1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

BỘ ĂN SÂU BỌ

4 900 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bộ ăn sâu bọ
Chuyên ngành Sinh học
Thể loại Bài tổng hợp
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 185,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ ĂN SÂU BỌ Bộ Ăn sâu bọ Thời điểm hóa thạch: Cuối kỷ Phấn Trắng – Gần đây Nhím gai châu Âu Erinaceus europaeus Phân loại khoa học Giới regnum: Animalia Ngành phylum: Chordata Lớp cla

Trang 1

BỘ ĂN SÂU BỌ

Bộ Ăn sâu bọ

Thời điểm hóa thạch: Cuối kỷ Phấn Trắng –

Gần đây

Nhím gai châu Âu

Erinaceus europaeus

Phân loại khoa học

Giới (regnum): Animalia

Ngành

(phylum):

Chordata

Lớp (class): Mammalia

Bộ (ordo): Insectivora

Haeckel, 1866

Trang 2

Bộ Ăn sâu bọ (danh pháp khoa học: Insectivora, từ tiếng Latinh insectum "côn trùng, sâu

bọ" và vorare "ăn") là một cách gộp nhóm động vật hiện nay đã bị loại bỏ, nằm trong lớp

động vật có vú (lớp Thú)

Trong quá khứ, việc gộp nhóm này được sử dụng như là một giỏ chứa đồ vụn để chứa hàng loạt các động vật có vú với kích thước từ nhỏ tới rất nhỏ, ăn côn trùng, và tương đối

là không chuyên dụng Do bất kỳ nhóm hóa thạch nhìn có vẻ nguyên thủy nào đó của thú

có nhau (rau thai) thông thường hay được đặt vào bộ này vì mục đích tiện lợi, nên nó đã được giữ để cấu thành một cái kho cơ bản mà ngoài nó thì các bộ thú có nhau thai khác

đã tiến hóa Vì thế, khi nó được mở rộng ra thì bộ Insectivora là một bộ đa ngành và không thể coi là một nhánh sinh học thích hợp

Việc phân loại bộ này đã được điều chỉnh và sửa chữa lại trong những năm gần đây Các loài chuột chù cây, chuột chù voi và chồn dơi đã được tách ra thành các bộ khác nhau, lần lượt là bộ Scandentia, Macroscelidea và Dermoptera, do có nhiều nhóm hóa thạch trước kia đã được đưa vào trong này Trong một khoảng thời gian, nó đã được duy trì vì người

ta cho rằng các họ động vật ăn sâu bọ còn lại tạo thành một kiểu gộp nhóm đơn ngành,

hay một nhánh, mà đối với nó tên gọi khoa học Lipotyphla đã được áp dụng từ lâu Tuy

nhiên, các chứng cứ ở mức phân tử chỉ ra rằng các họ Chrysochloridae (các loài chuột chũi vàng) và Tenrecidae (các loài tenrec) cũng cần phải tách ra thành một bộ riêng gọi là Afrosoricida Các loài còn lại trong nhánh Insectivora sau đó được nhắc đến dưới tên gọi

chung là bộ Eulipotyphla Sau những nghiên cứu cẩn thận tiếp theo, các chứng cứ cũng

chỉ ra rằng thậm chí họ Erinaceidae (các loài nhím gai) cũng phải được đặt trong bộ riêng đối với phần còn lại, bao gồm các họ Soricidae (các loài chuột chù), Talpidae (các loài chuột chũi), Solenodontidae và Nesophontidae[1] Hai bộ mới với tên gọi tương ứng là Erinaceomorpha (bộ Nhím gai) và Soricomorpha (bộ Chuột chù) hiện nay đã thay thế cho

bộ Insectivora

o Các họ đã từng được đặt trong bộ Insectivora và được tách ra muộn hơn:

Trang 3

ƒ Họ Erinaceidae: nhím gai và chuột chù núi cao, chuyển sang bộ

Soricomorpha

ƒ Phân họ Erinaceinae: nhím gai

ƒ Phân họ Hylomyinae: chuột chù núi cao

ƒ Phân họ Crocidurinae: chuột chù răng trắng

ƒ Phân họ Soricinae: chuột chù răng đỏ

ƒ Phân họ Myosoricinae: chuột chù răng trắng châu Phi

ƒ Phân họ Desmaninae: desman

ƒ Phân họ Talpinae: chuột chũi, chuyển sang bộ Soricomorpha

ƒ Phân họ Uropsilinae: chuột chũi dạng chuột chù

Soricomorpha

bộ Soricomorpha

o Các họ khác đã từng được đặt trong bộ Insectivora và được tách ra sớm hơn:

ƒ Họ Chrysochloridae: chuột chũi vàng, chuyển sang bộ

Afrosoricida

Trang 4

ƒ Họ Tenrecidae: tenrec, chuyển sang bộ Afrosoricida

ƒ Họ Macroscelididae: chuột chù voi, chuyển sanng bộ Macroscelidea

ƒ Họ Tupaiidae: chuột chù cây, chuyển sang bộ Scandentia

ƒ Họ Cynocephalidae: chồn dơi, chuyển sang bộ Dermoptera

Cũng cần lưu ý là các động vật ăn sâu bọ nói chung (khi xem xét dưới góc độ của hốc sinh thái) không phải tất cả đều thuộc về bộ Insectivora

Ngày đăng: 23/10/2013, 13:15

Xem thêm

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN