Bài báo này là một tổng kết về lịch sử, xu hướng và sự phát triển trong tương lai cả về các nghiên cứu học thuật cũng như những ứng dụng thực tiễn của việc giải quyết tranh chấp và xu
Trang 1Ngày nhận bài: 29/10/2016
Ngày sửa bài: 21/11/2016
Ngày chấp nhận đăng: 5/12/2016
Ứng dụng system dynamic quản lý các tranh chấp
trong dự án xây dựng
Application of system dynamic for dispute resolution in construction projects
Phạm Hồng Luân, Đỗ Công Nguyên,
Bùi Hoàng An
TÓM TẮT:
Trong ngành xây dựng, tranh chấp được xem như là không thể
tránh khỏi Thực tế là số lượng các tình huống tranh chấp trong
ngành xây dựng đang ngày càng tăng lên đỏi hỏi phải có một cách
tiếp cận có hệ thống và hiệu quả để giải quyết tranh chấp Bài báo
này là một tổng kết về lịch sử, xu hướng và sự phát triển trong tương
lai cả về các nghiên cứu học thuật cũng như những ứng dụng thực
tiễn của việc giải quyết tranh chấp và xung đột trong quản lý xây
dựng Bài báo cho thấy xu hướng trên thế giới về việc sử dụng các
giải pháp thay thế để xử lý xung đột và tranh chấp trong lĩnh vực
xây dựng Đồng thời, các tác giả cũng giới thiệu Động học hệ thống-
System Dynamics (SD) như là một công cụ và kỹ thuật để đánh giá
một cách định tính và định lượng về tranh chấp, chiến lược giải
quyết tranh chấp và thực thi các giải pháp xử lý tranh chấp
Từ khóa: Xung đột, Tranh chấp, Tiến độ, Xây dựng, Động học hệ thống
ABSTRACT:
In construction industry, dispute is considered to be evitable
The fact that the number of dispute case in construction trade
increase rapidly triggers the need for a systematical and effective
approach for dispute resolution.This paper is a review on the
histories, trends and future developments of academic studies as
well as industry practices on conflict and dispute resolution in
Construction Management The report analyze various data to
verify the popular trend of using ADR (Alternative Dispute
Resolution) in resolving conflict and dispute in Construction It
also introduces System Dynamic approach as a tool and
technique for qualitative and quantitative assessment of dispute,
dispute resolution strategy planning and implementation
Key words: Conflict, Dispute, Schedule, Construction, System Dynamics
PGS TS Phạm Hồng Luân
Trường Đại học Bách Khoa – ĐHQG TPHCM
Đỗ Công Nguyên
Học viên ngành Cao học Quản lý xây dựng, Trường Đại học
Bách Khoa - ĐHQG TPHCM
Th.S Bùi Hoàng An
Thạc sĩ Tài chính, Phòng Quản lý Dự án 1, Tổng Công ty Xây
dựng số I – CTCP
1 Vai trò của ngành Xây dựng trong nền Kinh tế
Trên thế giới, ngành Xây dựng luôn đóng một vai trò quan trọng trong cơ cấu của nền kinh tế mỗi quốc gia
Tại Việt Nam, theo Tổng cục thống kê , giá trị sản xuất xây dựng năm
2015 ước tính sơ bộ đạt 113,478 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 5% giá trị vốn đầu tư cả nước
Bản thân ngành xây dựng không chỉ góp phần tạo ra của cải vật chất mới cho xã hội mà còn góp phần giải quyết, đảm bảo các vấn đề an sinh Theo thống kê của Bộ Xây dựng, tại thời điểm 01/01/2013, tổng số lao động làm việc trong lĩnh vực xây dựng là 2.283 nghìn người, tổng số doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực của Ngành là 68.649 doanh nghiệp
2 Tình trạng tranh chấp, kiện cáo trong ngành xây dựng
Tuy vai trò cực kì quan trọng của mình trong nền kinh tế quốc dân, bản thân ngành xây dựng nói chung và mỗi dự án xây dựng nói riêng không thể tránh khỏi nguy cơ xung đột và tranh chấp Mỗi dự án xây dựng đều tồn tại rất nhiều bên liên quan tham gia hoặc bị ảnh hưởng bởi
dự án Ngoài ra, mỗi dự án là sự kết hợp của nhiều yếu tố: kinh tế, xã hội,
kỹ thuật, môi trường Do đó, việc cân bằng ảnh hưởng của các bên liên quan và đảm bảo mục tiêu của Dự án luôn là mong mỏi của những người làm Quản lý dự án
Trên thế giới, Sangwon et al (2013) chỉ ra rằng mặc dù đã có sự tiến
bộ trong thiết bị và kỹ thuật quản lý, tuy nhiên những vấn đề lớn về chậm trễ tiến độ và vượt chi phí trong các dự án vẫn tồn tại Tổng Văn phòng
kế toán Hoa Kỳ báo cáo rằng 20 dự án hạ tầng lớn của họ trên cả 17 bang với chi phí ước tính từ 205 triệu tới 2.6 tỉ USD đều có tình trạng vượt chi phí từ 40-400% Latham thống kê rằng chỉ có 70% dự án ở Anh được bàn giao với chi phí vượt trong khoảng 5% dự toán, và chỉ 38% nằm trong 5% của giá trị đấu thầu Bromilow cũng chỉ ra rằng 1/8 số dự án xây dựng tại
Úc được kỳ vọng hoàn thành đúng thời hạn và trung bình tiến độ thường trễ hơn 40% Flyvbjerg et al đã nghiên cứu 258 dự án siêu lớn triển khai trên 20 quốc gia, kết luận rằng có tới 90% dự án bị vượt chi phí và đây không phải là một hiện tượng tức thời mà đã kéo dài trong suốt 70 năm vừa qua
Tại Việt Nam, qua một khảo sát của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt
Nam (VIAC) với hơn 2.000 dự án xây dựng, đa số các dự án bất động sản,
tại 42 tỉnh, thành trong cả nước và 30 dự lớn do các Bộ, ngành và các Tập đoàn, Tổng Công ty thực hiện, cho thấy các khoản chi phí đều vượt giá hợp đồng sau khi trúng thầu hoặc được chỉ định thầu, dẫn đến mọi tranh chấp phát sinh giữa các bên, dự án đình trệ, lãng phí tiền của vô cùng lớn Các tranh chấp trong xây dựng không chỉ làm ảnh hưởng tới bản thân các dự án, tiền của và thời gian của các bên liên quan mà còn ảnh hưởng tới uy tín và thương hiệu của các doanh nghiệp Trên thực tế, đã có những
vụ việc kiện cáo tranh chấp trong xây dựng kéo dài hàng thập kỉ, với giá trị tranh chấp tới nhiều tỷ đồng và qua nhiều lần xét xử sơ thẩm, phúc
thẩm vẫn không thể tìm ra một giải pháp triệt để
Trang 2Theo Sterman (2000) việc vượt chi phí,
chậm trễ và các vấn đề chất lượng trong các dự
án xây dựng có thể hủy diệt một công ty Việc
vượt chi phí và chậm trễ trong ngành xây dựng,
nhất là các dự án quân sự có thể ảnh hưởng
nghiêm trọng tới nền kinh tế của một địa
phương cũng như khả năng phòng thủ của các
quốc gia
Hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam cũng
đã thiết lập một khung pháp lý cho việc ngăn
ngừa và giải quyết thực trạng tranh chấp trong
xây dựng
Luật tố tụng Dân sự năm 2004 đã quy định
rõ về Thẩm quyền của tò án trong việc giải
quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt
động xây dựng
Luật Xây dựng năm 2014 đã đưa ra 04 lựa
chọn cho các bên tranh chấp : thương lượng,
hòa giải, trọng tài thương mại hoặc tòa án theo
quy định của Pháp luật
Các văn bản pháp luật khác như Luật
thương mại (2005), Luật trọng tài (2010), Luật
Đầu tư (2005), Nghị định 48/ND-CP (2010), Nghị
định 15/ND-CP (2013), Nghị định 108/ND-CP
(2000), Nghị định 63/ND-CP (2011) cũng
thống nhất về nguyên tắc giải quyết tranh chấp
trong lĩnh vực xây dựng
Do bản thân Dự án xây dựng là một tổng
thể của nhiều mối liên hệ và ràng buộc về lợi
ích nên việc phân tích tình huống tranh chấp
để đưa ra một đánh giá định lượng về trách
nhiệm và lợi ích của các bên liên quan, làm cơ
sở cho việc áp dụng các nguyên tắc giải quyết
tranh chấp nhằm đảm bảo quản lý tranh chấp
và xung đột một cách hiệu quả là vô cùng quan
trọng Việc đưa ra một công cụ để những người
làm xây dựng có thể ý thức một cách định
lượng xung đột, khả năng đi đến một giải pháp
công bằng trong giải quyết tranh chấp là một
đòi hỏi thiết yếu
3 Xung đột
Theo Tillett (1999) trích dẫn bởi Vũ (2009),
xung đột là sự bất đồng một cách chủ động của
những người với ý tưởng hoặc nguyên tắc đối
lập với nhau Ngoài ra, xung đột cũng có thể
được xem như là sự khác biệt về lợi ích, mục
tiêu hoặc mức độ ưu tiên giữa các cá thể, nhóm
hay các tổ chức hoặc sự không đáp ứng yêu cầu
của các công tác, công việc hay các quy trình,
như định nghĩa bởi Gardiner and Simmons
(1992)
Gần đây Ng et al (2007) định nghĩa xung
đột như là các yêu cầu/ đòi hỏi không được đáp
ứng hoặc đối nghịch nhau Theo Brown et al
trích dẫn bởi Jaffar et al (2011), xung đột là sự
nghi ngờ hay truy vấn, đối đầu hay các hành vi
bất tương thích, tranh cãi hay tương tác đối
kháng Deutsch lại định nghĩa xung đột là các
hành vi bất tương thích, xung đột xảy ra khi mà
hành vi của một bên làm ảnh hưởng hoặc cản
trở hành động của các bên còn lại
Vẫn được trích dẫn bởi Vũ (2009), ngành xây dựng được xem như là ngành có xung đột như là một bản chất của nó (theo Barthorpe et
al 2000), với chi phí gia tăng do việc xử lý xung đột (Ng et al 2007, Cheung and Suen, 2002)
Đặc biệt đối với các dự án xây dựng quốc tế với
sự tham gia của các bên với văn hóa khác biệt nhau, các mục tiêu khác nhau, việc xung đột gia tăng là có thể dự đoán được (Kumaraswamy, 1998; Brew and Cairns, 2004) Một khi xung đột xảy ra, nếu nó không được quản lý một cách phù hợp hoặc loại bỏ một cách nhanh chóng,
nó có thể leo thang trở thành các tranh chấp thường dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng như việc chậm trễ tiến độ, gia tăng mức độ căng thẳng và phá vỡ mối quan hệ hợp tác giữa các doanh nghiệp (Cheung and Suen, 2002;
Chan and Suen, 2005)
Jaffar et all (2011) nhấn mạnh 3 kiểu nhân
tố dẫn tới xung đột trong xây dựng bao gồm:
vấn đề hành vi, các vấn đề liên quan tới hợp đồng, các vấn đề kỹ thuật
Trong một nghiên cứu của mình năm 2006, nhóm nghiên cứu của Achayrya xác định 4 nhóm nguyên nhân chính là dẫn tới xung đột trong xây dựng là : “thay đổi điều kiện thi công”,
“nhân công gián đoạn”, “ việc xem xét các yêu cầu thay đổi” và “sai sót trong thiết kế”
Cũng tìm hiểu nguyên nhân gây ra xung đột trong ngành xây dựng, tuy nhiên Mitkus et
al (2014) cho rằng xung đột chính trong xây dựng là do giao tiếp không thành công giữa Chủ Đầu tư và Nhà thầu
Đồng thời với xu hướng của các nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân, hậu quả và đề ra các giải pháp đề ngăn ngừa xung đột trong Dự án, cũng
có những hướng nghiên cứu khác đáng lưu ý
Loosemore et al (2000) đã tiến hành một nghiên cứu về xu hướng khuyến khích xung đột trong xây dựng
Breaux et al (2007) tìm hiểu một khía cạnh khác, đó là việc quản lý xung đột trong các công ty thiết kế
Trên thực tế, xung đột trong lĩnh vực xây dựng là không thể nào tránh khỏi và là một thực trạng cần phải chấp nhận Tất cả mọi khía cạnh của các dự án xây dựng từ việc hoàn thành những công việc giản đơn hoặc quản lý dự án tới việc hoạch định kế hoạch, chiến lược của tổ chức đều dính líu tới xung đột ở một mức độ nào đó
Việc một tổ chức ứng xử như thế nào đối với các xung đột có thể dẫn tới thành bại của
dự án và của cả doanh nghiệp Tuy nhiên, trong một số trường hợp xung đột sẽ giúp cho doanh nghiệp duy trì sự cạnh tranh và ý chí để phát triển
4 Tranh chấp
Fenn et al (1997) khẳng định tranh chấp và xung đột là 2 khái niệm hoàn toàn tách biệt
Xung đột xảy ra bất cứ khi nào có sự không thỏa mãn về lợi ích Xung đột có thể quản lý theo xu
hướng giảm thiểu nguy cơ tranh chấp Trong khi đó,tranh chấp là nguyên nhân chính ngăn cản sự kết thúc thành công của dự án xây dựng Tranh chấp liên quan tới các vấn đề về công bằng và đòi hỏi giải quyết như hòa giải, thỏa thuận hay trọng tài
Năm 2006, Sai On et al đã khẳng định rằng tranh chấp trong xây dựng là không thể nào tránh khỏi Về các dạng xung đột trong xây dựng, Sai On et al nhắc tới Dickmann với quan điểm cho rằng có 2 dạng chính đó là: con người, quy trình và sản phẩm Theo Rhys Jones,
đó là vấn đề : quản lý, văn hóa, giao tiếp, thiết
kế, kinh tế, áp lực đấu thầu, luật pháp, những mong đợi không có thực, hợp đồng, tay nghề lao động… Với Brown, tranh chấp là một dạng của xung đột mà đòi hỏi phải có giải pháp xử
lý còn theo Spittler, tranh chấp trong xây dựng liên quan tới sự khác biệt trong góc nhìn, lợi ích
Về nguồn gốc tranh chấp, hậu quả và giải pháp cho các tranh chấp trong xây dựng, có rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện bởi nhiều học giả, với nhiều giả thiết, công cụ và kết luận khác nhau Tuy nhiên vẫn có những điểm tương đồng trong ý tưởng
Trong nghiên cứu của mình năm 2014, Mitkus et al đã tổng hợp các nghiên cứu trước
đó về nguyên nhân gây ra tranh chấp trong xây dựng Theo Blake Dawson Waldron (2006), tranh chấp có nguồn gốc từ: thay đổi điều kiện công trường, sự diễn giải các điều kiện hợp đồng, điều kiện làm việc, giao tiếp, vấn đề pháp
lý, sự tiếp cận công trường, sự tiếp cận vật liệu Trong một nghiên cứu của Cheung và Yiu năm
2006, tranh chấp gây ra bởi : vấn đề quản lý, giao tiếp, con người và các tài liệu hợp đồng Tuy nhiên, ngay sau đó vào năm 2007, Yiu và Cheung lại cho rằng, nguyên nhân của tranh chấp là do: chậm trễ, các yêu cầu thay đổi, những vấn đề chưa chắc chắn (uncertainty), những mong đợi không có cơ sở Trước đó, trong một nghiên cứu của mình năm 1997, Kusmaraswamy đã chỉ ra rằng nguyên nhân chính gây ra tranh chấp trong xây dựng là do: thay đổi điều kiện công trường, thay đổi phạm
vi công việc, thiết kế, các vấn đề không lường trước, vấn đề quản lý, chậm trễ, giao tiếp và những yêu cầu không có cơ sở (unrealistic expectation) Quan điểm trên một lần nữa xác nhận lại phát hiện của Hawitt năm 1991 về các yếu tố được cho là nguyên nhân của tranh chấp trong xây dựng, được liệt kê gồm: thay đổi phạm vi công việc, thay đổi điều kiện công trường, ép đẩy nhanh tiến độ (acceleration), chậm trễ, ngừng hoặc chấm dứt dự án
Có thể nhận thấy một sự quan tâm đáng kể của giới nghiên cứu với việc phân tích để tìm hiểu nguyên nhân của các tranh chấp trong xây dựng Đã có sự bão hòa trong nghiên cứu về nguyên nhân tranh chấp trong xây dựng và dường như có sự chú ý quá mức vào nguyên
Trang 3nhân mà thiếu đi sự tìm kiếm một giải pháp để
quản lý tranh chấp và xung đột trong xây dựng
5 Tranh chấp Tiến độ trong Xây dựng
Có nhiều nguyên nhân gây ra tranh chấp
Tiến độ xây dựng được liệt kê bởi Bruce M
Jervis và Paul Levin trong cuốn sách về Luật
xây dựng và áp dung như: tình trạng chậm trễ
tiến độ, việc yêu cầu đẩy nhanh tiến độ từ phía
Chủ đầu tư, Chủ đầu tư can thiệp vào trình tự
thi công của Nhà thầu, chỉ thị từ Chủ đầu tư yêu
cầu Nhà thầu ngừng/chấm dứt thi công Tuy
nhiên, tình trạng chậm trễ tiến độ dẫn tới tranh
chấp có lẽ được quan tâm nhiều nhất Việc
nghiên cứu không chỉ tập trung vào việc tìm
hiểu nguyên nhân gây ra chậm trễ tiến độ, hậu
quả của nó mà còn đưa ra những khuyến nghị
để giảm/tránh tình trạng này
Trong một nghiên cứu vào năm 2014,
Marzouk đã trình bày 10 nguyên nhân chính
gây chậm trễ tiến độ dự án tại Ai cập bao gồm:
phân loại dự án và hình thức đấu thầu, việc lập
kế hoạch của Dự án thiếu hiệu quả, các yêu cầu
thay đổi của Chủ Đầu tư/ Tư vấn trong quá trình
triển khai, việc chậm trễ trong việc phê duyệt
các bản vẽ từ Chủ Đầu tư, việc chậm trễ trong
thanh toán của Chủ Đầu tư , việc quản lý công
trường kém hiệu quả của Nhà thầu, năng suất
lao động thấp, tài chính cho dự án của Nhà thầu
gặp khó khăn, điều kiện địa chất khu vực xây
dựng phức tạp, việc chậm ra quyết định của
Chủ Đầu tư
Trước đó, cũng tại Malaysia, năm 2007,
Sambasivan et al chỉ ra 10 nguyên nhân chính
của chậm trễ tiến độ là: nhà thầu lập kế hoạch
không phù hợp, quản lý thi công của nhà thầu
không hiệu quả, nhà thầu thiếu kinh nghiệm
phù hợp, tài chính của chủ đầu tư không đảm
bảo, các vấn đề với nhà thầu phụ, thiếu hụt vật
tư, nguồn lao động, mức độ sẵn sàng của thiết
bị, thiếu giao tiếp giữa các bên và các sai sót
trong quá trình triển khai xây lắp Sáu hệ quả
chính của việc chậm trễ cũng được nêu ra bao
gồm: vượt quá thời gian, vượt quá chi phí, tình
trạng tranh chấp, trọng tài, kiện tụng và hủy bỏ
dự án
Tại Iran, năm 2010, Khoshgoftar et al cho
rằng các nguyên nhân gây ra chậm trễ của các
dự án xây dựng là vấn đề tài chính và thanh
toán của các công việc đã hoàn thành, việc lập
kế hoạch không phù hợp, quản lý công trường,
quản lý hợp đồng kém hiệu quả, thiếu giao tiếp
thông tin giữa các bên liên quan là những
nguyên nhân chính gây ra tình trạng chậm trễ
trong xây dựng
Tại Thái Lan, năm 2008, Toor et al kết luận
rằng các nhân tố liên quan tới thiết kế, nhà thầu
và tư vấn được đánh giá là những nguyên nhân
chính gây ra tình trạng chậm trễ
Không chỉ tập trung nghiên cứu nguyên
nhân và hệ quả chậm trễ tiến độ trong xây
dựng, đã có có nhiều bài báo giành sự quan
tâm cho việc phân tích tiến độ của dự án cũng như việc chuẩn bị các khiếu nại về thời gian
Carmichael et al vào năm 2009 đã có những bình luận khá thú vị về các phương pháp phân tích chậm trễ được áp dụng để giải quyết các khiếu nại trong xây dựng
Alkass năm 1996 cũng đã có một tổng kết
về các phương pháp phân tích tình huống chậm trễ trong xây dựng thường được áp dụng như: kỹ thuật xem xét ảnh hưởng toàn cục, kỹ thuật xem xét ảnh hưởng ròng, kỹ thuật điều chỉnh sơ đồ đường gantt thực tế, kỹ thuật phân
rã , kỹ thuật chụp, kỹ thuật phân tích ảnh hưởng thời gian
6 Các mô hình giải quyết tranh chấp
Liên quan tới các giải pháp giải quyết tranh chấp trong xây dựng, hiện tại đang có một xu thế chủ đạo trên thế giới khuyến khích việc sử dụng các giải pháp thay thế (Alternative Dispute Resolution- ADR) thay vì các phương thức truyền thống là thông qua tòa án như trước đây
Năm 1999, Brooker et al cho rằng các Nhà thầu hoạt động trong lĩnh vực xây dựng thường ưa thích sử dụng các luật sư trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan tới vấn đề pháp lý
Gần đây, nghiên cứu của Kipli et al (2012) cho thấy hầu hết các nhà thầu ở đều đồng ý rằng ADR sẽ bảo vệ tính bí mật của tranh chấp
và đảm bảo tính riêng tư tốt hơn đối với các bên trong việc giải quyết tranh chấp
Trước đó, năm 2011, Makmor et al đã thực hiện một nghiên cứu xác nhận rằng giải pháp đàm phán được ưa thích nhất với 67% phản hồi tích cực từ đối tượng được khảo sát
Cũng ở mức độ địa phương, các phân tích của Wang et al năm (2005) cho thấy rằng sau giải pháp đàm phán, trọng tài là cơ chế giải quyết tranh chấp phổ biến nhất được áp dụng cho các dự án xây dựng có yếu tố quốc tế tại Trung Quốc Tiếp theo đó là các cơ chế giải quyết bằng hòa giải, pháp lý, ý kiến chuyên gia, điều chỉnh, Ban đánh giá tranh chấp
Trước đó, năm 1997, Chan et al lưu ý rằng tranh chấp liên quan tới yếu tố nước ngoài thường được giải quyết hoàn toàn dựa trên hệ thống hòa giải/trọng tài của Trung Quốc
Ý tưởng về một chiến thuật mặc cả để giải quyết tranh chấp trong xây dựng cũng đã được Loosemore et al nêu ra trong nghiên cứu của mình vào năm 1999
Gần đây, vào năm 2013, Gabuthy et al đã
có một nghiên cứu khá thú vị về hành vi thương lượng/ mặc cả trong việc giải quyết các tranh chấp Các tác giả cho rằng đối với một số tình huống nhất định, khi các bên bị ép buộc (forced) phải mặc cả/ thương lượng thì hiệu quả giải quyết tranh chấp sẽ cao hơn nhiều so với tình huống khi mà các bên liên quan có quyền tự do lựa chọn mặc cả hay là không (free
to bargain)
Một giải pháp giải quyết tranh chấp thay thế khác cũng thường xuyên được áp dụng là
cơ chế hòa giải Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Povey et al vào năm 2005 tại Nam Phi, những người làm hòa giải có xu hướng giải quyết tranh chấp cho các bên một cách đối kháng (win-loose) hơn là hỗ trợ các bên trong việc tự tìm ra cách dàn xếp sự việc
Để giải quyết tranh chấp trong xây dựng, các học giả không chỉ nghiên cứu về hiệu quả của từng giải pháp mà đồng thời cũng đề xuất những kỹ thuật mới hỗ trợ trong việc ra quyết định
Carneiro et al (2012) lại quan tâm tới một khía cạnh khác của giải quyết xung đột và tranh chấp trong xây dựng đó là việc theo dõi và quản lý mức độ căng thẳng trong các tình huống xung đột
Vũ cùng với Carmichael (2009) đã thực hiện một nghiên cứu so sánh về phong cách giải quyết xung đột trong xây dựng tại Australia và Việt Nam Nghiên cứu này cho thấy rằng mặc
dù có sự khác biệt về văn hóa giữa 2 nước, tuy nhiên vẫn có một sự đồng thuận nhất định trong việc các bên tham gia sẵn sàng tham gia hợp tác để giải quyết các tranh chấp trong xây dựng
Việc lựa chọn các giải pháp tích hợp cho thấy cơ hội để xung đột có thể được giải quyết một cách hiệu quả để đạt tới sự hiểu biết chung
và cơ hội hợp tác toàn diện và lâu dài (Kumaraswamy, 1998)
7 Động học hệ thống- System dynamics
Động học hệ thống / System Dynamics là một lý thuyết và kỹ thuật mô hình toán học dùng để thiết lập các khung giới hạn , nhằm đạt tới sự thấu hiểu và dùng để thảo luận các vấn
đề phức tạp Bắt đầu được phát triển vào thập
kỷ 1950 để giúp tăng cường sự hiểu biết về các quy trình công nghiệp, ĐHHT hiện nay đang được sử dụng rộng khắp trong cả lĩnh vực công
và tư cho việc phân tích và hoạch định chính sách
Các mô hình ĐHHT giải quyết vấn đề về tính đồng thời (nhân quả) bằng cách cập nhật tất cả các biến trong một khoảng thời gian với các dòng hồi đáp (feedback) âm và dương và thời gian trễ (delay) , tạo nên cấu trúc tương tác
và điều khiển
ĐHHT là một khía cạnh của lý thuyết về hệ thống và là một phương pháp để hiểu rõ hành
vi động của các hệ phức tạp
Theo Sterman (2000) trên thực tế những hành vi phức tạp nhất thường xuất phát từ sự tương tác (interaction/feedbacks) giữa các thành tố trong hệ thống chứ không phải xuất phát từ sự phức tạp của các thành tố trong hệ thống
Các thành phần của mô hình ĐHHT là feedback loop, sự tích lũy của dòng vào stock
và time delays
Trang 4Hình 1 Sơ đồ vòng lặp hồi đáp của quá trình sản xuất
Hình 2 Sơ đồ Stock and flow
ĐHHT đã được ứng dụng rộng rãi từ lĩnh
vực dân số học, sinh học và hệ thống kinh
tế…là những hệ thống mà trong đó tồn tại
quan hệ tương tác rất mạnh
8 Một số ứng dụng Mô hình System
Dynamic trong lĩnh vực quản lý dự án xây
dựng
Năm 2008, Mbiti đã có một nghiên cứu khá
thú vị về việc áp dụng SD trong lĩnh vực xây
dựng Từ khởi đầu của nó tại Học viện công
nghệ Massachuset (MIT) từ thập kỉ 50 của thế kỉ
trước, các mô hình SD đã được sử dụng để mô
phỏng nhiều vấn đề động phức tạp Tuy nhiên
việc áp dụng SD ở các ngành khác thì thông
dụng hơn là trong lĩnh vực xây dựng Ogunlana,
Lim & Saeed (1998) đã quan sát thấy rằng mô
hình SD đã được sử dụng cho việc mô tả vấn đề
quản lý, nghiên cứu và phát triển của các ngành
khác hơn rất nhiều so với ngành xây dựng
Trong ngành xây dựng, mô hình SD thường
được sử dụng ở mức độ vi mô hơn là ở mức độ
vĩ mô Phần lớn các mô hình SD là được áp
dụng cho dự án và các doanh nghiệp hơn là áp
dụng cho cả thị trường hay cả ngành công
nghiệp
Các ví dụ về việc ứng dụng SD cho các dự
án xây dựng bao gồm Chritamara & Ogunlana
(2002), Hongagang, Mashayekhi & Saeed
(1998), Love et al (2000), Love, Mandal &Li
(1999), Nguyen & Ogunlana (2005), Ogunlana,
Li & Sukhera (2003), Ogunlana, Lim & Saeed
(1998),Tang& Ogunlana (2003a & b),
Hongagang, Mashayekhi & Saeed (1998)
Ví dụ về việc áp dụng mô hình SD cho việc
nghiên cứu thị trường xây dựng như
Bajracharya, Ogunlana & Bach (2000),
Kummerow (1999) and Turk & Weijnen (2002)
Turk & Weijnen(2002), Kummerow (1999)
Tuy nhiên, không có nhiều chính sách vĩ
mô trong lĩnh vực xây dựng được đưa ra từ sự
áp dụng các mô hình SD
Về việc ứng dụng SD trong quản lý dự án,
(Sterman, 1992) cho rằng các dự án xây dựng
phức tạp liên quan tới các hệ thống động phức
tạp, các hệ thống này cực kỳ phức tạp và gồm
nhiều thành tố quan hệ lẫn nhau, cực kỳ động,
bao gồm nhiều quy trình hồi đáp, liên quan tới
quan hệ phi tuyến và bao gồm cả dữ liệu “cứng
và mềm”
Một trong những lĩnh vực ứng dụng thành công nhất ĐHHT là quản lý dự án Năm 1994, Rodrigues et al, so sánh vai trò của system dynamics trong quản lý dự án với các mô hình truyền thống Các tác giả cho răng ĐHHT cung cấp một công cụ hiệu quả để quản lý một cách
có hệ thống các vấn đề chiến lược này
9 Các nghiên cứu ứng dụng SD quản lý tranh chấp và xung đột trong dự án xây dựng
Majidi (2003) nghiên cứu việc cải tiến các kỹ thuật ngăn ngừa và giải quyết tranh chấp (DART) Tác giả đã cung cấp 1 mô hình, 1 lý thuyết và một công cụ cho việc thấu hiểu và đánh giá sự phức tạp và tương tác động của xung đột và ứng dụng DART trong một dự án xây dựng
Menassa et al (2006) nghiên cứu về lý thuyết option pricing và real option pricing để đánh giá tỉ suất lợi nhuận/chi phí gắn liền với chi phí ADR trong các dự án thiết kế và xây dựng
Ng et al (2007) thực hiện một nghiên cứu
về việc quản lý xung đột một cách “động” cho các dự án thiết kế thi công xây dựng quy mô lớn
Năm 2011, Kishor Mahato et al đã có một nghiên cứu về xung đột động của dự án xây dựng đê đập tại Nepal
Năm 2008, Love et al đã có 2 nghiên cứu với
nỗ lực mô hình hóa quan hệ nhân quả của tranh chấp trong xây dựng Sử dụng dữ liệu lấy
ra từ trong các nghiên cứu trước, một mô hình
ý tưởng về nhân quả (conceptual causal model) của tranh chấp trong ngành xây dựng được thành lập
Nguyen et al (2005) đã đề xuất một mô hình SD để ghi nhận tính động của các dự án xây dựng trong quá trình triển khai Tám cấu trúc hồi đáp từ các nghiên cứu trước về động học dự án và tính đặc trưc của dự án xây dựng
đã được xác định như là các giả thuyết động
Chúng bao gồm cấu trúc của lao đông, thiết bị, vật tư, tương tác giữa lao động và thiết bị, tiến
độ, làm lại (rework), an toàn, chất lượng
Gần đây, Sangwon et al (2013) sử dụng SD
để đánh giá ảnh hưởng của sai sót trong thiết
kế của Dự án xây dựng
Một tác giả khác cũng nghiên cứu về khả năng ứng dụng của SD cho việc mô phỏng sự chậm trễ và gián đoán trong xây dựng là Ibbs (2005) Tác giả này cho rằng 4 mục đích chính của SD là chỉ ra nguyên nhân, xác định trách nhiệm, định lượng hóa ảnh hưởng và từ đó thuyết phục các bên liên quan về 3 khía cạnh trên
Về khả năng ứng dụng của SD trong việc phân tích sự chậm trễ và gián đoạn trong các
dự án xây dựng phức tạp, Howick (2003) cho rằng việc áp dụng SD giúp không chỉ có thể
nắm bắt được các thông tin “cứng” về các con
số mà con cung cấp những thông tin “mềm” về các hành xử của con người (sự mệt mỏi, thiếu đồng thuận…)
Để có thể áp dụng cho các vấn đề pháp lý, Stephen et al (2005) nghiên cứu về việc chấp thuận ý kiến chuyên gia trong trường hợp áp dụng system dynamic Theo đó, ý kiến chuyên gia dựa trên mô phỏng ĐHHT có thể đáp ứng được các tiêu chí của tòa tối cao Hoa Kì nếu thỏa mãn các tiêu chí như: dựa trên các giả thiết
và phép thử của phương pháp khoa học, phải bao gồm các phép thử lỗi bắt buộc, phải áp dụng các tiêu chuẩn nhất định trong việc xây dựng và kiểm tra các giả thiết
Tổng kết về việc áp dụng SD để giải quyết tranh chấp trong xây dựng, Weil et al (1990) cho rằng các luật sư và hệ thống pháp lý đang dần chuyển sang áp dụng các giải pháp thay thế để giải quyết tranh chấp Trong đó các mô hình ĐHHT sẽ đảm nhiệm một vai trò quan trọng Tuy nhiên “ Việc sự dụng mô hình không đưa ra một giải pháp khắc phục ngay tức khắc cho công việc khó khăn này, phần khó nhất chính
là phần triển khai đàm phán thực” (Nyhart,1998)
10 Các nghiên cứu tương tự đã công bố tại Việt Nam
Liên quan tới tranh chấp và xung đột trong hợp đồng xây dựng, đã có những nghiên cứu thú vị Hoàng Thành Huy ( 2006) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng xung đột trong hợp đồng xây dựng Nguyễn Vũ Khánh Ngọc (2007) tìm hiểu về chiến thuật đàm phán giải quyết các tranh chấp trong hợp đồng xây dựng Trong năm 2009 có Trần Hữu Quốc Vi tìm hiểu các yếu tố gây xung đột quan trọng trong
dự án xây dựng tại TPHCM, Trần Trung Kiên tìm hiểu về các yếu tố gây xung đột trong việc thực hiện dự án hạ tầng kỹ thuật cũng như đề xuất các giải pháp để giải quyết Phạm Ngọc Hải (2010) lại tập trung tìm hiểu các yếu tố gây tranh chấp trong quản lý vận hành nhà chung
cư và lựa chọn mô hình quản lý phù hợp Tiến độ là đề tài nghiên cứu hấp dẫn với nhiều tác giả Năm 2005, tác giả Đặng Thị Trang
đã ứng dụng logic mờ trong phân tích chậm trễ
và cập nhật tiến độ Tiếp đó, năm 2006, Nguyễn Hữu Thiện tìm hiểu về lập tiến độ mạng trên cơ
sở phân tích tác động các yếu tố rủi ro trong quản lý xây dựng bằng mô hình CSRAM, Nguyễn Văn Tự phân tích sự chậm trễ tiến độ
do các bên tham gia dự án trong việc thực hiện hợp đồng trong giai đoạn thi công ở Việt Nam, Trần Đăng Khoa nghiên cứu giải pháp lập tiến
độ xét đến khả năng tài chính của nhà thầu trong giai đoạn đấu thầu cho dự án xây dựng tại Việt Nam Gần đây, năm 2011, Tiền Chí Long
đã thực hiện các phân tích việc gia hạn tiến độ liên quan đến yếu tố thời tiết trong hợp đồng thi công, Võ Văn Trị phân tích định lượng trách nhiệm các bên trong việc chậm trễ tiến độ dự
Trang 5án xây dựng gây ra bởi công tác làm lại, Đặng
Thanh Hoài nghiên cứu ứng dụng và đề xuất
công cụ tích hợp quản lý tiến độ xây dựng
System Dynamics tuy là một hướng nghiên
cứu chưa được phát triển đúng mức ở Việt Nam
Tuy nhiên, đã có nghiên cứu rất sớm của
Nguyễn Lương Bách (AIT- 1991) về việc tự đáp
ứng nhu cầu lương thực của Việt Nam Gần đây,
đã liên tục có những nghiên cứu ứng dụng
System Dynamics Bùi Hoàng Phương đề xuất
việc kết hợp mô hình EFQM và SD để cải thiện
văn hóa an toàn Hồ Hoàng Duy nghiên cứu sự
thay đổi trong quản lý thiết kế dự án xây dựng
tại TPHCM bằng mô phỏng SD Nguyễn Hữu
Thừa ứng dụng SD để phân tích dòng tiền dự
án xây dựng Trần Ngọc Sang ứng dụng SD để
phân tích lợi nhuận công ty sản xuất và thi công
lắp đá granite Nguyễn Minh Quang kết hợp
Value Stream Mapping và SD để quản lý chất
lượng thi công cho nhà thầu xây dựng tại Việt
Nam Phạm Thanh Hải đã xây dựng mô hình
động quản lý sự thực hiện trong các công ty xây
dựng bằng SD Trước đó, Nguyễn Quang Trung
sử dụng SD trong dự báo lợi nhuận của dự án
Bất động sản tại TPHCM, Lê Phúc Thịnh ứng
dụng SD mô phỏng tính chất động của thời
gian làm việc trong xây dựng Có thể nói, tuy
tiếp cận với System Dynamic khá trễ so với thế
giới, tuy nhiên đây đang là một hướng nghiên
cứu hấp dẫn và thú vị đối với các nhà nghiên
cứu Việt Nam
11 Tổng kết
Trong ngành xây dựng, tranh chấp được
xem như là không thể tránh khỏi Thực tế là số
lượng các tình huống tranh chấp trong ngành
xây dựng đang ngày càng tăng lên đỏi hỏi phải
có một cách tiếp cận có hệ thống và hiệu quả
để giải quyết tranh chấp Bài báo này là một
tổng kết về lịch sử, xu hướng và sự phát triển
trong tương lai cả về các nghiên cứu học thuật
cũng như những ứng dụng thực tiễn của việc
giải quyết tranh chấp và xung đột trong quản
lý xây dựng Bài báo cho thấy xu hướng trên thế
giới về việc sử dụng các giải pháp thay thế để
xử lý xung đột và tranh chấp trong lĩnh vực xây
dựng Đồng thời, các tác giả cũng giới thiệu
Động học hệ thống (SD) như là một công cụ và
kỹ thuật để đánh giá một cách định tính và định
lượng về tranh chấp, chiến lược giải quyết
tranh chấp và thực thi các giải pháp xử lý tranh
chấp
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
1 Kumaraswamy, M M and D W Chan (1998)
"Contributors to construction delays." Construction
Management & Economics 16(1): 17-29
2 Marzouk, M M and T I El-Rasas (2014) "Analyzing
delay causes in Egyptian construction projects." Journal of
Advanced Research 5(1): 49-55
3 Toor, S U R and S O Ogunlana (2008) "Problems
causing delays in major construction projects in Thailand."
Construction Management and Economics 26(4): 395-408
4 Acharya, N., et al (2006) "Critical construction conflicting factors identification using analytical hierarchy process." KSCE Journal of Civil Engineering 10(3): 165-174
5 Jaffar, N., et al (2011) "Factors of Conflict in Construction Industry: A Literature Review." Procedia Engineering 20(0): 193-202
6 Mitkus, S and T Mitkus (2014) "Causes of Conflicts in a Construction Industry: A Communicational Approach." Procedia
- Social and Behavioral Sciences 110(0): 777-786
7 Ayudhya, B I N (2011) "Common disputes related to public work projects in Thailand." Sonklanakarin Journal of Science and Technology 33(5): 565
8 Bonwick, R J and V M Watts (1998) "Research information: The role of emotional factors in building disputation." Building Research & Information 26(6): 370-373
9 Fenn, P., et al (1997) "Conflict and dispute in construction." Construction Management and Economics 15(6):
513-518
10 Love, P E D., et al (2011) "Causal Discovery and Inference of Project Disputes." Engineering Management, IEEE Transactions on 58(3): 400-411
11 Sai On, C and Y Tak Wing (2006) "Are Construction Disputes Inevitable?" Engineering Management, IEEE Transactions on 53(3): 456-470
12 Carneiro, D., et al (2012) Stress Monitoring in Conflict Resolution Situations Ambient Intelligence - Software and Applications P Novais, K Hallenborg, D I Tapia and J M C
Rodríguez, Springer Berlin Heidelberg 153: 137-144
13 Loosemore, M (1999) "Bargaining tactics in construction disputes." Construction Management and Economics 17(2): 177-188
14 Vu, A T and D G Carmichael (2009) "Cultural Difference and Conflict Management - A Vietnamese-Australian and Construction Industry Case Study." International Journal of Construction Management 9(2): 1-19
15 Howick, S (2003) "Using system dynamics to analyse disruption and delay in complex projects for litigation: can the modelling purposes be met?" Journal of the Operational Research Society 54(3): 222-229
16 Ibbs, W and M Liu (2005) "System dynamic modeling of delay and disruption claims." Cost Engineering 47(6): 12-15
17 Kishor Mahato, B and S O Ogunlana (2011) "Conflict dynamics in a dam construction project: a case study." Built Environment Project and Asset Management 1(2): 176-194
18 Love, P E., et al (2008) Causal modelling of construction disputes Procs 24th Annual ARCOM Conference
19 Majidi, N E (2003) Evaluation of frame work of construction ADR methode intergrated model of real option, probalistic analysis and SD Civil and Enviromental Engineering
MIT, MIT Master: 78
20 Menassa, C and F P Mora (2006) An option based model for evaluating ADR investments in design and construction projects International Conference on Computing and Decision Making in Civil and Building Engineering, Montréal, Canada
21 Menassa, C C and F P Mora (2009) Real options and system dynamics approach to model value of implementing a project specific dispute resolution process in construction projects Simulation Conference (WSC), Proceedings of the 2009 Winter
22 Ng, H., et al (2007) "Dynamic Conflict Management
in Large-Scale Design and Construction Projects." Journal of Management in Engineering 23(2): 52-66
23 Nguyen, L D and S O Ogunlana (2005) "Modeling the dynamics of an infrastructure project." Computer‐Aided Civil and Infrastructure Engineering 20(4): 265-279
24 Nguyễn, V K N (2010) Chiến thuật đàm phán giải quyết các tranh chấp trong Hợp đồng Xây dựng Ngành Quản lý
Dự án Tp HCM, Đại học Bách Khoa Tp HCM Thạc sĩ
25 Stephens, C A., et al (2005) "System dynamics modeling in the legal arena: meeting the challenges of expert witness admissibility." System Dynamics Review 21(2): 95-122
26 Trần, T K (2010) Phân tích các yếu tố gây xung đột trong việc thực hiện Dự án Hạ tầng kỹ thuật và các đề xuất giải quyết Ngành Quản lý dự án TpHCM, Đại học Bách Khoa tpHCM Thạc sĩ
27 Weil, H and R Etherton (1990) System dynamics in dispute resolution Proc 1990 Int System Dynamics Conf