- Đây là vùng tận cùng phía Tây Nam của Tổ quốc - Vùng này nằm liền kề với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, vùng phát triển năng động nhất của Việt Nam và gần các nước Đông Nam Á - Nằm
Trang 15.8 VÙNG KINH TẾ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Trang 25.8.1 Vị trí địa lý
- Diện tích tự nhiên: 40.604,8 km2, chiếm 12,26 % diện tích cả nước
- Dân số 17.523.900 người, chiếm 20,59 % dân số cả nước (2007)
- Bao gồm 13 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Thành phố Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, An Giang và Kiên Giang
- Đây là vùng tận cùng phía Tây Nam của Tổ quốc
- Vùng này nằm liền kề với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, vùng phát triển năng động nhất của Việt Nam và gần các nước Đông Nam Á
- Nằm trong khu vực có đường giao thông hàng hải và hàng không quốc tế quan trọng, giữa Nam Á và Đông Á , Châu Úc và các quần đảo khác trong Thái Bình Dương
Trang 35.8.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
5.8.2.1 Địa hình
5.8.2.1 Địa hình
- Địa hình của vùng tương đối bằng phẳng Độ cao trung bình so với mặt biển là 3 -5 m
- Địa hình Đồng bằng sông Cửu long có thể chia thành hai phần
chính, bao gồm phần đất nằm trong phạm vi tác động của các nhánh sông Cửu Long (gọi là thượng và hạ châu thổ) và phần đất nằm
ngoài phạm vi tác động đó ( đồng bằng phù sa ở rìa)
- Phần thượng châu thổ là một khu vực tương đối cao (2 – 4 m, có nơi tới 5 m so với mặt biển), nhưng vẫn bị ngập nước vào mùa mưa vùng nước tù đứt đoạn
- Phần hạ châu thổ thấp hơn, thường xuyên chịu tác động của thủy triều và sóng biển
Trang 45.8.2.2 Khí hậu
- Có nền khí hậu nhiệt đới ẩm với tính chất cận xích đạo thể hiện rõ rệt
- Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 24 - 27oC Biên độ nhiệt trung
bình hàng năm chỉ 2 - 30C, chênh lệch nhiệt độ ngày đêm ít
- Tổng tích ôn cao từ 9.5000C – 10.0000C, ít có bão hoặc nhiễu loạn thời tiết
- Lượng mưa lớn, mưa theo mùa Mùa mưa tập trung từ tháng 5 -
10, Lượng mưa chiếm tới 99 % tổng lượng mưa cả năm Mùa khô kéo dài từ tháng 12 dến tháng 4 năm sau Vào mùa này hầu như
không có mưa
- Số giờ nắng tháng 2 - 3 là 8 - 9 giờ/ ngày, tháng 8 - 9 là 4,5 -5,3
giờ/ngày
Trang 65.8.2.3 Đất đai
+ Nhóm đất phù sa phân bố chủ yếu ở vùng ven và giữa hệ thống sông Tiền và sông Hậu, chiếm diện tích 1,2 triệu ha (29,7 % diện tích toàn vùng và khoảng 1/3 tổng diện tích đất phù sa của cả nước) #
+ Nhóm đất phèn phân bố tập trung ở vùng Đồng Tháp Mười, vùng
Hà Tiên, vùng trũng trung tâm bán đảo Cà Mau với trên 1,6 triệu ha ( 40 % diện tích toàn vùng)
+ Nhóm đất mặn phân bố dọc theo vành đai ven biển Đông và vịnh Thái Lan, chịu ảnh hưởng sự xâm nhập của nước biển theo hệ thống sông rạch, thường được rửa mặn nhanh chóng ở lớp mặt vào mùa mưa
Trang 7 + Nhóm đất xám diện tích trên 134.000ha (3.4% diện tích toàn vùng), phân bố chủ yếu dọc biên giới với Campuchia, trên các bậc thềm phù sa vùng Đồng Tháp Mười Đất nhẹ, tơi xốp, độ phì thấp nhưng không có hạn chế lớn về độc tố.
+ Các nhóm đất khác (đất cát giồng, than bùn, đất đỏ vàng, đất xói mòn… ) chiếm diện tích không đáng kể (khoảng 0,9 % diện tích toàn vùng)
Trang 8 5.8.2.4 Nguồn nước
Dòng Cửu Long là phần hạ lưu của sông Mê Công, khi vào lãnh thổ Việt Nam được chia thành hai nhánh Tiền Giang và Hậu Giang để từ đó đổ ra biển bằng 9 cửa sông
Tổng lượng nước trong năm của hệ thống sông Cửu Long là 500 tỷ m3, trong đó sông Tiền chiếm 79 % , sông Hậu chiếm 21 % Chế độ thủy văn thay đổi theo mùa
Đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống kênh rạch khá dầy đặc
Trang 10 Chế độ thủy triều ở vùng này có những đặc trưng riêng ở bờ Đông
và bờ Tây Bờ biển hàng năm được phù sa bù đắp, đặc biệt là vùng đất Mũi Đây là vùng thứ 2 ở nước ta hàng năm diện tích lãnh thổ được mở rộng ra biển bởi phù sa sông
Nước ngầm ở Đồng bằng sông Cửu Long khá phức tạp Những
nghiên cứu bước đầu cho thấy nước ngầm chủ yếu ở độ sâu trên
100 m Nếu khai thác quá mức, mạch nước ngầm sẽ bị hạ thấp dễ dẫn đến hiện tượng ngấm nước mặn vào và ảnh hưởng tới hệ sinh thái
Trang 115.8.2.5 Sinh vật
Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những vùng có nguồn tài nguyên sinh vật phong phú và đặc trưng ở nước ta
Về thực vật tự nhiên, đáng chú ý nhất là các vùng ngập mặn ven biển Rừng ngập mặn Bạc Liêu, Cà mau có trên 150.000 ha Loại rừng này có 46 loài, chủ yếu là đước
Rừng ngập mặn ở Việt Nam phân bố dọc theo bờ biển từ Bắc vào Nam,gồm Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang đặc biệt là vùng đất mũi Cà Mau
Đối với Đồng bằng sông Cửu Long hệ sinh thái vùng ngập mặn có giá trị không chỉ về kinh tế mà còn về sinh học và môi trường
Trang 13- Về động vật, có ý nghĩa kinh tế nhất là các loài động vật sinh sống dưới nước, đặc biệt là tôm và cá, trữ lượng cá vùng này lớn nhất cả nước, phân bố chủ yếu ở các khu vực cửa sông và vùng vịnh Thái Lan,…
-Thủy sản trong nội địa chủ yếu là tôm, cá nước ngọt, nước lợ trong các sông ngòi, kênh rạch, vùng trũng
-Về đông vật trên cạn, đáng quan tâm nhất là các loài chim tự nhiên, hình thành nhiều khu vực trú ngụ của các loài chim, tạo thành những vườn chim độc đáo Thực chất đây là hệ sinh thái đặc trưng của vùng ( cá – rừng – chim ), tạo thành một trạng thái cân bằng ổn định
Trang 145.8.2.6 Khoáng sản
- Khoáng sản ở vùng này không đáng kể, ngoài một số loại như đá vôi, cát và than bùn
- Đá vôi phân bố chủ yếu tại khu vực Hà Tiên, Kiên Lương
- Than bùn chủ yếu được khai thác tại các khu vực đầm lầy và ven bờ Than bùn được phân bố ở tứ giác Long Xuyên (3.500 ha ), Cần Thơ, Sóc Trăng, U Minh (32.600 ha), Cà Mau (2.900ha) và Kiên Giang (3.000 ha ) Trữ lượng trong toàn vùng có khoảng 400 triệu tấn Trong
số này lớn nhất tại U Minh khoảng 300 triệu tấn…
- Đồng bằng sông Cửu Long có một số nguồn nước khoáng
+ Trung Lương thuộc Tiền Giang (nhiệt độ nước 380C, độ khoáng hóa 0,5 g/lít )
+ Vĩnh Long (nhiệt độ nước 390C, độ khoáng hóa 0,4 g/lít )
+ Sóc Trăng nhiệt độ nước 39,50C, độ khoáng 3,9 g/lít) + Bạc Liêu (nhiệt độ nước 380C, độ khoáng 1,3 g/ lít)
Trang 155.8.3 Tài nguyên nhân văn
- Đồng bằng sông Cửu Long được bồi đắp bởi phù sa của con sông cùng tên So với các vùng khác, vùng này được hình thành muộn hơn
- Số dân là 17.523.900 người, chiếm 20,59 % dân số cả nước (2007) với mật độ trung bình mật độ là 432 người/km2 Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên ở mức cao (2,3 % ), gia tăng cơ học cũng ở mức cao hơn so với các vùng khác
- Đồng bằng sông Cửu Long có cơ cấu dân số trẻ với tháp tuổi rộng ở chân đáy và bắt đầu thu hẹp lại ở độ tuổi 35
Trang 16- Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm nhiều dân tộc khác nhau, song bao gồm chủ yếu vẫn là người Kinh Tiếp theo là người Khơme (6,1%) ,Người Hoa cũng khá đông (1,7%) Các dân tộc còn lại chỉ chiếm 0,2 % dân số
- Dân cư ở Đồng bằng sông Cửu Long phân bố không đồng đều
Về truyền thống và tập quán sản xuất, nhân dân có nhiều kinh nghiệm trong nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa nước ở các loại địa hình khác nhau
- Người dân ở đây vốn cần cù lao động, thẳng thắn, thật thà,
có lòng yêu nước sâu sắc và năng động nhạy bén với sản xuất hàng hoá
Trang 17khơ me
Trang 185.8.4 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội
5.8.4.1 Về sự phát triển
- Đồng bằng sông Cửu Long là vùng trọng điểm sản xuất lương thực lớn nhất của toàn quốc, đặc biệt là cây lúa; đồng thời cũng là vùng
có nhiều nông sản hàng hóa
- Với 21% số dân cả nước, vùng này đã góp 17,5 % GDP cả nước GDP bình quân theo đầu người bằng 84 % mức trung bình của cả nước
Trang 19Trong cơ cấu nông nghiệp cây lương thực chiếm ưu thế tuyệt đối Đến năm 2002, diện tích cây lương thực là 3.839,6 nghìn ha và sản lượng đạt 17.576,5 nghìn tấn, chiếm 46.2 % diện tích và 48.3 % sản lượng lương thực cả nước
- Năng suất lúa ngày càng được nâng cao từ 20,1tạ /ha năm
1986 đến 40,2 tạ/ha năm 1995 năm 2002 đạt 45,8 tạ/ha, cao nhất trong
cả nước
Trang 20Vựa lúa
Trang 21- Cơ cấu mùa vụ cũng đã thay đổi: một vụ, hai vụ, ba vụ…
Ngoài cây lúa, ở vùng này còn trồng hoa màu, cây ăn quả và cây lâu năm có xu hướng tăng
- Ngành chăn nuôi của Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều điều kiện để phát triển, đặc biệt là gia súc, gia cầm và thủy sản
Đồng bằng sông Cửu Long có truyền thống nuôi vịt Nguồn thức ăn chính là lúa rơi rụng trong mùa gặt và nguồn thủy sản phong phú (tôm,
cá, ốc, cua…) Hiện nay trong tổng số 34,9 triệu gia cầm thì vịt là chủ yếu đàn vịt chiếm 26 % đàn gia cầm của cả nước (năm 2002) và được nuôi nhiều nhất ở Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà vinh
Trang 22Thủy hải sản
Đồng bằng sông Cửu Long có 736 km bờ biển với vùng thềm lục địa rộng lớn Tiềm năng hải sản có khả năng cho phép khai thác hàng năm khoảng 600 – 630 nghìn tấn
Nghề cá của vùng trong những năm qua đã phát triển mạnh cả
về sản lượng (giá trị sản lượng chiếm 42 – 45 % của cả nước), về giá trị kim ngạch xuất khẩu (37 – 42 % xuất khẩu cả nước), lẫn về cơ sở vật chất kỹ thuật
Tôm là loại hàng hóa rất được ưa chuộng trong nước và thế giới Tôm nuôi ở các “vuông” ven biển
Ngoài ra, trong vùng còn có tập quán nuôi cá bè hoặc cá tra trong các ao hoặc đìa
Trang 23Điều đáng chú ý là vì chạy theo lợi nhuận , trong những năm gần đây nhiều khu rừng đước, rừng tràm bị chăt phá trên một diện tích rộng lớn để phát triển các vuông tôm, nhưng lại không có quy trình quy phạm, không tuân thủ các quy luật sinh thái cơ bản Do đó, hậu quả đối với môi trường là nghiêm trọng.Ngoài ra trong vùng còn nuôi nhiều loại thủy sản khác có giá trị kinh tế cao như: lươn, ốc, cua, ếch, đồi mồi Đây cũng là những nguồn lợi xuất khẩu có giá trị.
Trang 24Lâm nghiệp
Ngành lâm nghiêp có nhiều cố gắng để khôi phục lại rừng tràm trên các vùng đất phèn mặn, duy trì và mở rộng diện tích rừng ngập mặn ven biển, phát động trồng cây phân tán Việc trồng tràm và cây phân tán phát triển khá tốt Tuy nhiên, do không khắc phục được nạn cháy rừng nên diện tích rừng trong mấy năm gần đây bị sút giảm nhanh chóng
Sản lượng gỗ khai thác hàng năm hiện nay ước khoảng 5 triệu m3; 2,6 triệu m3 củi
Trang 25Công nghiệp
- Trong ngành công nghiệp, hơn 60 % giá trị gia tăng hàng năm được tạo ra từ 2 ngành chế biến lương thực và thực phẩm Các ngành khác như công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, dệt, may mặc
và hóa chất có sự tăng trưởng nhanh trong thời gian vừa qua
Công nghiêp chế biến lương thực – thực phẩm khá phát đạt Đây là ngành có tỉ trọng lớn trong toàn bộ nền công nghiệp của vùng
Ngành quan trọng thứ hai là công nghiệp vật liệu xây dựng, chiếm 12 % giá trị gia tăng của công nghiệp Ngành này được phát triển là do nhu cầu xây dựng ngày càng tăng, đồng thời trong vùng có nguồn nguyên liệu đá vôi, đất sét và cát
Trang 26+ Hệ sinh thái rừng ngập mặn Cà Mau + Điểm du lịch Phú Quốc (Kiên Giang) với hòn đảo lớn nhất nước ta có diện tích 557 km2
+ Núi Sam (An Giang) là một thắng cảnh nổi tiếng Núi cao 250
m, nơi có nhiều di tích như chùa cổ Tây An, miếu Bà Chúa Xứ…
Ngoài ra, trong vùng còn có hàng loạt điểm du lịch khác Đó là bảo tàng Long An, sông Vàm Cỏ (Long An)
Trang 275.8.5 Hệ thống đô thị và giao thông
5.8.5.1 Hệ thống đô thị
- Hệ thống đô thị phân bố tương đối đều trên khắp địa bàn đồng bằng Trung bình cứ 414 km2 có 1 điểm đô thị Tuy nhiên, có những nơi mật độ đô thị cao như vùng ven sông Tiền và sông Hậu (bình quân khoảng 150 - 200km2/đô thị), trong khi đó ở vùng sâu, vùng xa như Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên thì trên 1.000 km2 mới có một
đô thị) So với Đồng bằng Sông Hồng, mật độ đô thị thấp hơn 1,5 lần
- Các đô thị lớn trong vùng là Cần Thơ (340.000 dân), Long Xuyên (262.000 dân), Rạch Giá, Cà Mau, Mỹ Tho (khoảng 170 - 180 nghìn dân)
Trang 285.8.6 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội
5.8.6.1 Đồng bằng Sông Cửu Long trong tổng thể kinh tế - xã hội của
cả nước
- Đồng bằng Sông Cửu Long nằm giữa một khu vực kinh tế năng động, giáp với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là một trong những đồng bằng châu thổ phì nhiêu nhất ở Đông Nam Á
- Đồng bằng Sông Cửu Long có bờ biển dài và thềm lục điạ rộng, thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển
- Nhờ có điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi, ở đây đã phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới, có khối lượng hàng hóa lớn vào bậc nhất nước ta
- Nhân dân vùng giàu truyền thống cách mạng, thông minh, sáng tạo
- Lương thực là sản phẩm lớn nhất ở đây, sau đó đến hoa quả, thực phẩm, nông,thủy hải sản, vật liệu xây dựng…
Trang 295.8.5.2 Hệ thống giao thông vận tải
- Đường thủy
- Đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống giao thông đường thủy dày đặc
- Hệ thống sông ngòi ở đây chằng chịt, với tổng chiều dài 4.952
km bao gồm 197 con sông và kênh, rạch
Hai tuyến đường giao thông đường thủy quan trọng nhất là thành phố
Hồ Chí Minh – Kiên Lương và thành phố Hồ Chí Minh – Cà Mau
- Trong vùng có hệ thống cảng nội địa trải khắp mạng lưới tuyến đường thủy Các cảng chính gồm có: Mỹ Tho (An Giang), Cao lãnh (Đồng Tháp), Trà Nóc (Cần Thơ)…
Trang 30- Đường hàng không
Đường hàng không với các sân bay Trà Nóc (Cần Thơ), Rạch Giá và Phú Quốc (Kiên Giang) đang được khai thác
Trang 31- Những khó khăn, hạn chế của vùng là:
+ Kết cầu hạ tầng, nhất là về giao thông, hệ thống cung cấp nước, điện, thông tin liên lạc đang trong tình trạng yếu kém, đòi hỏi phải có thời gian và vồn đầu tư lớn
+ Vần đề lũ lụt là một hạn chế cần khắc phục, mà một trong những giải pháp là “sống chung với lũ”
+ Trình độ dân trí còn thấp so với một số vùng khác, lao động kỹ thuật cao còn yếu
+ Công nghiệp chưa phát triển mạnh Dù nông nghiệp, ngư nghiệp
có phát triển, nhưng mức thu nhập của cư dân vẫn thấp, tỉ lệ tích lũy từ nội
bộ nền kinh tế kém Nếu chỉ dựa vào việc phát triển sản xuất ở các khu vực truyền thống (nông, ngư nghiệp) thì về lâu dài sẽ gặp nhiều khó khăn
Trang 325.8.6.2 Định hướng phát triển
- Về nông nghiệp:
+ Mũi nhọn kinh tế của vùng là lương thực và thực phẩm nên cần phấn đấu đạt mỗi năm 16 - 18 triệu tấn lương thực quy thóc, trong
đó chủ yếu là lúa gạo xuất khẩu
+ Xây dựng nền nông nghiệp sinh thái phát triển bền vững; tăng
tỉ suất hàng hóa nông sản, mở rộng thị trường, góp phần phục vụ xuất khẩu
Trang 33- Về thủy, hải sản:
+ Tăng cường tiềm lực cho ngành này để có thể đóng góp
50 % giá trị xuất khẩu thủy, hải sản của cả nước Đầu tư trang thiết
bị hiện đại cho các phương tiện để từng bước đẩy mạnh việc đánh bắt xa bờ.
+ Phát triển nuôi trồng thủy hải sản có giá trị cao như tôm, cua và các loại đặc sản có giá trị xuất khẩu Khuyến khích các mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện của vùng
5.8.6 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội
Trang 34- Công nghiệp
+ Chú trọng phát triển công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm Phát triển các ngành may mặc , dệt, da giầy, cơ khí điện tử, vật liệu xây dựng, hóa chất, chế biến thức ăn gia súc
+ Đầu tư phát triển các khu công nghiệp: Trà Nóc, Nam Hưng Phú, Vị Thanh Từng bước xây dựng khu công nghiệp theo phương châm làm dứt điểm từng khu, không dàn trải để đạt hiệu quả kinh tế cao
+ Tập trung phát triển các ngành công nghiệp có khả năng tận dụng nguồn lao động tại chỗ, bố trí phân tán với những nhà máy có quy
mô vừa và nhỏ, có công nghệ tiên tiến nhằm giải quyết việc làm và góp phần công nghiệp hóa nông thôn
5.8.6 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội