Hiện nay, một số tác phẩm thơ Nôm Đường luật được đưa vào giảng dạy cho học sinh Trung học cơ sở đều là những tác phẩm có giá trị và chiếm vị tríquan trọng giúp các em học sinh hiểu hơn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ TUYẾT NHUNG
DẠY HỌC THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ
THEO ĐẶC TRƯNG THỂ
LOẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
DẠY HỌC THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT
Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO ĐĂCC̣ TRƯNG THỂ
LOẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 10
Cán bộ hướng dẫn: GS TS Phan TrongC̣ Luân
HÀ NỘI – 2012
Trang 3MỤC LỤC Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC BẢNG 7
MỞĐÂ ̀ U 8
CHƯƠNG 1 15
CƠ SỞLÍLUÂṆ VÀTHƯỰC TIÊ ̃ N CỦA VIÊCỰ DAỴ HOCỰ THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO 15
ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI 15
Cơ sởlíluân 15
Thểloaị và viêcc̣ daỵ hocc̣ tác phẩm văn chương theo đăcc̣ trưng thể loại trong nhà trường 15
1.1.2 Thơ Nôm Đường luật và quan niệm dạy học thơ Nôm Đường luật theo đặc trưng thể loại 20
Cơ sở thực tiễn 40
Vị trí của thơ Nôm Đường luật trong chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sơ 40
Thưcc̣ tiễn daỵ hocc̣ thơ Nôm Đường luâṭ theo đăcc̣ trưng thểloại 43
CHƯƠNG 2 50
BIỆN PHÁP DAỴ HOCỰ THƠ NÔM ĐƯỜNG LUÂṬ Ở 50
TRUNG HOCỰ CƠ SỞTHEO ĐĂCỰ TRƯNG THỂ LOẠI 50
2.1 Coi trọng khai thác tư tưởng hạt nhân nhân văn, yếu tố làm nên giá trị bền vững muôn đời của thơ Nôm Đường luật và của thơ ca Trung đại Việt Nam 50
2.2 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu thơ Nôm Đường luật gắn với lịch sử hình thành 56
2.3 Dạy học thơ Nôm Đường luật xuất phát từ bố cục và kết cấu bên trong của tác phẩm 60
2.4 Hướng dẫn học sinh phát hiện cái mới, so sánh đối chiếu để khắc sâu ấn tượng về tác phẩm 62
2.5 Hướng dẫn học sinh tiếp cận thơ Nôm Đường luật qua hoạt động đọc tác phẩm 65
2.6 Hướng dẫn học sinh vượt rào cản ngôn ngữ thông qua hoạt động cắt nghĩa, chú giải 68
2.6.1 Hoạt động chú giải 68
2.6.2 Hoạt động cắt nghĩa 72
2.7 Hướng dẫn học sinh phân tích tác phẩm thơ Nôm Đường luật bằng hệ thống câu hỏi hợp lí 77
2.8 Sử dụng phương pháp bình giảng để nâng cao nhận thức thẩm mĩ cho học sinh 81
CHƯƠNG 3 84
4
Trang 4T KẾ
THỂ
NGHIÊM 84
3.1 Mục đích thể nghiệm 85
3.2 Đối tượng, điạ bàn vàthời gian thểnghiêm 85
3.3 Nôịdung thểnghiêm 86
3.4 Phương pháp tiến hành thểnghiêm 87
3.5 Giáo án thể nghiệm 87
I Mục tiêu bài học: 88
3.6 Đánh giá kết quả thể nghiệm 100
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 108
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng: 1.1 Các bài thơ Nôm Đường luật ở Trung học cơ sở
Bảng: 1.2 Chuẩn kiến thức kĩ năng cần đạt của các bài thơ Nôm Đường luật ở Trung học cơ sở
Bảng : 1.3 Những thuận lợi và khó khăn trong việc giảng dạy thơ Nôm
Đường luật ở Trung học cơ sở
Bảng : 1.4 Những thuận lợi và khó khăn trong việc học thơ Nôm Đường luật của học sinh Trung học cơ sở
Bảng : 1.5 Phát biểu cảm nghĩ về một bài thơ Nôm Đường luật đã học trong chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở
Bảng : 3.1 Đối tượng thể nghiệm và đối chứng
Bảng : 3.2 Thống kê kết quả nhận thức của học sinh
Trang 7U
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Mỗi tác phẩm văn học đều tồn tại dưới hình thức một loại thể nhất định.
Vì vậy muốn dạy học hiệu quả thì việc xác định được thể loại là một vấn đềmấu chốt trong dạy học tác phẩm văn chương Thể loại chính là chìa khóa đểkhám phá được tầng nghĩa sâu của tác phẩm Việc dạy học tác phẩm vănchương hiện nay còn nhiều hạn chế do chưa ý thức được tầm quan trọng củathể loại Hiện nay cũng chưa có tài liệu nào đi sâu vào việc hướng dẫn dạyhọc tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại thật tường tận Do đó giáoviên không tránh khỏi những khó khăn, lúng túng trong cách soạn giáo áncũng như trong cách dạy học các tác phẩm cụ thể
1.2 Thơ Nôm Đường luật là một thành tựu rực rỡ của thơ ca Việt Nam Đây
là một hiện tượng vừa độc đáo vừa tiêu biểu trong lịch sử văn học dân tộc và
đã được nghiên cứu như một thể loại văn học bắt đầu từ những năm bảymươi của thế kỉ trước Đó là những bài thơ được viết bằng chữ Nôm theo thểĐường luật (gồm cả những bài thơ theo thể Đường luật hoàn chỉnh và cảnhững bài theo thể Đường luật phá cách) Nhưng để dạy tốt những tác phẩmthuộc thể loại này giúp học sinh thưởng thức được cái hay cái đẹp của nhữngtác phẩm thơ Nôm Đường luật là điều không dễ Người dạy cần phải nắm rõbản chất, đặc trưng của thể thơ này Tuy nhiên, những đặc thù của thơ NômĐường luật vẫn chưa được thực sự coi trọng trong quá trình dạy học ở nhàtrường phổ thông hiện nay
1.3 Hiện nay, một số tác phẩm thơ Nôm Đường luật được đưa vào giảng dạy
cho học sinh Trung học cơ sở đều là những tác phẩm có giá trị và chiếm vị tríquan trọng giúp các em học sinh hiểu hơn về tiến trình văn học Việt Namcũng như xã hội và con người Việt Nam thời trung đại Tuy nhiên những bàithơ này lại tập trung chủ yếu ở lớp 7 Ở độ tuổi này, các em rất khó có thể tiếpnhận hết chiều sâu của tác phẩm Điều này gây không ít khó khăn cho giáo
Trang 8viên khi giảng dạy Mặt khác, nhiều giáo viên chưa ý thức hết được tầm quantrọng của thể loại nên khi dạy thơ Nôm Đường luật thường dạy như thơ hiệnđại Chính vì vậy mà hiệu quả giảng dạy thơ Nôm Đường luật hiện nay chưacao Trước thực trạng trên, việc đưa ra được biện pháp dạy học các văn bảnthơ Nôm Đường luật là yêu cầu quan trọng nhằm tháo gỡ những băn khoăn,vướng mắc cho giáo viên, đồng thời hình thành hứng thú và phương pháphọc tập cho học sinh.
Từ những lí do trên, tôi xin mạnh dạn được chọn đề tài “Dạy học thơ Nôm Đường luật ở Trung học cơ sở theo đặc trưng thể loại”.
mẻ, phong phú về thể loại Tuy vậy, những giáo trình, những chuyên luận về
giảng dạy văn học trong nhà trường theo thể loại không nhiều Mấy vấn đề
giảng dạy văn học theo loại thể (1970) của nhóm tác giả Trần Thanh Đạm,
Huỳnh Lý, Hoàng Như Mai, Phan Sĩ Tấn, Đàm Gia Cẩn và Phương pháp dạy
học tác phẩm văn chương theo loại thể (2001) của PGS TS Nguyễn Viết Chữ
là những tài liệu vẫn thường được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinhviên Ngữ văn và học viên cao học chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạyhọc văn
Trang 9Mặt khác những công trình nghiên cứu về đặc trưng của các thể loại vănhọc hầu như chưa có Khi chương trình sách giáo khoa Ngữ văn mới được tổchức biên soạn theo cụm thể loại và dạy đọc – hiểu theo đặc trưng thể loại thìnhững công trình về thể loại nói chung tỏ ra xa rời thực tiễn Lí luận về loạithể văn học chưa được nghiên cứu và vận dụng tương xứng với tầm quantrọng của nó Ngay cả trong chương trình Ngữ Văn phổ thông, lí luận về loạithể văn học cũng không được đề cập tới.
Gần đây, đã có một số chuyên đề về đặc trưng thể loại Phó giáo sư Đỗ
Bình Trị có chuyên đề Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân
gian Tác giả Hoàng Ngọc Hiến có Nhập môn văn học và Phân tích thể loại.
Tiến sĩ Nguyễn Thành Thi có chuyên đề Đặc trưng truyện ngắn Thạch Lam,
Đặc trưng truyện ngắn giai đoạn 1930 - 1945 Hiện nay, trên các tạp chí, các
đợt tập huấn đổi mới phương pháp dạy học văn, tập huấn thay sách … đều có
đề cập đến vấn đề giảng dạy văn theo đặc trưng thể loại (Đời sống thể loại
văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX – Vũ Tuấn Anh; Mô hình đọc hiểu theo đặc trưng thể loại với việc hình thành và bồi dưỡng kĩ năng đọc hiểu văn bản văn chương cho học sinh trung học phổ thông – Trần Thị Thu Hồng) Các
chuyên luận, bài viết đã đi sâu vào tìm hiểu đặc trưng của một bộ phận vănhọc, một giai đoạn văn học Đó là sự vận dụng cụ thể, có đóng góp nhiều choviệc dạy học văn Những vấn đề các tác giả đặt ra một mặt giúp cho ngườigiáo viên văn ở trường phổ thông có được những kiến thức cơ bản, hệ thống
về đặc trưng thi pháp của các thể loại từ đó giúp cho công việc giảng dạythuận lợi và có hiệu quả Mặt khác, các tài liệu cũng đã trình bày những quanđiểm mới mẻ bổ sung cho những quan điểm thường thấy trong những côngtrình về lí luận đang lưu hành ở ta
2.2 Lịch sử nghiên cứu thơ Nôm Đường luật và dạy học thơ Nôm Đường luật ở Trung học cơ sở
So với các thể loại văn học khác trong nền văn học dân tộc, thơ Nôm Đườngluật được nghiên cứu khá nhiều và sớm từ đầu thế kỉ XX Song do yêu
Trang 10cầu và mục đích khác nhau mà trong các bài viết ở giai đoạn đầu, thơ NômĐường luật với tư cách là thể loại văn học vẫn chưa trở thành đối tượngnghiên cứu chủ yếu.
Cuối năm 1991, Hội thảo khoa học “Nghiên cứu văn học cổ trung đạiViệt Nam trong mối quan hệ khu vực” do Viện văn học và Trường Đại học sưphạm Hà Nội phối hợp tổ chức là một dịp tốt để thơ Nôm Đường luật trở lại
vị trí xứng đáng của nó trong giới nghiên cứu văn học Trong các báo cáochung và báo cáo chuyên sâu về thể loại có nhiều vấn đề mới đặt ra khinghiên cứu thơ Nôm Đường luật như tìm ra nét nghĩa khu biệt giữa thơĐường luật dân tộc với thơ Đường, những mong mỏi tìm ra “cái mã” của thểloại, nghiên cứu thơ Nôm Đường luật trong mối quan hệ về thể loại giữa vănhọc Trung Quốc và văn học Việt Nam thời trung đại Tuy nhiên, những vấn
đề đặt ra mới chỉ ở giai đoạn tìm kiếm bước đầu
Gần đây, thơ Nôm Đường luật dần được nghiên cứu với vị trí xứngđáng hơn và được nhìn nhận như một thể loại văn học có giá trị của dân tộc
Phải kể đến công trình Thơ Nôm Đường luật của PGS Lã Nhâm Thìn Tác giả
đã nghiên cứu thơ Nôm Đường luật từ góc độ loại thể và xem xét thể loại này
từ phương diện lịch sử phát triển đến cấu trúc thể loại, từ những hiện tượngtiêu biểu đến bản chất và quy luật vận động của thể loại Cho đến nay, đây cóthể coi là công trình nghiên cứu đầy đủ, toàn diện nhất và phục vụ đắc lựcnhất cho công việc nghiên cứu và giảng dạy thơ Nôm Đường luật
Xét về góc độ phương pháp giảng dạy, đã có một số tác giả đề xuất biện
pháp và định hướng dạy học thơ Nôm Đường luật nói chung như Phương
pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể của PGS Nguyễn Viết Chữ.
Theo tác giả, “chỉ có nắm chắc được những nét tiêu biểu của “chất Đường
thi” công việc dạy học thơ Đường luật (Hán và Nôm) mới có thể đi đúng được” [5, tr.151] Tuy nhiên, tác giả mới chỉ định hướng “nên dựa vào ba vấn đề chính : thi đề, thi tứ, thi ý để xác định chất Đường thi của nó từ đó mới chọn được phương pháp và biện pháp thích hợp” [5, tr.150] chứ chưa đưa ra
Trang 11cách dạy cụ thể đối với loại bài này Tác giả Lã Nhâm Thìn trong Phân tích
tác phẩm văn học Trung đại Việt Nam từ góc nhìn thể loại cũng đã đề xuất
phương pháp phân tích thơ Nôm Đường luật từ đặc điểm của thể loại này làkhai thác hai yếu tố Nôm và yếu tố Đường luật Song tác giả cũng chỉ phântích một vài ví dụ về giá trị của hai yếu tố này để định hướng chung chứ chưa
có phương pháp cụ thể Gần đây, cũng có nhiều luận văn cao học và luận vănđại học viết về đề tài dạy học tác phẩm văn chương trung đại theo đặc trưngthể loại trong đó có thơ Nôm Đường luật Song những vấn đề đặt ra trong các
đề tài này mới chỉ ở giai đoạn tìm kiếm bước đầu và chung cho cả thơ trungđại chứ chưa đi sâu tìm hiểu biện pháp dạy học thơ Nôm Đường luật mộtcách riêng rẽ, cụ thể Đây chính là gợi ý cho những nghiên cứu tiếp theo vềdạy học thơ Nôm Đường luật đặc biệt là thơ Nôm Đường luật ở THCS
Tóm lại, những công trình, bài viết liên quan đến đề tài rất đa dạng vàphong phú Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu phươngpháp dạy học thơ Nôm Đường luật theo đặc trưng thể loại một cách cụ thể,toàn diện để có thể giúp học sinh thấy hết được giá trị của thể thơ này Cũngchưa có công trình nào tập trung nghiên cứu dạy học thơ Nôm Đường luật ởTrung học cơ sở Mặc dù vậy, những kết quả nghiên cứu trên vẫn là tiền đềquan trọng cho chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sởmôṭsốtiền đềlíluâṇ vềloại thể, đề tài đề xuất biện pháp dạy họccác văn bản thơ Nôm Đường luật ở Trung h ọc cơ sở theo đặc t rưng thểloạinhằm nâng cao chất lượng dạy học tác phẩm văn chương, đồng thời để tiếptục rèn luyện cho học sinh kĩ năng đọc – hiểu các văn bản văn học, góp phầnnâng cao năng lực tự đọc, tự học văn bản cho học sinh
4 Nhiêm vu C̣nghiên cứu
- Nghiên cứu một số tiền đề lí luận về đổi mới phương pháp dạy học Văn ở trường Trung học cơ sở theo đặc trưng thểloại
Trang 12- Khảo sát tình hình dạy học các văn bản thơ Nôm Đường luật ở Trung học
cơ sởđểlàm cơ sởcho viêcỰ đềxuất cách dạy học thể thơ này theo đăcỰ trưng thểloại
- Đềxuất cách daỵ hocỰ thơ Nôm Đường luâṭởTrung hocỰ cơ sởtheo đăcỰ trưng thểloại
- Thể nghiệm tính khả thi của để tài khi đưa vào giảng dạy
5 Phạm vi đề tài
̀̀
đăcỰ trưng thểloại trong sach giao khoa Trung hocỰ cơ sơ
6 Đối tượng và khách thể nghiên cứu:
- Hoạt động dạy học các văn bản thơ Nôm Đường luật ở Trung h ọc cơ sở
theo đăcỰ trưng thểloại
- Đềtài đươcỰ thưcỰ hiêṇ trên đối tươngỰ làgiáo viên vàhocỰ sinh lớp 7 trường
Trung hocỰ cơ sởLê QuýĐôn – Cầu Giấy – Hà Nội và trường THCS MinhTrí – Sóc Sơn – Hà Nội
7 Giả thuyết khoa học
ViêcỰ daỵ hocỰ các văn bản thơ Nôm Đư ờng luật ở Trung h ọc cơ sở nếuđươcỰ tiến hành t heo đúng đặc trưng thể loại sẽ nâng cao hiệu quả dạy học
bộ phận văn học này đồng thời góp phần phát huy tính tích cực chủ động ,sáng tạo của học sinh , đáp ứng nhu cầu đổi mới phươn g pháp daỵ hocỰVăn trong nhàtrường hiêṇ nay
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Nghiên cứu tài liêụ chuyên ngành, liên ngành
- Nghiên cứu hê Ựthống các kiến thức cóliên quan đến đềtài
8.2 Phương pháp thu thập thông tin và xử lí thông tin
- Dự giờ, tổng kết rút kinh nghiệm giờ dạy
- Phỏng vấn, điều tra, thu thập ý kiến
Trang 138.3 Phương pháp thực nghiệm
- Thiết kếthểnghiêṃ daỵ hocỰ các văn bản thơ Nôm Đường luâṭởTrung học cơ sởtheo đăcỰ t rưng thể loại và dạy thử ở một số lớp để đánh giá tính khảthi của đề tài
9 Cấu trúc luân văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sởlíluâṇ vàthưcỰ tiêñ của viêcỰ daỵ hocỰ thơ Nôm Đường luâṭởTrung học cơ sở theo đặc trưng thểloại
Chương 2: Biện pháp dạy học thơ Nôm Đường luật ở Trung h ọc cơ sởtheo đăcỰ trưng thểloại
Chương 3: Thiết kế thể nghiệm
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞLÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC THƠ NÔM
ĐƯỜNG LUẬT Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO
ĐẶC TRƯNG THỂ
LOẠI 1.1 Cơ sởlíluân
1.1.1 Thểloại và việc dạy học tác phẩm văn chương theo đăcc̣ trưng thểloại trong nhàtrường
1.1.1.1 Quan niệm chung về thể loại văn học
Theo GS Trần Đình Sử trong Lí luận văn học tập 2 (NXB Đại học Sưphạm 2008) “Thể loại văn học là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tácphẩm trong đó ứng với một loại nội dung nhất định của một loại hình thứcnhất định tạo cho tác phẩm” [16, tr 221]
Theo Từ điển thuật ngữ văn học NXB Giáo dục: “ Thể loại văn học làdạng thức của tác phẩm văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổnđịnh trong quá trình phát triển lịch sử của văn học thể hiện ở sự khác nhau vềcách thể hiện chủ đề tác phẩm, về đặc điểm của các hiện tượng đời sống đượcmiêu tả và về tính chất của mối quan hệ của nhà văn với các hiện tượng đờisống ấy.” [4, tr 252-253]
Trong quá trình sáng tác, các nhà văn thường sử dụng các phương phápchiếm lĩnh đời sống khác nhau, thể hiện những quan hệ thẩm mĩ khác nhauđối với hiện thực, có những cách thức xây dựng hình tượng khác nhau Cácphương thức ấy ứng với những hình thức hoạt động nhận thức khác nhau làmcho tác phẩm văn học bao giờ cũng có sự thống nhất quy định lẫn nhau về loại
đề tài, cảm hứng, hình thức nhân vật, hình thức kết cấu và hình thức lời văn.Người ta có thể tập hợp thành từng nhóm những tác phẩm văn học giốngnhau về phương thức miêu tả và hình thức tồn tại chỉnh thể ấy Đó là cơ sởkhách quan của sự tồn tại thể loại văn học và cũng là điểm xuất phát để xâydựng nguyên tắc phân chia thể loại văn học
Trang 15Thể loại văn học trong bản chất phản ánh những khuynh hướng pháttriển vững bền, vĩnh hằng của văn học, và các thể loại văn học tồn tại để giữgìn, đổi mới thường xuyên các khuynh hướng ấy Do đó thể loại văn họcluôn luôn vừa mới, vừa cũ, vừa biến đổi, vừa ổn định.
Lí luận văn học dựa vào các yếu tố ổn định mà chia tác phẩm văn học
thành các loại và các thể Loại rộng hơn thể, thể nằm trong loại Bất kì tác
phẩm văn học nào cũng thuộc một loại nhất định, và quan trọng hơn là có một
hình thức thể nào đó Loại và thể mang tính chất biện chứng của cái biểu đạt
và cái được biểu đạt Về phương diện cấu trúc nội dung của tác phẩm văn
học thì loại là chất mà thể là hình thức biểu hiện cụ thể của loại , không có
thể thì loại không không biểu hiện ra được Nhưng khi đã biểu hiện ra thành thể thì nó lại có tính độc lập tương đối Cuốn Lí luận văn học của GS Hà
Minh Đức, Đỗ Văn Khang, Phạm Quang Long khẳng định rằng: Tính chấttương đối của ranh giới thể loại còn biểu hiện ở sự thâm nhập lẫn nhau giữacác thể loại trong quá trình phát triển Có khi các tác phẩm khác nhau thuộcmột thể tài lại biểu hiện tính chất của những loại khác nhau Ví dụ thể thơ thì
có thơ tự sự, thơ trữ tình, kịch thơ Thực tế các tác phẩm văn chương chothấy rằng khó có thể xác định máy móc tác phẩm này là thể loại tự sự, trữ tìnhhay kịch Trong tác phẩm trữ tình có yếu tố tự sự và ngược lại Một tác phẩmvăn chương luôn chịu sự ràng buộc từ hai phía loại và thể Loại và thể phụthuộc chặt chẽ với nhau nhưng vẫn có tính độc lập tương đối
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có ba loại Mỗi loại trên gồm một số thể nhỏ
* Loại tự sự phản ánh đời sống trong tính khách quan (tương đối) của
nó
-qua con người, hành vi, sự kiện được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó
Loại tự sự gồm:
- Tự sự dân gian: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười
- Tự sự trung đại và hiện đại: truyền kì, tiểu thuyết, truyện vừa, kí
Trang 1614
Trang 17*Loại trữ tình biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của con người Trong tác
phẩm trữ tình, tình cảm, cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ được trình bày trựctiếp và làm thành nội dung chủ yếu của tác phẩm Tác giả có thể biểu hiệncảm xúc cá nhân mình mà không cần kèm theo bất cứ một sự miêu tả biến cố,sự kiện nào
Loại trữ tình gồm:
- Trữ tình dân gian: tục ngữ, ca dao, dân ca, vè, câu đố
- Trữ tình trung đại và hiện đại: thơ cổ thể truyền thống, thơ tự do
* Loại kịch có hai loại: kịch bản văn học và nghệ thuật sân khấu kịch Nghệ
thuật sân khấu kịch mang tính chất tổng hợp bao gồm nhiều hoạt động củadiễn viên, đạo diễn, hóa trang, ánh sáng, âm thanh… Kịch bản văn học chỉ làmột yếu tố, dù đó có thể là một trong những yếu tố đầu tiên và quan trọngnhất của kịch
Bên cạnh việc nắm vững các đặc điểm của mỗi loại, chúng ta có thểdựa vào thi pháp tư tưởng, phong cách, cái “tạng” riêng của từng nhà văn đểkhám phá ra “chất của loại” trong tác phẩm cụ thể Chẳng hạn, Nam Cao làmột nhà văn hiện thực, ngòi bút của ông thường thể hiện những nỗi đau sâukín trong tâm hồn con người, để rồi từ đấy tiếng tơ đàn thánh thiện của tâmlinh được bật lên tràn đầy vẻ đẹp nhân văn Tác phẩm của Nam Cao thườngthể hiện nỗi đau tinh thần giằng xé trong tâm hồn con người, con người trongtình huống bị hạ nhục; cái nhục bị đẩy đến tận cùng là lúc nhân tính phátsáng Tác phẩm của Nam Cao thường có nhiều tầng bi kịch Nếu không xácđịnh được thi pháp tư tưởng của nhà văn, ta chỉ mới dạy học được cái tầngnghĩa cụ thể nào đó Các tác phẩm của Ngô Tất Tố thường vang lên tiếng kêucứu của những người bần cố nông, nhất là phụ nữ và trẻ em Còn trong tácphẩm của Nguyễn Công Hoan là những tấn bi hài kịch của kiếp người ThạchLam cũng vậy Cái riêng của ông là thể hiện vẻ đẹp tình người kín đáo, đằm
thắm, khẽ khàng, sâu xa, lắng đọng Chất “thơ văn xuôi”, “chất trữ tình hiện
Trang 18thực” tràn đầy trong các tác phẩm của ông Chúng ta phải dạy học tác phẩmcủa Thạch Lam theo hướng với tác phẩm trữ tình cho dù nó là truyện XuânDiệu và Tản Đà dù có viết truyện ngắn thì đấy vẫn chỉ là truyện trữ tình củacác nhà thơ Nguyên Hồng có làm thơ thì cũng là thơ của tác giả văn xuôi màthôi Qua “tạng nghệ sĩ”, ta có thể khám phá ra “chất của loại” trong tác phẩm
là vì vậy
Ngoài ra, chúng ta có thể nhận biết loại thể qua những dấu hiệu của tổchức cấu trúc, cách thể hiện của tác phẩm Loại tự sự thường có tiết tấu đầu-giữa-cuối (trừ thể loại thần thoại), người kể chuyện ở dạng ngôi thứ nhấttham dự, không tham dự, thông suốt, thông suốt có chọn lựa, khách quan…trước mọi sự vật, sự việc trong truyện v.v Loại trữ tình thường dễ nhận biếtqua trạng thái tình cảm, giọng nói của nhân vật trữ tình, giọng điệu của hệthống thanh âm, giọng thơ, các hình thái tu từ… Loại kịch thường biểu hiệnqua những mâu thuẫn với những diễn biến phức tạp…
Tóm lại việc xác định thể loại văn học chỉ có tính chất tương đối Songvẫn cần thống nhất rằng thể loại là dạng thức tồn tại chỉnh thể của tác phẩm
Thể loại văn học là sự thống nhất giữa loại nội dung và một dạng hình thức văn bản và phương thức chiếm lĩnh đời sống.
1.1.1.2 Vấn đề dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại
Thể loại giữ vai trò quan trọng trong văn học Nhà nghiên cứu văn học,
nhà bác học người Nga M.Bakhtin đã từng khẳng định: “ Đằng sau cái mặt ngoài sặc sỡ và đầy tạp âm ồn ào của tiến trình văn học, người ta không nhìn thấy vận mệnh to lớn và cơ bản của văn học và ngôn ngữ, mà những nhân vật chính nơi đây trước hết là các thể loại, còn trào lưu, trường phái chỉ là những nhân vật hạng nhì hoặc hạng ba” [20, tr 9] Chính vì vậy, việc xác
định thể loại là vấn đề mấu chốt trong quá trình dạy học tác phẩm văn
chương Không xác định đúng “chất của loại ” trong thể khi dạy các thể loạikhác nhau giáo viên sẽ không tránh khỏi bệnh công thức cứng nhắc, rậpkhuôn máy móc Xa
Trang 19rời bản chất loại thể của tác phẩm là xa rời tác phẩm cả về linh hồn và thể xác.Không thể tiếp cận được tác phẩm nếu không hiểu bản chất của thể loại Ví
dụ, khi dạy một bài thơ thì phải biết các đặc điểm của thể loại thơ, chú ý đến
vẻ đẹp âm thanh, nhịp điệu, vẻ đẹp của cấu tứ, tình cảm, ý tứ sâu xa Dạy mộttiểu thuyết thì phải biết đến nhân vật, cốt truyện, tâm lí, các chi tiết ngoạihình, mối quan hệ nhân vật với hoàn cảnh, kết cấu trần thuật Càng hiểu rõđặc điểm của loại thể bao nhiêu người dạy, người học càng có mức độ lí giải,cảm thụ sâu sắc bấy nhiêu
Mỗi thể loại có một phương pháp dạy học riêng Vì vậy, khi tiến hànhgiảng dạy, giáo viên phải xuất phát từ đặc trưng thể loại Đặc trưng thể loại làđiều kiện quyết định hiệu quả tiếp nhận của học sinh Dạy học tác phẩm vănchương theo đặc trưng thể loại chính là phương pháp mang tính lí luận củangành khoa học phương pháp
Tùy vào mỗi thể loại khác nhau mà giáo viên đề ra các yêu cầu về hoạtđộng của học sinh khi ở nhà cũng như khi trên lớp là khác nhau Mặt khác,tùy thuộc vào từng thể loại tác phẩm văn học mà giáo viên tiến hành soạn giáo
án, xây dựng kế hoạch bài giảng phù hợp tránh rập khuôn máy móc dẫn đếnhiện tượng nhàm chán ở học sinh Có thể nói, xác định đúng thể loại giáoviên sẽ lựa chọn được cách thức tổ chức dạy học phù hợp để học sinh nắm bắtđược chiều sâu của tác phẩm
1.1.2 Thơ Nôm Đường luật và quan niệm dạy học thơ Nôm Đường luật theo đặc trưng thể loại
1.1.2.1 Thơ Nôm Đường luật
Trong lịch sử văn học Việt Nam, thơ Nôm Đường luật có vị trí quantrọng bởi những đóng góp to lớn của nó đối với sự phát triển của văn học dântộc về cả hai phương diện: thực tiễn sáng tác và ý nghĩa lý luận Thơ NômĐường luật là hiện tượng vừa độc đáo vừa tiêu biểu Tiêu biểu ở chỗ nó phảnánh những điều kiện, bản chất, quy luật của quá trình giao lưu và tiếp nhận
Trang 20văn học Độc đáo bởi thơ Nôm Đường luật tuy mô phỏng thể thơ ngoại lainhưng trong quá trình phát triển lại trở thành thể loại văn học dân tộc, có vịtrí ngang hàng với những thể loại văn học dân tộc thuần túy khác.
Thơ Nôm Đường luật cũng là thể loại có nhiều tác phẩm được lựachọn giảng dạy trong các trường phổ thông đến đại học, cao đẳng Một thểloại có vị trí quan trọng như vậy nên đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu
Có nhiều cách hiểu về thơ Nôm Đường luật Theo “Từ điển thuật ngữ vănhọc” do Lê Bá Hãn, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên, NXB
Giáo dục, 2004 thì “Thơ Đường luật còn gọi là thơ cận thể, là thể thơ cách
luật ngũ ngôn hoặc thất ngôn được đặt ra từ thời Đường ơ Trung Quốc.[4, tr.
235].” Và thơ Nôm Đường luật chính là thể thơ Đường luật viết bằng chữ Nôm Trong cuốn “Thiết kế dạy học ngữ văn 11” tác giả Hoàng Hữu Bội cho rằng “những bài thơ được viết theo các thể Đường luật mà bằng chữ Nôm
được gọi là thơ Nôm Đường luật.”[3, tr 14]
Căn cứ vào các cách hiểu khác nhau của các nhà nghiên cứu, theo
chúng tôi cách hiểu của PGS Lã Nhâm Thìn trong Phân tích tác phẩm văn
học Trung đại Việt Nam từ góc nhìn thể loại là đầy đủ và toàn diện nhất.
“Khái niệm thơ Nôm Đường luật là bao hàm những bài thơ viết bằng chữ
Nôm theo luật Đường hoàn chỉnh và cả những bài viết theo thơ luật Đường phá cách có những bài xen câu ngũ ngôn, lục ngôn vào bài thơ thất ngôn”
[20, tr 52] Dựa vào khái niệm này, chúng ta sẽ có cách hiểu đúng hơn về thơ
Nôm Đường luật và từ đây có cơ sở để có những hướng nghiên cứu khácnhau về thể thơ độc đáo vào bậc nhất của văn học Việt Nam này
1.1.2.2 Quá trình phát triển của thơ Nôm Đường luật
Quá trình phát triển của thơ Nôm Đường luật nhìn chung trải qua bachặng: giai đoạn hình thành, giai đoạn phát triển và giai đoạn cuối
*Giai đoạn hình thành:
Trang 21Cho đến nay chưa có bằng chứng cụ thể nào về thời gian ra đời chính
xác của thơ Nôm Đường luật Nhưng theo Đại Việt sử kí toàn thư, một bộ sử
chính thức của nhà nước phong kiến, cũng như theo nhiều nhà nghiên cứuđánh giá về khả năng của chữ Nôm, thơ Nôm Đường luật ra đời từ cuối thế kỉXIII Sáng tác bằng chữ Nôm Đường luật được biết sớm nhất theo tươngtruyền là bài thơ của nàng Điểm Bích vào đầu thế kỉ XIV Tuy nhiên văn bản
chữ viết đầu tiên của thể thơ này còn giữ được là Quốc âm thi tập của
Nguyễn Trãi Chính vì vậy, việc nghiên cứu về thơ Nôm Đường luật bắt đầu
từ tập thơ này
*Giai đoạn phát triển:
Từ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi đến thơ Nôm Nguyễn Khuyến, Tú
Xương, được coi là năm thế kỉ phát triển có nhiều thành tựu của thơ NômĐường luật Tuy nhiên trong năm thế kỉ đó, thơ Nôm Đường luật lại trải quanhững chặng phát triển với những đặc điểm riêng:
- Từ Nguyễn Trãi đến Hồ Xuân Hương thơ Nôm Đường luật ở vào giaiđoạn phát triển rực rỡ Nhờ có giai đoạn này mà thơ Nôm Đường luật đãkhẳng định được vị trí của mình trong lịch sử văn học dân tộc Người cócông đầu tiên trong việc phát triển thơ Nôm Đường luật là Nguyễn Trãi với
tác phẩm Quốc âm thi tập Nguyễn Trãi đã giải tỏa những gò bó của Đường
luật, xây dựng lối thơ Việt Nam có những điểm khác dễ nhận thấy so với thơĐường luật Nguyễn Trãi đã thể hiện mạnh mẽ xu hướng phá cách trong các
sáng tác Đường luật Nôm Xu hướng này trở thành phổ biến trong Quốc âm
thi tập và kéo dài tới Hồng Đức quốc âm thi tập, Bạch Vân am thi tập, thơ
Nôm Trịnh Căn tạo thành phong cách thời đại của thơ Nôm Đường luật
Với Quốc âm thi tập Nguyễn Trãi đã sáng tạo ra thể thơ mới đồng thời khẳng
định sự hiện diện của thơ Nôm Đường luật với tư cách như một thể loại vănhọc dân tộc
Trang 22Thế kỉ XV có thể gọi là thế kỉ của thơ Nôm Đường luật bởi sự xuất
hiện của hai tập thơ lớn Quốc âm thi tập nửa đầu thế kỉ và Hồng Đức quốc
âm thi tập nửa cuối thế kỉ Hồng Đức quốc âm thi tập là bước phát triển tiếp
theo của thơ Nôm Đường luật Nó tiếp tục xu hướng dân tộc hóa đã có từ
Quốc âm thi tập nhưng nội dung xã hội hóa thể hiện khá rõ nét Về phương
diện hình thức, Hồng Đức quốc âm thi tập tiếp tục xu hướng phá cách của
Quốc âm thi tập đôi khi còn mạnh mẽ hơn Tỷ lệ các câu sáu chữ tương đối
nhiều Hiện tượng sử dụng nhiều từ láy, sáng tạo ra nhiều từ láy, phong phú,
đa dạng đến mức đáng ngạc nhiên Bên cạnh đó có sự xuất hiện của nhữngcâu thất ngôn Đường luật có tiết tấu kiểu hai câu bảy chữ trong song thất lụcbát Đây là hiện tượng vừa thú vị vừa phức tạp Tuy nhiên hiện tượng này rất
có ý nghĩa không chỉ đối việc nghiên cứu thơ Nôm Đường luật mà còn đốivới việc nghiên cứu thơ song thất lục bát
Sự tìm tòi mở hướng trong Hồng Đức quốc âm thi tập thể hiện ở
khuynh hướng muốn tìm đến những chức năng mới cho thể loại Đó là hiệntượng dùng Đường luật để trào phúng và tự sự Việc làm này của các tác giả
Hồng Đức quốc âm thi tập đã được các tác giả giai đoạn sau kế thừa, đưa đến
những thành tựu lớn và cả những bài học không thành công trong lịch sử pháttriển của thơ Nôm Đường luật
Nếu so với hai tác phẩm Nôm Đường luật thế kỉ XV, quy mô số lượng
của Bạch Vân am thi tập không bằng nhưng dung lượng phản ánh không vì thế
mà bị hạn chế Đến Bạch Vân am thi tập, tầm khái quát nghệ thuật của thơ Nôm
Đường luật được nâng lên một bước Xu hướng phá cách trong sáng tác vẫn
được Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp tục Tuy nhiên số lượng câu sáu chữ trong Bạch Vân am thi tập giảm khá nhiều so với Quốc âm thi tâp và Hồng Đức quốc âm thi tập Điều này phản ánh quy luật phát triển của thơ Nôm Đường luật: hiện tượng
không theo quy cách thơ Đường giảm dần và quá trình phát triển của thơ NômĐường luật là đi từ thế chưa ổn định đến ổn định Việc
Trang 23dùng thơ Đường luật để trào phúng manh nha từ Nguyễn Trãi Tới NguyễnBỉnh Khiêm, chức năng trào phúng của thơ Nôm Đường luật đã được khẳngđịnh Nguyễn Bỉnh Khiêm là dấu nối giữa hai thời kì – thời kì Nguyễn Trãi vàthời kì Hồ Xuân Hương.
- Sau Nguyễn Bỉnh Khiêm đến trước Hồ Xuân Hương, thơ Nôm Đườngluật phát triển với nhịp độ bình thường Cùng trong khoảng thời gian gần haithế kỉ, thơ Nôm Đường luật thế kỉ XV,XVI đã đạt được những thành tựu hếtsức rực rỡ, trong khi đó thế kỉ XVII, nửa đầu thế kỉ XVIII, thơ Nôm Đườngluật không có những tác giả, tác phẩm lớn mặc dù số lượng thơ Nôm Đườngluật không phải là ít So với tình hình chung của văn học thời kì này thì thơNôm Đường luật không có được vị trí như trước Nó đã nhường những đỉnhcao cho các thể loại khác sáng tác bằng chữ Nôm như diễn ca lịch sử vàtruyện thơ
- Bước vào nửa cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX, thơ Nôm Đường luậtkhởi sắc trở lại và người có công lớn chính là Hồ Xuân Hương “Bà chúa thơNôm” đã giành lại vị trí vốn có trước đây của thơ Nôm Đường luật Với HồXuân Hương, thơ Nôm Đường luật tiếp tục xu hướng dân tộc hóa đồng thờichuyển nhanh trên con đường dân chủ hóa nội dung và hình thức thể loại Xuhướng dân chủ hóa thể Đường luật là xu hướng mạnh mẽ nhất trong sáng táccủa của Hồ Xuân Hương Bà là sự giải tỏa hoàn toàn thoát khỏi giáo điều phongkiến, là sự đoạn tuyệt khá triệt để với tinh thần đẳng cấp của Nho giáo Đến HồXuân Hương, Đường luật Nôm đã thực hiện một cuộc cách tân đầy ý
nghĩa Cuộc sống đời thường, nguyên sơ, chất phác, dân dã đã trở thành đốitượng thẩm mĩ trong thơ bà Xu hướng dân chủ hóa thể loại là xu hướng chủđạo trong sáng tác của Hồ Xuân Hương
Nguyễn Công Trứ cũng là tác giả có nhiều đóng góp vào quá trình dânchủ hóa nội dung và hình thức thơ Nôm Đường luật: những tình cảm chân
Trang 24thành, phóng khoáng, cuộc sống đời thường được diễn đạt bằng lời thơ đơngiản, bình dị.
Với chưa đầy mười bài thơ, Bà Huyện Thanh Quan vẫn có vị trí xứngđáng trong lịch sử văn học Việt Nam Nhờ có bà mà tâm hồn dân tộc được thểhiện một cách tuyệt vời trong một phong cách Đường thi mẫu mực, chảichuốt nhưng không sáo mòn công thức Nhờ có bà mà Đường luật Nôm thời
kì này trở nên phong phú, đa dạng
Với Hồ Xuân Hương và Bà Huyện Than Quan, thơ Nôm Đường luậtchia thành hai xu hướng phát triển Xu hướng Bà Huyện Thanh Quan có ĐàoTấn, xu hướng Hồ Xuân Hương có Nguyễn Khuyến, Tú Xương Xu hướng
Hồ Xuân Hương phát triển hơn cả Điều đó chứng tỏ thơ Nôm Đường luật có
xu hướng bình dân hóa hơn là quý tộc hóa, với phong cách trữ tình tràophúng hơn là phong cách trữ tình trang nghiêm, cao quý
*Giai đoạn cuối:
Tú Xương, Nguyễn Khuyến là hai tác giả đã chuyển thơ Nôm Đườngluật từ văn học trung đại sang văn học cận – hiện đại Với Nguyễn Khuyến,
Tú Xương, tầm khái quát của thơ Nôm Đường luật vừa được mở rộng vừađược nâng cao hơn Chức năng phản ánh xã hội của thể loại không chỉ dừng ởmức trữ tình thế sự, tư duy thế sự, trào phúng thế sự mà vươn tới chỗ phảnánh xã hội với những chi tiết thực sự sinh động, phong phú
Do sự phát triển của xã hội, để đáp ứng nhu cầu phản ánh và nhu cầuthưởng thức mới, văn học dân tộc xuất hiện những thể loại khác thực hiện tốtchức năng xã hội và chức năng thẩm mĩ mà Đường luật Nôm không vươn tớiđược Sinh mệnh nghệ thuật của thơ Nôm Đường luật chấm dứt khi chữ Nômkhông còn được dùng trong sáng tác Thơ Đường luật viết bằng chữ quốcngữ tuy thuộc dòng thơ Việt nhưng không thuộc phạm trù thể loại thơ NômĐường luật
Trang 25Tóm lại suốt bảy thế kỉ, thơ Nôm Đường luật đã tồn tại với tư cách làmột thể loại của văn học dân tộc Khác với tất cả các thể loại ngoại nhập khác,thơ Nôm Đường luật đã mang một chức năng văn học mới, chức năng thẩm
mĩ mới, khẳng định sự tồn tại không thể thay thế của thể loại này trong lịch sửvăn học Việt Nam Cốt lõi của quá trình thơ Nôm Đường luật là quá trình tạothành chức năng văn học, chức năng thẩm mĩ mới của văn học Về cơ bản quátrình này đã được hoàn thành từ giai đoạn Nguyễn Trãi đến Hồ Xuân Hương
và còn tiếp tục thành tựu với Nguyễn Khuyến, Tú Xương tạo nên năm thế kỉphát triển rực rỡ với diện mạo “không có tuổi già” của thơ Nôm Đường luật
1.1.2.3 Đặc trưng của thơ Nôm Đường luật
Thơ Nôm Đường luật là một thành tựu rực rỡ của thơ ca Việt Nam Tuynhiên để thưởng thức được cái hay, cái đẹp của những tác phẩm thơ NômĐường luật cần phải nắm rõ bản chất thơ Nôm Đường luật Trước hết cầnnắm được đặc điểm của thơ Nôm Đường luật Ngoài những đặc điểm chungcủa văn học trung đại, đặc điểm của thơ Nôm Đường luật nói một cách ngắngọn và bản chất nhất là sự kết hợp hài hòa giữa “yếu tố Nôm” và “yếu tốĐường luật” Hai yếu tố này hòa quyện, đan xen vào nhau tạo nên giá trị củamỗi tác phẩm thơ Nôm Đường luật Mỗi một yếu tố có những giá trị biểu đạt,biểu cảm, giá trị thẩm mỹ khác nhau nhưng cũng có tính độc lập tương đối,
có thể tách ra để nhận diện đặc điểm của thể loại
*Yếu tố Nôm:
“Yếu tố Nôm” trong thơ Nôm Đường luật được xây dựng bằng hai nội
dung: thứ nhất, đó là những gì thuộc về dân tộc; thứ hai, là những gì thuộc về
dân dã, bình dị (Nôm là đọc biến âm của Nam và Nôm còn được hiểu là nôm
na, dân dã)
“Yếu tố Nôm” được biểu hiện ở các mặt đề tài, chủ đề là hướng tới nhữngvấn đề của đất nước, dân tộc; biểu hiện về mặt ngôn ngữ là chữ Nôm, từ Việt,ngôn ngữ văn học dân gian, ngôn ngữ đời sống; về hình ảnh là những hình
Trang 26ảnh chân thực, bình dị, dân dã; về câu thơ là những câu năm chữ, sáu chữ đanxen bài thất ngôn; về nhịp điệu là cách ngắt nhịp ¾ trong câu thơ bảy chữ ( lẻtrước, chẵn sau) khác với cách ngắt nhịp 2/3, 4/3 (của thơ Đường luật).
Xét ở chủ đề thiên nhiên trong thơ Nôm Đường luật chúng ta thấy rõ
“yếu tố Nôm” được sử dụng chủ yếu trong việc xây dựng những bức tranhthiên nhiên dân dã , bình dị, giàu chất dân tộc; không có những bức tranhhoành tráng, kì vĩ Đây là điểm khác biệt giữa thơ Đường luật Nôm vàĐường luật Hán Có thể khảo sát “yếu tố Nôm” trong thơ viết về thiên nhiên
của Nguyễn Trãi – một tấm lòng yêu thiên nhiên mà theo Xuân Diệu “lòng
yêu thiên nhiên tạo vật là một kích thước để đo một tâm hồn”.
“Cây chuối” là một bài thơ viết về đề tài thiên nhiên trong Quốc âm thi
tập Tuy nhiên, với việc chọn hình ảnh cây chuối làm đối tượng biểu đạt thì
Nguyễn Trãi đã có sự cách tân so với nghệ thuật truyền thống – tức tác giả đã
sử dụng yếu tố Nôm trong việc chọn đề tài Bởi bút pháp quy phạm của vănhọc trung đại đã quy định một số loài cây, hoa để làm đối tượng biểu đạt Nếu
là cây phải là: tùng, cúc, trúc, mai…; là hoa phải là: đào, sen, lan, huệ…NhưBác từng khái quát:
“Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp
Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông.”
Việc xuất hiện một số hình ảnh dân dã, bình thường trong cuộc sống như bè muống, lãnh mùng, kê, khoai, lạc…trở thành đề tài ngâm vịnh quả thực rất hiếm
thấy Điều đáng nói hơn là thiên nhiên bình dị, dân dã được đưa vào thơ NômĐường luật không phải chỉ là đối tượng phản ánh mà còn là đối tượng thẩm mĩ.Nhà thơ phát hiện ra vẻ đẹp, chất thơ trong những cảnh vật rất bình thường, đơn
sơ, mộc mạc Hình ảnh cây chuối là một ví dụ, nó khiến cho thơ của Nguyễn Trãiđậm chất dân tộc hơn tạo nét riêng trong dòng văn học trung đại Chủ đề của bài
“Cây chuối” cũng khác hẳn so với sự ước lệ trong văn học trung đại Cây chuốivới cảm hứng Thiền là biểu tượng của cái tâm hư không,
Trang 27thanh tịnh của những người tu hành nói riêng và con người nói chung Cònvới cảm hứng Nho là biểu tượng phẩm chất người quân tử kiên trinh Khi vàothơ Nguyễn Trãi, cây chuối được thể hiện với cảm hứng khác, sâu sắc, kín
đáo nhưng không kém phần rạo rực, sôi nổi: cảm hứng về tình yêu, tuổi trẻ.
Ta lại bắt gặp một bức tranh hết sức mộc mạc, bình dị về cảnh làm lụng,
sinh hoạt như một “lão nông tri điền” ở bài “Thuật hứng 24”:
“Ao cạn vớt bèo cấy muống Đìa thanh phát cỏ ương sen”
Bên cạnh những hình ảnh hết sức thanh thoát, tao nhã như “đìa thanh” và vẻ
cao quý của hoa sen Chúng ta cũng thấy những hình ảnh còn lại “muống”,
“cỏ” hết sức chân thực, dân dã và hàng loạt từ Việt được dùng để miêu tảcuộc sống dân quê mộc mạc khiến cho câu thơ thấm đẫm phong vị dân tộc.Với việc dùng tiếng mẹ đẻ, Nguyễn Trãi đã miêu tả thành công một bức tranhthôn quê hết sức tự nhiên, sống động với chính ngôn ngữ của dân tộc
Ở bài “Thuật hứng -25”:
“Một cày một cuốc thú nhà quê Áng cúc lan chen bãi đậu kê Khách đến chim mừng hoa xảy rụng Chè tiên nước nghín nguyệt đeo về”
Với những từ Việt “cày”, “cuốc” và “đậu, kê” Nguyễn Trãi đã tạo nênmột bức tranh hết sức thuần việt, một thú vui dân dã Những yếu tố Nôm đãkhiến cho thơ ông trở nên gần gũi, chất phác đậm tính dân tộc hơn
Trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, cũng có những bức tranh thiênnhiên làng cảnh thật chân quê, mộc mạc:
Trâu già gốc bụi phì hơi nắng Chó nhỏ bên ao cắn bong người.
Trang 28Câu thơ tả cảnh mùa hè thôn quê xứ nhiệt đới đã đạt tới sự điển hình.Hai câu thơ trên cũng đã bộc lộ những xúc cảm, rung động chân thành, cảmnhận tinh tế của hồn thơ Yên Đổ.
Xét về chủ đề lý tưởng ái ưu, trung hiếu, phẩm chất của kẻ sĩ quân tử,yếu tố Nôm cũng được thể hiện khá rõ Con người luôn có ý thức về tài năng
và khẳng định tài năng Lý tưởng trung hiếu theo quan niệm của Khổng Mạnh
không còn sâu sắc Trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, yêu nước,
thương dân có nội dung dân tộc và thời đại khá đậm nét:
Còn có một lòng âu việc nước Đêm đêm thức nhẫn nẻo sơ chung
(Thuật hứng – 23) Đọc sách thời thông đòi nghĩa sách Đem dân mựa nữa mất lòng dân
(Bảo kính cảnh giới – bài 57)Nguyễn Trãi lo là lo cho nước, yêu là yêu đến dân đen con đỏ Nội dung ái ưu trong thơ Nguyễn Trãi, nước và dân cụ thể đến mức:
Mấy kẻ tư văn người đất Việt Đạo này nối nắm để cho dài
(Tự than – bài 22)
Tư tưởng thân dân này chúng ta khó có thể tìm thấy ở các phạm trù tưtưởng Nho giáo Yếu tố Nôm còn được thể hiện ở những hình ảnh ẩn dụ làmcho hình tượng có thêm những ý nghĩa mới Chẳng hạn, mượn hình tượngsen để nói về hình tượng người quân tử, Nguyễn Trãi viết:
Thế sự dầu ai hay buộc bện Sen nào có bén trong lầm
( Thuật hứng – 25) Làm nhơ chẳng bén, tốt hòa thanh Quân tử kham khuôn được thửa danh
( Hoa sen)
Trang 29Hay tác giả Hồng Đức quốc âm thi tập ghi:
Chẳng bén lầm nhơ của khác thường
(Phong tiên)
Điều đó chứng tỏ khi khẳng định phẩm chất của kẻ sĩ quân tử, các tácgiả đã tiếp thu quan niệm của nhân dân, của truyền thống dân tộc về vẻ đẹpcon người Chính nhờ sự tiếp thu này mà phẩm chất kẻ sĩ quân tử được nóitới trong thơ Nôm Đường luật không chỉ đề cao mẫu người lí tưởng của đạoNho mà còn thể hiện một nhiệt huyết muốn xây dựng hình mẫu lí tưởng vềcon người Việt Nam Đó là những người không chỉ “khắc kỉ phục lễ ”, “anbần lạc đạo”, họ còn biết sống một cuộc đời giản dị nhưng không khắc khổ,cần kiệm mà vẫn ung dung, khoáng đạt vô cùng:
Cơm ăn chẳng quản dưa muối
Áo mặc nài chi gấm thêu Tựa gốc cây ngồi hóng mát Lều hiu ta hãy một lều hiu
( Thuật hứng – bài 22)
Đó là những người có đủ cả tài năng và nhân cách, biết dùng tài và đức
để phụng sự đất nước, phụng sự nhân dân, phụng sự chân lý:
Quốc phú binh cường chăng có chước Bằng tôi nào thuơ ích chưng dân
(Trần tình – Bài 11) Chớ cậy sang mà ép nề
Lời chẳng phải, vẫn không nghe
( Trần tình – Bài 8)
Ở đề tài, chủ đề triết lí nhân sinh, răn dạy đạo lí, nội dung triết lí, giáohuấn (chịu ảnh hưởng tinh thần dân tộc và tư tưởng nhân dân), truyền thốngthương yêu, đoàn kết, coi trọng nghĩa tình của người Việt Nam được đặc biệt
đề cao và có số lượng nhiều nhất Một truyền thống khác của dân tộc được
Trang 30các tác giả đưa vào nội dung giáo huấn đó là đức tính cần cù, giản dị, thậtthà,chất phác của người Việt Nam Những nội dung này giữ một vị trí quantrọng trong việc giáo dục và bồi dưỡng nhân cách con người Nó bổ sungnhững gì còn thiếu hụt, còn phiến diện, hạn chế bớt những tiêu cực của giáo líKhổng Mạnh Nếu tinh thần đẳng cấp của Nho giáo đã dựng lên bức tườngngăn cách kẻ giàu, người nghèo thì tinh thần dân tộc hóa đã xóa bỏ mọi ngăncách, giáo dục tình yêu thương, đoàn kết giữa những người cùng chung mộtnước:
Đồng bào cốt nhục nghĩa càng bền Cành Bắc, cành Nam một cội nên (Bảo kính cảnh giới – Bài 15)
Nếu tinh thần đẳng cấp Nho giáo thiết lập mối quan hệ quyền lợi vànghĩa vụ một chiều giữa người trên và kẻ dưới thì tinh thần dân chủ vốn cótrong dân tộc và nhân dân đã hướng tới mối quan hệ hai chiều một cách bìnhđẳng
Yếu tố Nôm còn được thể hiện ở hệ thống hình tượng nghệ thuật –những ước lệ nghệ thuật bắt nguồn trực tiếp từ hiện thực đời sống
Trong thơ Nguyễn Trãi còn có sự vận dụng ngôn ngữ dân gian, tục ngữrất sáng tạo:
“Ở bầu thì dáng ắt nên tròn Xấu tốt đều thì rập khuôn Lân cận nhà giàu no bữa cốm;
Bạn bè kẻ trộm phải đau đòn Chơi cùng đứa dại nên bầy dại;
Kết mấy người khôn học nết khôn
Ở đẳng thấp thì nên đẳng thấp, Đen gần mực đỏ gần son”
Trang 31Những câu thơ trên đều lấy ý từ ngữ : “Ở bầu thì tròn, ơ ống thì dài”, “Ở
gần nhà giàu đau răng ăn cốm, ơ gần kẻ trộm ốm lưng chịu đòn ”, “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” Khi đi vào câu thơ của Nguyễn Trãi đã được vận
dụng khéo léo, dồn nén được ý tứ của những câu tục ngữ thật cô đọng, hàmsúc Ngôn ngữ thơ mang giá trị biểu cảm cao nhưng vẫn dễ hiểu với ngườiđọc
“Yếu tố Nôm” còn thể hiện ở việc sử dụng các câu năm chữ, sáu chữ đan xentrong bài thất ngôn và cách ngắt nhịp ¾ (lẻ trước, chẵn sau) tạo nên những
sắc thái riêng và giá trị biểu cảm của câu thơ, bài thơ: “Rồi hóng mát thuơ
ngày trường”
Câu thơ chỉ có sáu chữ khác hẳn với thơ luật Đường hoàn chỉnh đã tậptrung lột tả được hình ảnh nhân vật trữ tình đang trong thời gian rảnh rỗi, tâm
hồn thư thái, đang “hóng mát” Những tưởng là một thi nhân đang tận hưởng
thú vui tao nhã của mình nhưng đó không phải là con người của Nguyễn Trãi
Bởi ông là “người thân không nhàn mà tâm cũng không nhàn”(chữ dùng của
nhà nghiên cứu Lã Nhâm Thìn), một con người dù có bận bịu với cuộc sốngnhưng không lúc nào quên chuyện “ái ưu” với dân, với nước:
“Bui có một lòng trung liễn hiếu
Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen”
(Thuật hứng số
24)
Con người ấy khi nhìn cảnh sống của dân chỉ mong sao:
“Dân giàu đủ khắp đòi phương”
Câu thơ sáu chữ ngắn gọn, thể hiện sự dồn nén cảm xúc của tác giả.Một tấm lòng lo cho dân được ấm no, hạnh phúc Một niềm hạnh phúc chung
cho tất cả mọi người “khắp đòi phương”.
Ở bài “Tùng” để khắc họa một đặc điểm của cây tùng mà ít loại cây nào có được, Nguyễn Trãi viết:
“Cội rễ bền, dời chẳng động”
Trang 32Câu thơ chỉ có sáu chữ, lại ngắt nhịp 3/3 ngắn gọn, chắc nịch, dứt
khoát: “Cội rễ bền/ dời chẳng động” tăng thêm tính khẳng định sức sống
mãnh liệt, khỏe khoắn, kiên cường, bất khuất của cây tùng Kết thúc bài thơcũng với câu lục ngôn, ngắt nhịp 1/5 “Dành/ để trả nợ dân cày” như một lờihứa quyết tâm với nhân dân của một tấm lòng luôn đau đáu nỗi lo cho dân,cho nước
Hay để miêu tả sức sống mãnh liệt của thiên nhiên vào hè, tác giả đã sửdụng cách ngắt nhịp ¾ nhằm lột tả đầy đủ biểu hiện của cảnh vật:
“ Thạch lựu hiên/ còn phun thức
đỏ Hồng liên trì/ đã tiễn mùi hương”
Tất cả dường như đều muốn trỗi dậy, muốn bộc lộ hết vẻ đẹp củamình Cây hòe trước hiên cứ như đang "đùn đùn" mà lên, đùn đùn mà toảrộng; cây lựu như đang "phun" ra những tia màu đỏ chói, như muốn cháy hếtmình Dưới ao những đài sen đang tỏa ngát hương thơm Bằng tài quan sát vàsự cảm nhận tinh tế của mình Nguyễn Trãi đã vẽ nên một bức tranh mùa hèthật sinh động, đầy sức sống lôi cuốn người đọc
Như vậy, chính “yếu tố Nôm” đã tạo nên những đặc sắc trong thơ NômĐường luật Tuy nhiên, để có thể hiểu được giá trị của một bài thơ NômĐường luật chúng ta còn phải nắm được các “ yếu tố Đường luật” của bàithơ Có như vậy mới có thể lần tìm được những lớp nghĩa sâu kín dưới bềmặt con chữ của dòng thơ Nôm luật Đường
*Yếu tố Đường luật:
Yếu tố Đường luật được xem là những gì tiếp thu của nước ngoài và taonhã, ước lệ
Yếu tố Đường luật trong thơ Nôm Đường luật biểu hiện về mặt đề tài, chủ
đề hướng tới những quan niệm, phạm trù Nho giáo, Đạo giáo ; về mặt ngônngữ là những từ Hán Việt, điển cố, thi liệu Hán học, sự “đúc chữ”, trau chuốttrong dùng từ; về hình ảnh là những hình ảnh tao nhã, mĩ lệ, ước lệ; về câu
Trang 33thơ, về nhịp điệu là những quy định chặt chẽ manh tính quy phạm của thơ luật Đường vể luật bằng trắc, niêm, đối
Chúng ta có thể thấy trong các tập thơ của Nguyễn Trãi, Nguyễn BỉnhKhiêm, các tác giả có đề cập nhiều đến phẩm chất của kẻ sĩ quân tử, chủ đề lítưởng ái ưu và lí tưởng trung quân Đó đều là những phẩm chất và khái niệmNho giáo đã được các tác giả tiếp thu “ Ưu ái” theo quan niệm của Nho giáophải gắn liền với trung quân và thường được biểu hiện bằng cặp từ “trungái”, hoặc được giải thích bằng thành phần định ngữ mang tư tưởng Nho giáonhư ta gặp trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm:
Niềm xưa trung ái thề chẳng phụ
(Bạch Vân am thi tập –Bài 11)
Ưu ái một niềm hằng nhớ chúa
(Bạch Vân am thi tập –Bài 109)
So với chủ đề “ái ưu”, chủ đề “trung hiếu” có nhiều nội dung Nho giáohơn Đặc biệt là “trung” Trong nhiều trường hợp chữ “trung” thường đượcgiải thích bằng những thuật ngữ, những cụm từ mang tư tưởng Nho giáo kháquen thuộc như “đất thiên tử, tôi thiên tử”, “tôi Đường Ngu, đất ĐườngNgu”, “dân Nghiêu Thuấn, vua Nghiêu Thuấn”
Bui có một niềm chăng nỡ trễ Đạo làm con liền đạo làm tôi
(Ngôn chí – Bài 2) Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn Dường ấy ta đà phỉ sơ nguyền
(Tự thán – Bài 4) Năm đấng lẽ hàng vẹn trước sau Vua tôi đạo cả trên đầu
Rầy mừng thánh chúa tôi hiền rập Cùng hương tôn vinh tộ dõi sau
(Quân thần)
Trang 34Tuy nhiên, chữ “trung” được đề cao nhưng đó là sự đề cao những điểmtích cực trong học thuyết trung quân của Nho giáo Biểu hiện rõ nét nhất làtrung quân có điều kiện theo quan niệm của Khổng Tử: “quân quân, thầnthần” (vua ra vua, tôi ra tôi) Tôi hiền chỉ thờ vua sáng, tướng tài chỉ giúpchúa thánh minh, đó là điều mà các tác giả từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn BỉnhKhiêm đều tâm niệm Mỗi khi nói đến vua chúa, các tác giả thường dùngthêm những từ hoặc những cụm từ làm định ngữ như “thánh minh”, “ĐườngNgu”, “Nghiêu Thuấn”:
Ước bề báo ơn minh chúa Hết khỏe phù đạo thánh nhân
(Quốc âm thi tập-Trần tình – Bài 1) Những vì chúa thánh âu đời trị
Há kể thân nhàn tiếc tuổi tàn
(Quốc âm thi tập - Tự thán – Bài 2)
Thành phần định ngữ đã có tác dụng khu biệt giữa “minh vương” và “uvương”, đã xác định quan niệm trung quân tích cực vốn có ở Khổng Khâu vàMạnh Kha được các tác giả Đường luật Nôm tiếp thu trong dạng lí tưởng nhất
Chủ đề phẩm chất kẻ sĩ quân tử là một chủ đề lớn trong thơ NômĐường luật thế kỉ XV nửa đầu thế kỉ XVIII Chủ đề này thể hiện một cáchtrực tiếp quan niệm “thi dĩ ngôn chí” trong sáng tác văn học trung đại Quân
tử theo quan niệm Nho giáo được xác định chủ yếu trên ba phẩm chất cơ bản:nhân, trí, dũng Khi trực tiếp nói về người quân tử, các tác giả Đường luậtNôm cũng đề cập tới những khía cạnh trên theo quan niệm của Nho giáo:
Quân tử hãy lăm bền chí cũ Chẳng âu ngặt, chẳng âu già
(Ngôn chí – Bài 17) Khó bền mới phải người quân tử Mạnh gắng thì nên kẻ trượng phu
(Trần tình – bài 7)
Trang 35Ở đề tài, chủ đề triết lí nhân sinh, răn dạy đạo lí, nội dung triết lí, giáohuấn trong thơ Nôm Đường luật một phần lớn có cơ sở từ ý thức hệ Nho giáo.Trong nội dung triết lí, giáo huấn theo quan niệm Nho giáo, tam cương, ngũthường rất được đề cao Ngoài những câu thơ nói về đạo cương thường,
trong Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Bạch Vân am thi tập đều
có những bài thơ riêng khuyên mọi người theo giáo lý Khổng Mạnh trong cácquan hệ vua tôi, cha con, vợ chồng,anh em , bạn bè
Về hệ thống hình tượng nghệ thuật, chủ yếu là các hình tượng biểu đạtnhững quan niệm Nho giáo về con người, xã hội Phần lớn đó là những hìnhtượng có sẵn trong tư tưởng, quan niệm được dùng như những ước lệ tượngtrưng có tính chất cố định, gắn với “loại” việc, “loại vật”, “loại người” Ví dụ
trong Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi ba lần dùng “dặm thanh vân” để chỉ
đường công danh, năm lần dùng hình tượng mận, đào để chỉ nơi quyền quý
Cả Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đều dùng hình tượng giậu cúc phíađông để chỉ cuộc sống ẩn dật
Về ngôn ngữ sử dụng, trong thơ Nôm Đường luật cũng sử dụng nhiều
từ Hán Việt Bộ phận từ Hán Việt thường là thuật ngữ thể hiện khái niệm củaNho giáo xuất hiện khá nhiều trong thơ Nôm Đường luật thế kỉ XV nửa đầu thế kỉ XVIII Điều đó có nguyên nhân lịch sử là do thời kì này Nho giáo vẫn giữ vai trò quốc giáo, có ảnh hưởng mạnh mẽ trong xã hội Nhiều thuật ngữ,khái niệm Nho giáo trở thành từ vựng toàn dân Mặt khác, các tác giả
Đường luật Nôm thời kì này chủ yếu là các nho sĩ, nên trong các sáng tác của họ có nhiều từ Hán Việt thể hiện các nội dung Nho giáo là điều dễ hiểu
Ta thấy các tác giả Hồng Đức quốc âm thi tập thường sử dụng từ Hán
Việt với mục đích ca ngợi triều đại, ca ngợi vua:
Cao vòi vọi ngôi hoàng cực Khắp lâng lâng phúc thứ dân Tôi mọn dự đòi hàng ngọc duần Non cao kính chúc tuổi minh quân
Trang 36Trong trường hợp trên, sử dụng từ Hán Việt rất đắc dụng vì từ Hán Việtnghe sang và kêu.
Các tác giả Đường luật Nôm đôi khi sử dụng từ Hán Việt để miêu tả thiên nhiên Cảnh vật được miêu tả bằng từ Hán Việt thường có vẻ đẹp
thanh tú, tao nhã Ví dụ cảnh Côn Sơn:
Đình thấu ngọc tiên xanh tuyết nhũ Song mai hoa điểm quyển Hy kinh
(Tự thán – Bài 37)Chúng ta cũng gặp trong thơ Nôm Đường luật một số lượng điển cố,thi liệu Hán học rất phong phú, đa dạng về nội dung biểu đạt: xã hội, conngười, thiên nhiên, lí tưởng, triết lí, giáo huấn Điển cố, thi liệu Hán họcđược sử dụng nhiều trong ba trường hợp: Thể hiện cuộc sống ẩn dật, lánh đục
về trong; khẳng định phẩm chất kẻ sĩ quân tử; nêu cao lí tưởng về một xã hộiNghiêu Thuấn thái bình, thịnh trị Trường hợp thứ nhất và thứ hai ta thấy biểuhiện khá đậm nét trong thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn
Khuyến Trường hợp thứ ba, ta thấy có nhiều trong thơ Hồng Đức quốc âm
thi tập và thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
Về thể thơ, thơ Nôm Đường luật được tổ chức theo quy ước của cácthể thơ tiêu biểu của các thể thơ Đường, gồm: Thất ngôn tứ tuyệt ( Bốn câu,mỗi câu bẩy chữ ), Ngũ ngôn tứ tuyệt ( Bốn câu, mỗi câu năm chữ ), Thấtngôn bát cú ( Bốn câu, mỗi câu tám chữ ) …Không những vậy, một số bài còntuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc về đối thanh, đối chữ, đối câu; các quy tắc
về niêm, luật của thơ Đường trong việc thể hiện nội dung
Tóm lại, “yếu tố Nôm” và “yếu tố Đường luật ” là hai đặc điểm cơ bảncủa thơ Nôm Đường luật Từ việc xác định được đặc điểm cơ bản của thơNôm Đường luật như trên, giáo viên có thể lựa chọn được những phươngpháp tiếp cận thích hợp để phân tích, bình giảng các bài thơ Nôm Đường luật.Tuy nhiên, trong một bài thơ Nôm Đường luật thường có cả hai yếu tố trên
Trang 37Tất nhiên mức độ đậm nhạt không giống nhau trong từng bài thơ Giáo viêncần thấy được giá trị biểu đạt, biểu cảm, giá trị thẩm mĩ của từng yếu tố đồngthời thấy được sự hòa quyện, xuyên thấm của hai yếu tố này trong việc làmnên giá trị chung của bài thơ.
1.1.2.4 Quan điểm dạy học thơ Nôm Đường luật theo đặc trưng thể loại
Dạy học thơ Nôm Đường luật theo đặc trưng thể loại là đề tài thuộcchuyên ngành phương pháp giảng dạy Văn Vì vậy những kiến thức đượctrình bày ở trên đều định hướng vào việc dạy học cụ thể Khi tìm hiểu bất kìmột tác phẩm văn học nào, ta cần hiểu rằng : nhà văn sáng tạo tác phẩm theothể loại thì người tiếp cận cũng cần cảm thụ theo thể loại Nói cách khácphương thức cấu tạo hình tượng mà tác giả sử dụng khi sáng tác quy địnhphương thức cảm thụ hình tượng đó của người đọc và từ đó quy địnhphương thức giảng dạy của giáo viên
Dạy học thơ Nôm Đường luật phải xuất phát từ đặc trưng của thể thơnày Giáo viên là người đưa ra phương pháp tiếp cận tác phẩm cho học sinh, vìvậy phải nắm chắc đặc trưng của thể loại thơ Nôm Đường luật Dạy học thơNôm Đường luật theo đúng đặc trưng thi pháp thể loại là rất cần thiết vì chínhđặc trưng thể loại của mỗi bài thơ sẽ quy định cách dạy và học cho giáo viên vàhọc sinh Vì đặc trưng của thơ Nôm Đường luật là sự kết hợp hài hòa của haiyếu tố Đường luật và yếu tố Nôm Hơn nữa, để đến được với những áng văn củacha ông, nhất là những tác phẩm viết bằng chữ Nôm theo thể Đường luật, cầnvượt qua rào cản của ngôn ngữ Đây không chỉ là thách thức của trò mà còn làcủa thầy Vốn Nôm học quá mỏng, khiến cho những tác phẩm văn chương tuyệtđỉnh khi dạy học trên lớp chỉ còn là việc định nghĩa không đầy đủ Khoảng cáchvăn hoá, thời đại đã khiến cho những người dạy và người học chưa tiếp cậnđược đích giá trị của tác phẩm Chính vì vậy, dạy học thơ Nôm Đường luật ởTHCS càng phải bám sát hơn đặc trưng thể loại để có thể khắc phục được nhữnghạn chế đó và khai thác hết giá trị thẩm mĩ của
Trang 38các bài thơ Bám sát đặc trưng thể loại cũng có nghĩa là ta phải chỉ ra đượccái tiếp thu cũng như sáng tạo của tác giả Từ đó chỉ ra đặc điểm phong cáchcủa tác giả Đồng thời để tiếp cận tác phẩm, ta có thể tiến hành liên hệ tácphẩm với hiện thực xã hội và đặt tác phẩm trong mối tương quan với tácphẩm khác cùng thể loại trước, trong và sau đó Mỗi thể loại có một phươngpháp riêng, không có phương pháp nào chung cho mọi thể loại Chính vì vậy,người dạy cần phải nắm chắc được đặc trưng của thể loại thơ Nôm Đườngluật nói chung và đặc điểm của các bài thơ Nôm Đường luật cụ thể để từ đó
có biện pháp dạy học phù hợp giúp học sinh có thể cảm thụ được cái hay cáiđẹp của thể thơ này
Với cả ba bài thơ Nôm Đường luật trong chương trình Ngữ Văn ởTHCS, giáo viên cần giúp học sinh nắm được những nét cơ bản nhất về cuộcđời và sự nghiệp của tác giả, những nội dung và nghệ thuật đặc sắc của tácphẩm Rèn được cho các em kĩ năng nhận biết thể thơ và kĩ năng đọc cũngnhư biết cách phân tích một bài thơ Nôm Đường luật Chẳng hạn, về nội
dung bài thơ Bánh trôi nước , giáo viên phải giúp học sinh thấy được đây là
bài thơ đa nghĩa Nghĩa đen tả về chiếc bánh trôi Bánh được làm từ nhân bộtnếp, hình dáng “tròn”, màu sắc “trắng”, nhân đường phên( đỏ son) Tùy thuộcvào “tay kẻ nặn” khéo léo hay vụng về mà chiếc bánh trôi có thể rắn hay nát.Khi luộc cho bánh vào nước sôi, quan sát thấy “bảy nổi ba chìm” là bánhchín Đây là bài thơ vịnh vật tài tình, tả chính xác chiếc bánh trôi nước đồngthời khơi gợi những liên tưởng thú vị ở người đọc Nghĩa bóng ca ngợi vẻđẹp ngoại hình và phẩm chất của người phụ nữ, cảm thông với thân phận phụthuộc và khổ đau của họ Đây là ý nghĩa chính, quyết định giá trị của bài thơ
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt nhuần nhị, sáng tạo.Hình ảnh, ngôn ngữ dân dã, gần gũi không cầu kì, kiểu cách Cách sử dụngquan hệ từ cũng là một trong những nét độc đáo của bài thơ góp phần tạo nênkhẩu khí của thơ Hồ Xuân Hương Bài thơ còn hấp dẫn ở sự đa giọng điệu có
Trang 39kiêu hãnh, tự hào, có ngậm ngùi, xót xa, có thách thức Bên cạnh đó bài thơmang đậm dấu ấn dân gian bắt đầu bằng mô típ quen thuộc trong ca dao “thân
em”, thành ngữ “bảy nổi ba chìm” Hay trong bài Bạn đến chơi nhà, giáo viên
cần cho học sinh thấy được đề tài của bài thơ này là về tình bạn Đây là một
đề tài nổi bật trong thơ Nguyễn Khuyến Ông có nhiều bài thơ hay viết về tình
bạn như Khóc Dương Khuê, Lụt hỏi thăm bạn Về nội dung, giáo viên phải
giúp học sinh hiểu được tình bạn đậm dà, thắm thiết, qua đó giúp các em hiểuđược nhân cách cao đẹp của Nguyễn Khuyến được thể hiện trong bài thơ.Nghệ thuật đặc sắc của bài này là cách sử dụng thơ thất ngôn bát cú Đườngluật, ngôn ngữ thơ thuần Nôm bình dị, dân dã, mộc mạc gần gũi với lời ăntiếng nói của người dân nhưng được sử dụng khéo léo khiến nó rất ý vị, thiliệu không cầu kì, kiểu cách mà là những cảnh vật sống động, mang đậm dấu
ấn của làng quê Bắc Bộ Giọng điệu bài thơ hóm hỉnh, hài hước
Trong dạy học tác phẩm thơ Nôm Đường luật, giáo viên không nên đisâu quá vào một vấn đề mà phải có sự lựa chọn, chắt lọc để tìm những khíacạnh khác nhau của tác phẩm và tạo khả năng tiếp nhận cho học sinh đối vớitác phẩm Mặt khác, một bài dạy phải có sự cô đọng, tinh giản nhưng khôngđược sơ sài, lại vừa phải xác định rõ tính chất loại thể của tác phẩm, lại vừalàm nổi bật tư tưởng của tác giả đã gửi gắm vào trong tác phẩm nhằm giúphọc sinh tiếp nhận một cách chủ động nhất
1.2 Cơ sởthưcC̣ tiên
1.2.1 Vị trí của thơ Nôm Đường luật trong chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở
Bảng 1.1 Các bài thơ Nôm Đường luật ở THCS
Lớp
7 (kì 1)
Trang 40Bảng 1.2 Chuẩn kiến thức kĩ năng cần đạt của các bài thơ
Nôm Đường luật ở THCS
bài
7
Bánhtrôinước
II - TRỌNG TÂM KIẾN THỨC
1 Kiến thức
- Sơ giản về tác giả Hồ Xuân Hương
- Vẻ đẹp và thân phận chìm nổi của
người phụ nữ qua bài thơ Bánh trôi
nước.
- Tính chất đa nghĩa của ngôn ngữ vàhình tượng trong bài thơ
2 Kĩ năng
- Nhận biết thể loại của văn bản
- Đọc - hiểu, phân tích văn bản thơ NômĐường luật
đèoNgang