MỞ ĐẦU 1 Chương 1: Những vấn đề lý luận về nguyên tắc pháp chế trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư 7 1.1 Luật sư và hoạt động nghề nghiệp của luật sư 7 1.2 Khái niệm, yêu cầu và
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN THỊ TÍCH
NGUYÊN TẮC PHÁP CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG NGHỀ NGHIỆP CỦA LUẬT SƯ – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Minh Đoan
HÀ NỘI - 2011
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung
thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng
được công bố trong bất cứ công trình nào
Tác giả luận văn
Trang 3
Tác giả xin gửi lời cảm ơn trân trọng và sâu sắc nhất đến Phó
Giáo sư, Tiến sĩ, Thầy giáo Nguyễn Minh Đoan - người hướng dẫn
thực hiện luận văn này, đến các thầy cô giáo của Trường Đại học Luật Hà Nội, đến gia đình và bạn bè - những người đã giúp đỡ hết
sức mình cho luận văn này hoàn thành!
Tác giả luận văn
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Những vấn đề lý luận về nguyên tắc pháp chế trong
hoạt động nghề nghiệp của luật sư
7
1.1 Luật sư và hoạt động nghề nghiệp của luật sư 7
1.2 Khái niệm, yêu cầu và mục đích, ý nghĩa của nguyên tắc
pháp chế trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư
12
1.3 Nội dung nguyên tắc pháp chế trong hoạt động nghề nghiệp
của luật sư
21
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nguyên tắc pháp
chế trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư
2.1 Thực trạng các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động
nghề nghiệp của luật sư ở Việt Nam
29
2.2 Thực tiễn tuân theo nguyên tắc pháp chế trong các hoạt động
nghề nghiệp của luật sư
36
2.3 Những ảnh hưởng từ phía các tổ chức, cá nhân khác đến tính
hợp pháp trong các hoạt động nghề nghiệp của luật sư
45
Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm nguyên tắc pháp
chế trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư ở nước
ta hiện nay
51
3.1 Quan điểm bảo đảm nguyên tắc pháp chế trong hoạt động
nghề nghiệp của luật sư ở nước ta hiện nay
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Nghề LS chính thức xuất hiện ở nước ta từ năm 1884, khi chính quyền thực dân Pháp ban hành Sắc lệnh thành lập LS đoàn tại Sài Gòn
và Hà Nội Sau khi Việt Nam giành được độc lập, ngày 10/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 46/SL về tổ chức đoàn LS Đó là sắc lệnh đầu tiên về LS của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Từ đó, nghề
LS từng bước phát triển và ngày càng gia tăng về số lượng LS, nâng cao
về chất lượng hoạt động Lịch sử tư pháp Việt Nam ghi danh những LS nổi tiếng: Vũ Trọng Khánh (Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên của nước ta), Phan Anh ( Bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên của nước ta), Nguyễn Mạnh Tường (người Việt đầu tiên đỗ hai bằng tiến sĩ tại Pháp: Luật khoa và Văn khoa), Nguyễn Hữu Thọ (nguyên Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam), Trịnh Đình Thảo (Chủ tịch Liên minh các lực lượng dân tộc và dân chủ hoà bình ở Việt Nam, vị trí thức yêu nước nổi tiếng ở miền Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ), Ngô Bá Thành
(đại biểu Quốc hội khoá VI, VII, VIII, X, nguyên Chủ nhiệm Uỷ ban
Pháp luật của Quốc hội),…
Luật LS, được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007 quy định nguyên tắc đầu tiên trong các nguyên tắc hành nghề LS (tại khoản 1, Điều 5) là: “Tuân thủ Hiến pháp
và PL” Đó là nguyên tắc PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS
Hiện nay, ở nước ta, công cuộc xây dựng nền kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền và đẩy mạnh hợp tác quốc tế đã và đang thúc đẩy nghề LS ngày càng phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, trong sự phát triển đó, bên cạnh những yếu tố tích cực đã xuất hiện những hiện tượng vi phạm PL rất đáng quan ngại ở cả ba nhóm đối tượng: cán bộ, công chức cơ quan THTT (cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án), các
LS, thân chủ của các LS và một số đối tượng khác liên quan đến hoạt
Trang 7động nghề nghiệp của LS " Án bỏ túi" (tức là phán quyết của Hội đồng xét xử không dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên toà mà theo dự kiến
đã phê duyệt trước khi mở phiên toà), tiêu cực trong hoạt động tố tụng,
LS "chạy án", LS vi phạm đạo đức nghề nghiệp, thiếu tu dưỡng chuyên môn, thân chủ LS tác động, yêu cầu LS thực hiện các biện pháp bất hợp pháp trong hành nghề - đó là những hiện tượng vẫn đang diễn ra, gây ảnh hưởng đến uy tín LS, nghề LS, làm suy giảm lòng tin của người dân vào PC, PL
Có thể thấy, đòi hỏi của việc thực hiện nguyên tắc PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS là cấp thiết, nhằm để LS thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích cao quý: góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong nước cũng như ở nước ngoài, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, DC, văn minh Tuy nhiên, hiểu về nguyên tắc này như thế nào, thực hiện nguyên tắc trên cơ
sở lý luận và thực tiễn như thế nào, từ đó đề ra những giải pháp gì nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc - đó là những vấn đề cần phải được phân tích thấu đáo, với cách nhìn toàn diện, đa chiều
Vì lý do trên, tôi chọn đề tài luận văn thạc sĩ: Nguyên tắc pháp
chế trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư - một số vấn đề lý luận
và thực tiễn ở nước ta hiện nay, với mong muốn góp phần nâng cao
chất lượng hoạt động của LS trong điều kiện hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Theo nguồn tư liệu mà tác giả có, đã có nhiều bài báo, công trình
nghiên cứu về PC và về LS Cụ thể:
- Luận án TS luật học của Phan Trung Hoài: "Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện PL về LS ở Việt Nam hiện nay" (bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2003) Luận án này đã phân tích về
lý luận nhu cầu của việc điều chỉnh bằng PL đối với hoạt động LS, phân
Trang 8tích thực trạng PL và thi hành PL, đánh giá đúng nhu cầu hoàn thiện PL
về LS, đề xuất những phương hướng cơ bản hoàn thiện PL về LS
- Luận văn ThS của Lương Văn Tròn: "Vai trò của LS trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo trong TTHS" (bảo
vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2002) Trong luận văn, tác giả
đã phân tích vai trò của LS bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị can, bị cáo trong TTHS trên cả hai khía cạnh: pháp lý và thực tiễn, đề ra giải pháp nâng cao vai trò này
- Luận văn ThS của Trần Mạnh Hùng: "Nguyên tắc PC XHCN trong TTHS và vấn đề bảo đảm thực hiện nguyên tắc này trong giai đoạn xét xử hình sự sơ thẩm trong giai đoạn hiện nay" ( bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2003) Trong luận văn, tác giả đã nghiên cứu các đặc trưng cơ bản của nguyên tắc PC XHCN trong TTHS,
đề ra các biện pháp phù hợp nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc này
trong giai đoạn xét xử hình sự sơ thẩm;
- Luận văn ThS của Trần Phương Thảo: "Vị trí, vai trò của LS trong TTHS" (bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2004), trong
đó, tác giả nghiên cứu, nêu rõ vị trí, vai trò của chế định LS trong các văn bản PL về LS và trong Bộ luật TTHS tại thời điểm trên, vai trò thực tiễn của LS trong TTHS
- Luận văn ThS của Hoàng Thị Thu Phương: "Vị trí, vai trò của
LS trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự" (bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2007), trong đó, tác giả phân tích giai đoạn điều tra vụ
án hình sự, tìm hiểu và khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của LS trong giai đoạn này cả về lý luận và thực tiễn
- Luận văn ThS của Nguyễn Hà Dương: "Vị trí, vai trò của LS trong TTDS" ( bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2010) Trong luận văn, tác giả đề cập đến hoạt động TTDS, vị trí của chế định
Trang 9LS và thực tế hoạt động của LS trong TTDS, đề ra giải pháp tăng cường
vị trí, vai trò của LS trong lĩnh vực này
- Nhiều bài báo trên các tạp chí khoa học đề cập đến PC và LS, tiêu biểu là: "Chế độ PC thống nhất, hợp lý và áp dụng chung" ( Tác giả Hoàng Thị Kim Quế, đăng Tạp chí DC và PL số 9/2005); "Nghề LS trong cơ chế thị trường" (Tác giả Nguyễn Văn Tuân, đăng Tạp chí DC
và PL số 6/1999), "Về việc xây dựng quy tắc đạo đức nghề nghiệp LS ở Việt Nam "(Tác giả Nguyễn Văn Tuân, đăng Tạp chí DC và PL số 6/2001)…
Các công trình nghiên cứu trên đã tiếp cận và phân tích riêng lẻ vấn đề PC, vấn đề hoạt động của LS trong một vài lĩnh vực Các tác giả
đã nhận thức và kiến giải khá sâu sắc về vị trí, tầm quan trọng của PC, của chế định LS trong PL Việt Nam hiện hành, tuy nhiên họ chưa xem xét đồng thời hai vấn đề này và chủ yếu chỉ nhìn nhận dưới góc độ của
LS hoặc của cơ quan Nhà nước
Tính đến thời điểm luận văn này dược khởi thảo (tháng 12/2010), chưa có một công trình nghiên cứu nào có nội dung nghiên cứu hoặc tên đề tài trùng với luận văn này
3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn gồm hai vấn đề chính sau:
- Nguyên tắc PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS, những yêu cầu của nguyên tắc này
- Hoạt động nghề nghiệp của LS và thực tiễn nguyên tắc PC trong lĩnh vực này
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lê nin Các phương pháp nghiên cứu được áp dụng gồm: Phương pháp tổng hợp tài liệu, phân tích tài liệu để nghiên cứu các vấn
đề lý luận về nguyên tắc PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS; phương pháp thống kê số liệu, tổng hợp, so sánh số liệu được sử dụng
Trang 10để thu thập, phân tích số liệu; phương pháp phỏng vấn xã hội học được thực hiện đối với một số LS nhằm nghiên cứu thực tiễn nguyên tắc PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS
5 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu về mặt lý luận
nguyên tắc PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS, nghiên cứu thực tiễn nguyên tắc này, luận văn nêu những nguyên nhân, hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp thiết thực bảo đảm nguyên tắc PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích, làm rõ về mặt lý luận nguyên tắc PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS
- Xác định đúng thực trạng các quy định PL về LS và thực tiễn tuân thủ nguyên tắc PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS;
- Đề ra quan điểm, giải pháp chung và giải pháp cụ thể bảo đảm nguyên tắc PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn:
Tác giả đã đi sâu phân tích nguyên tắc PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS cả về lý thuyết và thực tế, đưa ra cách hiểu về nguyên tắc này như một khái niệm khoa học Tác giả cũng đã phân tích thực tiễn nguyên tắc này trên nhiều góc độ, từ cách nhìn của các phía: LS, xã hội,
cơ quan Nhà nước để đánh giá đúng thực trạng tuân thủ nguyên tắc PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS ở nước ta hiện nay, trong đó đưa ra nhiều kiến giải để đánh giá thực trạng các quy định PL trong lĩnh vực này Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm bảo đảm nguyên tắc này ở nước ta Các giải pháp phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, pháp lý của nước ta hiện nay và có thể được thực hiện với chi phí không quá lớn, có tác dụng trong thời gian dài
Trang 117 Cơ cấu luận văn: Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài
liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về nguyên tắc pháp chế trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư;
Chương 2: Thực tiễn nguyên tắc pháp chế trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư ở nước ta hiện nay;
Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm nguyên tắc pháp chế trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư ở nước ta hiện nay
Trang 12CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC PHÁP CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG NGHỀ NGHIỆP CỦA LUẬT SƯ
1.1 Luật sư và hoạt động nghề nghiệp của luật sư:
1.1.1 Sơ lược về nghề luật sư - lịch sử và khái niệm:
Trong lịch sử, nghề LS xuất hiện khi nhân loại đã đạt đến một trình độ văn minh pháp lý nhất định, quyền con người được tôn trọng và bảo vệ “LS là một nghề dựa trên sự am hiểu PL và áp dụng PL Nghề
LS luôn gắn liền với sự hình thành và phát triển của hệ thống PL… Theo nhận xét của một số nhà cổ học thì quyền bào chữa xuất hiện sớm nhất ở châu Âu cùng với sự xuất hiện của toà án và người biện hộ xuất hiện cùng thẩm phán Trong nhà nước Hy Lạp cổ lúc mà tổ chức toà án
đã hình thành, nguyên cáo hoặc bị cáo được nhờ người thân của mình bào chữa trước toà án” (1) Thời xưa, khi mới xuất hiện, LS được coi như các hiệp sĩ bảo vệ người yếu thế, bảo vệ công lý, minh oan cho những người bị giai cấp thống trị bắt giam vô cớ và trừng phạt một cách độc đoán, bảo vệ quyền lợi của nhân dân bị áp bức… “Dưới chế độ tư bản, nghề LS được tổ chức chặt chẽ với những điều kiện khắt khe hơn nhằm dành quyền lợi riêng cho một số ít người xuất thân từ giai cấp bóc lột
Từ nhiệt tình của những người đầu tiên tự nguyện làm công tác bào chữa vì sự thật công lý, nghề LS dưới chế độ tư bản đã từng bước trở thành nghề kiếm tiền, phục vụ cho khách hàng Nghề LS ngày càng phát triển và trở thành nghề tự do được các văn bản pháp luật của nhà nước quy định Lịch sử nghề LS ở mỗi nước gắn liền với chế độ chính trị ở nước đó và phục vụ quyền lợi của giai cấp thống trị ở nước đó” (2) Chức năng của LS là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của
(1) và (2): Lê Hồng Hạnh chủ biên ( 2002), “Đạo đức nghề nghiệp và kỹ năng của LS trong
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam”, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội,
trang 11-12.
.
Trang 13thân chủ, trong nhiều trường hợp LS còn bảo vệ quyền lợi của người yếu thế về kinh tế, xã hội trong tố tụng, tư vấn PL,…
Ở Việt Nam, PL về LS và hoạt động LS đã có từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 Theo LS, TS Phan Trung Hoài, Sắc lệnh 25/7/1864 của Hoàng đế Napoleon III về tổ chức nền tư pháp Nam Kỳ
đã bắt đầu đề cập đến tổ chức LS Cùng với các văn bản PL sau này cho đến Sắc lệnh ngày 25/5/1930, lần đầu tiên chế định LS được hình thành với tên gọi và cơ cấu tổ chức cụ thể theo các khu vực: Hà Nội, Sài Gòn, Campuchia, Lào dưới thời thống trị của thực dân Pháp Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, bộ máy tư pháp được tổ chức lại Sắc lệnh
số 46/SL ngày 10/10/1945 về tổ chức đoàn thể LS đã được Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam DC cộng hòa Hồ Chí Minh ký ban hành, quy định việc duy trì tổ chức LS trong đó đã có sự vận dụng linh hoạt các quy định pháp luật của chế độ cũ về LS nhưng không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể DC cộng hoà Hiến pháp 1946 khẳng định quyền tự bào chữa hoặc mượn LS bào chữa là một trong những quyền quan trọng của bị cáo
Đến nay, Nhà nước ta đã ban hành 17 văn bản PL liên quan đến
LS (3), trong đó Luật LS, được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007 là một mốc quan trọng, đánh dấu
sự phát triển mới về chất của pháp luật về LS và hoạt động LS ở nước
ta Hiện nay (tính đến tháng 2/2009), nước ta có 5334 LS, 2000 người tập sự hành nghề LS, tăng 4 lần so với trước khi Pháp lệnh LS có hiệu lực (năm 2001)
Về khái niệm LS, hai thuật ngữ “ luật gia” và “ luật sư” hiện nay
ở Việt Nam vẫn còn được hiểu khác nhau và còn có sự nhầm lẫn, do hệ
(3): Theo Phan Trung Hoài (2003), “ Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư
ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ luật học (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh)
Trang 14thống luật pháp nói chung và các nghề nghiệp về tư pháp ở Việt Nam nói riêng chưa phát triển, mặt khác cũng do việc dịch các thuật ngữ có liên quan trong ngôn ngữ nước ngoài chưa chuẩn xác, chưa thống nhất
Theo cách giải thích của nhiều từ điển và qua tìm hiểu thực tiễn,
có thể hiểu như sau: “jurist” = luật gia, là người có kiến thức về PL, chuyên gia luật Có thể hiểu đó là tất cả những người là cử nhân luật trở lên, hoặc, vận dụng ở ta, có thể bao gồm cả những người tuy không có bằng cử nhân luật, nhưng có kiến thức về PL và đang hoạt động trên các lĩnh vực PL, tư pháp, trong đó có cả LS Còn “lawyer” = LS, là luật gia được đào tạo thêm về kỹ năng hành nghề, được gia nhập Đoàn LS, qua
đó được công nhận là LS để hành nghề chuyên nghiệp trong lĩnh vực tranh tụng và tư vấn PL (4) Người Anh có câu: Đừng ký gì trước khi anh hỏi ý kiến một LS (Don’t sign anything until you’ve consulted a lawyer)
Theo quan điểm của Phan Trung Hoài, LS là một chức danh tư pháp độc lập, chỉ những người có đủ điều kiện hành nghề chuyên nghiệp theo quy định của PL nhằm thực hiện việc tư vấn PL, đại diện theo uỷ quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân, tổ chức và Nhà nước trước Toà án và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác” (Xem Luận
án tiến sĩ luật học: “Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện PL về LS ở VN
hiện nay”) Theo quan điểm này thì không nên coi hoạt động LS chỉ là
một hoạt động bổ trợ tư pháp như hiện nay mà cần phải coi LS là một chức danh tư pháp độc lập, điều này xuất phát từ bản chất của hoạt động nghề nghiệp LS Còn theo quan niệm của Hoàng Thị Thu Phương thì,
"LS là người có trình độ chuyên môn và kiến thức pháp lý sâu rộng, được đào tạo kỹ năng hành nghề LS, có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp,
(4): Theo Bộ Tư pháp, Đặc san tuyên truyền PL về luật sư, đăng trên Cổng thông tin điện tử
của Bộ Tư pháp
Trang 15gia nhập tổ chức của LS, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức, góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế xã hội và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” (Xem Luận văn
thạc sĩ luật học: “Vị trí, vai trò của LS trong giai đoạn điều tra vụ án
hình sự”)
Điều 2 Luật LS quy định:“Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng)" Và để làm rõ khái niệm trên, Điều 10 Luật LS quy định tiêu chuẩn LS ở Việt Nam, theo đó, công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và PL, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề LS, đã qua thời gian tập sự hành nghề
LS, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề LS thì có thể trở thành LS; Điều 11 quy định điều kiện hành nghề LS: Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 của Luật này muốn được hành nghề LS phải có Chứng chỉ hành nghề LS và gia nhập một Đoàn LS Như vậy, theo Luật LS, một người chỉ được coi là “LS” khi có đủ các điều kiện nêu trên Khi đã trở thành
LS, người đó có quyền được hành nghề LS (cung cấp dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng) theo phạm vi, hình thức hành nghề LS quy định tại Luật LS Về vấn đề này, cần lưu ý rằng, theo Luật LS thì
LS phải hành nghề LS ( LS hành nghề), không được sử dụng danh nghĩa
LS để thực hiện những công việc không thuộc phạm vi hành nghề LS
PL về LS của nước ta không thừa nhận LS không hành nghề như một số nước khác
LS là những người am hiểu PL ở trình độ cao, biết vận dụng và sử dụng PL nhằm mục đích cuối cùng là bảo vệ công lý, bảo vệ lẽ phải Trong nhiều trường hợp, LS là lực lượng đối trọng với bên công tố, hỗ trợ cho việc xét xử, góp tiếng nói phản biện để tìm ra sự thật vụ việc, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân
Trang 161.1.2 Phạm vi hoạt động nghề nghiệp của luật sư:
Luật LS quy định phạm vi hành nghề của LS gồm: tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi, người đại diện của một bên đương sự hoặc của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các loại vụ án; tư vấn PL; đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng
để thực hiện các công việc có liên quan đến PL; thực hiện dịch vụ pháp
lý khác theo quy định của PL Theo sự phát triển của xã hội, phạm vi hoạt động nghề nghiệp của LS ngày càng mở rộng
Luật LS quy định về các hoạt động nghề nghiệp của LS như sau:
- Hoạt động tham gia tố tụng của LS phải tuân theo quy định của
PL về tố tụng và Luật này;
- Hoạt động tư vấn PL của LS: Tư vấn PL là việc LS hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp khách hàng soạn thảo các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của họ LS thực hiện tư vấn PL trong tất cả các lĩnh vực PL
- Hoạt động đại diện ngoài tố tụng của LS: LS đại diện cho khách hàng để giải quyết các công việc có liên quan đến việc mà LS đã nhận theo phạm vi, nội dung được ghi trong hợp đồng dịch vụ pháp lý hoặc theo sự phân công của cơ quan, tổ chức nơi LS hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động
- Hoạt động dịch vụ pháp lý khác của LS: Dịch vụ pháp lý khác của LS bao gồm giúp đỡ khách hàng thực hiện công việc liên quan đến thủ tục hành chính; giúp đỡ về PL trong trường hợp giải quyết khiếu nại; dịch thuật, xác nhận giấy tờ, các giao dịch và giúp đỡ khách hàng thực hiện công việc khác theo quy định của PL
Trang 17Ở nước ta hiện nay, nhìn chung hai hoạt động nghề nghiệp được thực hiện phổ biến nhất, thu hút đông đảo LS nhất là: tham gia tố tụng
và tư vấn pháp luật
Trên đây, luận văn đã nêu rõ khái niệm LS và phạm vi hoạt động nghề nghiệp của LS Đây là cơ sở đầu tiên để nghiên cứu về nguyên tắc
PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS
1.2 Khái niệm, yêu cầu và mục đích, ý nghĩa của nguyên tắc pháp chế trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư:
1.2.1 Khái niệm nguyên tắc pháp chế trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư:
“PC là sự tuân thủ của công dân, của các tổ chức, cơ quan đối với
PL hiện hành” (5) PC được nhắc đến từ thời kỳ ban đầu của Nhà nước tư sản và đã trở thành một trong những nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước tư sản
PC XHCN là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước XHCN, là nguyên tắc hoạt động của các tổ chức chính trị, xã hội
và các đoàn thể quần chúng, là nguyên tắc xử sự của công dân PC
XHCN là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị xã hội, trong đó tất
cả các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhân viên Nhà nước, nhân viên các tổ chức xã hội và mọi công dân phải tôn trọng
và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác PC
được coi là “một trong những yêu cầu cơ bản của Nhà nước pháp quyền"(6) và được thể hiện ở hai khía cạnh: thứ nhất, Nhà nước có một
hệ thống PL hoàn thiện, thứ hai, có sự tôn trọng và thực hiện PL nghiêm
minh bởi tất cả các tổ chức và cá nhân trong xã hội
Trang 18Từ khái niệm chung về PC cho chúng ta thấy, nguyên tắc PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS cũng cần được xem xét ở hai khía
cạnh: thứ nhất, các quy định pháp luật là cơ sở pháp lý cho hoạt động nghề nghiệp của LS, thứ hai, hành vi tôn trọng, thực hiện PL của LS khi
hoạt động nghề nghiệp
Trước hết, về cơ sở pháp lý cho hoạt động nghề nghiệp của LS
Đó là những văn bản PL có liên quan đến hoạt động nghề nghiệp của
LS, đảm bảo cho những hoạt động này được PL cho phép, nằm trong những quy định của PL Cụ thể là những văn bản PL chứa đựng các quy định về tổ chức, hoạt động của LS, nguyên tắc cơ bản trong hành nghề
LS, hướng dẫn các thủ tục mà LS phải tuân thủ trong quá trình hành nghề, những quy định liên quan đến quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của
LS, các tổ chức nghề nghiệp của họ Theo đó, có những văn bản sau:
- Hiến pháp 1992 (đã sửa đổi) Điều 132 Hiến pháp quy định: Tổ chức LS được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và góp phần bảo vệ PC XHCN);
- Luật LS, Bộ luật TTHS, Bộ luật TTDS
- Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính Từ ngày 01/7/2011, Pháp lệnh này hết hiệu lực, Luật TTHC có hiệu lực sẽ là một
cơ sở pháp lý mới cho hoạt động nghề nghiệp của LS);
- Các văn bản hướng dẫn thi hành các điều khoản có liên quan đến LS của các Luật, Pháp lệnh trên
Hoạt động nghề nghiệp của LS liên quan đến hầu khắp các lĩnh vực PL như: dân sự, hình sự, kinh tế, hành chính, Vì vậy, các văn bản luật nội dung như: Bộ luật dân sự, BLHS, Luật Đất đai, các Luật chuyên ngành về các lĩnh vực kinh tế, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Sở hữu trí tuệ, và các văn bản hướng dẫn thi hành các Luật này cũng là cơ sở pháp lý cho hoạt động nghề nghiệp của LS Do khuôn khổ luận văn nên tác giả không liệt kê hết các văn bản luật nội dung này
Trang 19Về khía cạnh thứ hai, hành vi tôn trọng và thực hiện PL của LS
khi hoạt động nghề nghiệp: Một LS cũng là một công dân, cá nhân họ
có trách nhiệm tôn trọng và thực hiện tất cả các quy định PL liên quan đến công dân, cá nhân, đồng thời tuân thủ, thực hiện những quy định liên quan đến hoạt động nghề nghiệp của họ, đó là các văn bản PL về
LS, Điều lệ của tổ chức xã hội - nghề nghiệp LS mà họ tham gia
Để hiểu rõ về nguyên tắc PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS,
cần phải thấy được những đặc thù của nghề LS, nhất là đặc thù của việc
tuân thủ PL ở LS
Bản chất hoạt động nghề nghiệp của LS gồm những tính chất sau: Tính tuân thủ PL; Tính DC; Tính độc lập; Bản chất xã hội; Uy tín nghề nghiệp cá nhân Đặc điểm của nghề LS là: Trước hết là một nghề luật; Mang tính chất dịch vụ; Gắn liền với số phận con người; Hoạt động dựa trên PL và quy chế trách nhiệm nghề nghiệp; Hoạt động mang tính quốc
tế (Theo LS, TS Phan Trung Hoài) Đặc thù của LS so với các đối tượng khác trong xã hội là sự am hiểu PL ở trình độ cao của họ Nếu ở đối tượng bình thường (không có kiến thức PL hoặc chỉ có ở mức độ trung bình), sự tuân thủ PL chỉ cần hiểu đơn giản là chấp hành đúng câu chữ, tinh thần điều luật, ví dụ như: không vượt đèn đỏ khi tham gia giao thông, thì LS là đối tượng vận dụng và sử dụng PL nên việc tuân thủ PL
ở họ có những yêu cầu và đặc điểm riêng
Một LS nổi tiếng đã nói: “LS là người vận dụng luật một cách khôn khéo” Vì vậy, nếu hiểu sự tuân thủ PL trong hoạt động LS một cách cứng nhắc, giống như với các đối tượng thông thường thì sẽ không hiểu được nghề LS, không thấy được tính biện chứng và linh hoạt trong
sự tuân thủ PL trong hoạt động nghề nghiệp của LS Có thể nói, phải là người trong nghề LS, hoặc rất hiểu nghề LS thì mới thấy được hết những yêu cầu đặc thù của sự tuân thủ PL ở LS
Trang 20Ví dụ: LS bảo vệ quyền lợi cho đương sự A trước Toà Hội đồng xét xử tại phiên toà sơ thẩm cho là LS vi phạm PL trong tranh tụng, lập luận không đúng, nên đã xử bác yêu cầu của đương sự A Hội đồng xẻt
xử tại phiên toà phúc thẩm đã xem xét lại vụ việc, cho rằng LS không vi phạm PL, lập luận của LS là đúng, nên chấp nhận yêu cầu của đương sự
A Như vậy, không thể căn cứ vào kết luận của Hội đồng xét xử sơ thẩm
mà khẳng định rằng LS đã vi phạm PL
Một ví dụ khác: Hiện nay, ở một số địa phương, người dân bức xúc trước các quyết định thu hồi đất, bồi thường khi thu hồi đất của chính quyền địa phương mà họ cho rằng không thoả đáng Vì vậy họ đã đến nhờ LS tư vấn, hỗ trợ, viết đơn… để khiếu nại, tố cáo Việc LS tư vấn, giúp đỡ người dân khiếu kiện được thực hiện đúng trình tự, thủ tục
mà PL quy định Nhưng một số người có chức trách, một số cơ quan quản lý Nhà nước cho là LS xúi giục khiếu kiện đông người, do đó LS
bị coi là vi phạm PL Từ sự phân tích trên, đối chiếu với các quy định
PL, có thể thấy đây là một cách nhìn sai lầm
Một LS lâu năm trong nghề đã tâm sự: "Trong điều kiện nước ta hiện nay, LS thường luôn luôn phải đứng ở thế đối lập với ba bên: đương sự phía bên kia, Toà án và Viện kiểm sát" Do đó, việc xác định một LS có tuân thủ đúng PL khi hành nghề không thường bị định kiến theo hướng không có lợi cho LS Để đảm bảo PC chung, nhất là trong lĩnh vực xét xử, cần phải sửa đổi cách nhìn này
Nghị quyết 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nêu rõ: “ Hoàn thiện cơ chế bảo đảm để LS thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên toà, đồng thời xác định rõ chế độ trách nhiệm đối với LS Nhà nước tạo điều kiện về pháp
lý để phát huy chế độ tự quản của tổ chức LS, đề cao trách nhiệm của các tổ chức LS đối với thành viên của mình” Như vậy, cơ chế bảo đảm cho LS thực hiện tốt việc tranh tụng đã được nhắc đến, và có thể hiểu
Trang 21một khía cạnh của cơ chế đó là bảo đảm cho LS thực hiện đúng PL trong khi tranh tụng
Từ những phân tích ở trên, có thể thấy rằng, phải nhìn việc tuân thủ PL của LS từ cả ba góc độ: người dân, LS và cơ quan quản lý Lâu nay, việc này thường chỉ được nhìn nhận, đánh giá từ phía cơ quan quản
lý, nên không tránh khỏi phiến diện, cực đoan, từ đó gây khó khăn cho việc hành nghề của LS và ảnh hưởng không tốt đến quyền lợi của người dân cũng như việc thực thi DC
Chức năng của LS, mục tiêu cuối cùng của hoạt động nghề nghiệp của LS trong khi hành nghề không phải là bảo vệ quyền lợi của thân chủ bằng mọi giá - như nhiều người mới thấy ở bề nổi hoạt động tranh tụng tại các phiên toà, mà là bảo vệ công lý, bảo vệ lẽ phải Thông qua hoạt động của LS mà DC ở pháp đình nói riêng, trong xã hội nói chung được thực hiện, quyền con người được bảo vệ tối đa Ở nước ngoài, những LS tham gia các vụ việc quốc tế thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của quốc gia theo đúng các điều ước quốc tế, từ đó nâng cao vị thế của đất nước Hoạt động thực tiễn của LS còn góp phần hoàn thiện hệ thống PL thông qua việc phát hiện những điểm thiếu sót của PL, đề ra những yêu cầu sửa đổi, bổ sung các quy định PL
Từ những lập luận trên, tác giả đưa ra một cách hiểu về nguyên tắc PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS Đó là:
LS tuân theo những nguyên tắc của PL hiện hành, vận dụng triệt
để những quy định của PL, sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của thân chủ, bảo vệ công lý Các cơ quan Nhà nước, các tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm tuân theo PL để bảo đảm cho hoạt động của LS tuân theo PL Từ “tuân theo”
ở đây được hiểu là một khía cạnh của thực hiện PL, được xác định là:
tuân thủ PL, thi hành PL, sử dụng PL
Trang 221.2.2 Yêu cầu của nguyên tắc pháp chế trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư:
Nguyên tắc PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS đòi hỏi: LS phải tuân thủ Hiến pháp và PL trong hành nghề (đặc biệt là tuân thủ các điều cấm trong Luật LS), đồng thời các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm liên quan đến hoạt động hành nghề của LS phải tuân thủ Hiến pháp và PL để bảo đảm cho LS hoạt động đúng luật Cụ thể là:
Thứ nhất, LS phải tuân thủ Hiến pháp và PL trong hành nghề:
Tuân thủ Hiến pháp và PL là yêu cầu đối với mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan Nhà nước trong Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam
Đối với nghề LS - một nghề luật có nhiều đặc thù: “Ở Việt Nam, nghề
LS là một nghề luật, trong đó các LS bằng kiến thức PL của mình, độc lập thực hiện các hoạt động trong phạm vi hành nghề theo quy định của
PL và quy chế trách nhiệm nghề nghiệp, nhằm mục đích phụng sự công
lý, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng, góp phần tích cực bảo vệ
PC và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam” (7), việc tuân thủ Hiến pháp và PL có những yêu cầu riêng ngoài những yêu cầu chung đối với tất cả các cá nhân, tổ chức
Hoạt động nghề nghiệp của LS bao gồm ba tính chất: trợ giúp, hướng dẫn và phản biện Cụ thể, trợ giúp đối với những người yếu thế; hướng dẫn cho đương sự hiểu đúng tinh thần và nội dung của PL để biết cách xử sự, tháo gỡ vướng mắc của họ bằng những biện pháp phù hợp với pháp lý và đạo lý; phản biện bằng những biện luận nhằm phản bác lại lý lẽ, ý kiến, quan điểm của người khác mà mình cho là không phù hợp với pháp lý và đạo lý (thường thể hiện trong lĩnh vực TTHS)
LS cần phải tuân thủ Hiến pháp và PL trong suốt quá trình hành nghề, trong mỗi hoạt động nghề nghiệp của mình Sự trợ giúp, hướng
(7) Theo Phan Trung Hoài (2003), “ Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư
ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ luật học (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh).
Trang 23dẫn và phản biện của LS vừa phải phù hợp với PL vừa phải phù hợp với quy tắc đạo đức nghề nghiệp LS “ Ngoài những yêu cầu về kiến thức
và trình độ chuyên môn thì yêu cầu của việc hành nghề LS còn phải tuân thủ theo quy chế đạo đức nghề nghiệp Đây là một nét đặc thù riêng của nghề LS và nét đặc thù này tác động sâu sắc đến kỹ năng hành nghề, đặc biệt là kỹ năng tranh tụng của LS” (8) Chính quy tắc đạo đức nghề nghiệp của LS vừa là sự vận dụng, cụ thể hoá Hiến pháp và PL trong hoạt động nghề nghiệp của LS, vừa mang tính đạo lý, ràng buộc và điều chỉnh LS trong hành nghề, sao cho hoạt động đó phát huy được tính độc lập, tính sáng tạo, tính phản biện đồng thời nằm trong khuôn khổ pháp luật và đạo đức Đó là sự thể hiện PC một cách trực tiếp trong hoạt động hành nghề của LS
Tuân thủ Hiến pháp và PL không có nghĩa là máy móc tuân theo từng câu chữ trong quy định của PL hiện hành Như trên đã nói, LS là người vận dụng luật một cách khôn khéo, bên cạnh đó, LS độc lập thực hiện các hoạt động trong phạm vi hành nghề theo quy định của PL nhằm mục đích phụng sự công lý, cho nên LS còn có một vai trò là bằng hoạt động thực tiễn của mình phát hiện và đề xuất bổ khuyết những thiếu sót trong hệ thống PL hiện hành Đương nhiên, LS phải tuân thủ đúng các quy định của PL hiện hành, nhưng với thuộc tính biện chứng, linh hoạt của nghề LS, trong quá trình hành nghề, thường là trong tranh tụng hình
sự, bằng các phương pháp bảo vệ quyền lợi cho thân chủ của mình, bằng
cả pháp lý và đạo lý, tình cảm, LS có thể góp phần đưa đến một phán quyết của Toà án không chỉ hợp pháp mà còn hợp lý, hợp tình, có ảnh hưởng tốt tới dư luận xã hội Đó là tính biện chứng của yêu cầu thứ nhất trong nguyên tắc PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS
(8): Khuyết danh, Bài đăng trên trang web: http://www.vanphongluatsu.com.vn
Trang 24Thứ hai, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm liên quan
đến hoạt động hành nghề của LS phải tuân thủ Hiến pháp và PL để bảo đảm cho LS hoạt động đúng luật
Đây là yêu cầu rất quan trọng, mang tính khách quan, gắn bó trực tiếp với yêu cầu thứ nhất trên đây Các đối tượng liên quan đến hoạt động hành nghề của LS gồm: các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, đặc biệt là các cơ quan THTT; các tổ chức, cá nhân yêu cầu LS bảo vệ quyền lợi hoặc gián tiếp liên quan
LS hành nghề luật, bảo vệ quyền lợi của thân chủ, bảo vệ công lý, nhưng người quyết định vận mệnh của thân chủ LS không phải là LS mà
là đại diện cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (trong tố tụng, là Hội đồng xét xử của Tòa án, trong tư vấn, khiếu nại, là cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực mà LS thay mặt đương sự khiếu nại) Bên cạnh đó, liên quan đến vận mệnh của thân chủ LS còn có nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân khác như: điều tra viên, cơ quan Công an, kiểm sát viên, Viện kiểm sát, cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tranh chấp Nhiệm vụ của LS là bằng các chứng cứ, bằng những lý lẽ, bằng khả năng thuyết phục của mình để các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên đây chấp nhận, đưa ra phán quyết có lợi cho thân chủ mà LS bảo vệ quyền lợi, từ đó góp phần bảo vệ công lý Dễ thấy rằng, nếu LS tuân thủ PL khi hành nghề mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không tuân thủ thì không thể đảm bảo được nguyên tắc PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS
Yêu cầu của nguyên tắc PC là nhân tố quan trọng gắn bó với mục đích và ý nghĩa của nguyên tắc này trong hoạt động nghề nghiệp của LS
1.2.3 Mục đích và ý nghĩa của nguyên tắc pháp chế trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư:
PC là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Việt Nam XHCN, trong hoạt động của các tổ chức chính trị,
Trang 25xã hội và các đoàn thể quần chúng, là nguyên tắc xử sự của công dân Đối với hoạt động nghề nghiệp của LS, mục đích quan trọng nhất của nguyên tắc PC là để PL được thực hiện nghiêm minh, lợi ích của các tổ chức, cá nhân được bảo đảm và công lý được bảo vệ So với hoạt động thi hành công vụ trong các cơ quan bảo vệ PL (như: điều tra, kiểm sát, xét xử, ), mục đích việc thực hiện nguyên tắc PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS vừa có nét chung vừa có nét riêng Nét chung là bảo đảm cho sự vận hành có hiệu quả của bộ máy Nhà nước, bảo đảm lợi ích người dân Còn nét riêng là: bằng cách thức hoạt động đặc thù của nghề
LS, việc thực hiện nguyên tắc PC trong hoạt động này tác động trực tiếp đến cơ quan bảo vệ PL, giúp cho cơ quan bảo vệ PL giải quyết vụ việc đúng PL, chính xác, hợp tình, hợp lý, từ đó đảm bảo DC, lợi ích của xã hội
Nếu LS không tuân theo nguyên tắc PC, đặt lợi ích của thân chủ lên trên hết, cao hơn PL, cao hơn công lý, làm mọi cách trong đó có những cách vi phạm PL (như dùng tiền để mua chuộc thẩm phán xét xử, hay còn gọi là "chạy án"); hoặc nếu những người thực thi công vụ của
cơ quan THTT vi phạm PC thì sẽ xảy ra những hậu quả sau:
- Làm giảm hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm của cơ quan THTT;
- Làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN, lòng tin vào PL và đội ngũ LS;
- Sự vi phạm PL nói chung, vi phạm PL trong hoạt động hành nghề của LS sẽ là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng để bôi nhọ nền
Trang 26mọi người dân, các cơ quan Nhà nước theo hướng khẳng định sự cần thiết của nghề LS trong thời đại ngày nay, trong cơ chế thị trường định hướng XHCN và xây dựng Nhà nước XHCN Thực hiện tốt nguyên tắc
PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS là góp phần bảo đảm và bảo vệ quyền con người, tác động tích cực đến việc xây dựng nền tư pháp nghiêm minh
1.3 Nội dung nguyên tắc pháp chế trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư:
Từ khái niệm và các yêu cầu của nguyên tắc PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS, có thể xác định nội dung của nguyên tắc này gồm những điểm sau:
1.3.1 Tính hệ thống, toàn diện của các quy định pháp luật về luật sư (hệ thống PL có đầy đủ các quy định PL cần thiết để bảo đảm cơ
sở pháp lý cho LS hành nghề):
Hiện nay, PL nước ta đã có các quy định cần thiết bảo đảm cơ sở pháp lý cho LS hành nghề như: một số quy định của Hiến pháp 1992; Luật LS, Bộ luật TTHS, Bộ luật TTDS, Luật Tố tụng hành chính (có hiệu lực từ 1/7/2011), các văn bản luật nội dung như: BLHS, Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình Trong thời gian tới, các văn bản
PL liên quan đến hoạt động LS sẽ được sửa đổi, bổ sung nhiều hơn, đáp ứng yêu cầu phát triển nghề LS, hội nhập quốc tế Nhìn chung, các quy định làm cơ sở pháp lý cho LS hành nghề cần phải: đáp ứng yêu cầu quản lý và tạo điều kiện cho LS hành nghề; đồng bộ, chặt chẽ, có tính khả thi cao để LS và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có điều kiện thực hiện, tuân thủ
1.3.2 Tính hợp pháp trong các hoạt động nghề nghiệp của luật sư:
" Hợp pháp" được hiểu là: phù hợp với những quy định của PL (được PL quy định, PL cho phép, không trái với quy định PL, các chủ
Trang 27thể không làm những gì mà PL cấm, thực hiện đầy đủ những gì mà PL yêu cầu, sử dụng quyền hạn không vượt quá giới hạn cho phép của PL; phù hợp với tinh thần của hệ thống PL chung, theo tinh thần PC và Nhà nước pháp quyền; phù hợp với ý thức PL hiện hành Điều lệ và các văn bản của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của LS ( Liên đoàn LS Việt Nam, Đoàn LS) không được trái với PL
1.3.2.1 Đối với hoạt động tư vấn pháp luật:
Tư vấn PL là việc LS hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp khách hàng soạn thảo các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của
LS phải giữ bí mật thông tin của khách hàng, không sử dụng thông tin LS biết được từ việc tư vấn mà LS đảm nhận để mưu cầu lợi ích cá nhân LS phải đảm bảo quy định PL mà LS dựa vào để tư vấn là phù hợp, còn hiệu lực, nguồn văn bản chính xác
1.3.2.2 Đối với hoạt động tham gia tố tụng:
LS tham gia TTHS, TTDS, TTHC với tư cách người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi, người đại diện của một bên đương sự hoặc của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các loại vụ án Tính chất phản biện là một trong những đặc trưng cơ bản của hoạt động tham gia
tố tụng của LS, nhất là trong tranh tụng hình sự Bằng những luận chứng
cụ thể và sức mạnh thuyết phục, LS phản bác lại lý lẽ, quan điểm của người khác mà mình cho là không đúng đạo lý, không đúng PL Ví dụ:
Trang 28LS của bị cáo trong vụ án hình sự phản bác lại bên công tố (buộc tội) nhằm gỡ tội cho thân chủ trên cơ sở những chứng cứ, tình tiết chứng minh bị cáo không phạm tội Do tính chất phản biện mà LS còn được gọi là " thầy cãi", " trạng sư" khi hành nghề tại pháp đình Tính hợp pháp trong hoạt động TTHS đòi hỏi LS không móc nối hoặc trực tiếp quan hệ với người THTT, người tham gia tố tụng, công chức nhà nước khác nhằm mục đích lôi kéo họ vào việc làm trái quy định của PL trong giải quyết vụ việc; không cung cấp thông tin, chứng cứ mà LS nghi ngờ
là sai sự thật; không tự mình hoặc giúp khách hàng thực hiện những thủ đoạn bất hợp pháp nhằm trì hoãn hoặc kéo dài việc giải quyết vụ việc; không phát biểu trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc nơi công cộng nhằm gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động của cơ quan THTT hoặc
cơ quan nhà nước khác Đồng thời các lý lẽ phản biện của LS phải hoàn toàn dựa trên các quy định PL
1.3.2.3 Đối với các hoạt động nghề nghiệp khác của luật sư (đại
diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc có liên quan đến PL; thực hiện dịch vụ pháp lý khác theo quy định của PL):
- Đại diện ngoài tố tụng: Lĩnh vực này còn mới Đối với khách hàng là các doanh nghiệp, đại diện ngoài tố tụng theo Luật LS được hiểu
Trang 29+ Đại diện khách hàng khởi kiện, đòi bồi thường thiệt hại đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, quyền tác giả nhãn hiệu hàng hóa;
+ Đại diện khách hàng khởi kiện và tham gia tố tụng trước Tòa án các cấp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng trong các
vụ án dân sự, kinh doanh - thương mại, hành chính - lao động (9)
Đối với người dân, đại diện ngoài tố tụng thường gồm các hoạt động: ủy quyền cho LS ký kết hợp đồng dân sự, kinh tế, ủy quyền cho
LS khiếu nại, khởi kiện, giải quyết các tranh chấp dân sự, thương mại, lao động LS còn tham gia với vai trò trung gian giúp các bên hòa giải, giải quyết mâu thuẫn trên cơ sở đôi bên cùng có lợi và bảo mật thông tin
- Thực hiện dịch vụ pháp lý khác theo quy định của PL: Đó là các công việc ngoài phạm vi các hoạt động trên đây, như: giúp đỡ khách hàng thực hiện công việc liên quan đến thủ tục hành chính; giúp đỡ về
PL trong trường hợp giải quyết khiếu nại; dịch thuật, xác nhận giấy tờ, các giao dịch và giúp đỡ khách hàng thực hiện công việc khác theo quy định của PL
Tính hợp pháp trong các hoạt động nghề nghiệp khác của LS (nêu trên đây) đòi hỏi LS am hiểu và thực hiện đúng các quy định về trình tự, thủ tục đại diện, khởi kiện, nắm bắt và thực hiện đúng tinh thần các quy định PL liên quan đến vụ việc Bởi vì trong lĩnh vực mới này, một số quy định PL trực tiếp còn chưa bao quát, điều chỉnh được hết LS phải thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình như: từ chối làm đại diện, từ chối cung cấp dịch vụ pháp lý trong các trường hợp luật định (bất khả kháng hay mâu thuẫn về quyền lợi giữa các khách hàng), đơn phương chấm dứt việc cung cấp dịch vụ pháp lý khi có cơ sở tin rằng, khách
(9): Bộ Tư pháp (2009), Báo cáo tổng hợp kết quả điều tra, khảo sát tổng thể về tổ chức và hoạt động luật sư, phục vụ xây dựng Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020.
Trang 30hàng sử dụng dịch vụ pháp lý của LS để thực hiện hành vi trái PL, vi phạm nghiêm trọng đạo đức xã hội
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nguyên tắc
pháp chế trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư:
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới nguyên tắc PC trong hoạt
động nghề nghiệp của LS, dưới đây là các nhân tố cơ bản:
1.4.1 Nhân tố kinh tế: Kinh tế phát triển sẽ thúc đẩy nhu cầu về
LS, nhu cầu tuân thủ PL để bảo đảm cho xã hội ổn định, vì xã hội ổn định là một nhân tố quan trọng bảo đảm cho kinh tế phát triển Phát triển kinh tế, tăng thu nhập cho người dân thì người dân sẽ có điều kiện sử dụng các dịch vụ pháp lý của luật sư, góp phần thực hiện pháp luật Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò của LS ngày càng cần thiết và quan trọng Thu nhập của LS dần được nâng lên sẽ bảo đảm cơ
sở vật chất cho việc thực hiện các dịch vụ pháp lý của LS
1.4.2 Nhân tố chính trị: Các yếu tố sau có ảnh hưởng đến việc
thực hiện nguyên tắc PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS:
+ Sự lãnh đạo của Đảng Đây là yếu tố hàng đầu, vì Đảng là lực lượng chính trị lớn nhất ở nước ta, là đảng cầm quyền Mọi hoạt động lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng đều được phản ánh trong PL và trong thực hiện PC, tác động sâu sắc đến thực hiện PC
+ Sự phát triển của DC DC là thuộc tính của hoạt động tranh tụng của LS và là yếu tố ngày càng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động nghề nghiệp của LS Trình độ phát triển của nền DC trong xã hội có ý nghĩa quyết định trình độ phát triển DC trong hoạt động LS, trong quan
hệ giữa các cơ quan THTT với LS
+ Sự hình thành và phát triển của xã hội dân sự, quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN: Cùng với quá trình DC hóa đời sống xã hội, sự phát triển của xã hội dân sự, quá trình xây dựng Nhà
Trang 31nước pháp quyền XHCN tác động mạnh mẽ đến hoạt động nghề nghiệp của LS Xã hội dân sự được hiểu là "tổng thể các tổ chức, thiết chế xã hội tự nguyện, không phụ thuộc vào hình thức pháp lý, cùng tự nguyện tham gia vào các hoạt động vì những giá trị, mục tiêu, lợi ích chung" (10) Các tổ chức thuộc xã hội dân sự cùng nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, tích cực tham gia vào các hoạt động quản lý nhà nước và xã hội Các tổ chức thuộc xã hội dân sự nêu sáng kiến xây dựng PL, đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn bản PL (11) Nhà nước pháp quyền XHCN được xây dựng trên cơ sở quản lý xã hội bằng PL, PL có vị trí tối thượng Như vậy, Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự càng phát triển thì hoạt động nghề nghiệp của LS càng được coi trọng, càng được đảm bảo tính
PC
1.4.3 Nhân tố dân trí và văn hoá: Dân trí phát triển, văn hoá
phát triển làm nền tảng cho PL phát triển, yêu cầu về PC tăng lên Khi người dân có trình độ dân trí, trình độ văn hóa cao, họ mới dễ dảng tiếp cận với các quy định của PL, hiểu biết PL và nhận thức được lợi ích của việc thực hiện PL Đối với nghề LS, thực tế cho thấy người dân ở những
xã hội văn minh, có dân trí và trình độ văn hoá phát triển mới có nhiều nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của LS, từ đó góp phần thực hiện PC
và giúp cho hệ thống PL phát triển
1.4.4 Nhân tố xã hội: Nhu cầu xã hội về DC trong tư pháp, về
bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân tác động thường xuyên đến việc tuân thủ Hiến pháp, PL trong hoạt động của LS Chẳng hạn, nhu cầu về LS, về tư vấn PL tác động đến việc phân bố LS ở các khu vực
(10), (11): Theo Nguyễn Minh Đoan (2010), Bài giảng: Xây dựng Nhà nước pháp quyền
gắn với củng cố, phát triển xã hội dân sự.
Trang 32kinh tế, xã hội, tác động đến việc lựa chọn biện pháp trong hành nghề của LS
1.4.5 Nhân tố pháp lý: Có thể nói, hai yếu tố cơ bản ảnh hưởng
đến việc thực hiện nguyên tắc PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS là: mức độ hoàn thiện của các quy định PL về hoạt động này và hoạt động tổ chức thực hiện PL của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
1.4.5.1 Mức độ hoàn thiện của các quy định pháp luật về hoạt động nghề nghiệp của LS:
Các quy định này cần được bảo đảm tính khả thi (tính phù hợp), tính đồng bộ, tính toàn diện, kỹ thuật lập pháp tốt
Một đặc thù của hệ thống PL về LS là các quy định PL về LS và hoạt động nghề nghiệp của LS nằm rải rác trong nhiều văn bản PL, nhiều chế định PL như: Luật LS, chế định về người bào chữa, người bảo
vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự trong Bộ luật TTHS, Bộ luật
TTDS, , các quy định của luật nội dung Vì vậy, đảm bảo tính đồng bộ của chúng là một yếu tố rất quan trọng để bảo đảm nguyên tắc PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS Để được như vậy, cần phải có chiến lược, kế hoạch trong việc xây dựng PL về LS, tránh mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản PL về LS
1.4.5.2 Hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Đây là hoạt động đưa PL vào cuộc sống Thomas Jepferson (1743-1826), Tổng thống thứ ba của Mỹ ( từ 1801-1809), tác giả Bản
Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ đã viết: “Việc thi hành một đạo luật
còn quan trọng hơn sự tạo ra nó” Hoạt động tổ chức thực hiện PL có ý
nghĩa hết sức quan trọng, nó quyết định rằng nguyên tắc PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS có được bảo đảm từ phía các cơ quan Nhà nước không Thực tiễn cho thấy, việc thực hiện PC của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền liên quan đến hoạt động nghề nghiệp của LS tác
Trang 33động lớn đến việc thực hiện PC của LS Nếu cơ quan Nhà nước không tuân thủ PC thì LS không thể tuân thủ được trong hoạt động hành nghề của mình
1.4.6 Nhân tố nghề nghiệp: Những đặc thù trong nghề nghiệp
LS tự bàn thân nó ảnh hưởng thường xuyên đến việc thực hiện nguyên tắc PC Ví dụ: yêu cầu bảo vệ quyền lợi khách hàng, yêu cầu về thu nhập đối với một LS luôn luôn được đặt ra và “đặt trên bàn cân” với yêu cầu bảo vệ sự thật, lẽ phải, từ đó tác động tới quyết định chọn biện pháp nào để đạt được mục đích: đúng luật hay lợi dụng, lách luật Đây là sự thử thách đối với bản lĩnh và đạo đức của LS
Kết luận chương 1: Nghề LS là nghề vận dụng PL Người LS
luôn đứng trước yêu cầu bảo vệ quyền lợi của thân chủ và bảo vệ công
lý, lẽ phải Hai yêu cầu này không phải luôn luôn đồng nhất với nhau Nguyên tắc tối cao của nghề LS là LS phải tuân thủ Hiến pháp, PL Để
có thể bảo vệ quyền lợi của thân chủ - khách hàng trong phạm vi PL cho phép, LS cần phải có ý thức tuân thủ PL, đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn cao, khả năng thuyết phục Đồng thời, cần phải có các điều kiện khác đảm bảo cho LS tuân thủ PC Chương 1 của luận văn đã nêu lên một số vấn đề lý luận về nguyên tắc PC trong hoạt động nghề nghiệp của LS, xác định cách hiểu về nguyên tắc này, mục đích, ý nghĩa, nội dung của nguyên tắc và các nhân tố ảnh hưởng, làm cơ sở để phân tích thực trạng và đề ra giải pháp bảo đảm việc thực hiện nguyên tắc trong các chương sau
Trang 34Đây không phải là toàn bộ cơ sở pháp lý cho hoạt động nghề
nghiệp của LS (đã phân tích ở tiểu mục 1.2.1, chương 1 của luận văn)
mà chủ yếu là các quy định về tổ chức, hoạt động của LS, quy tắc hành nghề của LS Các quy định PL liên quan đến hoạt động nghề nghiệp của
LS (gọi tắt là quy định về LS) nằm trong nhiều văn bản PL, gồm cả văn bản luật và văn bản dưới luật Luật LS là văn bản có hiệu lực pháp lý cao và điều chỉnh khá toàn diện hoạt động nghề nghiệp của LS Quy định PL về LS còn nằm trong các chế định về người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự trong Bộ luật TTHS, Bộ luật TTDS, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính Các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của các Bộ về các hoạt động cụ thể của
LS ( tư vấn PL, TTHS, TTDS) cũng là văn bản chứa các quy định PL về
LS Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn, chỉ đi sâu nghiên cứu các quy định thuộc các văn bản luật, pháp lệnh hiện hành
2.1.1 Về Luật Luật sư:
Luật LS được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007 Pháp lệnh LS năm 2001 hết hiệu lực kể từ ngày Luật LS có hiệu lực
Nếu như nói Pháp lệnh LS năm 2001 là bước tiến quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế LS ở nước ta, đưa chế định LS của nước ta xích gần với thông lệ quốc tế, thì Luật LS năm
2007 tiếp tục hoàn thiện chế định LS Với các quy định về nguyên tắc, điều kiện, phạm vi, hình thức hành nghề, tiêu chuẩn, quyền và nghĩa vụ
Trang 35của LS, tổ chức hành nghề LS, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của LS, quản lý hành nghề LS, hành nghề của tổ chức hành nghề LS nước ngoài,
LS nước ngoài tại Việt Nam, Luật LS đã xác lập cơ sở pháp lý có hiệu
lực cao (chỉ sau Hiến pháp), có giá trị lâu dài cho tổ chức và hoạt động nghề nghiệp của LS, cho hoạt động quản lý LS
Luật LS đã thể chế hóa Nghị quyết số 48- NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống PL Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, hoàn thiện thể chế PL nhằm phát triển đội ngũ LS đủ về số lượng, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, vững về bản lĩnh chính trị, trong sáng về đạo đức nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với chất lượng dịch vụ pháp lý của LS, phục vụ đắc lực cho công cuộc cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế Luật tăng cường trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm nghề nghiệp của LS trong hành nghề, đặc biệt là việc tuân thủ PL, giữ gìn đạo đức nghề nghiệp, kỷ luật hành nghề; đồng thời hoàn thiện cơ chế bảo đảm để LS thực hiện tốt các quyền, nghĩa vụ của mình Luật phân định rõ và hợp lý giữa công tác quản lý nhà nước về LS và chế độ tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của
LS theo hướng Nhà nước chỉ làm những gì thuộc về chức năng, nhiệm
vụ của Nhà nước, tổ chức xã hội – nghề nghiệp phát huy vai trò tự quản đối với LS và tổ chức hành nghề LS
Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, Luật LS cũng còn những hạn chế nhất định Theo đánh giá của một số LS có tên tuổi, những hạn chế
đó là: Trong việc cấp giấy chứng nhận bào chữa cho LS: thủ tục để cấp giấy còn rườm rà, quy định tới 03 loại giấy tờ mà LS phải có để được cấp giấy chứng nhận bào chữa Trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người bào chữa: Luật có nhiều quy định về nghĩa vụ của LS nhưng quy định ít hơn về quyền của LS (Điều này được chứng minh bằng so
Trang 36sánh số lượng quy định về quyền và số lượng quy định về nghĩa vụ của
LS trong Luật này tại các Điều 21: Quyền, nghĩa vụ của LS, Điều 39: Quyền của tổ chức hành nghề LS, Điều 40: Nghĩa vụ của tổ chức hành nghề LS, Điều 52: Quyền, nghĩa vụ của LS hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng dịch vụ pháp lý) Đây cũng là tình trạng chung của các văn bản PL có liên quan đến LS
2.1.2 Về Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bộ luật TTHS hiện hành được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003, có hiệu lực từ ngày 1/7/2004 Hiện nay, sau 7 năm thực hiện, Bộ luật đang được chuẩn bị sửa đổi
So với Bộ luật TTHS trước đó và các Luật Sửa đổi, bổ sung Bộ
luật, các quy định liên quan đến LS của Bộ luật TTHS 2003 đã có nhiều điểm mới, thể hiện tính DC và phù hợp với thực tiễn hơn trước Chẳng hạn, tăng thẩm quyền xét xử cho Tòa án cấp huyện Người bào chữa được tham gia tố tụng ngay từ khi đối tượng bị tạm giữ (trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81, 82 Bộ luật TTHS), khởi tố bị can Những người này cũng được phép có mặt trong các cuộc lấy lời khai của người bị tạm giữ và hỏi cung bị can tại cơ quan điều tra Đặc biệt, họ còn được phép tiếp cận nhiều hơn với hồ sơ vụ án ngay khi kết thúc điều tra
Tuy vậy, một số quy định về LS của Bộ luật TTHS cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập như:
- Thứ nhất, Bộ luật TTHS vẫn chưa coi LS là một chức danh tư
pháp độc lập "Điểm bất hợp lý hết sức quan trọng là ngay "thư ký phiên toà” cũng được coi là người THTT, trong khi người bào chữa (trong đó
có LS) chỉ là người tham gia tố tụng, ngang hàng với bị can, bị cáo, đương sự, giám định viên hoặc người phiên dịch " (12) Điều đó dẫn đến
(12): Phan Trung Hoài (2003), “ Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư ở
Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ luật học (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh).
Trang 37vị thế bất bình đẳng của LS với cơ quan THTT, người THTT trong tranh tụng nói riêng, tham gia TTHS nói chung LS thường bị nhìn nhận ở vị trí thấp hơn so với các cơ quan THTT, người THTT, trái với bản chất của hoạt động nghề nghiệp của LS là độc lập với cơ quan buộc tội và cơ quan xét xử, phản biện, góp phần đem lại công lý
- Thứ hai, quy định về cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho
LS đã bất cập Điều 56 của Bộ luật quy định: " Trong thời hạn ba ngày
kể từ ngày nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải xem xét, cấp giấy chứng nhận người bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa"
Theo Bộ luật, giấy chứng nhận bào chữa chỉ có giá trị trong từng giai đoạn tố tụng Điều này gây phiền hà cho LS và việc bảo vệ quyền lợi của đương sự Do đó, Luật LS ( 2007) đã quy định: giấy chứng nhận tham gia tố tụng của LS có giá trị trong các giai đoạn tố tụng, trừ trường hợp bị thu hồi, LS bị thay đổi hoặc không được tham gia tố tụng theo quy định của PL
Về nguyên tắc, theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm PL, trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì
áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau Như vậy quy định của Luật LS trên đây được áp dụng Tuy nhiên để đảm bảo tính đồng bộ của các quy định PL về LS, tránh sự nhận thức và áp dụng không đúng, cần phải sửa đổi quy định trên của Bộ luật TTHS
- Thứ ba, quy định về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa chưa
khả thi, chưa đáp ứng yêu cầu của việc hành nghề LS Điều 58 Bộ luật TTHS quy định: "Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can Người bào chữa có quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu ĐTV đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ,
Trang 38bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem các biên bản
về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa" Tuy nhiên, luật chưa quy định
cơ chế bảo đảm cho việc thực hiện các quyền trên Người bào chữa ít khi được tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can Thường thường, họ chỉ được tham gia nếu là LS chỉ định do cơ quan điều tra mời (đối với những vụ án mà PL quy định nhất thiết phải có LS bào chữa) Cơ quan điều tra thường viện nhiều lý do để LS không được tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can Mặt khác, quy định "nếu ĐTV đồng ý thì LS được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác" đã biến việc thực hiện quyền của LS thành cơ chế "xin- cho" Tất nhiên, nếu nhìn dưới góc độ của cơ quan điều tra thì quy định này có thể
là cần thiết (để đảm bảo bí mật của việc điều tra, để tránh việc LS có thể
"tạo điều kiện" cho người bị tạm giữ, bị can khai báo quanh co, gây khó khăn cho cơ quan điều tra) Tuy nhiên, xét trên hai góc độ lập pháp và thực tiễn, quy định này không ổn vì chẳng có ĐTV nào muốn đồng ý cho LS được thực hiện quyền trên để "gây khó" cho hoạt động của mình (nếu không có cơ chế bắt buộc) Quy định trên đã mang tính hình thức ngay từ khi Bộ luật TTHS có hiệu lực!
Điều 58 Bộ luật TTHS còn quy định: " Người bào chữa làm trái
PL thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa, xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của PL" Nhưng tại Chương III Bộ luật: " Cơ quan THTT, người THTT và việc thay đổi người THTT", trong các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm của những người THTT đều chỉ viết chung chung, với cấu trúc cơ bản là: "Người THTT phải chịu trách nhiệm trước PL và trước thủ trưởng cơ quan THTT về hành vi và quyết định của mình"
Trong các điều khoản của BLHS và các văn bản quy định về xử phạt vi
Trang 39phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp, các hành vi của ngư ời THTT cản trở hoặc xâm phạm quyền bào chữa và nhờ người khác bào chữa, cản trở LS thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đều chưa được quy định rõ nét như quy định về các hình thức xử lý đối với LS trên đây Cụ thể, không có điều luật nào quy định tội danh xâm phạm quyền bào chữa trong BLHS Không có quy định về xử lý vi phạm hành chính đối
với hành vi này! Điều đó phần nào thể hiện sự chưa coi trọng vị thế của
LS, chưa coi LS thực sự bình đẳng về quyền, nghĩa vụ pháp lý với người THTT
Ngoài ra, quyền thu thập chứng cứ của LS chưa được quy định Điều 63 của Bộ luật chỉ quy định thẩm quyền thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án Nếu LS tự tiến hành các biện pháp điều tra, thu thập chứng cứ, thì kết quả điều tra và những chứng cứ đó chỉ có giá trị pháp lý khi được các cơ quan tiến hành tố tụng công nhận
2.1.3 Về Bộ luật Tố tụng dân sự và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính:
Bộ luật TTDS được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2004, có hiệu lực từ ngày 01/01/2005 Bộ luật quy định tại Điều 63 về Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, trong đó khoản 2 điểm a nêu rõ: LS tham gia tố tụng theo quy định của PL về LS Điều 64 quy định quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ quyền lợi của đương sự Nhìn chung, do tính chất của giải quyết tranh chấp dân sự là tôn trọng thỏa thuận của các bên đương sự, coi trọng quyền quyết định và tự định đoạt
của đương sự ("Việc dân sự cốt ở đôi bên" (Nguyên Bộ trưởng Tư pháp
Nguyễn Đình Lộc), không có ý nghĩa "cốt tử" đối với tính mạng, tự do của con người như ở lĩnh vực hình sự nên quyền và nghĩa vụ của LS được quy định thông thoáng hơn ở Bộ luật TTHS LS có quyền xác minh, thu thập chứng cứ và cung cấp chứng cứ cho Tòa án, tham gia tố tụng từ khi khởi kiện hoặc bất cứ giai đoạn nào trong quá trình TTDS
Trang 40Tuy vậy, Bộ luật TTDS đã bộc lộ một số bất cập và đang được dự thảo sửa đổi (dự kiến thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật TTDS trong năm 2011) Một sửa đổi quan trọng là việc bảo đảm quyền tranh luận trong TTDS: "Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, Tòa án bảo đảm để các bên đương sự và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh luận để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự" (13)
Về Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính: Điều 19 Pháp lệnh quy định:Những người tham gia TTHC gồm đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch Đương sự tự mình hoặc có thể nhờ LS hay người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền: Tham gia tố tụng từ khi khởi kiện; Cung cấp tài liệu, chứng cứ, đề đạt yêu cầu, đọc hồ sơ vụ án, sao chép những điểm cần thiết trong hồ sơ vụ án, tham gia phiên toà Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có nghĩa vụ sử dụng các quyền tố tụng theo quy định của PL để góp phần làm sáng tỏ sự thật của vụ án Như vậy Pháp lệnh đã quy định khá cụ thể các quyền và nghĩa vụ của LS với
tư cách người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong vụ án hành chính
Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các vụ án hành chính trong những năm qua cho thấy các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án hành chính đã bộc lộ những hạn chế và bất cập; có những quy định mâu thuẫn với quy định của các văn bản quy phạm PL khác (như quy định của Luật khiếu nại, tố cáo, Luật đất đai…); có những quy định chưa phù hợp (hoặc không còn phù hợp), chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng và còn có những cách hiểu khác nhau, đặc biệt là các quy định về thẩm
(13): Điều 23a Dự thảo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự ( trình
Uỷ ban thường vụ Quốc hội tại phiên họp tháng 3/2011)