Trong những năm tới, trước yêu cầu cao của tình hình nhiệm vụ, đểtham mưu cho QUTW, BQP chỉ đạo thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hộiXII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lầ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CẢM ƠN VÀ CAM ĐOAN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến giảng viênhướng dẫn PGS.TS Vũ Thị Phụng và tập thể các thầy, cô giáo Khoa Lưu trữhọc và Quản trị văn phòng, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn(Đại học Quốc gia Hà Nội); Lãnh đạo, chỉ huy và các cán bộ, nhân viên củaVăn phòng Bộ Quốc phòng, các cơ quan có liên quan đã tận tình giúp đỡ,cung cấp tư liệu để tôi hoàn thành Luận văn này
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Trong luận văntôi có tham khảo một số kết quả nghiên cứu của các tác giả khác và đều chúthích khi viện dẫn Kết quả của luận văn là trung thực và chưa được công bốtrong bất kỳ công trình nào./
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC XÂY DỰNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TÍNH CHUYÊN NGHIỆP CỦA CÁN BỘ, NHÂN VIÊN VĂN PHÒNG BỘ QUỐC PHÒNG 11
1.1 Khái niệm văn phòng và cán bộ, nhân viên văn phòng 11
1.1.1 Khái niệm văn phòng 11
1.1.2 Khái niệm cán bộ, nhân viên văn phòng 17
1.2 Khái niệm tính chuyên nghiệp 17
1.3 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Văn phòng Bộ Quốc phòng 22 1.3.1 Chức năng 22
1.3.2 Nhiệm vụ 23
1.3.3 Cơ cấu tổ chức, biên chế của Văn phòng Bộ Quốc phòng 24
1.3.4 Đặc điểm của Văn phòng Bộ Quốc phòng 25
1.4 Sự cần thiết và yêu cầu của việc xây dựng tiêu chí đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên Văn phòng Bộ Quốc phòng 28
1.4.1 Sự cần thiết 28
1.4.2 Yêu cầu 29
Tiểu kết chương 1 30
CHƯƠNG 2 TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TÍNH CHUYÊN NGHIỆP CỦA CÁN BỘ, NHÂN VIÊN VĂN PHÒNG BỘ QUỐC PHÒNG 31
2.1 Khái niệm “Tiêu chí đánh giá” 31
2.2 Căn cứ, cơ sở đề xuất tiêu chí đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên Văn phòng Bộ Quốc phòng 33
2.2.1 Những yêu cầu chung về đánh giá cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước 33
2.2.2 Những yêu cầu mang tính đặc thù riêng đối với cán bộ, công chức của Bộ Quốc phòng và Văn phòng Bộ Quốc phòng 38
Trang 52.2.3 Một số tiêu chí về tính chuyên nghiệp đã được đề cập trong các công
trình nghiên cứu khoa học 46
2.3 Đề xuất một số tiêu chí đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên Văn phòng Bộ Quốc phòng 49
2.3.1 Các tiêu chí chung 49
2.3.2 Các tiêu chí cụ thể để đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên Văn phòng Bộ Quốc phòng 50
Tiểu kết chương 2 67
CHƯƠNG 3 ÁP DỤNG CÁC TIÊU CHÍ TRONG ĐÁNH GIÁ TÍNH CHUYÊN NGHIỆP CỦA CÁN BỘ, NHÂN VIÊN VĂN PHÒNG BỘ QUỐC PHÒNG 68
3.1 Khảo sát, đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên Văn phòng Bộ Quốc phòng theo các tiêu chí 68
3.1.1 Về tiêu chí thứ nhất: Cán bộ, nhân viên văn phòng có trình độ chuyên môn phù hợp với công việc được giao và vị trí đang đảm nhận 69
3.1.2 Về tiêu chí thứ hai: Cán bộ, nhân viên văn phòng am hiểu chuyên môn, giải quyết công việc theo đúng nguyên tắc, yêu cầu, quy trình nghiệp vụ71 3.1.3 Về tiêu chí thứ ba: Cán bộ, nhân viên văn phòng có kỹ năng làm việc thành thạo 72
3.1.4 Về tiêu chí thứ tư: Cán bộ, nhân viên văn phòng có tinh thần trách nhiệm và tuân thủ kỷ luật công vụ 72
3.1.5 Về tiêu chí thứ năm: Cán bộ, nhân viên văn phòng có tinh thần độc lập, tự chủ, năng động sáng tạo và hợp tác trong công việc 73
3.1.6 Về tiêu chí thứ sáu: Cán bộ, nhân viên văn phòng có quan hệ ứng xử phù hợp nơi công sở 73
3.2 Nhận xét chung 75
3.2.1 Về ưu điểm 75
3.2.2 Về hạn chế 76
Trang 63.3 Đề xuất một số giải pháp áp dụng và hoàn thiện các tiêu chí đánh giá tính
chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên Văn phòng Bộ Quốc phòng 81
Tiểu kết chương 3. 84
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
Văn phòng có vị trí, vai trò rất quan trọng trong các cơ quan, tổ chức
Là bộ phận có chức năng tham mưu, tổng hợp và phục vụ trực tiếp hoạt độngquản lý, điều hành của lãnh đạo, cán bộ, công chức Văn phòng cần phải cótính chuyên nghiệp mới có thể làm tốt được vai trò, trách nhiệm rất quantrọng của mình
Trong thời gian qua, nhiều cơ quan, tổ chức đã quan tâm đến vấn đềxây dựng tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, nhân viên Nhờ vậy, tácphong, hiệu quả làm việc của cán bộ, nhân viên văn phòng ở các cơ quan đã
có nhiều chuyển biến tích cực Tuy nhiên, khi đánh giá tính chuyên nghiệpcủa cán bộ, nhân viên văn phòng, nhiều cơ quan chưa đưa ra được các tiêuchí cụ thể, vì thế, việc đánh giá vẫn còn chung chung ở dạng: hoàn thànhnhiệm vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ…Cách đánh giá trên thiên về định tính,
dễ dẫn đến việc “cào bằng”, không tạo động lực cho các cán bộ, nhân viên cónhiều đóng góp
Từ thực tế đó, một vấn đề đặt ra hiện nay là cần có các tiêu chí để đánhgiá mức độ chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên văn phòng, phục vụ choviệc quản lý cán bộ và công tác thi đua, khen thưởng, góp phần nâng cao hiệuquả công tác Ngoài ra, việc xác định tiêu chí về tính chuyên nghiệp của cán
bộ, nhân viên văn phòng là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, không những làm
cơ sở cho việc đánh giá một cách đúng đắn, khách quan đội ngũ cán bộ, nhânviên văn phòng, mà còn là căn cứ để mỗi cán bộ, nhân viên văn phòng tựhoàn thiện mình, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới
Văn phòng Bộ Quốc phòng (BQP) là cơ quan có chức năng tham mưu,tổng hợp và hành chính phục vụ, đồng thời là một trung tâm thông tin tổnghợp phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương (QUTW) và BQP
Trang 8Trong những năm qua, Văn phòng BQP đã luôn quan tâm xây dựng độingũ cán bộ từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao Theo đánh giá củalãnh đạo Văn phòng: Đa số cán bộ, nhân viên văn phòng đã thể hiện trách nhiệmchính trị, trung thực, tận tụy, nhiệt tình, chuyên tâm đối với công việc; có kiếnthức toàn diện và chuyên sâu, có đủ năng lực tham mưu đề xuất đúng, trúng, kịpthời; phương pháp, tác phong làm việc khoa học, ý thức kỷ luật cao, biết cách
giao tiếp ứng xử hài hòa Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên chưa
đồng đều, thậm chí còn yếu, nhất là năng lực phát hiện, tham mưu giải quyếtvấn đề Phương pháp, tác phong làm việc của một số cán bộ, nhân viên chưanhạy bén, linh hoạt, chưa làm hết trách nhiệm, có lúc, có nơi còn có những hành
vi gây phiền hà cho cơ quan, đơn vị Vì vậy, những kết quả mà Văn phòng đạtđược chưa toàn diện, cần tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác để đápứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ
Trong những năm tới, trước yêu cầu cao của tình hình nhiệm vụ, đểtham mưu cho QUTW, BQP chỉ đạo thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hộiXII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ X; đồng thờiđáp ứng yêu cầu của công tác cải cách hành chính, Văn phòng BQP cần tậptrung nâng cao tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ, nhân viên văn phòng.Gần đây, Văn phòng BQP đã có một số đề tài nghiên cứu, trong đó có đề tài
“Nâng cao tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên làm công tác văn phòng trong Bộ Quốc phòng” Đề tài đã đưa ra một số giải pháp trong việc cần xây
dựng các tiêu chí để đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên, đồngthời làm cơ sở cho việc đánh giá cán bộ trong thời gian tới
Là một cán bộ hiện đang công tác tại Văn phòng Bộ Quốc phòng, sau khihoàn thành Chương trình cao học ngành Quản trị văn phòng, tôi muốn vận dụngnhững kiến thức đã học vào thực tiễn, đồng thời tiếp nối những nghiên cứu về
vấn đề trên Vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài: “Xây dựng tiêu chí
Trang 9đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên Văn phòng Bộ Quốc phòng” làm luận văn thạc sỹ.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Theo khảo sát của chúng tôi, trong thời gian qua đã có một số côngtrình nghiên cứu bàn về tính chuyên nghiệp và các biện pháp nâng cao tínhchuyên nghiệp của cán bộ, công chức nói chung và cán bộ văn phòng nóiriêng Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau đây:
- Bài viết “Xây dựng tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ, công chức” của TS Ngô Thành Can - Phó Trưởng khoa Văn bản, Học viện Hành chính Quốc gia, đăng trong Tạp chí Tổ chức Nhà nước, Số 4/2010 Trong bài viết này,
tác giả đã luận giải sự cần thiết và đưa ra một số tiêu chí để đánh giá tính chuyênnghiệp của cán bộ, công chức nói chung
- Bài viết “Nhận thức về tính chuyên nghiệp trong thực thi công vụ”, in
trên Trang tin điện tử của Sở Nội vụ Quảng Nam (2013), cho rằng: có nhiều tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá tính chuyên nghiệp của một công chức nhưng tâp ̣ trung lại có 10 tiêu chuẩn cơ bản (chúng tôi sẽ trình bày chi tiết ở phần sau)
- Bài viết “Chuẩn hóa và đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn cho cán bộ, công chức các cơ quan quản lý nhà nước về văn thư, lưu trữ”của PGS.TS
Vũ Thị Phụng, đăng trên tạp chí Văn thư - Lưu trữ Việt Nam, số tháng 8/2017.Trong bài viết này tác giả cho rằng, trình độ chuyên môn là một trong những tiêuchí quan trọng để đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức các cơ quanquản lý nhà nước về văn thư, lưu trữ
Các bài viết trên đã cung cấp một số vấn đề có tính lý luận, tuy nhiên chưa bàn sâu về tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức văn phòng
Ở phạm vi hẹp hơn, trong những năm qua, Bộ Quốc phòng đã nhậnthức rõ về vị trí, vai trò của Văn phòng và từng bước coi trọng công tác tổngkết, rút kinh nghiệm thực tiễn và chủ động nghiên cứu phát triển, hoàn thiện
Trang 10lý luận về công tác văn phòng nói chung, công tác văn phòng trong Bộ Quốcphòng nói riêng; trong đó tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên vănphòng được quan tâm chú ý Một số Đề tài khoa học cấp Bộ Quốc phòng đãđược hoàn thành, trong đó có một số công trình nghiên cứu đã trực tiếp hoặcgián tiếp liên quan đến chủ đề của luận văn Có thể kể tới một số công trìnhtiêu biểu sau đây:
- Đề tài cấp Bộ: “Công tác văn phòng và những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng công tác văn phòng trong Bộ Quốc phòng”; năm 2009.
- Đề tài cấp Bộ: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động văn phòng cấp ủy Đảng trong Quân đội”, năm 2012.
- Đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu giải pháp quản lý nhà nước về phổ biến,
giáo dục pháp luật trong QĐND Việt Nam đáp ứng tình hình mới”, năm 2013.
- Đề tài cấp cơ sở: “Nghiên cứu những giải pháp nâng cao tính chuyên nghiệp cho cán bộ, nhân viên làm công tác văn phòng”, năm 2015.
- Luận văn thạc sĩ Lưu trữ học của tác giả Ninh Viết Thành: Nghiên cứu chuẩn hóa nguồn nhân lưc ̣ làm công tác văn thư,lưu trữtrong Bộ Quốc phòng
Có thể nói, mặc dù chưa nhiều, nhưng các công trình nghiên cứu nói trên
đã phần nào làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của việc nâng cao chất lượng công tácvăn phòng trong toàn quân; phân tích chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ côngtác của Văn phòng các cấp nói chung và Văn phòng Quân ủy Trung ương
- Văn phòng Bộ Quốc phòng nói riêng; đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao
tính chuyên nghiệp cho cán bộ, nhân viên văn phòng Bộ Quốc phòng…
Tuy nhiên, mặc dù các công trình trên đã gián tiếp đề cập đến sự cầnthiết và bước đầu có bàn đến các tiêu chí đánh giá, nhưng cho đến nay, chưa
có công trình nghiên cứu nào tập trung vào việc xây dựng tiêu chí đánh giátính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên văn phòng Bộ Quốc phòng Vì vậy
đề tài luận văn của chúng tôi có kế thừa, nhưng không trùng lặp với các đề tàinghiên cứu trước đó
Trang 113 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn đặt ra và hướng tới các mục tiêu sau:
- Thứ nhất, làm rõ yêu cầu và sự cần thiết của việc xây dựng tiêu chí đánh
giá tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên Văn phòng Bộ Quốc phòng
- Thứ hai, làm rõ căn cứ, cơ sở và đề xuất một số tiêu chí đánh giá tính
chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên Văn phòng Bộ Quốc phòng
- Thứ ba, đề xuất biện pháp áp dụng các tiêu chí trong việc đánh giá và
nâng cao tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên Văn phòng Bộ Quốc phòng
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về tính chuyên nghiệp của cán bộ vănphòng nói chung và sự cần thiết của việc xây dựng tiêu chí đánh giá tính chuyênnghiệp của cán bộ, nhân viên Văn phòng Bộ Quốc phòng nói riêng
- Xây dựng một số tiêu chí đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên Văn phòng Bộ Quốc phòng
- Bước đầu áp dụng một số tiêu chí để đánh giá tính chuyên nghiệp củacán bộ, nhân viên ở Văn phòng Bộ Quốc phòng Trên cơ sở đó, đề xuất một số giảipháp để nâng cao tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên Văn phòng trong BộQuốc phòng
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tính chuyên nghiệp và tiêu chí đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên Văn phòng Bộ Quốc phòng
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài của tôi tập trung khảo sát tại Cơ quan Vănphòng Bộ Quốc phòng Các thông tin, số liệu được khảo sát từ năm 2008 đến
nay (thời điểm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành Quyết định số68/2008/QĐ-BQP ngày 13/5/2008 về quy định tổ chức Văn phòng các cấptrong Quân đội)
Trang 126 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, đồng thời vậndụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể, bao gồm:
Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phương pháp này được chúng tôi
áp dụng để nghiên cứu các tài liệu liên quan đến công tác văn phòng và các côngtrình nghiên cứu về quan điểm, tiêu chí đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ,nhân viên văn phòng
- Phương pháp khảo sát thực tế: Phương pháp này được áp dụng đểbước đầu khảo sát, đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên Văn phòng
Bộ Quốc phòng theo các tiêu chí đã đề xuất, đồng thời chỉ ra những yếu tố cầnhoàn thiện
- Phương pháp thống kê: Chúng tôi áp dụng phương pháp này để thống
kê số lượng, trình độ chuyên môn, hiệu quả công việc… cụ thể của từng đối tượngcán bộ, nhân viên nhằm minh họa thêm cho tính chuyên
nghiệp của cán bộ, nhân viên Văn phòng Bộ Quốc phòng một cách khách quan và chính xác
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Khi thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiếnhành phỏng vấn sâu đối với một số đối tượng trong phạm vi nghiên cứu bao gồm:đại diện lãnh đạo và một số nhân viên văn phòng ở các vụ, phòng, ban, trung tâmnhằm tham khảo ý kiến và làm rõ thêm các tiêu chí đánh giá tính chuyên nghiệpcủa cán bộ, nhân viên Văn phòng trong Bộ Quốc phòng
Đề tài góp phần làm rõ hơn một số vấn đề lý luận, thực tiễn về tính chuyên nghiệp và tiêu chí đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên văn phòng.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là tài liệu để Văn phòng BQPtham khảo trong việc đánh giá và nâng cao tính chuyên nghiệp của cán bộ,nhận viên, góp phần nâng cao hiệu quả công tác của Văn phòng
Trang 138 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và một số phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
- Chương 1 Sự cần thiết của việc xây dựng tiêu chí đánh giá tínhchuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên văn phòng Bộ Quốc phòng Trong
chương này, luận văn làm rõ các khái niệm: văn phòng, cán bộ, nhân viên vănphòng, tính chuyên nghiệp, tiêu chí đánh giá ; phân tích các yêu cầu đối vớicán bộ, nhân viên văn phòng của Bộ Quốc phòng trong thời kỳ đổi mới và hộinhập; trên cơ sở đó phân tích sự cần thiết của việc xây dựng tiêu chí đánh giátính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên trong văn phòng Bộ quốc phòng
- Chương 2 Xây dựng tiêu chí đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ,nhân viên ở Văn phòng Bộ Quốc phòng Trong chương này, chúng tôi trình bàycác căn cứ, cơ sở và đề xuất một số tiêu chí đánh giá tính chuyên nghiệp của cán
bộ, nhân viên văn phòng Bộ Quốc phòng, bao gồm: ngành nghề được đào tạo phùhợp với nhiệm vụ được giao; nắm vững chuyên môn, nghiệp vụ; tuân thủ quy chế,quy định và chế độ làm việc của Bộ Quốc Phòng và cơ quan; có kỹ năng thànhthạo; có quan hệ ứng xử phù hợp với các mối quan hệ trong cơ quan
- Chương 3 Áp dụng các tiêu chí trong đánh giá tính chuyên nghiệpcủa cán bộ, nhân viên Văn phòng Bộ Quốc phòng Trên cơ sở kết quả của Chương
2, luận văn bước đầu áp dụng các tiêu chí để khảo sát, đánh giá tính chuyên nghiệpcủa cán bộ, nhân viên Văn phòng Bộ Quốc phòng Qua kết quả khảo sát, chúng tôirút ra những nhận xét, đánh giá, đồng thời đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện
và áp dụng các tiêu chí nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viênVăn phòng Bộ Quốc phòng
Trang 14CHƯƠNG 1
SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC XÂY DỰNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TÍNH CHUYÊN NGHIỆP CỦA CÁN BỘ, NHÂN VIÊN
1.1 Khái niệm văn phòng và cán bộ, nhân viên văn phòng
1.1.1 Khái niệm văn phòng
Trong bất kỳ một cơ quan, tổ chức nào cũng cần có một bộ phận có chứcnăng tham mưu, giúp việc cho lãnh đạo trong hoạt động quản lý, điều hành, làmcông tác hành chính, bảo đảm cơ sở vật chất và thực hiện một số công việc khác
Đó là bộ phận văn phòng Hiện nay có khá nhiều định nghĩa về Văn phòng
Trong từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý, Văn Tân và Hoàng Phê chủ
biên cho rằng: “Văn phòng là bộ phận phụ trách công việc văn thư, hành chính
trong một cơ quan” [31,Tr1797] Theo Mike Harvey trong cuốn Quản trị hành chính văn phòng (bản dịch tiếng Việt) do Nhà xuất bản Thống kê ấn hành năm
1996: “Văn phòng là một từ ngữ tổng quát bao gồm tổ chức, quản trị và quản lý
một thực thể có liên quan đến việc xử lý dữ kiện và thông tin” [17; Tr57].
Nếu quan sát ở trạng thái tĩnh thì có thể thấy, văn phòng bao gồm các
yếu tố vật chất như nhà cửa, thiết bị, xe và con người để thực hiện mục tiêu
của tổ chức Còn xem xét văn phòng ở trạng thái động thì đó là toàn bộ quá
trình vận chuyển thông tin từ đầu vào đến đầu ra trong cơ quan, tổ chức Haiyếu tố chính liên quan đến hoạt động văn phòng là con người và thông tin,phương tiện, công cụ (văn bản, máy móc, thiết bị xử lý thông tin, phương tiệngiao dịch ) Văn phòng vừa là đầu mối đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ,kịp thời, vừa là bộ phận tham mưu giúp cho lãnh đạo ra các quyết định quản
lý và điều hành công việc Thông tin đầu vào, đầu ra của cơ quan đều qua vănphòng, nơi hình thành nên “bộ nhớ”, đồng thời là “bộ vi xử lý” phân tíchthông tin của lãnh đạo
Trang 15Ngoài ra, văn phòng còn là nơi giao tiếp công việc với cơ quan khác, lànơi tiếp và làm việc với người dân, với khách trong và ngoài nước Các thủtục hành chính đơn giản, thuận tiện, công khai, minh bạch hay phức tạp, gâykhó khăn, phiền hà cho giải quyết công việc của tổ chức và công dân đượcphản ánh rõ nét nhất ở đây Nhìn cách thức tổ chức của văn phòng, có thểđánh giá được cách thức làm việc của cơ quan Văn phòng là tấm gương phảnchiếu trình độ tổ chức lao động, trình độ văn hoá hành chính trong cơ quan.
Như vậy, văn phòng là một đơn vị công tác, có nhiệm vụ phục vụ các
hoạt động của cơ quan, tổ chức với các công việc chủ yếu như giúp Thủtrưởng cơ quan, tổ chức xây dựng và triển khai thực hiện chương trình, kếhoạch công tác theo định kỳ; thu thập, xử lý, bảo quản, cung cấp thông tin, tàiliệu; tổ chức hội họp, tiếp khách, bảo đảm về tài chính, các phương tiện làmviệc, đi lại và các điều kiện cần thiết cho các thành viên của tổ chức, cơ quan
đó hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn này, văn phòng được hiểu là:
Bộ phận có chức năng tham mưu, giúp việc cho lãnh đạo; là nơi thu thập, xử
lý và cung cấp thông tin cho hoạt động quản lý; là nơi đảm bảo các điều kiện, phương tiện làm việc của cơ quan, tổ chức.
Thực tiễn cho thấy, tùy theo quy mô và tính chất của cơ quan, tổ chức,đơn vị mà tổ chức, hoạt động của văn phòng cũng có những mức độ và phạm
vi khác nhau Ở cơ quan, đơn vị có quy mô lớn, văn phòng được tổ chức gồmđầy đủ các vụ, phòng, ban, các bộ phận với số lượng lớn cán bộ, nhân viên vàtrang thiết bị cần thiết để thực thi mọi hoạt động của văn phòng một cách độc lập,liên quan đến nhiều đầu mối với tính chất khác nhau (Văn phòng các Bộ, Vănphòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố…) Đối với cơ quan, đơn vị có quy mônhỏ và hoạt động mang tính chất thuần nhất, đơn lẻ, thì văn phòng được tổ chứcgọn nhẹ ở mức tối thiểu, đồng thời còn được giao kiêm nhiệm các chức năng,nhiệm vụ quản trị nhân sự, vật tư, tài chính Sự khác biệt trên
Trang 16rất dễ nhận thấy ở các cơ quan quản lý Nhà nước, như Văn phòng Trung ươngĐảng, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Quốchội, Văn phòng Bộ, Văn phòng Ủy ban nhân dân các cấp và văn phòng các cơquan sự nghiệp, văn phòng các tổ chức kinh tế
* Chức năng của văn phòng
Nhìn chung, văn phòng thường có ba chức năng cơ bản: Tham mưu,thông tin tổng hợp và quản trị hành chính
Muốn ra những quyết định mang tính khoa học, lãnh đạo cần phải căn
cứ vào nhiều yếu tố, trong đó có những ý kiến tham gia đề xuất của các cấpquản lý, của những người trợ giúp Những ý kiến đó được thu thập, chọn lọc
để đưa ra những kết luận chung nhất nhằm cung cấp những thông tin, nhữngphương án để lãnh đạo quyết định kịp thời và đúng đắn Đây chính là hoạtđộng tham mưu cho lãnh đạo của văn phòng Cần lưu ý rằng, tham mưu củavăn phòng chính là “tham mưu tổng hợp” hay “tổng hợp các tham mưu và đềxuất” (căn cứ vào tham mưu của các cơ quan chuyên sâu từng lĩnh vực, đặcbiệt khi các cơ quan có tham mưu đề xuất khác nhau, đề xuất chính kiến củaVăn phòng) Văn phòng có chức năng tổng hợp các thông tin, nắm bắt địnhhướng của lãnh đạo, quản lý, nên có điều kiện thuận lợi để thực hiện chứcnăng này
Chức năng tham mưu mang tính tổng hợp của văn phòng không hềchồng chéo với chức năng tham mưu của các cơ quan chuyên ngành Nộidung tham mưu của văn phòng bao trùm các mặt công tác mà văn phòng đượcgiao, nhưng tập trung tham mưu về việc tổ chức, điều hành công việc chungcủa cơ quan, xây dựng, quản lý chương trình, kế hoạch công tác, Trên thực
tế, chức năng tham mưu của văn phòng chỉ rõ nét ở cấp chiến lược, chiếndịch; càng xuống các cấp cơ sở càng không rõ nét
Chức năng tham mưu của Văn phòng gắn liền với chức năng thông tintổng hợp – đây là chức năng cơ bản, là nhiệm vụ bao trùm của Văn phòng
Trang 17Nói đến Văn phòng là liên hệ ngay đến việc cơ quan này phải xử lý dữ kiện
và thông tin Sẽ là sai lầm khi nhìn văn phòng chỉ thấy các “hiện vật” vật chất.Trong lãnh đạo và quản lý, thông tin đóng vai trò cực kỳ quan trọng Thôngtin vừa là nguyên liệu, phương tiện, vừa là sản phẩm của quá trình quản lý.Theo Mike Harvey, thông tin được coi là tài nguyên quan trọng nhất, là công
cụ hùng mạnh trong thế giới hiện đại Nếu không làm tốt chức năng này, vaitrò tham mưu và phục vụ của văn phòng sẽ bị hạn chế Thực tế chỉ ra rằng, chỉ
có thể tham mưu đúng cho lãnh đạo ra quyết định đúng khi có được đầy đủcác dữ liệu thông tin cần thiết, chính xác, kịp thời Để làm tốt chức năng này,cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa văn phòng với các đơn vị chức năng của cơquan trong việc xây dựng các cơ sở dữ liệu cần thiết phục vụ cho lãnh đạo
Chức năng quản trị hành chính của Văn phòng thể hiện ở việc giúp lãnhđạo quản lý tài chính, tài sản, tổ chức quản trị công sở và phục vụ khác Công tácnày rất rộng, phức tạp và không kém phần quan trọng, đảm bảo cơ sở vật chấtcho mọi hoạt động của cơ quan, từ phương tiện, điều kiện làm việc đến tổ chứcphục vụ các cuộc họp, hội nghị, phục vụ các chuyến đi công tác của lãnh đạo
Cả ba chức năng: Tham mưu, thông tin tổng hợp, quản trị hành chínhgắn bó hữu cơ và bổ sung hoàn chỉnh cho nhau trong hoạt động thực hiệnnhiệm vụ của văn phòng Tham mưu không thể thiếu thông tin, tham mưucũng là để phục vụ và trong phục vụ có tham mưu Cần phải nhận thức sâusắc và đầy đủ như vậy để khắc phục những nhận thức không đúng cho rằng,Văn phòng không làm chức năng tham mưu vì đã có các cơ quan, đơn vị, tổchức chuyên môn hoặc ngược lại khẳng định, Văn phòng phải làm chức năngtham mưu thay cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức chuyên môn
* Nhiệm vụ cơ bản của văn phòng
Để thực hiện được đầy đủ chức năng tham mưu, thông tin tổng hợp vàquản trị hành chính, Văn phòng có các nhiệm vụ cơ bản sau:
Trang 18Một là, giúp lãnh đạo xây dựng, quản lý chương trình, kế hoạch công
tác và đôn đốc thực hiện
Các nghị quyết, chủ trương chiến lược dự định cho những khoảng thờigian dài, được cụ thể hoá bằng những kế hoạch 5 năm, 3 năm, 1 năm, 6 tháng,quý, tháng, Việc xây dựng và quản lý các chương trình, kế hoạch là nhiệm
vụ của Văn phòng Kế hoạch hoạt động có nhiều loại và mỗi loại được giaocho các bộ phận chuyên môn thực hiện; được kết nối, hỗ trợ với nhau trongmột hệ thống hoàn chỉnh để đạt mục tiêu chung Nhiệm vụ của Văn phòng là
bố trí, sắp xếp chương trình, kế hoạch tổng hợp làm việc hàng tuần, tháng,quý, 6 tháng, năm của cơ quan; đôn đốc giải quyết những công việc đột xuất,những khó khăn, trở ngại khi thực hiện các chương trình, kế hoạch; theo dõi,điều hoà để các công việc trong cơ quan diễn ra theo đúng trình tự, không có
sự chồng chéo và bỏ sót công việc
Hai là, thu thập, quản lý và xử lý thông tin, tổng hợp báo cáo.
Thông tin là nguồn, là căn cứ để lãnh đạo đưa ra những quyết định.Thông tin có nhiều loại và từ nhiều nguồn khác nhau, gồm: Thông tin chínhtrị, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh; thông tin dự báo, thông tinthực tế, thông tin tổng hợp, thông tin phản hồi, Việc thu thập, xử lý toàn bộthông tin để phục vụ trực tiếp cho lãnh đạo, phần lớn giao cho Văn phòngthực hiện Văn phòng phải đảm bảo việc tiếp nhận, thu thập, quản lý, chuyểnphát tất cả thông tin đến (đầu vào) và đi (truyền đạt thông tin bằng văn bảnđến các bộ phận và cá nhân có liên quan); tổ chức đánh giá, phân loại và xử lýthông tin được kịp thời, chính xác; tra tìm các thông tin, văn bản cần thiết;tổng hợp báo cáo tình hình hoạt động của các đầu mối; tham mưu, đề xuất,kiến nghị các biện pháp thực hiện phục vụ sự chỉ đạo và điều hành của thủtrưởng cơ quan; kiểm tra quá trình giải quyết các văn bản và báo cáo lãnh đạo
để xử lý kịp thời mọi phát sinh
Ba là, tổ chức công tác văn thư, bảo mật, lưu trữ.
Trang 19Hoạt động quản lý trong các cơ quan luôn gắn với văn bản, giấy tờhành chính Văn phòng có nhiệm vụ giải quyết công văn, giấy tờ của các đơn
vị và cá nhân theo quy chế của cơ quan; tổ chức theo dõi việc giải quyết, bảomật các công văn, giấy tờ đó; tổ chức công tác lưu trữ hồ sơ, các hệ thống bảoquản thông tin, văn bản Đây là một công tác khoa học nghiệp vụ, thực hiệntheo các quy trình, quy định quy phạm về quản lý và ban hành văn bản, lập vànộp lưu hồ sơ tài liệu, bảo vệ an toàn và sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ
Bốn là, nghiên cứu soạn thảo văn bản và chịu trách nhiệm về tình trạng
pháp lý, kỹ thuật soạn thảo văn bản của cơ quan ban hành
Văn phòng là bộ phận nắm bắt tất cả mọi thông tin tổng hợp, phân loại và xử
lý chúng nên có đủ điều kiện để giúp các cấp lãnh đạo soạn thảo, thẩm tra thể thức, thủ tục và ban hành văn bản với nội dung đầy đủ, đúng thẩm quyền và có tác động tích cực tới đối tượng tiếp nhận Nhiệm vụ này đòi hỏi người làm công tác Văn phòng phải có kỹ năng, kỹ thuật tổng hợp, biên tập và soạn thảo văn bản tốt.
Năm là, thư ký giúp việc lãnh đạo, lễ tân tiếp khách, tổ chức phục vụ các
cuộc họp, hội nghị, giao ban ; bảo đảm sự liên lạc, giao tiếp với bên ngoài
Sáu là, đảm bảo các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của cơ
quan; quản lý tài chính, tài sản
Tất cả các tổ chức muốn tồn tại và hoạt động được đều phải có các yếu tốvật chất cần thiết, như: nhà, xe, bàn ghế, vật tư và trang thiết bị, phương tiện làmviệc Hàng năm, Văn phòng tính toán, dự trù mua sắm vật tư và trang thiết bị;xây dựng cơ bản, sửa chữa, quản lý cơ sở vật chất, kỹ thuật và phương tiện làmviệc; lập kế hoạch tài chính, dự toán kinh phí hoạt động hàng năm, hàng quý vàquản lý, sử dụng kinh phí theo quy định của pháp luật ngân sách; quản lý công
sở, bố trí, sắp xếp phòng làm việc, quản lý tài sản công của cơ quan
Bảy là, thường xuyên kiện toàn bộ máy, xây dựng, nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ, nhân viên trong văn phòng; từng bước hiện đại hoá công táchành chính văn phòng
Ngoài những nhiệm vụ chủ yếu nêu trên, Văn phòng còn thực hiện một
số nhiệm vụ khác khi được giao
Trang 201.1.2 Khái niệm cán bộ, nhân viên văn phòng
Trong khu vực công, cán bộ, nhân viên văn phòng bao gồm những côngchức, viên chức làm việc trong bộ phận văn phòng của các cơ quan Nghị định
số 06/2010/NĐ-CP ban hành năm 2010 đã chỉ rõ: "Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị".
Cũng theo Nghị định trên, tại Điều 10, công chức trong cơ quan, đơn vị
của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được hiểu là "Người làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng".
Do tính chất hoạt động đặc thù về quân sự nên việc bố trí nhân sự ở các
cơ quan, đơn vị trong Quân đội nói chung và ở Văn phòng BQP nói riêng có
sự khác biệt so với các cơ quan, tổ chức ngoài Quân đội Các cơ quan, đơn vịngoài Quân đội phân thành các ngạch: Cán bộ, công chức, viên chức nhànước BQP phân ngạch thành 2 nhóm: Cán bộ (Sĩ quan) và nhân viên (Quânnhân chuyên nghiệp, Công nhân viên quốc phòng, chiến sĩ (Hạ sĩ quan, binhsĩ) và hợp đồng lao động)
Căn cứ vào những quy định trên, trong luận văn này, thuật ngữ “cán
bộ, nhân viên Văn phòng Bộ Quốc phòng” được hiểu “ là những sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng và chiến sĩ làm việc theo chức năng, nhiệm vụ ở Văn phòng Bộ Quốc phòng”.
1.2 Khái niệm tính chuyên nghiệp
Theo Từ điển Việt Nam, Viện Ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng, 2006 về mặt tính từ, chuyên nghiệp nghĩa là Chuyên làm một nghề, lấy một việc, một hoạt động nào đó làm nghề chuyên môn; phân biệt với nghiệp dư.
Từ điển Anh - Anh - Việt, NXB Văn hóa thông tin, 1999 giải thích từ professional (chuyên nghiệp) như sau: Chuyên nghiệp là một việc gì đó như
Trang 21một công việc mà người khác làm chỉ vì hứng thú hoặc sở thích (doing job as
a sth which others do only as an interest or a hobby)
Như vậy, có thể hiểu theo nghĩa đơn giản nhất: Chuyên nghiệp là chuyên
tâm vào nghề nghiệp, vào công việc được giao Chuyên nghiệp thể hiện sự
chuyên môn hóa, làm việc có tinh thần trách nhiệm và đạt hiêu quả cao
Tuy nhiên, chuyên nghiệp còn được hiểu theo cách khác; đó là: Biết cách
điều tiết công việc cho phù hợp với tiến độ và môi trường xung quanh để tạo nên hiệu quả công việc cao nhất Hay, chuyên nghiệp thể hiện qua tác phong làm việc nhanh nhạy, khoa học trên cơ sở nắm vững kiến thức chuyên môn.
Tính chuyên nghiệp không chỉ có trong các công việc có quy mô lớn,mức độ phức tạp cao mà phải thể hiện ngay trong từng công việc nhỏ, diễn rahàng ngày Tính chuyên nghiệp không phải chỉ thể hiện hoặc được xem xét ởcác nội dung, vấn đề phức tạp, khó thực hiện, mà ngược lại, nó được thể hiện,đánh giá ở cả những công việc đơn giản, hành động thường xuyên trong quátrình thực hiện của mỗi người, mỗi tổ chức
Từ cách hiểu về thuật ngữ "chuyên nghiệp", có thể xác định "tínhchuyên nghiệp" như sau:
“Tính chuyên nghiệp được thể hiện ở khả năng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và khả năng thực hành công việc một cách khoa học, theo đúng quy trình, đạt hiệu quả cao”.
- Tính chuyên nghiệp là yêu cầu về chuyên môn trong từng lĩnh vực nghề nghiệp của mỗi tổ chức, cá nhân
- Tính chuyên nghiệp là những cách thức tổ chức và triển khai công việc phù hợp với điều kiện, yêu cầu thực tế để tạo nên hiệu quả tốt nhất
- Tính chuyên nghiệp đ ược thể hiện qua việc nắm vững kiến thứcchuyên môn và có thái độ chuẩn mực đối với công việc, kết hợp với tác phonglàm việc nhanh nhạy, khoa học
Trang 22- Tính chuyên nghiệp biểu hiện qua sự thành thục các kĩ năng thiết yếu,giải quyết công việc đúng quy trình, thủ tục, nguyên tắc nhằm thực hiện công việcmột cách thuần thục, nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo chất lượng, yêu cầu.
Để đạt tới tính chuyên nghiệp của cả một tập thể, một tổ chức, các vị trícông việc phải được xác định rõ, mỗi cá nhân phải nắm vững từng nhiệm vụđược giao và đồng thời có khả năng thực hiện một cách thành thục các nhiệm
vụ đó Tính chuyên nghiệp của tổ chức được đánh giá ở chính hành động, thái
độ của mỗi thành viên trong tổ chức Vì thế, đối với các tổ chức, nhất lànhững tổ chức lớn, có chức năng hoạch định chính sách, chức năng điều hành,quản lý, cần xây dựng chuẩn mực nghề nghiệp chuyên môn theo hướngchuyên nghiệp và yêu cầu tất cả cán bộ, nhân viên phải chấp hành nghiêm túc
Hoạt động của Văn phòng BQP cũng như nhiều hoạt động chuyên mônkhác, đều chứa đựng những yêu cầu và tiêu chí chung, nhưng đồng thời cũng
có những tiêu chí mang tính đặc thù Chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, nhân viên
văn phòng với khả năng chuyên môn cao, tác nghiệp thành thục, hiệu quả, ý thứctrách nhiệm cao là điều kiện tiên quyết cho việc đảm bảo tính chuyên nghiệp đốivới đội ngũ cán bộ, nhân viên văn phòng Bên cạnh đó, công tác tham mưu, tổnghợp cần phải dần được chuyên nghiệp hoá, bảo đảm cung cấp thông tin đầy đủ,kịp thời cho các hoạt động chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo; nâng tầm công tác lễtân, văn thư, lưu trữ và tài chính - kế toán Mặt khác, để khẳng định tính chuyênnghiệp trong hoạt động văn phòng cũng cần có sự đổi mới theo tiêu chuẩn ISO9001:2008, tức là thực hiện một cách rõ ràng, khoa học, hợp lý, quy trình, quychuẩn hóa các hoạt động liên quan đến nghiệp vụ Văn phòng; cùng với đó là việctăng cường ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cho công tác chỉ đạo, điềuhành về quản lý chuyên môn, nghiệp vụ; hoàn thiện cơ bản về biên chế, trangthiết bị phục vụ công tác để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới; đổimới lề lối và phương pháp làm việc, nền nếp hoạt động
Trang 23theo hướng xây dựng, cải tiến từng bước; đảm bảo là trung tâm thông tin, tổnghợp, phục vụ lãnh đạo và quản lý của ngành, của cơ quan tổ chức.
Từ cách tiếp cận trên, có thể quan niệm: “Tính chuyên nghiệp của cán
bộ, nhân viên Văn phòng được thể hiện ở trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và khả năng thực hành công việc một cách khoa học, theo đúng quy trình, quy định, đạt hiệu quả cao”.
Do hoạt động văn phòng tác động trên một phạm vi rộng, nhất là đốivới các cơ quan quản lý cấp điều hành, vì thế tính chuyên nghiệp trong côngtác văn phòng đóng vai trò hết sức quan trọng Xuất phát từ vai trò của Vănphòng với tư cách là bộ phận làm việc tổng hợp và trực tiếp phục vụ cho việcđiều hành của lãnh đạo, sự chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên văn phòng cóvai trò như sau1:
- Đảm bảo hoạt động nghiệp vụ chuyên môn: Hoạt động chuyên môn
được thực hiện dựa trên các chương trình, kế hoạch hoạt động của cơ quan, đơn vịtheo tuần, quý, năm do chính các cán bộ, nhân viên văn phòng có trách nhiệm xâydựng trên cơ sở tổng hợp các đề xuất từ những bộ phận khác nhau trong cơ quan.Các hoạt động này phải đảm bảo sự đồng bộ, nhất quán, chặt chẽ Văn phòng đảmtrách việc đôn đốc trong khâu thực hiện các chương trình, kế hoạch đã được phêduyệt, thống nhất triển khai Sự chuyên nghiệp của các cán bộ, nhân viên vănphòng sẽ đảm bảo duy trì các hoạt động, có sự phối kết hợp nhịp nhàng trong việcthực hiện các mục tiêu chung của cơ quan
- Đảm bảo sự thông suốt, liên tục của các hoạt động trong cơ quan: Có
sự liên tục trong điều hành và xử lý thông tin cũng chính là cơ sở đảm bảo hiệuquả trong công việc Phát triển liên tục các công việc của tổ chức và của từng bộphận trong cơ quan để mọi việc không bị đứt đoạn hoặc bỏ dở là vai trò quan trọng
mà cán bộ, nhân viên văn phòng thực hiện được Sự thông
1 Phấn này chúng tôi tham khảo kết quả nghiên cứu của Đề tài “ Nâng cao tính chuyên nghiệp của cán bộ,
nhân viên làm công tác văn phòng trong Bộ Quốc phòng” Tài liệu đã dẫn
Trang 24suốt, liên tục sẽ khiến các bộ phận gắn bó, hỗ trợ lẫn nhau, hoạt động của các
cá nhân, tổ chức được kiểm tra, đánh giá thường xuyên, nhờ đó tiết kiệm đượcthời gian giải quyết công việc, hiệu quả công việc được nâng cao Thông quaquá trình kiểm tra, đánh giá thường xuyên, liên tục giúp hạn chế các tiêu cựcxảy ra trong tổ chức Sự thông suốt trong công việc cũng chính là biểu hiệnsống còn đối với một tổ chức Muốn vậy cần phải có một đội ngũ nhân viênthực sự chuyên nghiệp, thao tác thành thục các hoạt động nghiệp vụ chuyênmôn, đảm bảo tính liên tục trong công việc chung của tổ chức
- Tham mưu đảm bảo chất lượng và hiệu lực, hiệu quả quản lý cho lãnh đạo: Người lãnh đạo trong cơ quan chỉ thực sự bộc lộ được vai trò quản lý
của mình khi có một đội ngũ cán bộ, nhân viên văn phòng chuyên nghiệp Sự tinhthông nghiệp vụ chuyên môn, sự chủ động, sáng tạo trong thực hiện các hoạt độngnghiệp vụ văn phòng, sự chính xác, kịp thời trong công tác tham mưu sẽ góp phầntăng cường hiệu lực và hiệu quả cho các quyết định quản lý, điều hành của ngườilãnh đạo
- Kết nối giữa các bộ phận trong và ngoài cơ quan: Hoạt động của Văn
phòng tự nó đã có mối liên kết với tất cả các bộ phận trong cơ quan, tổ chức và các
cơ quan, đơn vị khác liên quan Chính vì vậy, Văn phòng là cầu nối giữa các bộphận trực thuộc với lãnh đạo, đồng thời, là cầu nối giữa các thành viên, các tổ chứctrong cơ quan và là đầu mối cho việc thiết lập các mối quan hệ giữa cơ quan vớicác cơ quan, tổ chức bên ngoài Do đó, sự chuyên nghiệp trong giao tiếp, ứng xử,
sự tiếp ứng và hồi đáp kịp thời các thông tin từ các cán bộ nhân viên văn phòng sẽ
là "kênh" dẫn truyền, tạo nên sự kết nối giữa trong và ngoài tổ chức
- Xây dựng và duy trì văn hóa công sở: Tính chuyên nghiệp của hoạt
động văn phòng sẽ góp phần hình thành sự tự quản của các cá nhân trong tổ chứcnhư tính trách nhiệm, tính độc lập, ứng xử, phong cách làm việc Thông qua việcxây dựng các quy tắc, quy chế, quy trình, điều lệ riêng, văn phòng sẽ
Trang 25đảm bảo việc thực hiện các cơ chế của tổ chức Bên cạnh đó, sự xem xét,khen thưởng, cách khen thưởng và những căn cứ, cơ sở của nó cũng được coi
là hình thức duy trì văn hóa công sở mà văn phòng là bộ phận đảm trách
- Tạo dựng hình ảnh và uy tín cho tổ chức, củng cố lòng tin cho các cá nhân và các đơn vị: Văn phòng là một bộ phận thiết yếu của cơ quan tổ chức, là
nơi diễn ra các hoạt động giao tiếp thường xuyên liên quan đến đối nội, đối ngoại
Sự chuyên nghiệp của các cán bộ nhân viên văn phòng sẽ tạo ảnh hưởng trực tiếpđến cách nhìn nhận, đánh giá của các cá nhân, tổ chức về phong cách làm việc,hiệu quả chuyên môn và khả năng giải quyết, xử lý công việc của chính cơ quan
đó Nói cách khác, Văn phòng là nơi tạo dựng phong cách văn hóa đặc thù, là "bộmặt" của cơ quan, tổ chức
1.3 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Văn phòng Bộ Quốc phòng
Theo Quyết định số 1945/QĐ-VP ngày 08/4/2006 về việc ban hành quy chế làm việc, Văn phòng Bộ Quốc phòng có chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức như sau:
1.3.1 Chức năng
Bộ Quốc phòng là một Bộ trong cơ cấu tổ chức của Chính phủ, ngoàithực hiện chức năng quản lý nhà nước về quốc phòng trong phạm vi cả nước,còn tổ chức thực hiện việc xây dựng, quản lý, chỉ huy quân đội nhân dân vàdân quân tự vệ, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảngđối với Quân đội Do tính đặc thù so với các cơ quan quản lý nhà nước khác
mà tổ chức Văn phòng BQP có những chức năng, nhiệm vụ riêng
Văn phòng BQP là cơ quan đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Thường vụ QUTW, Bộ trưởng BQP; có chức năng nghiên cứu, tham mưu, tổng hợp và hành chính giúp QUTW, BQP lãnh đạo, quản lý, chỉ huy thực hiện nhiệm
vụ quân sự, quốc phòng, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, chỉ đạo và thực hiện nghiệp vụ công tác văn phòng trong Quân đội.
Văn phòng BQP đồng thời là Văn phòng QUTW (dưới đây gọi là Vănphòng Bộ Quốc phòng) là cơ quan của BQP và cơ quan của QUTW; đồng
Trang 26thời, là cơ quan đầu ngành về nghiệp vụ văn phòng trong Quân đội; đặt dưới
sự lãnh đạo của Đảng uỷ Bộ Tổng Tham mưu - Cơ quan Bộ Quốc phòng, sựchỉ đạo của Thường vụ QUTW và Bộ trưởng BQP về nhiệm vụ chính trị
- Chức năng của Văn phòng BQP: tham mưu, tổng hợp và hành chínhphục vụ sự lãnh đạo của QUTW, sự chỉ đạo, quản lý của BQP trong việc thực hiệnnhiệm vụ quân sự, quốc phòng và quản lý nhà nước về lĩnh vực quốc phòng; chỉđạo nghiệp vụ công tác văn phòng trong toàn quân
1.3.2 Nhiệm vụ
- Nghiên cứu tổng hợp xây dựng chương trình, kế hoạch công tác củaQUTW và BQP; giúp QUTW và BQP theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc và điều phốithực hiện chương trình, kế hoạch công tác; duy trì thực hiện chế độ công tác, quychế làm việc
- Tổng hợp báo cáo tình hình, phối hợp với các cơ quan có liên quan đềxuất với QUTW và BQP các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, quản lý, chỉ huy thựchiện nhiệm vụ
- Chủ trì, phối hợp soạn thảo các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo của QUTW
và BQP có liên quan đến nhiều mặt công tác; các báo cáo của QUTW và BQP vềtình hình thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; các đề án, dự án được Thường
vụ QUTW, BQP giao
- Thẩm tra về thủ tục, thể thức và nội dung văn bản của các cơ quan,đơn vị trình QUTW và BQP; có ý kiến đề xuất độc lập; chủ trì xử lý các vấn đềcòn có ý kiến khác nhau để hoàn chỉnh văn bản trình QUTW và BQP ban hành khiđược Thường vụ QUTW, Thủ trưởng BQP uỷ quyền
- Tiếp nhận, phân loại công văn, tài liệu, văn kiện gửi đến QUTW vàBQP; nghiên cứu đề xuất báo cáo Thủ trưởng BQP chỉ đạo; chuyển giao đến các
cơ quan, đơn vị giải quyết và theo dõi, đôn đốc thực hiện; quản lý các loại văn bảncủa QUTW và BQP
- Chủ trì phối hợp với các cơ quan duy trì mối quan hệ công tác giữa
Trang 27QUTW, BQP với các cơ quan Đảng, Nhà nước, các đoàn thể ở Trung ương, địa phương và các cơ quan, đơn vị thuộc BQP.
- Định kỳ tổng hợp thông báo tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, đốingoại và tình hình thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng tới các cơ quan, đơn vịtrực thuộc BQP và các cơ quan của Đảng, Nhà nước theo quy định
- Hướng dẫn, chỉ đạo, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác văn phòng trongtoàn quân bao gồm: công tác nghiên cứu tổng hợp, văn thư bảo mật lưu trữ,
quản lý việc ban hành văn bản trong quân đội, đề xuất bảo đảm kinh phí, vật
tư nghiệp vụ cho hệ thống Văn phòng toàn quân, quản lý và đảm bảo con dấucho các cơ quan, đơn vị theo quy định
- Thu thập, quản lý, bảo quản và tổ chức khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ trong quân đội đúng chế độ quy định
- Tổ chức và bảo đảm phục vụ các cuộc họp, hội nghị của Thường vụ, QUTW, Thủ trưởng BQP theo quy định
- Truyền đạt chỉ thị, mệnh lệnh hành chính, ý kiến chỉ đạo của Thường
vụ QUTW và BQP đến các cơ quan, đơn vị liên quan thực hiện
- Bảo đảm các điều kiện làm việc; phối hợp phục vụ các chuyến công tác trong nước và ngoài nước của Thủ trưởng BQP
- Quản lý, chỉ huy cán bộ, nhân viên thực hiện nhiệm vụ; quản lý tài chính, tài sản của Văn phòng theo quy định của Nhà nước và Quân đội
- Thực hiện các nhiệm vụ khác được Thường vụ QUTW và BQP giao
1.3.3 Cơ cấu tổ chức, biên chế của Văn phòng Bộ Quốc phòng
Hiện nay, tổ chức, biên chế của Văn phòng BQP gồm: Chỉ huy vănphòng và 12 vụ, phòng, ban, trung tâm (Phòng Nghiên cứu tổng hợp, PhòngTổng hợp bảo đảm, Phòng Đối ngoại, Phòng nghiên cứu cải cách hành chính,Phòng Kiểm toán, Phòng Bảo mật, lưu trữ, Phòng Hành chính, Vụ Pháp chế,Trung tâm Lưu trữ, Cổng Thông tin điện tử, Ban Tài chính, Ban Chính trị).Biên chế gồm 185 đồng chí, gồm sĩ quan, quân nhân chuyên
Trang 28nghiệp, hạ sĩ quan-binh sỹ.
1.3.4 Đặc điểm của Văn phòng Bộ Quốc phòng
Do tính chất hoạt động đặc thù trong môi trường quân đội, Văn phòngBQP có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, Văn phòng Bộ Quốc phòng đồng thời thực hiện chức năng,
nhiệm vụ của văn phòng cấp uỷ Đây là đặc điểm rất đặc thù của Văn phòng
Bộ Quốc phòng Văn phòng cấp ủy là một cơ quan thuộc hệ thống các bancủa Đảng, có chức năng tham mưu giúp cấp ủy, trực tiếp là Ban Thường vụ vàthường trực cấp ủy điều hành công việc lãnh đạo của Đảng Về cơ bản Vănphòng cấp ủy Đảng có 2 chức năng: Tham mưu giúp cấp ủy mà trực tiếp làBan Thường vụ và thường trực tổ chức điều hành công việc lãnh đạo của cấpủy; phối hợp điều hòa hoạt động của Đảng, đồng thời là một trung tâm tổnghợp phục vụ cấp ủy Nội dung tham mưu gồm nhiều lĩnh vực và có tính chấttổng hợp nhưng trước hết là tham mưu về tổ chức điều hành công việc lãnhđạo và chỉ đạo của cấp ủy
Là cơ quan phục vụ trực tiếp hoạt động hàng ngày của cấp ủy (Banthường vụ) Do tổ chức Đảng trong quân đội có những quy định riêng trong Điều
lệ Đảng Cộng sản Việt Nam; các ủy viên Đảng ủy nhất là ủy viên Thường vụthường là những đồng chí chỉ huy chủ chốt của đơn vị, trên Bộ Quốc phòng làmột số đồng chí trong Bộ Chính trị, Bộ trưởng, một số Thứ trưởng, các Quânkhu, Quân đoàn, Quân chủng, Binh chủng, Bộ đội biên phòng là Tư lệnh, Chính
ủy, một số phó tư lệnh nên hoạt động lãnh đạo về Đảng luôn gắn với hoạt độngquản lý, điều hành của người chỉ huy; mặt khác do nhiều nhiệm vụ của công tácđảng, công tác chính trị có cơ quan chuyên trách riêng thực hiện (Bộ Quốcphòng có Tổng cục Chính trị, Quân khu, Quân đoàn có Cục chính trị) nên việcgiao trách nhiệm đồng thời thực hiện chức năng văn phòng cấp ủy cho Vănphòng Bộ Quốc phòng là phù hợp Đây cũng là truyền thống của Văn
Trang 29phòng Bộ Quốc phòng Văn phòng Bộ Quốc phòng đã được thực hiện chức năngnày liên tục từ năm 1949 cho đến nay (tháng 1-1949 hợp nhất Văn phòng Tổngchính ủy và Văn phòng Bộ Quốc phòng) Do đó khi nói về đặc điểm của vănphòng Bộ Quốc phòng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh đã nói
“Ngoài việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ như các văn phòng khác, văn phòngtrong Bộ Quốc phòng còn có những đặc điểm riêng; điểm nổi bật là: Văn phòng
Bộ Quốc phòng cùng với Văn phòng các Quân khu, Quân đoàn, Quân chủng,Binh chủng, Bộ đội biên phòng và một số đầu mối khác phải đồng thời thực hiệnhai chức năng, vừa phục vụ cho hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, vừaphục vụ cho hoạt động chỉ huy, quản lý điều hành của hệ thống chỉ huy, quản lý”(Trích phát biểu của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tại Hội thảo khoa học “Công tácvăn phòng trong Bộ Quốc phòng - Lịch sử và kinh nghiệm”.2
Thứ hai, Về tổ chức, văn phòng trong Bộ Quốc phòng được tổ chức
thành hệ thống từ Bộ Quốc phòng, đến cơ quan, đơn vị cấp Sư đoàn, Bộ Chỉhuy quân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; do đó hình thành ngànhvăn phòng trong quân đội; hệ thống tổ chức có văn phòng cấp trên, cấp dưới;
do đó có sự chỉ đạo nghiệp vụ ngành từ cấp Bộ đến cơ quan, đơn vị
Từ nhiều năm nay hệ thống Văn phòng đã được tổ chức từ cơ quan Bộđến các cơ quan, đơn vị Tuy hình thành hệ thống văn phòng như vậy, song từkhi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành Quy định tổ chức hệ thống văn phòngcác cấp trong quân đội kèm theo Quyết định số 1548/2000/QĐ-BQP ngày02/8/2000 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thì hệ thống văn phòng trong Bộ Quốcphòng mới được xác định: Hệ thống văn phòng được tổ chức từ Bộ đến cấp Sưđoàn gồm: Văn phòng Bộ Quốc phòng đồng thời là Văn phòng Đảng ủy
2 Công tác văn phòng trong Bộ Quốc phòng lịch sử và kinh nghiệm NXB QĐND, H 2006, trang 18, 19.
Trang 30Quân sự Trung ương, là cơ quan đầu ngành nghiệp vụ của văn phòng các cấptrong Quân đội (Điều 3 của Quy định) Đến Quyết định số 68/2008/QĐ-BQPngày 13/5/2008 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc ban hành Quy địnhchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức văn phòng các cấp trongquân đội (thay thế Quyết định số 1548/2000/QĐ-BQP) điều này vẫn được xácđịnh (Điều 2 của Quy định) Nhưng do đặc điểm của từng cơ quan, đơn vị mà
cơ quan văn phòng từng cấp tổ chức không giống nhau, ngoài chức năng,nhiệm vụ chung, một số chức năng, nhiệm vụ cụ thể cũng khác nhau, đâycũng là đặc điểm riêng của hệ thống văn phòng trong Bộ Quốc phòng
Thứ ba, hoạt động quản lý điều hành của thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong quân đội đòi hỏi yêu cầu cao về mọi mặt để phục vụ nhiệm vụ chỉ huy,
sẵn sàng chiến đấu, tính khẩn trương, đột xuất và bảo mật cao, nên hoạt độngvăn phòng cũng đòi hỏi phải đáp ứng các yêu cầu đó Hoạt động quân sự,quốc phòng và quản lý điều hành quân đội vừa mang tính chất chính trị - xãhội vừa mang tính chất đặc thù quân sự Cơ chế điều hành của quân đội làmệnh lệnh, chỉ huy và phục tùng; cơ chế bảo đảm cho quân đội là kế hoạch;hoạt động quân đội về góc độ kinh tế là hoạt động tiêu hao, tiêu thụ Tính chấttrên đây chi phối rất nhiều đến tổ chức và hoạt động của văn phòng; tổ chứcvăn phòng phải tinh gọn, cán bộ, nhân viên văn phòng không chỉ phải có nănglực về nghiệp vụ văn phòng mà còn phải có kiến thức cần thiết về khoa họcquân sự và các lĩnh vực khác liên quan đến quân sự, quốc phòng
Nhận thức được đầy đủ những đặc điểm trên đây của văn phòng vàcông tác văn phòng sẽ giúp cho lãnh đạo, chỉ huy cơ quan, tổ chức có biệnpháp tổ chức, xây dựng văn phòng, các tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm
vụ văn phòng (Phòng, Ban hành chính và các tổ chức kiêm nhiệm) đủ cácđiều kiện cần thiết để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được giao
Trang 311.4 Sự cần thiết và yêu cầu của việc xây dựng tiêu chí đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên Văn phòng Bộ Quốc phòng
1.4.1 Sự cần thiết
Qua nghiên cứu, khảo sát về lý luận và thực tiễn, chúng tôi cho rằng,việc xây dựng tiêu chí đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên Vănphòng Bộ Quốc phòng là cần thiết và cấp bách Sở dĩ nói như vậy là vì:
Thứ nhất, cho đến nay, trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam,
chưa có quy định chính thức nào quy định về tiêu chí đánh giá tính chuyênnghiệp của cán bộ, nhân viên Văn phòng nói chung Vì thế, Văn phòng Bộ
Quốc phòng chưa có căn cứ, cơ sở pháp lý để áp dụng vào thực tiễn Thứ hai,
việc xây dựng tiêu chí đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ,
nhân viên là yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra đối với Văn phòng Bộ Quốc phòng
Để thực hiện và hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, Vănphòng Bộ Quốc phòng cần có một đội ngũ cán bộ, nhân viên không chỉ đủ về
số lượng mà còn có năng lực làm việc hiệu quả và tinh thần, thái độ làm việctận tụy, trách nhiệm Nói cách khác, trong tình hình mới, để hoàn thành tốtnhiệm vụ được giao, cán bộ, nhân viên Văn phòng BQP cần nâng cao tínhchuyên nghiệp, thể hiện qua hiệu quả công tác thực tế
Trong thời gian qua, Văn phòng BQP đã có nhiều biện pháp và đã triểnkhai một số đề tài nghiên cứu, trong đó tập trung vào vấn đề: làm thế nào đểnâng cao, đồng thời có căn cứ, cơ sở đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ,nhân viên Văn phòng BQP? Trả lời cho câu hỏi trên, các đề tài nghiên cứutrước đã phân tích một số biểu hiện của tính chuyên nghiệp và đưa ra nhiềugiải pháp để nâng cao tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức Văn phòngBQP Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có văn bản chính thức nào quy định
về các tiêu chí đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên Văn phòng
Bộ Quốc phòng nói riêng Vì vậy, yêu cầu đặt ra là cần phải nghiên cứu, đềxuất các tiêu chí đó
Trang 32Thứ ba, việc xây dựng tiêu chí đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ,
nhân viên Văn phòng Bộ Quốc phòng sẽ cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn
để Văn phòng Bộ Quốc phòng tham khảo, đề xuất với cấp trên để đưa vào cácquy định đánh giá cán bộ, nhân viên Hàng năm, công chức, viên chức, cán bộnói chung và cán bộ, công chức văn phòng nói riêng đều cần được đánh giá,phân loại, xếp loại, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động, đồng thời tạo sựcông bằng, tạo động lực làm việc cho cán bộ, nhân viên Muốn đánh giá chínhxác mức độ chuyên nghiệp của cán bộ, công chức thì cần phải có các tiêu chí
cụ thể Vì vậy việc xây dựng tiêu chí là cần thiết
Thứ tư, tiêu chí đánh giá sẽ là căn cứ để mỗi cán bộ, công chức Văn
phòng Bộ Quốc phòng tự điều chỉnh, hoàn thiện mình, tự đánh giá bản thân
và đánh giá các đồng nghiệp khác một cách khách quan
Thứ năm, việc xây dựng tiêu chí đánh giá tính chuyên nghiệp của cán
bộ, nhân viên Văn phòng sẽ giúp cho Bộ Quốc phòng có căn cứ, cơ sở trongviệc xây dựng chế độ tuyển dụng, bố trí, đào tạo, bồi dưỡng và giải quyết cácchế độ khen thưởng, kỷ luật, chế độ đãi ngộ cho cán bộ, công chức Vănphòng
- Các tiêu chí cần rõ ràng, vừa định tính, vừa định lượng;
- Các tiêu chí phải có tính khả thi, có thể áp dụng trong thực tiễn
Trang 33Qua những nội dung trình bày trong chương 1, có thể thấy:
Văn phòng có vị trí, vai trò rất quan trọng trong hệ thống tổ chức củacác cơ quan, đơn vị; hoạt động của Văn phòng có ảnh hưởng trực tiếp đếnchất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của các cơ quan, đơn vị.Hoạt động của Văn phòng BQP luôn gắn liền với quá trình lãnh đạo, chỉ đạocủa cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị Là cơ quan có chức năng tham mưu,tổng hợp và hành chính phục vụ, đồng thời là một trung tâm thông tin tổnghợp, phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy về thực hiện nhiệm vụquân sự, quốc phòng; do vậy, quá trình tham mưu, tổng hợp và phục vụ cầnphải hướng tới chuyên nghiệp mới có thể làm tốt được vai trò, trách nhiệm rấtquan trọng của mình Tính chuyên nghiệp là nhân tố đảm bảo hoạt độngnghiệp vụ chuyên môn; đảm bảo sự thông suốt, liên tục của các hoạt độngtrong cơ quan; đảm bảo chất lượng và hiệu lực, hiệu quả quản lý cho lãnhđạo; tạo sự kết nối giữa các bộ phận trong và ngoài cơ quan; xây dựng và duytrì văn hóa công sở và tạo dựng hình ảnh và uy tín cho tổ chức, củng cố lòngtin cho các cá nhân và các đơn vị Việc nghiên cứu để xác định các tiêu chíđánh giá đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên Văn phòng BQP
vì vậy là vấn đề cần thiết và cấp bách
Trang 34CHƯƠNG 2
TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TÍNH CHUYÊN NGHIỆP CỦA CÁN BỘ, NHÂN VIÊN VĂN PHÒNG BỘ QUỐC PHÒNG 2.1 Khái niệm “Tiêu chí đánh giá”
Đánh giá cán bộ, nhân viên văn phòng nói chung và tính chuyên nghiệpcủa đội ngũ cán bộ, nhân viên văn phòng nói riêng có thể coi là khâu quantrọng nhất trong quy trình quản lý nhằm xác định mức độ hoàn thành nhiệm
vụ, sự phù hợp với công việc, với cơ quan, đơn vị của một cán bộ, nhân viên;trên cơ sở đó, áp dụng chế độ thưởng, phạt hợp lý Đánh giá tính chuyênnghiệp của cán bộ, nhân viên là việc làm cần thiết và không thể thiếu trongcông tác quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác, kịp thời động viên cán bộ,nhân viên và giúp họ khắc phục những thiếu sót
Tuy nhiên, để đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên mộtcách khách quan, chính xác là không đơn giản Vì vậy, mỗi cơ quan, đơn vịcần đưa ra những tiêu chí để đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhânviên đảm bảo khách quan, chính xác nhất
“Tiêu chí”, hiểu theo nghĩa phổ biến nhất là những chỉ số, những thangbiểu giá trị dùng để xem xét đánh giá một sự vật, hiện tượng hay một hoạtđộng Mỗi dạng hoạt động, mỗi loại công việc, mỗi một hiện tượng cụ thể đều
có hệ tiêu chí đánh giá riêng Mỗi hoạt động, mỗi lĩnh vực đều có tiêu chí
“đo” khác nhau; không thể sử dụng tiêu chí của hoạt động này, lĩnh vực này
để đánh giá hoạt động khác, lĩnh vực khác
Tiêu chí cần có 2 loại: các tiêu chí định tính và và các tiêu chí mangtính định lượng Hoặc trong cùng một tiêu chí, có cả hai yếu tố là định tính vàđịnh lượng
Phần định tính là những tiêu chí hoặc các yếu tố có thể mô tả hoặc phảnánh tính chất hoặc đặc điểm của sự vật, hiện tượng nhưng không đo, đếm, tínhtoán bằng số lượng, không thể thống kê bằng số liệu Các yếu tố định tính có
Trang 35thể nhận biết, đánh giá được thông qua việc các biểu hiện đã được mô tả Tiêuchí này thường trả lời cho câu hỏi: như thế nào?
Ví dụ: trong công việc, cán bộ, công chức văn phòng cần có tinh thầntrách nhiệm, thể hiện qua các biểu hiện như: hiểu rõ về nhiệm vụ được giao, tựgiác thực hiện và luôn mong muốn hoàn thành công việc một cách tốt nhất Tiêuchí này rất khó đo, đếm, nhưng qua mô tả, người ta có thể nhận diện được tinhthần trách nhiệm của cán bộ qua những biểu hiện của họ trong công việc
Phần định lượng là những tiêu chí hoặc yếu tố có thể xác định được,lượng hóa được và đo, đếm, thống kê được, thể hiện qua các số liệu cụ thể.Tiêu chí này thường trả lời cho câu hỏi: bao nhiêu?
Ví dụ: Cán bộ, công chức văn phòng cần có tính kỷ luật cao, thể hiệnqua việc: đi làm đúng giờ quy định, nhận và hoàn thành nhiệm vụ đúng hạn,giải quyết công việc đúng pháp luật…Tiêu chí này có thể thống kê được,chẳng hạn: bao nhiêu lần cán bộ văn phòng đi muộn giờ, muộn bao nhiều thờigian? Bao nhiêu lần hoàn thành đúng/ hoặc không đúng hạn?
Tuy nhiên, trong thực tế, không phải lúc nào cũng xác định được cáctiêu chí hoặc chỉ là định tính hoặc chỉ là định lượng Có những tiêu chí vừađịnh tính lại vừa định lượng
Ví dụ: Cán bộ văn phòng, cụ thể là cán bộ văn thư cần có kỹ năng làmviệc thành thạo Trong đó, yếu tố định lượng là cán bộ văn thư có thể đánhmáy được bao nhiêu trang văn bản trong 1 phút/ 10 phút? Đóng dấu được baonhiêu văn bản trong 1 giờ? nhưng vẫn có yếu tố định tính (không thể xácđịnh cụ thể mà chỉ có thể nhận diện qua biểu hiện thực tế) như tác phongnhanh nhẹn, quan hệ ứng xử phù hợp…
Trên cơ sở những phân tích trên đây, có thể hiểu: Tiêu chí đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên Văn phòng Bộ Quốc phòng là tập hợp các dấu hiệu, điều kiện, đặc trưng, các chỉ số định tính, định lượng làm căn
cứ để nhận biết, đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên.
Trang 362.2 Căn cứ, cơ sở đề xuất tiêu chí đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viên Văn phòng Bộ Quốc phòng
Để đề xuất tiêu chí đánh giá tính chuyên nghiệp của cán bộ, nhân viênVăn phòng BQP, chúng tôi dựa trên những căn cứ và cơ sở sau đây:
2.2.1 Những yêu cầu chung về đánh giá cán bộ, công chức trong các
cơ quan nhà nước
Năm 2008, Quốc hội đã ban hành Luật Cán bộ, công chức, trong đó có
một số quy định về việc đánh giá cán bộ, công chức, cụ thể như sau:
1/ Mục đích đánh giá cán bộ, công chức
Đánh giá công chức để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực,trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao Kếtquả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khenthưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với công chức (Điều 55)
2/ Nội dung đánh giá cán bộ, công chức (Điều 56)
Cán bộ, công chức được đánh giá theo các nội dung sau đây:
a) Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước;
b) Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc;c) Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;
d) Tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ;
đ) Tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ;
e) Thái độ phục vụ nhân dân
Ngoài những quy định trên, công chức lãnh đạo, quản lý còn được đánhgiá theo các nội dung sau đây:
a) Kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo,quản lý;
b) Năng lực lãnh đạo, quản lý;
c) Năng lực tập hợp, đoàn kết công chức
3/ Tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức
Trang 37Trong Luật Cán bộ, Công chức chưa có điều nào quy định về tiêu chíđánh giá, tuy nhiên lại có quy định về nghĩa vụ và quyền của cán bộ, côngchức Như vậy, có thể hiểu rằng, việc đánh giá cán bộ, công chức phải dựa
trên những quy định về quyền và nghĩa vụ Tuy nhiên, tại Nghị định về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức số 02/VBHN-BNV ngày
9/11/2017, có đưa ra 4 tiêu chí phân loại, đánh giá cán bộ, công chức, viênchức, bao gồm: Tiêu chí phân loại đánh giá cán bộ, công chức, viên chức ởmức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn thànhnhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ
c) Có năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ; phối hợp chặt chẽ và
có hiệu quả với đồng nghiệp, cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ;
d) Có tinh thần chủ động, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao;
đ) Có thái độ đúng mực và xử sự văn hóa trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ; thực hiện tốt việc phòng, chống các hành vi cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền hà, tiêu cực, tham nhũng, tham ô, lãng phí.
Trang 38e) Hoàn thành 100% nhiệm vụ theo chương trình, kế hoạch công tác năm, vượt tiến độ, có chất lượng và hiệu quả;
g) Hoàn thành kịp thời và bảo đảm chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ đột xuất;
h) Có ít nhất 01 công trình khoa học, đề án, đề tài hoặc sáng kiến được
áp dụng có hiệu quả trong hoạt động công vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị được cấp có thẩm quyền công nhận;
2 Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đạt được tất cả các tiêu chí sau đây thì phân loại đánh giá ở mức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ: a) Các tiêu chí quy định tại Khoản 1 Điều này;
b) Cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý hoàn thành 100% nhiệm vụ theo chương trình, kế hoạch công tác năm; hoàn thành tốt nhiệm
c) Hoàn thành nhiệm vụ đột xuất.
2 Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đạt được tất cả các tiêu chí sau đây thì phân loại đánh giá ở mức hoàn thành tốt nhiệm vụ:
Trang 39a) Các tiêu chí quy định tại Khoản 1 Điều này;
b) Cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý hoàn thành 100% nhiệm vụ được giao theo chương trình, kế hoạch công tác năm; hoàn
thành nhiệm vụ đột xuất;
c) Lãnh đạo, quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ bảo đảm tiến độ, chất lượng và hiệu quả;
d) Có năng lực xây dựng cơ quan, tổ chức, đơn vị đoàn kết, thống nhất.
Điều 20 Tiêu chí phân loại đánh giá công chức ở mức hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực
1 Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đạt các tiêu chí quy định tại Điểm a, b Khoản 1 Điều 18 Nghị định này và có một trong các tiêu chí sau đây thì phân loại đánh giá ở mức hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực:
a) Hoàn thành từ 70% đến dưới 100% nhiệm vụ theo chương trình kế hoạch công tác năm;
b) Thực hiện nhiệm vụ được giao còn chậm về tiến độ;
c) Tham mưu đề xuất giải quyết công việc chưa bảo đảm chất lượng chưa đúng với quy định của pháp luật hoặc đến mức phải để cấp trên xử lý lại;
d) Không có thái độ đúng mực và xử sự văn hóa trong thực hiện nhiệm
a) Cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý hoàn thành từ 70% đến dưới 100%) nhiệm vụ theo chương trình, kế hoạch công tác năm;
Trang 40b) Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị chậm tiến độ;
c) Giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị không đúng quy định của pháp luật, chưa gây hậu quả phải có biện pháp khắc phục;
d) Công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị chưa bảo đảm chất lượng, hiệu quả;
đ) Cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý xảy ra mất đoàn kết.
Điều 21 Tiêu chí phân loại đánh giá công chức ở mức không hoàn thành nhiệm vụ
1 Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có một trong các tiêu chí sau đây thì phân loại đánh giá ở mức không hoàn thành nhiệm vụ:
a) Không thực hiện hoặc vi phạm đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng hoặc pháp luật của Nhà nước bị cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật hoặc cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định;
b) Vi phạm kỷ luật, kỷ cương hoặc quy chế làm việc của cơ quan, tổ chức đơn vị nhưng chưa đến mức bị xử lý kỷ luật ở hình thức cao nhất;
c) Không hoàn thành nhiệm vụ tương xứng với chức danh đang giữ; đ) Thực hiện nhiệm vụ, công vụ có sai phạm đến mức phải có biện pháp khắc phục;
đ) Gây mất đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị;
e) Hoàn thành dưới 70% nhiệm vụ theo chương trình, kế hoạch công tác năm;
g) Có hành vi cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền hà, tiêu cực, tham nhũng, tham ô, lãng phí bị xử lý kỷ luật.
2 Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có một trong các tiêu chí sau đây thì phân loại đánh giá ở mức không hoàn thành nhiệm vụ:
a) Các tiêu chí quy định tại Khoản 1 Điều này;