Đằng sau phát hiện này, cùng với một báo cáo gần đây của Tanzania cho thấydịch bệnh ghẻ ở một trong các nhà tù với 95% số tù nhân bị nhiễm bệnh, chúngtôi đã thiết kế nghiên cứu này, nhằm
Trang 1MỤC LỤC
Mục lục
Chuyên đề
1 Bệnh ghẻ ngứa 1
2 Viêm da mủ 6
3 Bệnh chàm 9
4 Bệnh vi nấm cạn 12
5 Bệnh vẩy nến 16
6 Đỏ da toàn thân 20
7 Bệnh pemphigus 23
8 Bệnh lậu 27
9 Viêm niệu đạo không do lậu 33
10 Bệnh hạ cam mềm 37
11 Bệnh giang mai 41
12 Bệnh phong 47
13 Bệnh Zona 51
14 Bệnh herpes 54
15 Trúng độc da do thuốc 56
16 Bệnh lupus ban đỏ 59
17 Bệnh mào gà 62
Trang 21 Nguồn tài liệu:
- Tên chủ đề: Prevalence, Drivers and Clinical Features of Human Scabies
at the Mfou Principal Prison, Centre Region of Cameroon
- Tên tác giả: Emmanuel Armand Kouotou, Jobert Richie N Nansseu,
Frederick Agem Kechia, Isidore Sieleunou, Herbert Atenkeng Apasew, DefoDefo anf Roger Moyou Somo
- Năm nghiên cứu: 2014
- Nguồn tài liệu: Clinical & Experimental Dermatology Research 2016,
Nowadays, scabies endemicity in many tropical and sub-tropical countriesaround the world is well documented Similarly, institutions at risk such asprisons, especially in these countries are reputed with particularly highprevalences In Benin for instance, Makoutode et al reported a 45.5% prevalence
of scabies at the Cotonou Civil Prison Likewise, the prevalence of scabies was16% and 2.2% respectively obtained in Mangalore (India) and Ghezel Hesar(Iran) prisons
1
Trang 3In Cameroon, a recent study conducted by Kouotou et al pointedout aresurgence of human scabies in Yaoundé Another survey undertaken by Bissek
et al showed a 2.8% prevalence of scabies in a Cameroonian indigenous ruralpopulation However, few data are available regarding the prevalence andmagnitude of scabies among groups at risk such as prisoners in Cameroon Onestudy conducted by Demoures et al in a prison in Ngaoundéré (located in theNorthern part of Cameroon) Figured out that scabies was one of the mostfrequent diseases encountered in this prison, highlighting thus how neglectedwere prisoners there incarcerated, in terms of health care
Behind this finding, alongside a recent report from Tanzania revealing anepidemic of scabies in one of its prisons with 95% of inmates infected, wedesigned the present study, the overarching objectives of which were todetermine the prevalence, determinants and clinical features of human scabiesinfestation in a Cameroonian penitentiary
- Objectives: researches assessing the prevalence and magnitude of human
scabies (HS) in Cameroonian penitentiaries are direly rare The present studyaimed to determine the prevalence, drivers and clinical features of HS in aCameroonian prison
- Selection criteria – methods: we conducted a cross-sectional study from
February to April 2014 at the Mfou Principal Prison (MPP), Cameroon,including all prisoners who voluntarily consulted the research team at the prisoninfirmary The diagnosis was based on clinical findings, the examination beingindependently performed by two experienced dermatologists
- Results: overall, 217 prisoners were enrolled, of whom 201 (92.6%) were
males Ages ranged from 14 to 60 years with a mean of 32.4 ± 9.5 years Theprevalence of HS was 41.0% (95% confidence interval (CI): 34.5-47.5%) Eightone (91.0%) infected prisoners presented classical scabies while 8 prisoners(9.0%) presented crusted scabies Excoriations (85.4%) and crusts (83.1%) werethe prevailing lesions while the infra-gluteal (92.1%) and the inter-gluteal(88.8%) regions were the leading lesion sites After multivariable logisticregression analysis, a number of baths less than once daily (adjusted odds ratio
Trang 4(aOR) 11.23, 95% CI: 2.10-60.06; p= 0 005) and a number of laundries less thanonce weekly (aOR 16.27,95% CI: 421-62.84: p<0.0001) were the independentfactors impacting scabies occurrence.
- Conclusion: HS is highly prevalent at the MPP, driven by poor personal
hygiene alongside a probable lack of health care Prisoners should be counselled
on healthy (personal) hygiene rules, and encouraged to adopt such habits; allnecessary means should be made available accordingly
3
Trang 5BỆNH GHẺ NGỨA
Tóm tắt:
- Tổng quan tài liệu:
Bệnh ghẻ là một sự xâm nhiễm mạnh mẽ và dễ lây lan của da người bởi một
ký sinh trùng từ bên ngoài gọi là Sarcoptes scabiei hominis Bệnh ghẻ có liênquan đến đói nghèo, dân số quá đông, vệ sinh cá nhân kém và dịch bệnh tậptrung vào thời điểm chiến tranh Bệnh đặc biệt lan tràn ở những nơi đông ngườikhông có điều kiện vệ sinh thích hợp như môi trường trường học, nhà dưỡng lão
và nhà tù
Ngày nay, bệnh ghẻ ở lưu hành ở nhiều quốc gia nhiệt đới và cận nhiệt đớitrên khắp thế giới Tương tự, các nơi có nguy cơ như nhà tù, đặc biệt là ở cácnước này có tỷ lệ nhiễm cao Ví dụ tại Benin, Makoutode báo cáo tỷ lệ hiện cócủa bệnh ghẻ ở nhà tù Cotonou là 45,5% Tương tự, tỷ lệ mắc bệnh ghẻ là 16%
và 2,2% tương ứng thu được ở nhà tù Mangalore (Ấn Độ) và Ghezel Hesar(Iran)
Tại Cameroon, một nghiên cứu gần đây do Kouotou đã chỉ ra sự hồi sinh củaghẻ người ở Yaoundé Một cuộc khảo sát khác được tiến hành bởi Bissek chothấy tỷ lệ hiện nhiễm là 2,8% của ghẻ ở người dân bản xứ Cameroon Tuy nhiên,
có rất ít dữ liệu về tỷ lệ và mức độ ghẻ ở các nhóm có nguy cơ như các tù nhân ởCameroon Một nghiên cứu do Demoures trong một nhà tù ở Ngaoundéré (nằm ởphía Bắc của Cameroon) nhận ra ghẻ là một trong những căn bệnh thường xảy ranhất trong nhà tù này, làm nổi bật cách chăm sóc sức khỏe của những tù nhân ởđó
Đằng sau phát hiện này, cùng với một báo cáo gần đây của Tanzania cho thấydịch bệnh ghẻ ở một trong các nhà tù với 95% số tù nhân bị nhiễm bệnh, chúngtôi đã thiết kế nghiên cứu này, nhằm mục đích tổng quát nhằm xác định tần suất,các yếu tố quyết định và các đặc điểm lâm sàng của người bệnh ghẻ ở một nhà tùcủa Cameroon
Trang 6- Mục tiêu nghiên cứu: nghiên cứu đánh giá mức đồ phổ biến và tầm quan
trọng của cái ghẻ trên người (HS) ở đối tượng là tù nhân đất nước Cameroon.Nghiên cứu này nhằm xác định sự phổ biến, đường lây và các biểu hiện lâm sàngcủa bệnh ghẻ trên tù nhân trong một nhà tù Cameroon
- Đối tượng – phương pháp nghiên cứu: chúng tôi đã tiến hành một
nghiên cứu cắt ngang từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2014 tại nhà tù chính Mfou(MPP), Cameroon, bao gồm tất cả tù nhân, những người tự nguyện tham khảo ýkiến các nhóm nghiên cứu tại bệnh xá nhà tù Việc chuẩn đoán dựa trên nhữngphát hiện lâm sàng, cuộc kiểm tra được thực hiện một cách độc lập bở hai bác sĩ
da liễu có kinh nghiệm
- Kết quả nghiên cứu: nhìn chung, có 217 tù nhân đã đăng ký, trong đó có
201 (92,6%) là nam giới Tuổi dao động 14-60 tuổi với trung bình 32,4 ± 9,5năm tuổi Sự phổ biến của ghẻ là 41% (95% khoảng tin cậy (CI): 34,5-47,5%).Tám mươi mốt (91%) tù nhân nhiễm dưới dạng cổ diển trong khi 8 tù nhân (9%)nhiễm ghẻ Nauy Các vết trượt đa (85,4%) và vẩy tróc (83,1%) là những thươngtổn phổ biến, trong khi các vùng tổn thương hàng đầu là các vùng tổn thươngdưới da (92,1%) và vùng liên vùng (88,8%) Sau khi phân tích hồi quy đa lượng,trường hợp tắm ít hơn 1 lần mỗi ngày (tỷ lệ chênh lệch được điều chỉnh (aor)11,23; 95% CI: 2,10-60,06; p = 0,005) và quần áo được giặt là ít hơn một lầnmỗi tuần (aor 16,27; 95% CI: 4,21 - 62,84, p<0,0001) là yếu tố độc lập ảnhhưởng đến sự xuất hiện của ghẻ
- Kết luận: cái ghẻ ở người rất phổ biến tại MPP, do vệ sinh cá nhân kém
cùng với một thiếu sót có thể xảy ra của việc chăm sóc sức khỏe cá nhân vàkhuyến khích áp dụng các thói quen tốt đó; cần cung cấp đầy đủ phương tiện cầnthiết để họ thực hiện được điều đó một cách thuận lợi
5
Trang 7VIÊM DA MỦ
1 Nguồn tài liệu:
- Tên chủ đề: Đánh giá độ nhạy cảm của vi khuẩn đối với kháng sinh trong
bệnh viêm da mủ tại khoa da liễu bệnh viện đa khoa Trung Ương Thái Nguyên
- Tên tác giả: Nguyễn Quý Thái, Hà Thị Thanh Nga, Nguyễn Thị Hải Yến,
Lưu Kim Thanh
- Năm nghiên cứu: 2010
- Nguồn tài liệu: Tạp chí Khoa học và Công nghệ, số 81(05)
- Trang: 169 – 174
2 Tóm tắt:
- Mục tiêu nghiên cứu: mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá
độ nhạy cảm của vi khuẩn đối với kháng sinh trong bệnh viêm da mủ tại khoa Daliễu- Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
- Đối tượng – phương pháp nghiên cứu: gồm 30 bệnh nhân được chẩn
đoán viêm da mủ (VDM) điều trị nội trú tại khoa Da liễu – Bệnh viện Đa khoaTrung ương Thái Nguyên từ tháng 4/2010 đến 10/2010 Nghiên cứu mô tả cácđặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tiến hành lấy bệnh phẩm dịch tiết tại tổnthương để nuôi cấy vi khuẩn để làm kháng sinh đồ được thực hiện trước điều trị.Can thiệp điều trị các bệnh nhân được điều trị tại chỗ cùng một loại thuốc bôi(dung dịch xanh methylen 2%) và kháng sinh toàn thân đường tiêm:cephalosporine thế hệ 3 (cefotaxim) Sau thời gian 7 ngày điều trị, đánh giá sựnhạy cảm của vi khuẩn theo kháng sinh đồ và sự phù hợp giữa kết quả đáp ứngtrên invitro với kết quả điều trị lâm sàng bằng thuốc kháng sinh
- Kết quả nghiên cứu: bệnh gặp nhiều ở trẻ dưới 5 tuổi (83,3%) Triệu
chứng lâm sàng thường gặp: mụn mủ (100%), ngứa rát tại chỗ (93,3%), trợt loét– tiết dịch (86,7%) Vị trí tổn thương thường gặp là đầu, mặt, cổ (96,7%) Trongcác bệnh VDM, bệnh chốc chiếm tỉ lệ 73,3% Công thức máu: số lượng bạch cầu
Trang 8tăng (75%), nước tiểu có rối loạn bất thường (12%) Kết quả nuôi cấy vi khuẩn:S.aureus (100%), kháng sinh đồ nhạy cảm với cefotaxim 20% Kết quả điều trịlâm sàng (dựa theo kinh nghiệm) là 76,7% Sự phù hợp giữa kháng sinh đồ vàkết quả điều trị lâm sàng với thuốc cefotaxim: hệ số kappa = 0,04 (phù hợp rấtít).
- Kết luận: mặc dù chỉ có 20% chủng S.aureus nhạy cảm với cefotaxim
nhưng trên lâm sàng có 76,7% bệnh nhân được điều trị bằng cefotaxim cho kếtquả tốt Vì vậy thuốc này vẫn có thể được sử dụng trong lâm sàng để điều trịbệnh VDM
7
Trang 9Abstract
- Objectives: to describe clinical and biogical characteristics and to
evaluate sensitivity of bacteria to antibiotics in pyodermatitis at DermatologyDepartment in Thai Nguyen Central General Hospital
- Selection criteria – methods: 30 patients were diagnosed with
pyodermatitis treated at Dermatology Department in Thai Nguyen CentralGeneral Hospital from April, 2010 to October, 2010 The study describe clinicaland biogical charateristics and secretion fluid in wounded area taken forantimicrobial assay (according to a routine technipue) to be done before treamentwith topical applying of blue methylen 2% and systematic antibiotics ofCephalosporin After 7 days of treatment, evaluating sensitivity of bacteria toantibiotics and approriatenes between results in vitro and clinical results treatedwith antibiotics
- Results: pyodermatitis was commonly seen in children under 5 years
(83.3%); clinical symptoms are: pustulation (100%), local itching (93.3%) andulceration (86.7%) The common sites were on the head, the face and the neck(96.7%) Impetigo accounts for 73.3% of pyodermatitis Increased white bloodcells accounted for 80% of cases; abnormal urine was 12% of patients Bacterialculture: 100% of cases were S.aureus; 20% of them sensitivity to cefotaxime.Howerer, 76.7% of patients treated with cefotaxime had good results andcoefficient of Kappa=0.04% (a littile appropriateness)
- Conclusion: one third of bacteria resist to Cefotaxime in vitro However,
clinically, it was still used in treatment of pyodermatitis with good result
Trang 101 Nguồn tài liệu
- Tên chủ đề: Association between childhood eczema and
headaches: An analysis of 19 US population-based studies
- Tên tác giả: Jonathan I Silverbers
- Năm nghiên cứu: 2016
- Nguồn tài liệu:
https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5216169/
- Nhà xuất bản: JAMA Pediatric
2 Abstract:
- Background: atopic dermatitis (or eczema) is a chronic
inflammatory disorder associated with sleep disturbances and life impairment Sleep disturbances have been shown to cause headaches
quality-of-in childhood However, an association between eczema and headaches isnot well established
- Objectives: we sought to determine whether childhood eczema is
associated with increased headaches and whether such association isrelated to fatigue or sleep disturbance
- Selection criteria – methods: we analyzed data from 401,002
children and adolescents in 19 US population-based cross-sectionalstudies from the National Survey of Children’s Health 2003/2004 and2007/2008 and the National Health Interview Survey 1997–2013
- Results: in multivariate models controlling for age, sex,
race/ethnicity, household income, highest level of education in thefamily, insurance coverage, number of persons in the household,birthplace in the United States, ever history of asthma, hay fever, and
9
Trang 11food allergy, eczema was found to be associated with headaches in 14 of
19 studies In a pooled analysis of all 19 studies, children with eczemacompared with those without eczema had a significantly higherprevalence (10.7% [95% CI, 10.3% to 11.0%] vs 5.4% [95% CI, 5.3% to5.5%]) and odds (1.52 [95% CI, 1.45–1.59]) of headaches Mild (1.79[95% CI, 1.07–2.98]) and severe (2.72 [95% CI, 1.33–5.57]) eczemawere associated with significantly higher odds of headaches Inparticular, eczema associated with atopy, fatigue, excessive daytimesleepiness, insomnia, and only 0 to 3 nights of sufficient sleep had evenhigher odds of headache than eczema alone
- Conclusion: eczema is associated with increased headaches in
childhood, particularly in patients with severe disease accompanied byatopy, fatigue, and sleep disturbances
Trang 12BỆNH CHÀM
Tóm tắt
- Tổng quan tài liệu: viêm da dị ứng (hoặc bệnh chàm) là một rối loạn
viêm mạn tính liên quan đến rối loạn giấc ngủ và sự suy giảm chất lượng cuộcsống Các rối loạn giấc ngủ đã được chứng minh là gây ra nhức đầu trong thờithơ ấu Tuy nhiên, một mối liên hệ giữa bệnh chàm và nhức đầu không đượcthiết lập tốt
- Mục tiêu nghiên cứu: chúng tôi đã tìm cách xác định liệu bệnh chàm ở
trẻ em có liên quan với nhức đầu gia tăng hay không và liệu mối liên quan đó cóliên quan đến sự mệt mỏi hoặc rối loạn giấc ngủ
- Đối tượng – phương pháp nghiên cứu: chúng tôi đã phân tích dữ liệu
từ 401,002 trẻ em và thanh thiếu niên trong 19 nghiên cứu cắt ngang dân số củaHoa Kỳ từ Điều tra Quốc gia về Sức khoẻ Trẻ em 2003/2004 và 2007/2008 vàĐiều tra Khảo sát Sức khoẻ Quốc gia 1997-2013
- Kết quả nghiên cứu: trong các mô hình đa lượng kiểm soát tuổi, giới
tính, chủng tộc/dân tộc, thu nhập gia đình, trình độ học vấn cao nhất trong giađình, bảo hiểm, số người trong gia đình, nơi sinh ở Hoa Kỳ, bao giờ cả bệnhhen, sốt khô, và thực phẩm dị ứng, bệnh chàm đã được tìm thấy có liên quan đếnnhức đầu trong 14 của 19 nghiên cứu Trong phân tích tổng hợp của tất cả 19nghiên cứu, trẻ em bị chàm so với những người không mắc bệnh chàm có tỷ lệcao hơn đáng kể (10,7% [95% CI, 10,3% đến 11,0%] so với 5,4% [95% CI,5,3% đến 5,5%]) và tỷ lệ (1.52 [95% CI, 1.45-1.59]) của nhức đầu Bệnh chàmmức độ nhẹ (1,79 [95% CI, 1,07-2,98]) và mức độ nặng (2,72 [95% CI, 1,33-5,57]) có liên quan đến nhức đầu nhiều hơn đáng kể Đặc biệt, bệnh chàm có
liên quan với tâm nhĩ, mệt mỏi, buồn ngủ ban ngày quá mức, mất ngủ, và chỉ có
0 đến 3 đêm ngủ đủ giấc thậm chí còn cao hơn nhức đầu hơn so với chàm
11
Trang 13- Kết luận: bệnh chàm có liên quan với nhức đầu gia tăng ở trẻ em, đặc
biệt ở những bệnh nhân bị bệnh nặng đi kèm với chứng mất ngủ, mệt mỏi và rốiloạn giấc ngủ
SUPERFICIAL FUNGAL INFECTIONS
1 Nguồn tài liệu
- Tên chủ đề: Correlation of Malassezia species with clinical characteristics
of pityriasis versicolor
- Tên tác giả: Perpetua Ibekwe
- Năm nghiên cứu: 2014
- Nguồn tài liệu:
https://edoc.ub.uni-muenchen.de/18687/1/Ibekwe_Perpetua.pdf
- Trang: 1
2 Abstract
- Background: Pityriasis versicolor (PV) is a superficial mycosis, highly
prevalent among teenagers living in the tropics Malassezia is the etiological
agent of PV Fourteen species have been identified worldwide So far, the debate
is on which species is more prevalent and how the clinical presentations of PVdiffer geographically
- Objectives: to investigate the most prevalent Malassezia causing PV in
Nigerian students, describe its clinico-epidemiological characteristics andestimate its effect on health related quality of life (HRQoL)
- Selection criteria – methods: students were recruited from senior
secondary schools within the period of May 2012 to May 2013 Their clinicalcharacteristics were described and scales obtained from PV lesions and non-lesions The Children’s Dermatology Life Quality Index questionnaire was used
to assess HRQoL Malassezia species were identified using a molecular method.
Results were analysed using SPSS package version 16
Trang 14- Results: the students recruited were 304 They had an average age of 16
years The age of onset of PV was influenced by a positive family history,socioeconomic status, the daily use of petrolatum and concomitant presence ofdandruff The recurrence of PV and the color of the lesions which was majorlyhypopigmented, were not related to differences in personal hygiene or familyhistory of PV The location of the lesions was predominately on face while theextent of distribution of the lesion was significantly linked with pruritus anddysesthesia A moderate effect (25% impairment) on the students’ HRQoL wasobserved Only three species were identified The most prevalent was
Malassezia furfur Finally, no distinct clinical feature was linked with a specific
species
- Conclusion: PV has negative effect on the life of teens Apart from
climate, genetics and hyperhidrosis, its presentation could also be influenced bydandruff, routine application of petrolatum and socioeconomic status
Malassezia furfur is the main causative species of PV in Nigerian students.
13
Trang 15BỆNH VI NẤM CẠN
Tóm tắt:
- Tổng quan tài liệu: bệnh lang ben là một bệnh nấm trên bề mặt, rất phổ
biến trong số thanh thiếu niên sống ở vùng nhiệt đới Malassezia là tác nhân gâybệnh của bệnh lang ben Mười bốn loài đã được xác định trên toàn thế giới Chođến nay, tranh luận về loài nào phổ biến hơn và cách dạng lâm sàng của bệnhlang ben vẫn còn khác nhau theo địa lý
- Mục tiêu nghiên cứu: để điều tra Malassezia phổ biến nhất gây ra bệnh
lang ben ở sinh viên Nigeria, mô tả các đặc điểm lâm sàng – dịch tễ và ước tínhảnh hưởng của nó đối với chất lượng cuộc sống (HRQoL)
- Đối tượng – phương pháp nghiên cứu: học sinh được tuyển chọn từ các
trường trung học phổ thông trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2012 đếntháng 5 năm 2013 Các đặc điểm lâm sàng của họ được mô tả và các thang điểm
từ các tổn thương và không tổn thương do bệnh lang ben Bảng câu hỏi Chỉ sốChất lượng cuộc sống của Da liễu Trẻ em được sử dụng để đánh giá HRQoL.Các loài Malassezia được xác định bằng phương pháp phân tử Các kết quả đượcphân tích bằng cách sử dụng gói SPSS phiên bản 16
- Kết quả nghiên cứu: các sinh viên đã hồi phục là 304 Họ có độ tuổi
trung bình là 16 tuổi Tuổi bắt đầu của bệnh lang ben bị ảnh hưởng bởi tiền sửgia đình, tình trạng kinh tế xã hội, việc sử dụng xăng dầu hàng ngày và sự xuấthiện đồng thời của bệnh gàu Sự tái phát của bệnh lang ben và màu sắc của cáctổn thương đã giảm sắc tố không có liên quan đến sự khác biệt trong vệ sinh cánhân hoặc tiền sử gia đình Vị trí của các tổn thương chủ yếu ở mặt, trong khimức độ phân bố tổn thương có liên quan đáng kể với ngứa và chứng buồn nôn.Hiệu quả vừa phải (25% suy giảm) trên HRQoL của học sinh đã được quan sátthấy Chỉ có ba loài được xác định Phổ biến nhất là Malassezia furfur Cuốicùng, không có đặc điểm lâm sàng riêng biệt nào được liên kết với một loài cụthể
Trang 16- Kết luận: bệnh lang ben có ảnh hưởng tiêu cực đến tuổi thanh thiếu niên.
Ngoài khí hậu, di truyền học và chứng tăng tiết mồ hôi, bài trình bày cũng chothấy có thể bị ảnh hưởng bởi gàu, thường xuyên tiếp xúc với xăng dầu và tìnhtrạng kinh tế xã hội Malassezia furfur là loài gây bệnh chính của bệnh lang ben
ở sinh viên Nigeria
15
Trang 171 Nguồn tài liệu:
- Tên chủ đề: Quality of Life and Work Productivity Impairment among
Psoriasis Patients: Findings from the National Psoriasis Foundation Survey Data2003–2011
- Tên tác giả: April W Armstrong, Clayton Schupp, Julie Wu and Bruce
Bebo
- Năm nghiên cứu: 2012
- Nguồn tài liệu: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3532407/
- Trang: 1
2 Abstract:
- Background: The National Psoriasis Foundation (NPF) conducts
semiannual surveys and collects information regarding comorbid conditions,medication use, treatment patterns, impact on quality of life, and disease burden.With over 75,000 patient members, the NPF survey enables direct assessment ofquality of life from its large patient membership This type of information isgenerally unavailable through chart reviews or automated extraction of data frompopulation-based databases Furthermore, the NPF survey allows for assessment
of psoriasis severity based on self-reported body surface area involvement,which represents a direct assessment of psoriasis severity
- Objectives: to ascertain impairment in quality of life and work
productivity among patients with psoriasis and psoriatic arthritis
- Selection criteria – methods: the surveys were performed through
random sampling of participants from a database of over 75,000 patients
- Results: from 2003 to 2011, 5,604 patients completed the surveys.
Psoriasis and psoriatic arthritis affected overall emotional wellbeing in 88% ofpatients, and they interfered with enjoyment of life in 82% Most patients
Trang 18reported experiencing anger (89%), frustration (89%), helplessness (87%),embarrassment (87%), and self-consciousness (89%) Many patients alsoactively concealed physical manifestations of their diseases (83%), andexperienced pain (83%) and pruritus (93%) regularly Of note, 12% of patientswere unemployed, and 11% worked part-time Among unemployed patients,92% cited psoriasis and/or psoriatic arthritis as the sole reasons for not working.Among working patients, 49% missed work days regularly due to psoriasis.Compared to patients with mild psoriasis, patients with severe psoriasis have 1.8times greater odds to be unemployed after adjusting for age and gender(Adjusted OR = 1.7, 95% CI 1.4–2.3).
- Conclusion: patients with psoriasis and psoriatic arthritis continue to
experience significant impairment of quality of life and work productivity
17
Trang 19BỆNH VẢY NẾN
Tóm tắt
- Tổng quan tài liệu: Tổ chức Bệnh vẩy nến Quốc gia (NPF) tiến hành các
cuộc điều tra kéo dài sáu năm và thu thập thông tin về các bệnh kèm, sử dụngthuốc, các mô hình điều trị, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và gánh nặngbệnh tật Với hơn 75.000 thành viên bệnh nhân, điều tra NPF cho phép đánh giátrực tiếp chất lượng cuộc sống từ các thành viên bệnh nhân lớn của nó Loạithông tin này thường không có thông qua các bài đánh giá biểu đồ hoặc tríchxuất tự động dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu dựa vào dân số Hơn nữa, khảo sát NPFcho phép đánh giá mức độ vẩy nến của vẩy nến dựa trên sự liên quan đến diệntích bề mặt cơ thể tự báo cáo, đánh giá trực tiếp mức độ vẩy nến
- Mục tiêu nghiên cứu: để xác định sự suy giảm chất lượng cuộc sống và
năng suất làm việc của bệnh nhân vẩy nến và viêm khớp vẩy nến
- Đối tượng – phương pháp nghiên cứu: các cuộc điều tra được thực hiện
thông qua việc lấy mẫu ngẫu nhiên của những người tham gia từ một cơ sở dữliệu của hơn 75.000 bệnh nhân
- Kết quả nghiên cứu: từ năm 2003 đến năm 2011, 5.604 bệnh nhân đã
hoàn thành các cuộc điều tra Bệnh vẩy nến và viêm khớp vẩy nến đã ảnh hưởngđến tổng thể tình trạng cảm xúc tốt ở 88% bệnh nhân và họ đã can thiệp vào việchưởng thụ cuộc sống ở 82% Hầu hết các bệnh nhân cho biết có sự tức giận(89%), thất vọng (89%), không nơi nương tựa (87%), xấu hổ (87%), và tự ý thức(89%) Nhiều bệnh nhân cũng tích cực che giấu biểu hiện vật lý của bệnh (83%)
và đau (83%) và ngứa (93%) thường xuyên Trong lưu ý, 12% bệnh nhân thấtnghiệp và 11% làm việc bán thời gian Trong số những bệnh nhân thất nghiệp,92% trường hợp bệnh vẩy nến và/hoặc viêm khớp vẩy nến là nguyên nhân duynhất khiến họ không làm việc Trong số những bệnh nhân làm việc, 49% ngàynghỉ thường xuyên do bệnh vẩy nến So với bệnh nhân vẩy nến nhẹ, bệnh nhânvẩy nến nặng có tỷ lệ thất nghiệp cao gấp 1,8 lần khi điều chỉnh theo độ tuổi vàgiới tính (Adjusted OR = 1.7, KTC 95% 1.4 – 2.3)
Trang 20- Kết luận: bệnh nhân bị vẩy nến và viêm khớp vẩy nến tiếp tục bị suy
giảm đáng kể về chất lượng cuộc sống và năng suất làm việc
19
Trang 211 Nguồn tài liệu:
- Tên chủ đề: Erythroderma A clinical and etiological study of 103
patients
- Tên tác giả: Artur César, Maria Cruz, Alberto Mota and Filomena
Azevedo
- Năm nghiên cứu: 2016
- Nguồn tài liệu: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4844528/
- Trang: 1-9
2 Abstract
- Background: Erythroderma is an uncommon and severe dermatological
manifestation of a variety of diseases It is commonly challenging to find theunderlying cause
- Objectives: the aim of this study was to analyze the causes of the disease
in patients with erythroderma
- Selection criteria – methods: data including the clinical symptoms,
laboratory examinations, histopathology and follow-up information werecollected from patients with erythroderma admitted to our department between
2000 and 2010
- Results: one-hundred and three patients diagnosed with erythroderma
were identified during this period (11.9% of all hospitalized patients; hospitalincidence = 9.4 cases/year) The mean age of onset was 54.4 years (range: 17-89years) with a male:female ratio of 1.5:1 The most frequent cause oferythroderma was exacerbation of preexisting dermatoses (65.0%), includingpsoriasis (44.7%) and eczema (16.5%) Drugs (18.4%) and cutaneous T-celllymphomas (11.7%) induced most of the remaining cases No cause could beidentified in four cases (3.9%) Apart from erythema and scaling, that were
Trang 22present in all patients, clinical findings were dominated by pruritus (97.1%),followed by edema (56.3%), fever (54.4%), palmoplantar keratoderma (50.5%),nail changes (42.7%), liver or spleen enlargement (41.7%) and lymphadenopathy(40.8%).
- Conclusions: although numerous clinical features and laboratory values
were abnormal, most findings were non-specific The skin biopsy yielded apositive clinical correlation in most cases Our study had a high percentage oferythroderma secondary to preexisting skin disease and a relatively lowpercentage of idiopathic erythroderma
21
Trang 23ĐỎ DA TOÀN THÂN
Tóm tắt
- Tổng quan tài liệu: đỏ da toàn thân là một biểu hiện lâm sàng không
thường xuyên và nghiêm trọng của một loạt các bệnh Thông thường khó có thểtìm ra nguyên nhân bên dưới
- Mục tiêu nghiên cứu: mục đích của nghiên cứu này là phân tích các
nguyên nhân gây bệnh ở bệnh nhân đỏ da toàn thân
- Đối tượng – phương pháp nghiên cứu: các dữ liệu bao gồm các triệu
chứng lâm sàng, khám bệnh, mô bệnh học và các thông tin theo dõi được thuthập từ các bệnh nhân đỏ da toàn thân được nhận vào khoa của chúng tôi từ năm
2000 đến năm 2010
- Kết quả nghiên cứu: một trăm ba bệnh nhân được chẩn đoán là đỏ da
toàn thân được xác định trong thời kỳ này (11,9% số bệnh nhân nhập viện, tỷ lệbệnh viện = 9,4 trường hợp/năm) Tuổi khởi phát trung bình là 54,4 năm(khoảng: 17 – 89 năm) với tỷ số nam/nữ là 1,5: 1 Nguyên nhân thường gặp nhấtcủa đỏ da toàn thân là làm trầm trọng thêm các chứng khô da (65,0%), bao gồmbệnh vẩy nến (44,7%) và bệnh chàm (16,5%) Thuốc (18,4%) và u bạch huyết tếbào T (11,7%) gây ra hầu hết các trường hợp còn lại Không có nguyên nhân nàođược xác định trong bốn trường hợp (3.9%) Ngoài xuất huyết và xuất hiện trêntất cả các bệnh nhân, các triệu chứng lâm sàng chủ yếu là ngứa (97,1%), tiếptheo là phù (56,3%), sốt (54,4%), loãng xương họng (50,5%), thay đổi móng(42,7% ), mở rộng gan hoặc lách (41,7%) và hạch lympho (40,8%)
- Kết luận: mặc dù nhiều tính năng lâm sàng và các giá trị trong phòng thí
nghiệm không bình thường, hầu hết các phát hiện đều không đặc hiệu Sinh thiết
da có kết quả dương tính trong hầu hết các trường hợp Nghiên cứu của chúng tôi
có tỉ lệ đỏ da toàn thân cao do bệnh da trước đây và tỷ lệ đỏ da toàn thân tươngđối thấp
Trang 241 Nguồn tài liệu
- Tên chủ đề: Pemphigus and pregnancy
- Tên tác giả: Lin Lin, Xin Zeng, and Qianming Chen
- Năm nghiên cứu: 1966 – 2014
- Nguồn tài liệu: Saudi Medical Journal
- Trang: 1033 - 1038
2 Abstract
- Background: pemphigus is a group of immune-mediated bullous
disorders, which often cause fragile blisters and extensive lesions of the skin ormucous membranes, such as in the mouth This disease could be life-threatening
in some cases During pregnancy, its condition will become more complicateddue to the change in the mother’s hormone level and the effect of drug therapy
on both the mother and her fetus Thus, it will be more difficult to identify theclinical manifestations and to establish the treatment plan In this article, wepresent a comprehensive review of pemphigus and pregnancy by analyzing 47cases of pemphigus reported between 1966 and 2014, with diagnosis before orduring pregnancy
- Objectives: the aim of this study is to make a comprehensive review of
pemphigus and pregnancy, provide organized and reliable information forobstetricians, dermatologists, physicians, and oral medicine specialists
- Selection criteria – methods:
+ Selection criteria: women identified with pemphigus before or duringpregnancy
+ Methods: the existing reseasrch is mainly focused on case reports andretrospective studies
23
Trang 25- Results: it seems to be quite a rare phenomenon that pregnancy as a
triggering factor of PV seems to be quite a rare phenomenon The mean onset ofpemphigus was during 16.13±10.17 (4 – 32) weeks of pregnancy Among thecases, 2 cases were asymptomatic, while the remaining 24 patients’ lesion siteswere on skin (23.1%), mucosa (26.9%) or both of them (42.3%) Most of thepatients (53.8%) gave birth to a healthy, full-term neonate There were 34.6% ofneonate PV and 3.8% of impetigo neonatorum Pregnancy resulted in stillbirth in
2 of 26 cases (7.7%), which is considerable in our series The postpartum status
of the mothers was also unoptimistic Only 42.3% entered remission (including19.2% of improvement and 23.1% of lesion-free), while the proportion ofexacerbation was high at 30.8%, which is still considerable
- Conclusion: if a pregnant woman becomes sick (such as pemphigus), she
is more likely to suffer from disorders of the neuroendocrine system and immunesystem due to the state of high pressure According to the current study, themother’s condition may exacerbate, enter into remission, or remain stable duringthe pregnancy The disease is aggravated most likely during the first, secondtrimester, and postpartum, then is relived during the third trimester This may bedue to the increased level of endogenous corticosteroid hormone chorion andsubsequent immunosuppression Although some literature reports the postpartumflare of pemphigus due to the rapid drop of corticosteroid hormones levels, thepostpartum status in our study was optimistic, only 2 cases (9.5%) of pemphigusdiagnosed before pregnancy and 8 cases (30.8%) of pemphigus diagnosed duringpregnancy exacerbated after delivery However, some patients with pemphigusduring pregnancy may not show any obvious changes, especially those patients
in remission
Trang 26BỆNH PEMPHIGUS
Tóm tắt
- Tổng quan tài liệu: pemphigus là một nhóm rối loạn hình thức miễn dịch
qua trung gian, thường gây ra các vết loang nhão và tổn thương da hoặc màngnhầy, như trong miệng Bệnh này có thể đe dọa đến mạng sống trong một sốtrường hợp Trong thai kỳ, tình trạng của nó sẽ trở nên phức tạp hơn do sự thayđổi mức độ hoocmon của mẹ và ảnh hưởng của liệu pháp điều trị bằng thuốc đốivới cả mẹ và thai nhi Do đó, sẽ rất khó để xác định biểu hiện lâm sàng và thiếtlập kế hoạch điều trị Trong bài này, chúng tôi trình bày tổng quan về pemphigus
và thai kỳ bằng cách phân tích 47 trường hợp pemphigus được báo cáo trongkhoảng từ năm 1966 đến năm 2014, với chẩn đoán trước hoặc trong khi mangthai
- Mục tiêu nghiên cứu: mục đích của nghiên cứu này là để làm cho một
xem xét toàn diện về pemphigus thai kỳ, cung cấp thông tin có tổ chức và đángtin cậy cho bác sĩ sản, bác sĩ da liễu
- Đối tượng – phương pháp nghiên cứu:
+ Đối tượng: phụ nữ bị pemphigus trước đó hoặc trong khi mang thai.+ Phương pháp nghiên cứu:báo cáo trường hợp và nghiên cứu hồi cứu
- Kết quả nghiên cứu: dường như đây là một hiện tượng khá hiếm hoi mà
việc mang thai như là một yếu tố kích hoạt Sự khởi phát trung bình củapemphigus là trong 16,13 ± 10,17 (4 – 32) tuần mang thai Trong số các trườnghợp, 2 trường hợp không có triệu chứng, trong khi đó 24 vị trí tổn thương còn lạitrên da (23,1%), niêm mạc (26,9%) hoặc cả hai (42,3%) Phần lớn bệnh nhân(53,8%) sinh ra một em bé khỏe mạnh, đủ tháng Có 34,6% số trẻ sinh sơ sinh và3,8% số tử vong do chốc lở Mang thai dẫn đến thai chết lưu ở 2 trong số 26trường hợp (7,7%), đáng kể trong chuỗi của chúng tôi Tình trạng sau sinh củacác bà mẹ cũng không theo chủ đề Chỉ 42,3% bệnh nhân nhập viện (bao gồm
25
Trang 2719,2% cải thiện và 23,1% số ca bệnh không thương tổn), trong khi tỷ lệ trầmtrọng là 30,8%, vẫn còn đáng kể.
- Kết luận: nếu phụ nữ mang thai bị bệnh (như pemphigus), cô ấy có nhiều
khả năng bị rối loạn hệ thần kinh và hệ thống miễn dịch do tình trạng áp lựccao Theo nghiên cứu hiện tại, tình trạng của người mẹ có thể làm trầm trọnghơn, thuyên giảm hoặc ổn định trong suốt thai kỳ Bệnh trầm trọng hơn rất có thểtrong thời gian đầu tiên, ba tháng thứ hai, và sau sinh, sau đó được sống lại trongtam cá nguyệt thứ ba Điều này có thể là do sự gia tăng mức độ của màng nãonội tạng nội sinh tăng lên và áp suất ức chế miễn dịch sau đó Mặc dù một số tàiliệu báo cáo về sự bùng phát sau khi sinh của pemphigus do sự giảm cáchormone corticosteroid, tình trạng sau sinh trong nghiên cứu của chúng tôi rấtlạc quan, chỉ có 2 trường hợp (9,5%) của pemphigus được chẩn đoán trước khimang thai và 8 trường hợp (30,8%) của pemphigus được chẩn đoán trong thai kỳtrầm trọng hơn sau khi sinh Tuy nhiên, một số bệnh nhân pemphigus trong khimang thai có thể không hiển thị bất kỳ thay đổi rõ ràng, đặc biệt là những bệnhnhân thuyên giảm
Trang 281 Nguồn tài liệu
- Tên chủ đề: Modest rise in chlamydia and gonorrhoea testing did not
increase case detection in a clinical HIV cohort in Ontario, Canada
- Tên tác giả: Ann N Burchell, Ramandip Grewal, Vanessa G Allen,
Sandra L Gardner, Veronika Moravan, Ahmed M Bayoumi, Rupert Kaul, FrankMcGee , Margaret (Peggy) E Millson, Robert S Remis, Janet Raboud, TonyMazzulli và Sean B Rourke on behalf of the OHTN Cohort Study Team
- Năm nghiên cứu: 2008 – 2011
- Nguồn tài liệu: BMJ
Chlamydia and gonorrhoea infection among persons with HIV is particularlyconcerning because STIs can enhance HIV infectiousness and sequelae may bemore pronounced Regular screening is important in this population Canadianand US guidelines recommend testing for chlamydia and gonorrhoea at least
27
Trang 29annually among sexually active gay, bisexual and other MSM, regardless of HIVstatus For people with HIV, US guidelines recommend annual routine screeningfor curable STIs and British guidelines recommend offering an annual full sexualhealth screen.
Few published studies have examined patterns of chlamydia and gonorrhoeatesting in HIV clinic populations, yet such information is crucial to inform publichealth strategies and clinical guidelines for people living with HIV
- Objectives: our first objective was to expand knowledge on testing
patterns in this population by estimating rates and correlates of testing amongpersons in HIV care in Ontario from 2008 to 2011 Since Canada has universalhealthcare, any differences seen would reflect non-financial barriers Our secondobjective was to determine the burden of and risk factors for a new diagnosis ofchlamydia or gonorrhoea, measured as annual positivity rates among those testedand the overall proportion diagnosed among all in care Given the reportedincreases in chlamydia and gonorrhoea cases in Ontario since 2002,wehypothesised a priori that testing and new diagnosis rates would increase overthe study period
- Selection criteria – methods:
+ Selection criteria: the OCS source population consists of voluntary,
consented participants aged 16 and older diagnosed with HIV infection receivingmedical care at 10 specialty HIV clinics
+ Methods: participants were interviewed annually using structured
questionnaires and clinical data were abstracted from clinic records
- Results:
We linked 3476 chlamydia and 3449 gonorrhoea tests to participants.Virtually all tests (99%) consisted of simultaneous co-testing for both pathogens.Among all persons tested (n=1041), the majority of tests (87.0%, 3034/3486)were urine-based NAAT Only 3.9, 4.1 and 4.9% were cultured using specimensfrom the genital, rectal or pharyngeal tract, respectively
Trang 30In all, 38.8% (95% CI 37.1% to 40.5%) of patients were tested at least once in2008–2011 There was a significant increase in testing from 2008 to 2011(p<0.0001) Most tests (86.6%) were ordered by participating HIV clinics; othertests were ordered by sexual health/STI/community health clinics (2.8%) or byother health providers (10.6%) such as non-HIV specialist family physicians.Among those tested, the median number of tests per person per year was 1.0(IQR 1.0–2.0) Testers underwent testing a median of 2.0 times (75%ile 4.0times) Among those tested at least twice, the median intertest interval was 4.1 months (IQR 2.6–7.8) for persons whose tests were non-reactive and 2.0 months(IQR 0.93–3.7) for persons who had at least one reactive test.
We further examined testing patterns in the subset of participants who wereunder observation soon after HIV diagnosis and care entry in 2008–2011.Annual testing rates were higher in the year of HIV diagnosis/care entry (38.0%,35/92) compared with later years (21.9%, 2271/8093; p<0.0001) Adjustment forrecent HIV diagnosis/care entry did not alter the trend of increased testing over
calendar time (data not shown)
- Conclusion: our findings of a notable burden of chlamydia and
gonorrhoea among HIV-positive MSM have implications for prevention andcare We need to better understand the optimal strategies to promote chlamydiaand gonorrhoea testing among MSM living with HIV and ensure thatasymptomatic infection does not go undiagnosed It is concerning that so fewwere cultured or tested at extragenital sites Public health agencies in Canada andaround the world are pressing for increased vigilance for antibiotic-resistantgonorrhoea strains, which have increased in prevalence This is critical forpersons with HIV who may already be challenged by immune suppression.Clinical failures following treatment with cefixime have now been documented
in our setting We support the national recommendation for culture of allsymptomatic MSM patients prior to gonorrhoea treatment to monitor antibioticresistance We also recommend more frequent collection and testing ofpharyngeal and rectal samples – important reservoirs of chlamydia andgonorrhoea infection
29
Trang 31BỆNH LẬU
Tóm tắt:
- Tổng quan tài liệu:
Kể từ đầu những năm 2000, tỷ lệ mắc bệnh Chlamydia và lậu đã tăng ở nhiềutrung tâm đô thị, bao gồm ở Ontario, Canada Báo cáo trường hợp bệnhChlamydia và lậu tăng lần lượt là 79% và 23%, từ năm 2002 đến năm 2011, mỗinăm tăng trung bình 10% và 2% mỗi năm Mặc dù phần lớn các trường hợpChlamydia là trong số những phụ nữ trẻ, thường gặp ở nam giới (57%), trong đó42% có quan hệ tình dục với nam giới Tỷ lệ cao mắc các bệnh nhiễm trùng lâytruyền qua đường tình dục (STIs) đã được tìm thấy trong số những người sốngvới HIV ở các quốc gia phát triển tương tự như Hoa Kỳ, Úc và một phần củachâu Âu Gánh nặng của đồng nhiễm STIs đặc biệt cao ở nhóm nam giới có quan
hệ tình dục đồng giới (MSM) dương tính với HIV
Nhiễm trùng Chlamydia và lậu trong số những người có HIV đặc biệt có liênquan vì STIs có thể làm tăng khả năng lây nhiễm HIV và di chứng có thể đượcphát hiện nhiều hơn Kiểm tra thường xuyên là rất quan trọng trong dân sốnày Các hướng dẫn của Canada và Hoa Kỳ khuyên bạn nên thử nghiệmChlamydia và lậu ít nhất mỗi năm cho những người đồng tính nam, lưỡng tính vànhững người đồng tính nam khác, bất kể tình trạng HIV Đối với những người bịnhiễm HIV, các hướng dẫn của Hoa Kỳ đề nghị nên kiểm tra thường xuyên hàngnăm các STIs có thể chữa được và các hướng dẫn của Anh Quốc đề nghị cungcấp một màn hình sức khỏe tình dục đầy đủ hàng năm
Rất ít nghiên cứu đã công bố đã kiểm tra các mẫu xét nghiệm Chlamydia vàlậu ở các bệnh viện HIV, tuy nhiên những thông tin như vậy rất quan trọng đểthông báo các chiến lược y tế công cộng và hướng dẫn lâm sàng cho nhữngngười sống với HIV
Trang 32- Mục tiêu nghiên cứu: mục tiêu đầu tiên của chúng tôi là mở rộng kiến
thức về các mẫu xét nghiệm trong quần thể này bằng cách ước lượng tỷ lệ vàtương quan của xét nghiệm trong số những người chăm sóc HIV ở Ontario từnăm 2008 đến năm 2011 Vì Canada có chăm sóc sức khoẻ toàn diện, bất kỳ sựkhác biệt nào cũng phản ánh các rào cản phi tài chính Mục tiêu thứ hai củachúng tôi là xác định gánh nặng và các yếu tố nguy cơ cho chẩn đoán bệnhChlamydia hoặc lậu, được đo như tỷ lệ dương tính hàng năm trong số nhữngngười được thử nghiệm và tỷ lệ tổng thể được chẩn đoán trong số tất cả cácchăm sóc Do báo cáo tăng ca bệnh Chlamydia và lậu ở Ontario từ năm
2002, chúng tôi đã giả thuyết một sự tiên nghiệm rằng việc thử nghiệm và tỷ lệchẩn đoán mới sẽ tăng lên trong suốt giai đoạn nghiên cứu
- Đối tượng – phương pháp nghiên cứu:
+ Đối tượng: những người tham gia tự nguyện, có sự đồng ý từ 16 tuổi
trở lên được chẩn đoán nhiễm HIV tiếp nhận chăm sóc y tế tại 10 phòng khámchuyên khoa về HIV
+ Phương pháp nghiên cứu: những người tham gia được phỏng vấn hàng
năm sử dụng bảng câu hỏi có cấu trúc và dữ liệu lâm sàng được tóm tắt từ hồ sơbệnh viện
- Kết quả nghiên cứu:
Chúng tôi kết nối 3476 bài kiểm tra Chlamydia và 3449 bài kiểm tra bệnh lậuđối với những người tham gia Hầu như tất cả các xét nghiệm (99%) bao gồmđồng thời kiểm tra đồng thời cả hai mầm bệnh Trong số tất cả những ngườiđược thử nghiệm (n = 1041), phần lớn các xét nghiệm (87,0%, 3034/3486) làNaAT dựa trên nước tiểu Chỉ có 3,9%, 4,1% và 4,9% được nuôi cấy bằng mẫuvật từ hệ thống sinh dục, trực tràng hoặc họng
Tóm lại, 38,8% (95% CI 37,1% đến 40,5%) bệnh nhân được kiểm tra ít nhấtmột lần trong năm 2008 – 2011 Có sự gia tăng đáng kể về kiểm tra từ năm 2008đến năm 2011 (p <0.0001) Hầu hết các xét nghiệm (86,6%) được sắp xếp theocác phòng khám HIV tham gia; các xét nghiệm khác đã được đặt hàng bởi sứckhoẻ tình dục/STI/phòng khám sức khoẻ cộng đồng (2,8%) hoặc các nhà cung
31
Trang 33cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ khác (10,6%) như bác sĩ gia đình không cóchuyên môn về HIV Trong số những người được kiểm tra, số lần thử trung bìnhcho mỗi người mỗi năm là 1,0 (IQR 1,0-2,0) Các xét nghiệm đã trải qua một lầnkiểm tra trung bình 2,0 lần (75% lần/4,0 lần) Trong số những người được kiểmtra ít nhất hai lần, khoảng intertest trung bình là 4,1 tháng (IQR 2,6-7,8) đối vớinhững người có xét nghiệm không phản ứng và 2,0 tháng (IQR 0,93-3,7) đối vớinhững người có ít nhất một thử nghiệm phản ứng.
Phân tích các yếu tố nguy cơ có thể cho MSM Tuổi trẻ là một yếu tố nguy cơđối với bệnh Chlamydia và lậu; tuổi không có ý nghĩa thống kê về lậu khi hạnchế xét nghiệm (0,79, KTC 95% 0,61 đến 1,02) Chẩn đoán bệnh lậu nhiều hơn ởnam giới có tải lượng virus không được bù đắp trong cùng một năm dươnglịch Cuối cùng, trong các mô hình không điều chỉnh, việc tham dự một phòngkhám chăm sóc ban đầu có liên quan đến chẩn đoán bệnh Chlamydia, nhưngkhông có ý nghĩa thống kê trong mô hình đa biến hoặc khi hạn chế xét nghiệm(dữ liệu không được hiển thị)
- Kết luận: những phát hiện của chúng tôi về một gánh nặng đáng kể về
bệnh Chlamydia và lậu trong số những người đồng tính nam có HIV dương tính
có liên quan đến dự phòng và chăm sóc Chúng ta cần hiểu rõ hơn các chiến lượctối ưu để thúc đẩy việc kiểm tra Chlamydia và lậu trong số những người đồngtính nam sống chung với HIV và đảm bảo rằng không có triệu chứng nhiễmtrùng không triệu chứng Đó là liên quan đến việc rất ít được nuôi cấy hoặc thửnghiệm tại các trang web extragenital Các cơ quan y tế công cộng ở Canada vàtrên thế giới đang khẩn trương tăng cường cảnh giác đối với các dòng kháng lậukháng sinh, đã tăng lên ở mức phổ biến Điều này rất quan trọng đối với nhữngngười có HIV đã có thể bị thách thức bởi sự đàn áp miễn dịch Các thất bại lâmsàng sau điều trị bằng cefixime hiện đã được ghi nhận trong bối cảnh của chúngtôi Chúng tôi ủng hộ khuyến cáo quốc gia về văn hoá của tất cả các bệnh nhânMSM có triệu chứng trước khi điều trị lồng ngực để theo dõi kháng sinh Chúngtôi cũng khuyên bạn nên thu thập và kiểm tra các hồ chứa hầu và trực tràng mẫuquan trọng của Chlamydia và bệnh lậu nhiễm trùng thường xuyên hơn