1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư duy pháp lý của luật sư

5 680 8

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 117,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tư duy pháp lý là một trong những kỹ năng quan trọng trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư. Nắm vững kỹ năng này sẽ giúp luật sư rút ngắn thời gian nghiên cứu, xử lý hồ sơ và tìm được câu trả lời tương đối chuẩn xác cho vấn đề mà khách hàng quan tâm.

Trang 1

Có nhiều cách định nghĩa về Tư duy pháp

lý (TDPL) của luật sư Có quan điểm nghiên

cứu cho rằng, TDPL của luật sư là cách suy

nghĩ của luật sư để tìm ra giải pháp cho một vụ

tranh chấp phù hợp với các quy định của pháp

luật2 Trên góc độ khác, hoàn toàn có thể cho

rằng, TDPL là phương pháp tư duy để tìm ra

câu trả lời phù hợp nhất cho một vụ việc được

yêu cầu Ngoài ra, cũng cần mở rộng hơn

phạm vi của TDPL theo đó, TDPL không chỉ

được áp dụng cho việc tìm ra giải pháp cho

các tình huống tranh chấp mà còn có thể áp

dụng để tìm ra giải pháp cho bất kỳ tình huống

pháp lý nào mà luật sư được yêu cầu hỗ trợ,

giải quyết Bởi lẽ phạm vi hoạt động của luật

sư không chỉ bó hẹp trong việc tham gia tố

tụng mà còn cả tư vấn pháp luật và đại diện

ngoài tố tụng

1 Đặc điểm tư duy pháp lý của luật sư

TDPL vốn là loại hình tư duy chuyên

nghiệp của các luật gia, vì vậy nó cần phải

tuân thủ đầy đủ những quy luật cơ bản của tư

duy logic hình thức, như quy luật đồng nhất,

quy luật không mâu thuẫn, quy luật triệt tam

và quy luật lý do đầy đủ3 Những quy luật này cũng chính là những yêu cầu cần thiết của luật gia trong hoạt động nghề nghiệp Đối với TDPL của luật sư thì đây là một quá trình phân tích các sự kiện một cách khoa học, logic

và đích hướng tới của TDPL luật sư là tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi pháp lý đặt ra cho một vụ việc TDPL đòi hỏi phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản là “Đúng – Gọn – Rõ”, lý

do là để tránh việc người khác bắt bẻ, gây ra cãi cọ4

2 Các bước thực hiện tư duy pháp lý

Về mặt thực tiễn, TDPL của luật sư bao gồm các hoạt động chính sau đây: (i) ghi chép, phân loại sự kiện xảy ra; (ii) khái quát hóa nội dung vụ việc; (iii) xác định câu hỏi pháp lý; (iv) xác định quy phạm pháp luật điều chỉnh; (v) lập luận để giải đáp cho từng trường hợp cụ thể

Bước 1: Ghi chép, phân loại sự kiện

xảy ra

Thông thường, luật sư tiếp nhận vụ việc thông qua lời kể của đương sự (trực tiếp hoặc qua điện thoại), qua thư và kèm theo là các tài liệu, đồ vật Việc đầu tiên của luật sư là phải

Tóm tắt: Tư duy pháp lý là một trong những kỹ năng quan trọng trong hoạt động nghề

nghiệp của luật sư Nắm vững kỹ năng này sẽ giúp luật sư rút ngắn thời gian nghiên cứu, xử lý

hồ sơ và tìm được câu trả lời tương đối chuẩn xác cho vấn đề mà khách hàng quan tâm.

Từ khóa: Tư duy pháp lý, luật sư

Nhận bài: 10/05/2018; Hoàn thành biên tập: 23/05/2018; Duyệt đăng: 26/07/2018.

Abstract: Legal thinking is one of the important skills in the lawyer practicing activity.

When the lawyers masters this skills they will spend less time for researching, handling case files and finding relatively accurate answer for the matter of clients’ interest.

Keywords: legal thinking, lawyer

Date of receipt: 10/05/2018; Date of revision: 23/05/2018; Date of approval: 26/07/2018.

TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ

Vũ Văn Tính 1

1 Tiến sỹ, Luật sư, Công Ty Luật TNHH LT & Cộng sự

2Nguyễn Ngọc Bích, Tư duy pháp lý của luật sư, Nxb Trẻ 2015, tr.15.

3Phạm Đình Nghiệm, Nhập môn Logic học, Nxb Đại học quốc gia, Tp Hồ Chí Minh, 2008, tr.35-42.

4Nguyễn Ngọc Bích, Sđd, tr.132.

Trang 2

ghi chép lại một cách đầy đủ, khách quan các

sự kiện xảy ra Cách làm ở đây là liệt kê tất cả

các sự kiện đã được nghe, được đọc và xếp

chúng theo bản chất (các sự kiện có cùng bản

chất xếp chung với nhau – thí dụ thời gian,

không gian ) Yêu cầu ở giai đoạn này là phải

liệt kê đầy đủ, không bỏ sót chi tiết nào để luật

sư có một cái nhìn toàn cảnh về vụ việc và ước

lượng thời gian cần thiết để nghiên cứu mỗi

chi tiết Nếu bỏ sót chi tiết thì sau này có thể

đặt sai câu hỏi pháp lý5

Sau khi ghi chép đầy đủ các sự kiện, luật

sư sẽ phải tiến hành phân loại các sự kiện để

xem sự kiện nào quan trọng, sự kiện nào

không quan trọng Mục đích của việc này là

để bám sát vào vấn đề cần phải giải quyết; chỉ

xem xét những vấn đề nào, sự kiện gì có liên

quan tới câu hỏi pháp lý Như vậy để tránh

mất thời gian vào giải quyết những vấn đề

không liên quan tới nội dung vụ việc

Bước 2: Khái quát hóa nội dung vụ việc

Sau khi đã nắm được các chi tiết quan

trọng liên quan đến vụ việc, luật sư phải biết

cách tóm tắt hoặc khái quát vụ việc theo cách

hiểu của luật sư Đây là bước quan trọng nhất

của TDPL vì khi khái quát được nội dung vụ

việc sẽ giúp người nghe hiểu nhanh, đồng thời

giúp cho luật sư dễ dàng tìm ra câu hỏi pháp

lý Để khái quát hóa được nội dung vụ việc

một cách khách quan, luật sư phải sử dụng các

thuật ngữ pháp lý có tính khái quát Muốn vậy

luật sư phải lược bỏ các thuật ngữ mang tính

kể chuyện và thay vào đó bằng các thuật ngữ

pháp lý

Ví dụ 1: Khách hàng là đại diện Công ty

XYZ đến Công ty luật LT và Cộng Sự trình bày

vụ việc như sau:“Ngày 15/03/2014, Khách

hàng đã ký với Công Ty TNHH PSVN Hợp

đồng thi công số 003/2014/PSHD và Phụ lục

Hợp đồng số PL003/2014/PLHĐ –PS ngày

03/01/2015 (“Hợp Đồng và Phụ Lục”), theo

đó Khách hàng sẽ thi công công trình nhà xưởng J3, nhà ăn J5, nhà xe, trạm điện J6, tháp nước J13, bể nước J14, khu bồn cầu J12, hàng rào và 2 nhà bảo vệ, công trình đường nội bộ toàn khu, hệ thống thoát nước Tổng giá trị Hợp Đồng và Phụ Lục là 61.931.100.000 đ.Trong quá trình thực hiện Hợp Đồng và Phụ Lục, Khách hàng đã thi công thêm 05 (năm) hạng mục ngoài Hợp Đồng và Phụ Lục nhưng chưa được quyết toán Tổng giá trị 05 hạng mục là 5.427.000.000 (Năm tỷ, bốn trăm hai mươi bảy triệu đồng – Đã bao gồm thuế VAT) Khách hàng đã thực hiện xong công việc theo Hợp Đồng và Phụ Lục nhưng Công ty PSVN mới thanh toán được 48.360.835.000 Ngoài ra PSVN từ chối thanh toán khoản tiền liên quan đến 5 hạng mục chưa được quyết toán Khách hàng đã nhiều lần yêu cầu PSVN thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản tiền còn nợ nhưng PSVN không thực hiện vì cho rằng 5 hạng mục

đó có nằm trong bảng dự toán mà Công Ty XYZ gửi cho PSVN Do đó, Khách hàng muốn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai yêu cầu PSVN thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ còn thiếu theo Hợp Đồng và Phụ Lục và 05 hạng mục phát sinh với tổng số tiền là 18.997.265.000 (mười tám tỷ chín trăn chín bảy triệu hai trăm sáu lăm nghìn) chưa bao gồm lãi suất.”

Trên đây là lời trình bày của khách hàng Sau khi nghe, luật sư có thể khái quát lại vụ

việc bằng các thuật ngữ pháp lý như sau: “Một

bên nhận thầu xây dựng ký hợp đồng thi công xây dựng công trình nhà xưởng với một bên giao thầu, theo đó, bên nhận thầu sẽ thi công

11 hạng mục công trình Trong quá trình xây dựng có phát sinh thêm 5 hạng mục công trình ngoài phạm vi của hợp đồng đã ký Nhà thầu xây dựng đã thi công đủ 5 hạng mục Tuy

5Nguyễn Ngọc Bích, Sđd, tr.135 Xem thêm, Methodologies des exercicies juridiques, http:

http://droitucp.fr/uploads/files/dms/methodologie%20des%20exercies%20juridiques%20FERRIE.pdf

Trang 3

nhiên, khi bên nhận thầu yêu cầu bên giao

thầu thanh toán khối lượng phát sinh thì bên

giao thầu lại từ chối thanh toán với lý do các

hạng mục này tuy không có trong hợp đồng

nhưng lại có trong bản dự toán gói thầu được

phê duyệt Bên nhận thầu muốn tư vấn về khả

năng yêu cầu bên giao thầu thanh toán khối

lượng 5 hạng mục phát sinh ngoài phạm vi

hợp đồng đã ký”.

Như vậy, luật sư đã hoàn toàn tách khỏi

ngôn ngữ kể chuyện của khách hàng và dùng

các thuật ngữ pháp lý được sử dụng trong

pháp luật về xây dựng (ví dụ: luật sư không

sử dụng thuật ngữ “Công ty XYZ”, “Công Ty

PSVN” mà thay bằng “bên nhận thầu”, “bên

giao thầu”, )6để khái quát hóa nội dung câu

chuyện của khách hàng thành một tình huống

pháp lý

Bước 3: Xác định câu hỏi pháp lý

Câu hỏi pháp lý là câu hỏi dựa trên bản

chất của sự việc vừa được tóm tắt Nó khác

với câu hỏi mà khách hàng đặt ra cho luật

sư Trong ví dụ nêu trên, khách hàng có thể

đặt câu hỏi “Chúng tôi có đòi được tiền từ

Công ty PSVN hay không?” Về bản chất,

câu hỏi pháp lý mà luật sư đặt ra để tìm

hướng giải quyết vụ việc không phải là câu

hỏi mà khách đặt ra Câu hỏi pháp lý chính

là sản phẩm quan trọng của TDPL luật sư

Câu hỏi pháp lý không phải là chủ đề của

câu chuyện Tìm câu hỏi pháp lý chính là tìm

hiểu xem vấn đề pháp lý đặt ra trong tình

huống cụ thể đó là gì và vấn đề này thường

được đặt ra ở dạng nghi vấn Câu hỏi pháp lý

phải bao trùm các yếu tố chính của vụ việc

Như vậy, câu hỏi pháp lý không được quá

hẹp, cũng không được quá rộng hoặc quá

đơn giản Điều quan trọng là câu hỏi pháp lý

phải nêu bật được bản chất của tranh chấp

và khi tòa án trả lời được câu hỏi đó thì tranh

chấp sẽ được giải quyết

Trong ví dụ 1 nêu trên, câu hỏi pháp lý không phải là câu hỏi của khách hàng dạng

như “chúng tôi có đòi được tiền từ Công ty

PSVN hay không?” Câu hỏi pháp lý ở đây

cần được viết là “trong trường hợp nào thì bên

nhận thầu được quyền yêu cầu bên giao thầu thanh toán khối lượng phát sinh ngoài hợp đồng?” hoặc một cách cụ thể hơn “nếu một số hạng mục có trong bản dự toán gói thầu được phê duyệt nhưng không có trong hợp đồng thi công xây dựng thì bên nhận thầu có được quyền yêu cầu bên giao thầu thanh toán khối lượng phát sinh ngoài hợp đồng hay không?”.

Như vậy, câu hỏi pháp lý ở đây đã bao gồm vấn đề tranh chấp giữa Công ty XYZ và Công

ty PSVN Trả lời được câu hỏi pháp lý này sẽ giải quyết được tranh chấp giữa Công ty XYZ

và Công ty PSVN

Ví dụ 2: Bà Vũ Thị Lan đến gặp luật sư và

trình bày: Bà Vũ Thị Lan là thành viên Hội đồng quản trị - cổ đông sở hữu 14,377 % cổ phần tại công ty cổ phần MTL ông Nguyễn Hoàng Nam là cổ đông sở hữu 0,5% cổ phần của công ty MTL Ngày 01/08/2017, Công ty MTL gửi thư mời họp Đại hội đồng cổ đông (ĐHCĐ) thường niên năm 2017 vào lúc 8h00 ngày 15/08/2017 cho các cổ đông Ông Nam nhận được thông báo mời họp và các tài liệu

có liên quan, tuy nhiên, bà Lan lại không nhận được bất kỳ tài liệu nào liên quan đến cuộc họp này Sau khi Công ty MTL tổ chức hợp ĐHCĐ, bà Vũ Thị Lan đến gặp luật sư đề nghị

hỗ trợ bà khởi kiện yêu cầu tòa án hủy nghị quyết ĐHCĐ của Công ty MTL họp ngày 15/08/2007 Như vậy, câu hỏi pháp lý trong

trường hợp này là “việc cổ đông không nhận

được thư mời họp ĐHCĐ và các tài liệu có phải là điều kiện để một nghị quyết của ĐHĐCĐ bị hủy bỏ hay không?”

Bước 4: Xác định quy phạm pháp luật

điều chỉnh

6 Ví dụ Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22 tháng 04 năm 2015 của Chính Phủ quy định chi tiết về Hợp đồng xây dựng.

Trang 4

Sau khi đã xác định được vấn đề cần phải

giải quyết thông qua câu hỏi pháp lý, luật sư

cần phải biết lựa chọn luật áp dụng cho nội

dung vụ việc Hay nói cách khác, câu trả lời

cho câu hỏi pháp lý sẽ nằm trong các văn

bản pháp luật điều chỉnh nội dung vụ việc

Việt Nam là nước theo hệ thống luật viết, vì

vậy nguồn luật chủ yếu là các văn bản quy

phạm pháp luật Muốn xác định được chính

xác luật áp dụng, luật sư nên sử dụng

phương pháp sau: (i) xác định các thuật ngữ

chính; (ii) xác định các quy định sẽ áp dụng;

(iii) xác định các điều kiện thể thực hiện

các quy định của pháp luật và các ngoại lệ

của nó

Áp dụng vào ví dụ 2 nêu trên, chúng ta có

thể xác định được thuật ngữ chính ở đây là

“hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ

đông” Từ thuật ngữ này chúng ta tra cứu

trong Luật doanh nghiệp 2014 sẽ thấy điều

147 về yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội

đồng cổ đông trong đó đưa ra quy định về các

trường hợp một nghị quyết Đại hội đồng cổ

đông có thể bị huỷ bỏ Theo đó “trong thời

hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được biên bản

họp Đại hội đồng cổ đông hoặc biên bản kết

quả kiểm phiếu lấy ý kiến Đại hội đồng cổ

đông, cổ đông, nhóm cổ đông quy định tại

khoản 2 Điều 114 của Luật này có quyền yêu

cầu Tòa án hoặc Trọng tài xem xét, hủy bỏ

nghị quyết hoặc một phần nội dung nghị quyết

của Đại hội đồng cổ đông trong các trường

hợp sau đây: (i) Trình tự và thủ tục triệu tập

họp và ra quyết định của Đại hội đồng cổ

đông không thực hiện đúng theo quy định của

Luật này và Điều lệ công ty, trừ trường hợp

quy định tại khoản 2 Điều 148 của Luật này;

(ii) Nội dung nghị quyết vi phạm pháp luật

hoặc Điều lệ công ty.”

Bước 5: Lập luận để giải đáp cho trường

hợp cụ thể

Sau khi đã tìm được điều luật điều chỉnh

nội dung vụ việc, chúng ta phải biết cách lập

luận để tìm ra câu trả lời cho câu hỏi pháp lý

mà chúng ta đã đặt ra

Lập luận dựa trên quy tắc tam đoạn luận.

Tam đoạn luận là suy luận đi từ hai mệnh

đề để tiến đến một kết luận tất yếu đã ngầm chứa trong hai mệnh đề đó Tam đoạn luận gồm 3 bộ phận: Tiền đề lớn, tiền đề nhỏ và kết luận

Để áp dụng được quy tắc tam đoạn luận trong việc đưa ra kết luận về vụ việc của mình, luật sư cần tiến hành các bước như sau:

Bước 1- Tiền đề lớn: Nêu nội dung của

điều luật điều chỉnh vụ việc liên quan;

Bước 2 - Tiền đề nhỏ: Nhắc lại các tình tiết

của sự kiện xảy ra có liên quan đến điều luật

để có thể mang đến câu trả lời khi chúng ta kết luận Nếu việc áp dụng điều luật quy định yêu cầu ba điều kiện thì ba điều kiện đó phải được nêu lên trong bước hai này (nếu sự kiện được nêu không có đủ ba điều kiện thì phải nhắc điều kiện nào còn thiếu)

Bước 3 - Kết luận: Kết luận của tam đoạn

luận có giá trị chặt chẽ, vì nó là một kết quả tất yếu, không chối bỏ được một khi đã thừa nhận tiền đề Luật sư phải đưa ra kết luận (câu trả lời) về vụ việc được nêu ra Câu trả lời không nhất thiết phải đúng như kỳ vọng của luật sư hay khách hàng

Luật sư có thể lập nhiều tam đoạn luận, mỗi tam đoạn luận đưa ra một câu kết luận/câu trả lời nhỏ Từ các câu trả lời nhỏ này

sẽ rút ra được kết luận chung

Ở ví dụ 2 ta có thể lập luận dựa vào quy

tắc tam đoạn luận như sau: Tiền đề lớn: Theo

quy định của Điều 147 Luật doanh nghiệp

2014 “ cổ đông, nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 114 của Luật này có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài xem xét, hủy bỏ nghị quyết hoặc một phần nội dung nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông trong các trường hợp sau đây: 1 Trình tự và thủ tục triệu tập họp và ra quyết định của Đại hội đồng cổ đông không thực hiện đúng theo quy

Trang 5

định của Luật này và Điều lệ công ty ”; Tiền

đề nhỏ: Việc công ty không gửi thông báo

mời họp cho bà Lan là đã vi phạm thủ tục

triệu tập họp ĐHĐCĐ; Kết luận: Vậy, bà

Lan có quyền yêu cầu tòa án hủy bỏ nghị

quyết ĐHĐCĐ

Lập luận dựa trên phương pháp áp dụng

tương tự pháp luật.

Cần phải thừa nhận rằng, đôi khi luật viết

không đầy đủ các quy định cần thiết để giải

quyết các tình huống cụ thể đặt ra trong cuộc

sống Vì vậy, áp dụng pháp luật là một hoạt

động so sánh mang tính trí tuệ nhằm mở rộng

phạm vi áp dụng một quy tắc được luật ghi

nhận cho một trường hợp tương tự không

được dự liệu trong luật Việc xác định trường

hợp tương tự có thể dựa trên tiêu chí chủ

quan- tương tự về chủ thể hoặc tiêu chí khách

quan – tương tự về tính chất cơ bản của quan

hệ pháp luật7

Ví dụ: Theo Điều 131 2.a Luật nhà ở năm

2013 Các trường hợp chấm dứt hợp đồng

thuê nhà ở thì trường hợp trong hợp đồng

không xác định thời hạn thì hợp đồng chấm

dứt sau 90 ngày, kể từ ngày bên cho thuê nhà

ở thông báo cho bên thuê nhà ở biết việc chấm

dứt hợp đồng Như vậy, ta có thể lập luận rằng

trong trường hợp luật không quy định thì

người thuê nhà ở theo hợp đồng không xác

định thời hạn cũng có quyền chấm dứt hợp

đồng với điều kiện thông báo cho bên thuê nhà

biết trước 90 ngày

Lập luận dựa trên phương pháp suy lý

mạnh.

Cần phải thừa nhận rằng, đôi khi luật viết

không rõ ràng, do đó để có thể đưa ra được một

kết luận cho một trường hợp cụ thể, luật sư phải

áp dụng phương pháp suy lý mạnh Phương

pháp suy lý mạnh có thể được hình thành dựa trên nguyên tắc: Một người có quyền làm nhiều hơn thì cũng có quyền làm ít hơn; một người

có quyền làm thì cũng có quyền không làm; một người không có quyền thực hiện một hành

vi quan trọng thì cũng không có quyền thực hiện hành vi quan trọng hơn8

Ví dụ, theo khoản 1 Điều 479 BLDS năm

2015, bên thuê phải bảo dưỡng và sửa chữa nhỏ tài sản thuê Vậy chắc chắn dù luật viết không quy định thì bên mượn tài sản cũng vẫn phải có nghĩa vụ bảo dưỡng và sửa chữa nhỏ tài sản mượn

Lập luận dựa trên phương pháp suy lý ngược.

Phương pháp suy lý ngược có thể được giải thích dựa trên lý lẽ, tương ứng với một giả định cụ thể, người làm luật có một quy định cụ thể; vậy tương ứng với một giả định

cụ thể ngược lại, ta có thể rút ra một kết luận ngược lại

Ví dụ: Theo khoản 1 Điều 615 BLDS năm 2015, người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại Như vậy, có thể suy luận ngược lại là người hưởng di sản mà không có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm

vi di sản do người chết để lại thì không phải

là người thừa kế9

Kết luận: Như vậy TDPL của luật sư là

một quá trình tư duy đặc thù, bao gồm một chuỗi các hoạt động chính sau đây: Ghi chép, khái quát hóa nội dụng vụ việc; Xác định quy phạm pháp luật điều chỉnh và lập luận để tìm câu trả lời cho câu hỏi pháp lý Một luật sư sử dụng nhuần nhuyễn các kỹ năng TDPL sẽ tìm

ra câu trả lời nhanh nhất cho vấn đề mà mình cần phải giải quyết./

7Nguyễn Ngọc Điện, Một số vấn đề lý luận về các phương pháp phân tích luật viết, Nxb Tư pháp 2006, tr.101.

8Nguyễn Ngọc Điện, Sđd, tr.101.

9Nguyễn Ngọc Điện, Sđd, tr.107.

Ngày đăng: 20/11/2020, 07:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w