất hiện với tần suất khác nhau trong thơ của các tác giả như: Nguyễn Trãi, các nhà thơthời Hồng Đức, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương
Nhà thơ Nguyễn Bính – một đại diện tiêu biểu của phong trào thơ mới đã không
kìm nén được cảm xúc của lòng mình khi thốt lên cảm nhận chung về mùa xuân “Mùa xuân là cả một mùa xanh” Sắc xanh ấy được dệt lên bởi sức sống mạnh mẽ của vạn vật trong trời đất theo một quy luật vĩnh hằng của tạo hóa:
Xuân qua trăm hoa rụng Xuân tới trăm hoa cười
(Cáo tật thị chúng – Mãn Giác Thiền sư)
Trong hành trình trở về với mùa xuân trong thơ ca trung đại, chúng ta hãy cùngcảm nhận sắc xanh của vạn vật cùng sức sống của mùa xuân được hiện rõ qua hình ảnh cỏ
cây trong Trại đầu xuân độ của Nguyễn Trãi:
Trang 37Độ đầu xuân thảo lục như yên Xuân vũ thiêm lai thủy phách thiên
Dã kính hoang lương hành khách thiểu
Cô châu trấn nhật các sa miên
(Cỏ xuân như khói bến xuân tươiLại có mưa xuân nước vỗ trờiQuạnh quẽ đường đồng thưa vắng kháchCon đò gối bãi suốt ngày ngơi)
Bằng tâm hồn tinh tế, nhạy cảm và tấm lòng gắn bó với quê hương đất nước,Nguyễn Trãi đã lắng nghe hơi thở của mùa xuân qua những hình ảnh quen thuộc, thânthương của vùng quê thôn dã có mưa, cỏ, con đường đồng vắng vẻ và con đò gối bãi nghỉngơi Khung cảnh mùa xuân của chốn thôn quê đất Việt hiện lên thật đẹp, yên bình và nhưthực, như mơ Tất cả đều chìm trong làn mưa bụi mùa xuân và cũng chính vì thế khiến
cho cỏ đang trong quá trình giao thời giữa màu trắng non và độ xanh rì mang màu “xanh như khói’’ độc đáo Dường như lúc này tâm hồn thi nhân cùng chung nhịp đập, hơi thở với vẻ đẹp của mùa xuân.
Nếu cỏ trong bức tranh mùa xuân của Nguyễn Trãi mang vẻ đẹp hương đồng giónội thì cỏ trong thơ của Nguyễn Du lại tràn đầy sức sống:
Ngày xuân con én đưa thoi Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời Cành lên trắng điểm một vài bông hoa.
(Truyện Kiều – Ngyễn Du)
Mùa xuân càng trở nên rực rỡ hơn, luôn cựa quậy trong sự sinh sôi của muôn loàihơn là bởi có hoa Hình ảnh hoa càng khiến xuân trở nên duyên dáng hơn, tình tứ hơn,
Trang 38khiến bức tranh mùa xuân đạt đến vẻ đẹp tuyệt mĩ nhất Được tiếp nhận khí dương hòacủa mùa xuân, cây cỏ đang khô héo trong mùa đông khắc nghiệt bỗng trở mình trỗi dậy,bứt phá trong sức sống mãnh liệt của lá non và những nụ hoa chúm chím:
Hoa rợp cành khô lúc tiếp xuân
(Tham đồ hiểu quyết – Viên Chiếu)
Dù trong thơ cổ hay thơ ca hiện đại thì bức tranh mùa xuân sẽ không thể thiếu
được hình ảnh của những loài hoa quen thuộc mang linh hồn của mùa xuân như: hoa mai, hoa đào, hoa lê, hoa thủy tiên
Xuân đến cây nào chẳng tốt tươi
Ưa mi vì tiết sạch hơn người
(Mai - QÂTT) Xuân thêm cốt cách hương càng bội Tuyết giúp tinh thần, ngọc hãy còn.
(Lão mai – HĐQÂTT) Tiên thụ thùy tương quán lý tài?
Hảo xuân nhất độ hảo hoa khai
(Cây tiên bên quán bởi ai trồng?
Mỗi độ xuân về rực rỡ bông.)
(Đào hoa thi – Nguyễn Bỉnh Khiêm) Nay đào đã quyến gió đông
(Chinh phụ ngâm khúc – Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm)
So với tùng và trúc, hoa mai, hoa đào giống ở khí tiết nhưng hai loài hoa này còn có
ưu điểm mà hai người bạn kia không sao sánh được đó là hương Sắc hoa rực rỡ, hương hoangào ngạt thu hút sự chú ý của những loài ong, bướm khiến cho khu vườn xuân càng trở
Trang 39nên hữu tình hơn trong sự giao hòa, quấn quýt của vạn vật Bức tranh thiên nhiên mùaxuân không chỉ đẹp mà còn là nơi các thi nhân ký thác lòng mình, đó không chỉ là mùaxuân thiên nhiên mà còn là mùa xuân lòng người Con người cảm khái thiên nhiên để suynghiệm về thân phận, lẽ đời Trước hết, ta bắt gặp trong bức tranh xuân của thiền sư MãnGiác niềm lạc quan, yêu đời qua hình ảnh nhành mai nở lúc cuối xuân:
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua sân trước một nhành mai.
(Cáo tật thị chúng – Mãn Giác Thiền sư)
Nếu trong thơ xuân của Nguyễn Trãi ta bắt gặp hình ảnh một con người luôn rựccháy tấm lòng yêu nước, thương dân thì trong thơ xuân của Nguyễn Du lại khiến lòng tabùi ngùi trước trước nỗi cảm thương cho thân phận của tác giả Còn thơ xuân của NguyễnKhuyến lại khiến lòng ta thổn thức không yên bởi nỗi lo lắng cho nỗi khổ của nhân dâncủa cụ Tam nguyên Yên Đổ Mỗi thi nhân sống trong hoàn cảnh xã hội khác nhau, cảnhngộ khác nhau trải lòng với vẻ đẹp mùa xuân trong một tâm trạng, một nỗi niềm riêng
Đến với thơ của Nguyễn Trãi, ta bắt gặp hình ảnh một ông già với phong thái ungdung thư thái, tâm hồn thanh thản sống chan hòa giữa chốn thôn quê Nhưng trong sâuthẳm lại ẩn chứa những nỗi niềm suy tư sâu lắng Đối với nhà nho tài đức luôn có tâm
nguyện làm "ngựa đến tuổi già còn kham rong ruổi" phải từ bỏ chốn quan trường là một
nỗi đau không dễ nguôi ngoai Lý tưởng chưa thực hiện trọn vẹn trong khi sức khỏe vẫncòn nên lòng yêu nước, thương dân luôn đau đáu trong trái tim ông Chính vì vậy trongbức tranh mùa xuân tươi đẹp, tràn đầy sức sống của Nguyễn Trãi luôn thấp thoáng nỗibuồn nhân thế Đó là nỗi buồn nuối tiếc thời gian, nuối tiếc tuổi thanh xuân của mình:
Xuân xanh chưa dễ hai phen lại Thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên
(Thơ tiếc cảnh, bài 3)
Trang 40Còn ám ảnh người đọc trong những bức tranh xuân trong trẻo, thanh tân củaNguyễn Du lại là tâm trạng cô đơn, u sầu đau đáu hướng về quê nhà của một con ngườitha phương, lưu lạc trên đất khách quê người Mùa xuân với bao chuyển biến tinh vi củađất trời theo lẽ thường đem đến cho con người niềm tin yêu, hi vọng thì lại khiến Nguyễn
(An Huy đạo trung)
Hình ảnh thi nhân nơi đất khách, đón xuân trong tâm trạng buồn tủi, cô đơn cứ trở
đi trở lại trong thơ của Thanh Hiên Vẻ đẹp của mùa xuân, sức sống của vạn vật khôngkhỏa lấp được nỗi lòng nhung nhớ quê nhà và thiếu vắng tình thân của tác giả Đôi khitrong đêm xuân u tịch nhà thơ khao khát cháy bỏng tìm được ánh sáng mùa xuân nhưnglại tuyệt vọng vì chỉ thấy bóng liễu âm u:
Hắc dạ thiều quang hà xứ tầm?
Tiểu song khai xứ liễu âm âm
(Đêm tối đen, tìm đâu ánh sáng mùa xuân?
Trước song cửa sổ mở chỉ thấy bóng liễu âm u)