Hiệp định IPA là hiệp định bảo hộ đầu tư, nhằm đảm bảo an toàn nguồn vốn cũng như làtài sản của các nhà đầu tư, chính quyền các bên liên quan, tạo sự công bằng đối với tất cả các nhàđầu
Trang 1Bài tập số 1 ngày 17/02/2020
1 Hiệp định EVFTA và IPA là gì?
Tháng 6 năm 2018: Việt Nam và EU đã chính thức thống nhất việc tách riêng EVFTAthành hai hiệp định gồm
- Hiệp định Thương mại tự do chính là toàn bộ nội dung EVFTA hiện nay nhưng phầnđầu tư sẽ chỉ bao gồm tự do hóa đầu tư trực tiếp nước ngoài Với Hiệp định này, EU có quyềnphê chuẩn và đưa vào thực thi tạm thời
- Hiệp định Bảo hộ đầu tư bao gồm nội dung bảo hộ đầu tư và giải quyết tranh chấp đầu
tư (Hiệp định IPA) Hiệp định IPA này phải được sự phê chuẩn của cả Nghị viện Châu Âu và củaNghị viện các nước thành viên thì mới có thể thực thi
* Hiệp định EVFTA
Hiệp định Thương mại tự do châu Âu – Việt Nam (EVFTA- European-Vietnam FreeTrade Agreement) là hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới giữa Việt Nam và các nướcthành viên Liên minh châu Âu (EU)
Không chỉ loại bỏ hơn 99% thuế hải quan đối với hàng hóa, hiệp định còn mở cửa thịtrường dịch vụ của Việt Nam cho các công ty EU và tăng cường bảo vệ các khoản đầu tư của EUvào Việt Nam
Sau gần 10 năm đàm phán, chiều 30/6, tại Hà Nội, Hiệp định thương mại tự do (EVFTA)
và Hiệp định bảo hộ đầu tư (IPA) giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu đã được ký kết Ngày 12tháng 02 năm 2020, Nghị viện châu Âu đã bỏ phiếu phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do giữaViệt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA)
*Hiệp định IPA
Vào ngày 30/6, Việt Nam và Liên minh Châu Âu đã ký kết Hiệp định Bảo hộ Đầu tư(Investment Protection Agreement, gọi tắt là IPA) Đây là một thoả ước quan trọng vì đã đề ranhững quy định giúp bảo hộ đầu tư và giải quyết tranh chấp đầu tư giữa các bên, trong bối cảnh
mà chỉ riêng dòng vốn đầu tư trực tiếp từ châu Âu đến Việt Nam đã lên đến hơn 1 tỷ USD/năm
Hiệp định IPA là hiệp định bảo hộ đầu tư, nhằm đảm bảo an toàn nguồn vốn cũng như làtài sản của các nhà đầu tư, chính quyền các bên liên quan, tạo sự công bằng đối với tất cả các nhàđầu tư, không có các chính sách trưng thu, trưng mua, trong trường hợp có trưng thu, trưng muathì phải có sự bồi thường thỏa đáng trên cơ sở thỏa thuận với các nhà đầu tư, cũng như đảm bảo
là các nhà đầu tư được phép di chuyển nguồn vốn, tài sản của mình sau khi thực hiện các dự áncủa mình tại các quốc gia Hiệp định IPA trong khuôn khổ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam
- EU có những điểm rất mới, chi tiết và cân bằng hơn so với những hiệp định bảo hộ đầu tưtruyền thống mà Việt Nam đã ký với các đối tác trước đây Những nội dung của Hiệp định cótiêu chí rất rõ ràng, với các nội dung nhà nước không thể áp dụng được việc thực hiện phân biệt
Trang 2đối xử với các nhà đầu tư nước ngoài, bổ sung các quy định nhằm miễn trừ cho nhà đầu tư trongnước có liên quan đến vấn đề phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, bảo vệ cộng đồng, đạođức, văn hóa, xã hội,… Đặc biệt trong IPA với EU lần này, chúng ta xây dựng được cơ chế giảiquyết các tranh chấp thông qua cơ chế thường trực hai cấp, khác hẳn với các cơ chế trọng tài củacác hiệp định trước đây.
2 Nội dung của hiệp định EVFTA về thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và EU như thế nào?
Đối với xuất khẩu của Việt Nam, ngay khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhậpkhẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của ViệtNam sang EU Sau 07 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Đối với khoảng0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuếnhập khẩu trong hạn ngạch là 0%
Như vậy, có thể nói gần 100% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ được xóa
bỏ thuế nhập khẩu sau một lộ trình ngắn Cho đến nay, đây là mức cam kết cao nhất mà một đốitác dành cho ta trong các hiệp định FTA đã được ký kết Lợi ích này đặc biệt có ý nghĩa khi EUliên tục là một trong hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của ta hiện nay
Đối với hàng xuất khẩu của EU, Việt Nam cam kết sẽ xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệpđịnh có hiệu lực với 48,5% số dòng thuế (chiếm 64,5% kim ngạch nhập khẩu) Tiếp đó, sau 7năm, 91,8% số dòng thuế tương đương 97,1% kim ngạch xuất khẩu từ EU được Việt Nam xóa bỏthuế nhập khẩu Sau 10 năm, mức xóa bỏ thuế quan là khoảng 98,3% số dòng thuế (chiếm 99,8%kim ngạch nhập khẩu) Đối với khoảng 1,7% số dòng thuế còn lại của EU, ta áp dụng lộ trìnhxóa bỏ thuế nhập khẩu dài hơn 10 năm hoặc áp dụng hạn ngạch thuế quan theo cam kết WTO
Các nội dung khác liên quan tới thương mại hàng hóa: Việt Nam và EU cũng thống nhấtcác nội dung liên quan tới thủ tục hải quan, SPS, TBT, phòng vệ thương mại, v.v, tạo khuôn khổpháp lý để hai bên hợp tác, tạo thuận lợi cho xuất khẩu, nhập khẩu của các doanh nghiệp
3 Nội dung của hiệp định EVFTA đối với dịch vụ ngân hàng-tài chính như thế nào?
Dịch vụ ngân hàng:
Việt Nam cam kết sẽ xem xét thuận lợi việc cho phép các tổ chức tín dụng EU nâng mứcnắm giữ của phía nước ngoài lên 49% vốn điều lệ trong 02 ngân hàng thương mại cổ phần củaViệt Nam Tuy nhiên, cam kết này chỉ có hiệu lực trong vòng 05 năm (hết thời hạn 05 năm ViệtNam sẽ không bị ràng buộc bởi cam kết này), không áp dụng với 04 ngân hàng thương mại cổphần mà nhà nước đang nắm cổ phần chi phối là BIDV, Vietinbank, Vietcombank và Agribank.Bên cạnh đó, việc thực hiện cam kết này sẽ phải tuân thủ đầy đủ các quy định về thủ tục muabán, sáp nhập cũng như các điều kiện an toàn, cạnh tranh, bao gồm giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần
Trang 3áp dụng đối với từng nhà đầu tư là cá nhân, tổ chức trên cơ sở đối xử quốc gia, theo quy định của
pháp luật của Việt Nam
Dịch vụ bảo hiểm:
Việt Nam cam kết cho phép nhượng tái bảo hiểm qua biên giới, cam kết dịch vụ bảo hiểm
y tế tự nguyện theo luật trong nước Riêng đối với yêu cầu cho phép thành lập chi nhánh công tytái bảo hiểm, Việt Nam chỉ cho phép sau một giai đoạn quá độ
4 Đánh giá tác động có thể có của EVFTA và IPA đối với nền kinh tế Việt Nam
a) Lợi ích
- Mang lại cơ hội lớn để phát triển thương mại giữa Việt Nam và EU
Lợi ích đầu tiên phải kể đến chính là nhờ hiệp định EVFTA này, quan hệ về thương mạigiữa Việt Nam với EU sẽ được phát triển tốt hơn, gắn kết chặt hơn Với cam kết xóa bỏ thuếnhập khẩu lên tới gần 100% biểu thuế và giá trị thương mại mà hai bên đã thống nhất, cơ hội giatăng xuất khẩu cho những mặt hàng Việt Nam có lợi thế như dệt may, da giày, nông thủy sản (kể
cả gạo, đường, mật ong, rau củ quả), đồ gỗ, v.v là rất đáng kể Mức cam kết trong EVFTA có thểcoi là mức cam kết cao nhất mà Việt Nam đạt được trong các FTA đã được ký kết cho tới nay.Điều này càng có ý nghĩa khi hiện nay, mới chỉ hơn 42% kim ngạch xuất khẩu của Việt Namsang EU được hưởng mức thuế 0% theo Chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP)
Sự gia tăng về thương mại này sẽ được dự báo là tác động đáng kể tới nền kinh tế củaViệt Nam trong những năm tới đây Việc tham gia ký kết hiệp định EVFTA này sẽ giúp củng cốmối quan hệ giữa Việt Nam với EU Từ đó góp phần tạo sự đa dạng hóa cho thị trường và nhữngmặt hàng xuất khẩu Thích hợp với đường lối đối ngoại của Việt Nam trên phương diện quốc tế.Việc này cũng sẽ giúp chúng ta giảm bớt áp lực từ chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, là nhữngđối tác hàng đầu của Việt Nam thời gian qua
Theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hiệp định EVFTA sẽ giúp kim ngạch xuấtkhẩu của Việt Nam sang EU tăng thêm khoảng 20% vào năm 2020; 42,7% vào năm 2025 và44,37% vào năm 2030 so với không có Hiệp định Đồng thời, kim ngạch nhập khẩu từ EU cũngtăng nhưng với tốc độ thấp hơn xuất khẩu, cụ thể là khoảng 15,28% vào năm 2020; 33,06% vàonăm 2025 và 36,7% vào năm 2030 Về mặt vĩ mô, EVFTA góp phần làm GDP của Việt Namtăng thêm ở mức bình quân 2,18-3,25% (năm 2019-2023); 4,57-5,30% (năm 2024-2028) và7,07-7,72% (năm 2029-2033)
- Mang lại nguồn FDI tốt hơn
Liên minh Châu Âu EU là một trong những nhà đầu tư nước ngoài có số vốn lớn nhất tạiViệt Nam chúng ta với tổng FDI là 6,1 tỷ euro (tính đến năm 2017) Lĩnh vực đầu tư lớn nhất của
EU vào Việt Nam là sản xuất công nghiệp và chế biến EU có thể cung cấp và đầu tư nhiều hơn
Trang 4vào những lĩnh vực công nghệ cao, ít tiêu thụ năng lượng và thân thiện với môi trường Cácdoanh nghiệp đến từ Châu Âu khi đầu tư vào Việt Nam cũng mang lại nguồn công nghệ và việclàm chất lượng Bên cạnh đó họ cũng thực hành kinh doanh rất có trách nhiệm.
- Thay đổi về thể chế (luật lệ, tính chất minh bạch)
Ngoài ra, những cam kết về dịch vụ - đầu tư, mua sắm chính phủ cũng như những quyđịnh cụ thể về mở cửa thị trường và biện pháp kỹ thuật trong một số lĩnh vực cụ thể cũng sẽ tạo
cơ hội cho doanh nghiệp, sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của EU tiếp cận được thuận lợi hơn thịtrường gần 100 triệu dân của Việt Nam, đồng thời giúp người tiêu dùng Việt Nam được tiếp cậnnguồn cung các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao từ EU trong các lĩnh vực như dược phẩm,chăm sóc sức khỏe, xây dựng hạ tầng và giao thông công cộng…
Bên cạnh thương mại, EVFTA cũng có những cam kết sâu rộng về dịch vụ, mua sắmchính phủ, lao động và sở hữu trí tuệ EVFTA sẽ giúp tăng thêm 146.000 việc làm/năm, tập trungvào các ngành dệt may, da giày
Bên cạnh đó, những cam kết về quản trị nhà nước sẽ đảm bảo một môi trường kinh doanh
và pháp lý ổn định, thông thoáng cho nhà đầu tư của cả hai bên nói chung và các doanh nghiệp,nhà đầu tư từ EU nói riêng
Thông quan EVFTA và IPA, nhà đầu tư EU cũng sẽ có cơ hội tiếp cận thị trường cácnước đã ký FTA với Việt Nam với những đối xử ưu đãi hơn Hiệp định này cũng giúp thúc đẩyquan hệ giữa EU với từng nước ASEAN nói riêng và cả khối ASEAN nói chung, tạo tiền đềhướng tới việc thảo luận một Hiệp định FTA giữa EU và ASEAN trong tương lai
b) Thách thức
Cùng với những lợi điểm đó, EVTFA cũng sẽ có những thách thức cho Việt Nam:
- Các công ty lớn ở Âu Châu sẽ dễ khống chế thị trường VN;
- Hàng Việt Nam sẽ phải vượt qua những kỹ thuật cao (về y tế, về môi trường, vềbảo hộ quyền sở hữu trí tuệ) trước khi được các nước trong EU nhập khẩu;
- Việt Nam sẽ không được quyền trực tiếp giúp đỡ các công ty trong nước dù cáccông ty này đang ở trong giai đoạn phôi thai, điều mà các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc,Đài Loan, Singapore đã làm trước khi trở thành phát triển
*Lợi ích của các quốc gia khi tham gia Liên minh tiền tệ châu Âu:
- Góp phần quan trọng nâng cao vị thế của EU EU trở thành một khối kinh tế vững mạnh, liênkết chặt chẽ hơn, ảnh hưởng của EU tới các vấn đề chính trị thế giới cũng ngày càng lớn mạnh.Mong muốn được thu nạp vào “Câu lạc bộ Eurozone” khiến nhiều quốc gia thành viên, đặc biệt
là các nước Trung và Đông Âu gia nhập EU, đã thực hiện nhiều cải cách tích cực
Trang 5- Hoàn thiện thị trường chung châu Âu Đồng tiền chung ra đời góp phần hoàn thiện thị trườngchung châu Âu, gỡ bỏ những hàng rào phi thuế quan, tác động tích cực đến hoạt động kinh tế, tàichính, đầu tư, tiết kiệm chi phí hành chính Thông qua việc sử dụng đồng euro, người tiêu dùng
và doanh nghiệp trong khối có thể so sánh giá cả hàng hóa và dịch vụ một cách dễ dàng, vì thếgiá cả được minh bạch giữa các nước thành viên, thúc đẩy giao lưu buôn bán, tăng tiêu dùng,phát triển thị trường hàng hóa, dịch vụ Từ đó, tạo môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệptrong khối, cải thiện mức sống của người dân
- Tiết kiệm đáng kể chi phí giao dịch ngoại hối Đồng euro giúp xóa bỏ các nghiệp vụ giao dịchngoại hối trực tiếp giữa các đồng tiền nội khối với nhau, cũng như các giao dịch gián tiếp quađồng USD Điều này giúp các cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động thương mại, đầu tư trong khốitiết kiệm khoản chi phí chuyển đổi giữa các đồng bản tệ Ngoài ra, những rủi ro liên quan đếnbiến động tỷ giá giảm, trao đổi thương mại và đầu tư trong khối tăng lên Các nước thành viêntránh được sức ép của việc phá giá đột ngột hay việc các nhà đầu cơ tiền tệ tranh thủ sự không ổnđịnh của từng đồng tiền riêng lẻ để trục lợi
- Kích thích hoạt động đầu tư quốc tế Thông qua đồng euro, các nhà đầu tư dễ dàng di chuyểnvốn trong nội khối, chi phí giao dịch ngoại hối giảm, thị trường thống nhất, giá cả ổn định Kinh
tế vĩ mô ổn định do có chính sách tiền tệ chung, môi trường đầu tư của EU trở nên hấp dẫn hơn,không chỉ tăng cường thu hút đầu tư từ bên ngoài mà còn thúc đẩy đầu tư nội khối Hoạt độngcủa thị trường tài chính, đặc biệt là trao đổi tài chính xuyên biên giới thông qua hoạt động ngânhàng và các hình thức tín dụng khác trong Eurozone, tăng trưởng theo cấp số nhân
- Niềm tin vào đồng euro tiếp tục được củng cố Ở thời kỳ đầu, đồng euro không dành đượcnhiều thiện cảm của người dân châu Âu bởi sự xuất hiện của nó kéo theo tình trạng tăng giángoài mong muốn Tuy nhiên, việc chi tiêu dễ dàng trong quá trình đi lại hay giao dịch thươngmại xuyên biên giới mà không cần phải chuyển đổi tiền tệ đã nhanh chóng giúp đồng tiền này cóđược nhiều lợi thế Hiện nay, niềm tin vào đồng tiền này tiếp tục được củng cố, bất chấp tâm lýbài châu Âu và trào lưu dân túy đang gia tăng
*Chi phí
- Phương thức quản trị của ECB còn bộc lộ nhiều điểm yếu Thứ nhất, sự thất bại của các tiếntrình giám sát Hiệp ước tăng trưởng và ổn định (SGP) đã không có khả năng bảo đảm kỷ luậtngân sách của các nước thành viên, các định hướng chính sách kinh tế lớn cũng đã không ngănchặn được sự khác biệt giữa các nước thành viên Thứ hai, sự thiếu vắng cơ chế giải quyết khủnghoảng Khủng hoảng nợ công châu Âu (2008 - 2009) cho thấy, Eurozone chưa thể đối đầu vớimột cuộc khủng hoảng nợ công của một trong số các nước thành viên Thứ ba, tính ổn định củakhu vực đồng euro không chỉ xuất phát từ hành vi của các chính phủ, do vậy việc kiểm soát cácrủi ro tài chính không thể được giải quyết chỉ thông qua việc giám sát ngân sách nhà nước
- Chính sách điều hành tiền tệ gặp nhiều khó khăn Ngay khi dự án Liên minh kinh tế tiền tệ(EMU) xuất hiện, đã có các luồng quan điểm khác nhau Phần lớn các nhà kinh tế châu Âu xem
Trang 6dự án EMU là tích cực, nhưng những người phản đối cho rằng, liên minh tiền tệ mới không đápứng các tiêu chí để trở thành một khu vực tiền tệ tối ưu, như vậy Eurozone sẽ không có đủ ngânsách đáng kể để có thể chủ động ứng phó với những cú sốc lớn Bất chấp các lo ngại trên, cácnhà sáng lập đồng euro tin rằng, họ có thể kiểm soát nợ tài chính thông qua SGP Nhưng trênthực tế, nhiều thành viên đã không tuân thủ các điều khoản của SGP, vì vậy Eurozone đã phảitrải qua không ít khó khăn
Ngoài ra, do ECB đảm nhiệm chức năng điều hành chính sách tiền tệ của cả khối sẽ làm cho cácnước tham gia EMU mất đi quyền tự chủ trong chính sách tiền tệ, khó có thể chống chọi với các
cú sốc lớn Việc chính sách tài khóa giữa các quốc gia không đồng nhất, các khoản vay nợ và chitiêu chính phủ không được kiểm soát chặt chẽ chính là một trong những nguyên nhân chủ yếukhiến Hy Lạp rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ công (năm 2010) và để có thể nhận được cácgói cứu trợ từ EU, Hy Lạp buộc phải thực thi các chính sách “thắt lưng, buộc bụng” hà khắc.Cuộc khủng hoảng nợ công đã nhấn chìm nền kinh tế Hy Lạp, dẫn tới nguy cơ nước này phải rờikhỏi Eurozone để ngăn chặn hiệu ứng lan rộng Và nhờ gói giải cứu từ Quỹ Tiền tệ quốc tế(IMF), nền kinh tế Hy Lạp đã trụ lại được Tuy nhiên, những năm gần đây, mặc dù các quy tắctài khóa đã được sửa đổi, nhưng do các sửa đổi này không thực sự hiệu quả, vấn đề lại tiếp tụcdiễn biến phức tạp
- Lúng túng trong kiểm soát nợ công, EU chia rẽ Trước khi đồng euro ra đời, các nhà lãnh đạoECB đã rất lo ngại sự bất ổn tài chính, đặc biệt là của ngành ngân hàng Trên thực tế, khi dùngđồng tiền chung, việc loại bỏ rủi ro mất giá cũng khuyến khích dòng vốn luân chuyển dễ dàngtrong nội bộ EMU Nhưng khi chi phí vay giảm, nợ tư nhân lại gia tăng là yếu tố rủi ro đối với
nợ có chủ quyền của các quốc gia này Chẳng hạn, trong khi Tây Ban Nha và Ai-len có tỷ lệ nợcông thấp và giảm trong những năm trước khủng hoảng thì sự bùng nổ của nợ tư nhân đã thúcđẩy bong bóng nhà ở, che giấu những vấn đề tiềm ẩn với tài chính công ở chính những quốc gianày Kết quả là, năm 2012 Eurozone đứng trước nguy cơ bị cuốn theo cuộc khủng hoảng nợ công
có thể dẫn đến sự tan rã của hệ thống ngân hàng tại châu Âu Năm quốc gia thuộc Eurozone len, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Síp và Hy Lạp) đã phải tìm kiếm sự giúp đỡ từ bên ngoài đểchống chọi với khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ công Giai đoạn này, nhiều ý kiến chorằng, khu vực đồng euro nên chấm dứt sự tồn tại càng sớm càng tốt
(Ai Mất cân bằng tài khoản vãng lai Một số quốc gia không đóng vai trò quan trọng trongEurozone vẫn duy trì thâm hụt tài khoản vãng lai trong suốt 10 năm đầu, sau khi đồng euro được
sử dụng Khi đó, dòng chảy vốn lớn của những quốc gia này được coi là dấu hiệu hội nhập tàichính hiệu quả Tuy nhiên, đây lại là nguyên nhân gây ra sự mất cân bằng tài khoản vãng lai.Nhiều nước, đáng chú ý nhất là Hy Lạp, cũng duy trì thâm hụt ngân sách lớn và mức nợ cao Cácnước thành viên giàu có hơn lo ngại sẽ buộc phải giải cứu những nước thành viên chi tiêu hoangphí Để ngăn chặn điều này, EMU yêu cầu các quốc gia thành viên giới hạn thâm hụt ngân sáchcủa mình ở mức 3% GDP(6), nhưng các quy định tài chính đã không thể thực hiện được Phầnlớn các nước thành viên Eurozone (bao gồm cả Đức) đều sớm vượt qua mức trần thâm hụt 3%
Trang 7Điều tiết hoạt động ngân hàng là rất quan trọng đối với sự phát triển bền vững của Eurozone,nhưng ECB đã sai lầm khi nâng tỷ lệ lãi suất vào tháng 7-2008, sau đó lại tiếp tục nâng thêm lầnnữa vào năm 2011, bất chấp thực tế là nền kinh tế toàn cầu đang suy thoái Hơn nữa, khi cuộckhủng hoảng tại Hy Lạp (năm 2010) xảy ra, các nhà lãnh đạo châu Âu đã trì hoãn việc để HyLạp tìm tới sự trợ giúp của IMF, tìm cách giảm mức nợ của Hy Lạp, cho dù tỷ lệ nợ/GDP của HyLạp đã ở mức báo động và nước này có áp dụng các biện pháp tài chính nghiêm ngặt Cuối cùng,các biện pháp tài chính khắc khổ đã không đạt được mục tiêu đề ra Ngược lại, do tốc độ GDPgiảm mạnh (hơn cả tốc độ giảm nợ) khiến tỷ lệ nợ/GDP lại tăng nhanh hơn khiến khó khăn càngthêm chồng chất.
- Bất bình đẳng gia tăng trong khu vực, việc mở rộng Eurozone còn nhiều rào cản Sau khi EMUhình thành, sự cạnh tranh ngày càng tăng đã kích thích vốn và lao động di chuyển từ khu vực cónăng suất lao động thấp đến nơi có năng suất lao động cao Điều này tạo ra hậu quả nghiêm trọng
vì lực lượng lao động đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia trongkhối Tại các nước kém phát triển hơn như Hy Lạp, để tránh làn sóng di dân khi thực hiện tự dohóa lao động, chính phủ buộc phải gia tăng các khoản chi phúc lợi, chi an sinh xã hội cho ngườidân Điều này dẫn đến thâm hụt ngân sách gia tăng và là một nguyên nhân quan trọng dẫn tớicuộc khủng hoảng nợ công sau này
Sự khác biệt gia tăng giữa các nền kinh tế thành viên EU đã làm gia tăng các phong trào chínhtrị, tuy rất đa dạng nhưng có chung những giải pháp mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa và chốngchâu Âu, cho rằng cần phải quay trở lại với các đồng tiền quốc gia Sau những khó khăn, Hy Lạpcũng đã bắt đầu lên tiếng về những bất lợi của việc tham gia Eurozone Trong khi đó, một sốnước dự kiến sẽ gia nhập Eurozone, như Séc và Hung-ga-ry, mặc dù ủng hộ đồng tiền chung,nhưng cả chính phủ và người dân đều lo ngại sau khi phát hành đồng euro, giá cả sẽ tăng cao.Chính vì vậy, hai nước này vẫn chưa quyết định thời điểm gia nhập Eurozone
Dựa vào bài học kinh nghiệm về việc thành lập Liên minh tiền tệ châu Âu và
Lý thuyết về Khu vực tiền tệ tối ưu, hãy đánh giá về khả năng hình thành Liên minh tiền tệ khu vực Asean + 3.
Lý thuyết về khu vực tiền tệ tối ưu so sánh các lợi ích và phí tổn của việc hình thành mộtliên minh tiền tệ và xác lập các điều kiện để các nước có một đồng tiền chung Theo lý thuyếtnày, sự phụ thuộc qua lại về kinh tế giữa các nước thành viên càng lớn thì lợi ích từ việc cắt giảmchi phí giao dịch cũng như thúc đẩy thương mại và đầu tư nội khối càng lớn Việc các nướcthành viên chịu tác động như nhau trước các cú sốc kinh tế hay có các mục tiêu chính sách giốngnhau sẽ làm giảm phí tổn của việc phối hợp chính sách Sự linh hoạt của vốn và lao động trongmỗi nước thành viên cũng giúp làm giảm nhu cầu điều chỉnh thông qua chính sách tỷ giá Mức
độ hợp tác chính trị và các cam kết chính trị cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựngcác thể chế khu vực cho quá trình phối hợp chính sách
Trang 8Cho đến nay, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã được thực hiện nhằm xác định khả nănghội nhập tiền tệ của các nước thuộc khu vực châu Á nói chung và các nhóm nước trong châu lụcnày nói riêng, chẳng hạn Đông Á, NICs (Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông và Singapore),ASEAN, ASEAN+3 (ASEAN, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật).
Theo Alvarado (2014), tại ASEAN, 2% nền kinh tế của các quốc gia song phương đanghội tụ với nhau, 58% đang hội tụ, còn 40% chưa sẵn sàng Cụ thể, nhóm quốc gia có mức hội
tụ cao nhất là Singapore - Brunei - Thái Lan, tiếp đến là Việt Nam - Indonesia và sau cùng làCampuchia - Malaysia
Phân tích tính khả thi khi thiết lập Khu vực đồng tiền chung ASEAN+3 (Achsani &Partisiwi, 2010), nhận định Indonesia là quốc gia duy nhất chưa sẵn sàng hội nhập tiền tệ với cácnước khác trong khu vực Các quốc gia thích hợp nhất cho việc sử dụng đồng tiền chung làSingapore, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Philippines và Thái Lan
Hiện nay, tại Việt Nam vẫn chưa có nghiên cứu thực hiện việc hệ thống hóa Lý thuyếtOCA, cũng như phân tích tính khả thi của việc thành lập đồng tiền chung ASEAN hayASEAN+3 Chỉ có một số tác giả nghiên cứu về khả năng hội nhập tiền tệ của Việt Nam
Những thuận lợi mà khu vực Asean + 3 đang có để có thể thành lập Liên minh tiền tệ:
Từ trước khi xảy ra khủng hoảng tài chính năm 1997, Đông Nam Á đã bắt đầu quan tâmđến vấn đề hợp tác tiền tệ và điều phối chính sách khu vực như việc ký kết các thỏa thuận hoánđổi và thỏa thuận mua lại Tuy nhiên không có bước tiến nào trong số đó trù tính cho khủnghoảng tiền tệ năm 1997 và 1998
Trong Bản Tường trình chung về Hợp tác Đông á được đưa ra tại Hội nghị thượng đỉnh
“ASEAN + 3" (10 nước thành viên ASEAN và Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc) vào tháng
11 năm 1999, các nước tham dự đã đồng ý “tăng cường đàm thoại chính sách, điều phối và hợptác trong các vấn đề tài chính, tiền tệ và tài khóa vì lợi ích chung" Dựa trên nền tảng này, các Bộtrưởng Tài chính khu vực đã đưa ra “Sáng kiến Chiang Mai" (Chiang Mai Initiative) vào tháng5/2000, với mục đích xây dựng mạng lưới hợp tác tài chính đa phương phù hợp với sự độc lậpkinh tế ngày càng tăng của các nước châu Á và để đối phó với nguy cơ gia tăng các cú sốc tàichính có thể lây lan trong khu vực Sáng kiến này nhằm mục đích sử dụng khuôn khổ ASEAN+3
để cải thiện việc trao đổi thông tin về các luống vốn và vạch ra các bước tiêu hướng đến thiết lậpmột hệ thống kiểm soát kinh tế và tài chính khu vực Trọng tâm của Sáng kiến Chiang Mai làthỏa thuận hỗ trợ tài chính giữa 13 nước, mục đích là tăng cường cơ chế hỗ trợ trong khu vực đểđối phó với khủng hoảng tiền tệ Thoả thuận này được xây dựng dựa trên Thoả thuận SwapASEAN trước đây (ASA), nhằm bố sung cho cơ chế hợp tác tài chính quốc tế hiện nay và gópphần ổn định tỷ giá trong khu vực
Trang 9Thỏa thuận ASA mới theo Sáng kiến Chiang Mai có thêm Brunei và cho phép 4 nướcASEAN còn lại (gồm Campuchia, Lào , Mianma và Việt Nam) gia nhập dần dần Yếu tố quantrọng nhất đó là nó bao gồm các thỏa thuận hoán đổi và thỏa thuận mua lại (repurchase) songphương giữa các nước ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc Tổng giá trị theo thỏathuận ASA mới là 1 tỉ đôla Tuy nhiên các cam kết của 3 nước ngoài ASEAN đối với các thỏathuận hoán đổi song phương có thể lớn hơn nhiều Điều này tùy thuộc vào mức độ dự trữ ngoạihối của các nước và giá trị của các hiệp định đầu tiên giữa Nhật Bản với Hàn Quốc (5 tỉ đôla) vàgiữa Nhật với Malaysia (2,5 tỉ đôla) theo Sáng kiến Miyazawa mới Điều kiện sử dụng nhữngcông cụ này và một số vấn đề kỹ thuật còn cần được nhất trí thông qua thương lượng giữa cácnước có liên quan Nhưng về nguyên tắc , hỗ trợ dưới hình thức thỏa thuận hoán đổi songphương sẽ gắn với hỗ trợ của IMF và bố sung cho các phương tiện hỗ trợ tài chính quốc tế hiệncó.
Trong khi các nền kinh tế thu nhập trung bình và cao trong ASEAN đáp ứng khá tốt cáctiêu chuẩn của khu vực tiền tệ tối ưu về mặt kinh tế, thiếu sự hợp tác chính trị và các cam kếtmạnh mẽ là một trở ngại đối với quá trình hợp tác chính sách trong ASEAN Sự đối nghịch và sựcạnh tranh giữa các nước trong khu vực hạn chế những nỗ lực hợp tác và phát triển các thể chếkhu vực Sự phát triển của hội nhập kinh tế khu vực trong những năm vừa qua một phần đượcthúc đẩy bởi sự đối địch và cạnh tranh giữa các nền kinh tế lớn ở Đông Á như Trung Quốc, NhậtBản và ở mức độ ít hơn là Hàn Quốc Sự khác biệt trong các lợi ích kinh tế và chiến lược cũngdẫn đến thực tế là các nền kinh tế Đông Á theo đuổi các chiến lược FTA riêng rẽ, thay vì nỗ lựcthúc đẩy một khu vực thương mại tự do chung cho cả khu vực
Sự linh hoạt của thị trường lao động trong các nước ASEAN cũng tạo điều kiện thuận lợicho việc phối hợp chính sách Bayomi và Eichengreen (1994) chỉ ra rằng tốc độ điều chỉnh là caotrong các nền kinh tế Đông Á với hầu hết tác động được hiện thực hóa trong vòng 2 năm Laođộng cũng tương đối linh hoạt giữa các nước, bao gồm cả sự di chuyển của lao động qua biêngiới Việc tự do hóa sự di chuyển đối với lao động có kỹ năng cũng được đặt ra như một nộidung của việc xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN
Những nguồn lợi mà đồng tiền chung ASEAN+3 có thể mang lại
Sự ra đời của đồng tiền chung ASEAN+3 sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho các nướcthành viên trong mọi mặt cụ thể như kinh tế, thương mại, ngân hàng đối ngoại đồng thời cũng
là nhân tố cơ bản làm thay đổi vị trí địa lý kinh tế – tiền tệ - tài chính quốc tế cho khu vực Đồngtiền chung ASEAN+3 ra đời cũng sẽ tạo ra một cuộc cạnh tranh quyết liệt với USD và đồngEURO trên tất cả các cần sự có mặt của tiền tệ Sự kiện này cũng sẽ đưa vị trí của Châu á nóichung và ASEAN+3 nói riêng lên một tầm cao mới Cụ thể các nước thành viên sẽ ảnh hưởngnhững lợi ích quan trọng và căn bản như sau:
Châu Á sẽ thực sự đi vào con đường hội nhập quốc tế, có giải pháp cụ thể ứngphó với quá trình toàn cầu hóa kinh tế
Trang 10 Thị trường chung Châu Á sẽ trở nên thực sự đồng nhất và có hiệu quả hơn
Tiết kiệm đáng kể chi phí giao dịch ngoại hối
Giảm rủi ro và chi phí bảo hiểm rủi ro về tỷ giá đối hoái, tăng cường sự ổn địnhtiền tệ và ổn định kinh tế vĩ mô đồng thời khuyến khích đầu tư, kích thích tăng trưởng, thúc đẩykinh tế phát triển, tìm lại tộc độ tăng trưởng cao, hạn chế thất nghiệp, tạo them nhiều việc làmmới
Việc ra đời của một đồng tiền chung trong khu vực có hội tụ tất cả các cơ sở đảm bảo duytrì ổn định của nó thì khi được tung ra thị trường sẽ trở thành một đồng tiền quốc tế, công cụ dựtrữ trong các quan hệ kinh tế, thương mai, tài chính, tiền tệ ở bên ngoài phát hành Chính vì vậykhi ASEAN+3 hình thành đồng tiền chung trên cơ sở của một tảng kinh tế - chính trị - xã hộivững chắc tương tự như trường hợp đồng EURO thì những nguồn lợi mà các nước khu vựcASEAN+3 thu được là rất lớn Điều này cũng tạo điều kiện tiền để cho ASEAN+3 vươn lênkhẳng định vai trò quốc tế của minh Thêm vào đó, có được một đồng tiền chung mạnh và ổnđịnh, cũng đồng nghĩa với việc ASEAN+3 muốn có sức cạnh tranh với đống đô la Mỹ và đồngEURO Nhưng không vì thế mà làm tuột mất những lợi ích mà Mỹ, Nhật và Châu Âu mang lạicho ASEAN+3 mà ngược lại thông qua đó có thể củng cố vị thế quốc tế, chia sẻ quyền lực tiền tệ
và quyền lực kinh tế có lợi cho các nước khu vực ASEAN+3
Như vậy việc ra đời của đồng tiền chung ASEAN+3 được xem như là một nhân tố mớigóp phần chuyển dịch sự cân bằng của hệ thống tiện toàn cầu và sẽ là một trong những yếu tố cơbản giúp khu vực cũng như từng nước thành viên nói riêng trên mọi phương diện chính trị, kinh
tế, thương mại hội đoải , đu tư trực tiếp cũng như đầu tư gián tiếp ASEAN+3 có được đồng tiềnchung ổn định sẽ tăng cường sức cạnh tranh cơ bản của nền kinh tế, củng cố tiềm lực, mang lạisức mạnh cho ASEAN+3 trong canh tranh quốc tế khốc liệt của thế kỷ tới Đồng thời cũng sẽ cấuthành một trong những yếu tố cơ bản, hiệu quả giúp ASEAN vững vàng tiến bước tren conđường hội nhập toàn cầu hóa kinh tế, đủ sức cạnh tranh với các tổ chức khác
Trang 11Những thách thức phải đối mặt
Sự chênh lệch về trình độ phát triển
Thời điểm năm 1951, khi 6 nước châu Âu cùng nhau thành lập Cộng đồng Than - Thépchâu Âu (ECSC), trình độ phát triển của những những nước này đã rất cao so với mức độ chungcủa thế giới Qua 6 lần mở rộng, tuy trình độ phát triển của EU 27 có sự không đồng đều nhưng
so với trình độ phát triển chung của thế giới, các nước này vẫn xếp vào loại trung bình Trong khi
đó, xét về kinh tế, trình độ phát triển vào thời điểm ra đời (8/8/1967), các nước ASEAN nóichung ở mức độ thấp so với mặt bằng chung trên thế giới Trong khi các nước thunhập trung bình và cao trong ASEAN đáp ứng được các tiêu chuẩn của khu vực tiền tệ tối ưu,các nền kinh tế kém phát triển hơn chưa sẵn sàng cho việc hợp tác tiền tệ sâu rộng Điều đóhàm ý rằng, quá trình hợp tác tiền tệ trong ASEAN sẽ phải được thực hiện với các bước đi
và tốc độ khác nhau Sẽ còn một chặng đường dài trước khi các nền kinh tế ASEAN hay Đông Á
có thể xây dựng được một liên minh tiền tệ
Thương mại nội khối thấp
Thương mại nội khối của ASEAN năm 2014 chỉ chiếm 24,1%3, còn ở EU là khoảng 50%
và một số nước thành viên EU lên đến 80% Điều này cho thấy mức độ liên thông của các nềnkinh tế thành viên trong khu vực ASEAN vẫn còn rất hạn chế Thu hút đầu tư và thúc đẩy thươngmại quốc tế với đối tác bên ngoài bảo đảm tăng trưởng cho ASEAN, song có thể dẫn đến sự phụthuộc vào các nền kinh tế lớn ngoài khu vực, khiến hiệp hội dễ tổn thương bởi những tác độngbên ngoài, khó tập trung các nguồn lực để giải quyết đòi hỏi từ bên trong ASEAN và khiến choquá trình hội nhập nội khối trở nên khó khăn hơn Để trở thành một cộng đồng thống nhất vàvững mạnh, cần có ý chí chính trị quyết liệt của lãnh đạo các quốc gia trong khu vực
Liên minh hải quan
Liên minh hải quan là hình thức liên kết mà ngoài việc thỏa thuận loại bỏ thuế quan vàcác rào cản khác với toàn bộ, hoặc một phần hoạt động mậu dịch trong thương mại nội bộ, cácnước thành viên còn thiết lập một biểu thuế quan chung với nước ngoài liên minh hải quan
Một liên minh hải quan đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều nước và tạo ra ràng buộc chặt chẽđối với chính sách của từng nước Đối với ASEAN, hài hòa hóa thủ tục hải quan rất quan trọngnhưng việc thiết lập chính sách thương mại chung ASEAN không được xem xét đối với AEC
Liên minh thuế và tài khóa
Để có thể đạt được thị trường thống nhất thì hài hòa hóa thuế suất phải được áp dụng đốivới tất cả các loại thuế như thuế đối với lao động và vốn Theo Michael (1991) thì sự dịchchuyển vốn và lao động trong thị trường chung có thể sẽ có ảnh hưởng tiêu cực nếu như thuếkhông được hài hòa hóa Tuy nhiên, quá trình hài hòa hóa thuế suất giữa các thành viên có thể sẽkhông khả thi nếu như không có sự hài hòa chi tiêu chính phủ Thuế tăng sẽ tạo nguồn thu chochi tiêu chính phủ Trong các khu vực tự do thương mại thì mới chỉ có EU đã thực hiện tiến trìnhhài hòa hóa tài khóa, theo đó, đã giới hạn được thuế hàng hóa; thuế suất thuế giá trị gia tăng vớimức thấp nhất là 15% tại tất cả các nước thành viên, cân bằng mức thuế suất đối với nhiên liệu,thuốc lá và rượu
Trang 12Tuy nhiên, liên minh thuế quan và tài khóa tại khu vực chưa đạt được điều này, mặc dùkhông hạn chế chính sách thuế quốc gia mà chính phủ các nước đưa ra để tăng thuế và thiết lậpmức thuế suất.
Với thị trường thống nhất về hàng hóa và dịch vụ của ASEAN+3 thì thuế trở thành mộttrong những công cụ chính sách của chính phủ nhằm cạnh tranh đầu tư, cùng với đó là nhữngyếu tố phi thuế quan như khuôn khổ pháp luật, cơ sở hạ tầng, môi trường chính trị, môi trườngđầu tư, bảo hộ sở hữu trí tuệ trong thu hút FDI Tiến trình cạnh tranh về thuế tại khu vựcASEAN+3 là kết quả của quá trình không có sự phối hợp và hài hòa thuế suất giữa các nước
Thị trường ngoại hối và liên minh tiền tệ
Hầu hết các giao dịch xuyên biên giới đi kèm với các giao dịch ngoại hối, ngoại trừtrường hợp hàng đổi hàng, tại các quầy thương mại hoặc giao dịch giữa các nước có đồng tiềnchung Hài hòa hóa tài khóa và hội nhập tiền tệ rất phức tạp, đặc biệt trong trường hợp phối hợpvới hội nhập thương mại và sự di chuyển tự do các nhân tố (vốn, lao động ) Chính sách tỷ giáhối đoái khó có thể được áp dụng để ổn định kinh tế vĩ mô nếu thị trường lao động không đượclinh hoạt và chính sách tài khóa thiếu sự phối hợp cần thiết Hơn nữa, các nước thành viên phảichấp nhận hy sinh quyền kiểm soát chính sách tiền tệ và chủ quyền ở một mức nhất định
Về trình độ, mức độ hội nhập, liên kết của EU và ASEAN cũng rất khác nhau Các nước
EU ngay từ khi ra đời (1951) đã bắt đầu xây dựng các cộng đồng kinh tế (1951 và 1957), sau đódần dần đề ra việc xây dựng liên minh hải quan (1968), thị trường thống nhất, liên minh kinh tế -tiền tệ (1999), mà đỉnh cao là cho ra đời đồng tiền chung EURO (2002) Còn các nước ASEAN
mà tiền thân là ASA ra đời muộn hơn 10 năm so với ECSC (1951), nhưng phải đến năm 1992,các nước ASEAN mới ký kết Hiệp định Khung tăng cường hợp tác kinh tế và quyết định hìnhthành Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), một hình thức liên kết tầm thấp hơn thị trườngchung, nếu xét ở mức độ mở cửa của nền kinh tế thị trường Rồi đến tận tháng 12/2005, trongHội nghị Thượng đỉnh các nước Đông Nam Á ở Malaisia, các nước đã thảo luận về đề án Đồngtiền chung châu Á, với tên gọi ACU (Asian Currency Unit) Từ năm 2006, Ngân hàng Phát triểnChâu Á bắt đầu chuẩn bị đưa ra Đồng tiền chung Châu Á, để sau này có thể lưu thông nó trênlãnh thổ ASEAN + Nhật Bản + Hàn Quốc + Trung Quốc, và phải 20-30 năm sau(đến năm 2026hoặc 2036) đồng ACU mới trở thành đồng tiền chung châu Á
Phân tích cho thấy, mặc dù có sự phát triển đáng kể trong những năm gần đây, nhưngASEAN+3 mới chỉ trong giai đoạn đầu tiên của quá trình hợp tác tiền tệ khu vực ASEAN+3 đã
có một số hợp tác tài chính và tiền tệ (ví dụ Sáng kiến Chiềng Mai), cơ chế giám sát đã đượchình thành, tuy nhiên lại không thể có hiệu quả ngay Cơ chế hợp tác tỷ giá hối đoái và chínhsách tiền tệ chưa được phát triển trong ASEAN+3 Cuối cùng, thị trường ASEAN+3 là một thị
trường “cộng” chứ không hoàn toàn “hòa nhập” của tất cả thị trường các nước thành viên, với
những chính sách kinh tế không công khai, phát triển ở nhiều cấp độ, lại chủ yếu hướng ra bênngoài chứ không phải vào thị trường nội khối
Nghiên cứu cũng cho thấy, trong khi các mối liên hệ về thương mại và đầu tư giữa ViệtNam với các nước thành viên ASEAN+3 đã phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây,những khác biệt trong cấu trúc kinh tế và chính sách kinh tế là những trở ngại lớn đối với sự
Trang 13tham gia của Việt Nam vào quá trình hợp tác tiền tệ khu vực Việt Nam cần chuẩn bị cả về kinh
tế và thể chế để tham gia sâu rộng hơn vào quá trình hợp tác tiền tệ trong ASEAN và ASEAN+3.Trong thời gian tới, Việt Nam cần tăng cường tham gia các cơ chế trao đổi thông tin và đối thoạichính sách khu vực Việt Nam cũng cần tăng cường hệ thống thông tin kinh tế cả về tính minhbạch, độ tin cậy và tính cập nhật, đồng thời nâng cao năng lực phân tích và dự báo kinh tế
Đề xuất về việc xây dựng một khu vực đồng USD, trong đó các nền kinh tế Đông Á sẽ
cùng neo đồng tiền của mình vào đồng USD có lợi điểm là đồng USD được sử dụng rộng rãitrong các hoạt động thương mại và tài chính trong khu vực Việc xây dựng một khu vực đồngYên có ưu điểm là giúp thúc đẩy các mối liên hệ thương mại và đầu tư với Nhật Bản, vốn là mộtđối tác thương mại và đầu tư hàng đầu của nhiều nền kinh tế ASEAN+3 Tuy nhiên, biến độngtrong tỷ giá giữa yên Nhật với USD và Euro có thể tác động tiêu cực đến nhiều nền kinh tế Đông
Á vốn xuất khẩu chủ yếu sang các thị trường Mỹ và châu Âu
Bài tập số 3
1 Vì sao các quốc gia cần cân bằng BOP trường hợp Thâm hụt hoặc Thặng dư?
Cán cân thanh toán quốc tế là chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng được các nhà điều hànhkinh tế đặc biệt quan tâm BOP phản ánh một cách đầy đủ nhất tình hình kinh tế đối ngoại nóiriêng, cũng như tình hình kinh tế xã hội của một nước nói chung Phản ánh mức độ hội nhập và
mở cửa nền kinh tế thông qua các số liệu thể hiện trên cán cân Tình trạng của cán cân thanh toánquốc tế có ảnh hưởng đến nhiều chỉ tiêu vĩ mô khác trong nền kinh tế như tỷ giá, lạm phát…
Vai trò của cán cân thanh toán quốc tế được thể hiện ở cả tầm quản lý vĩ mô và vi mô:
Ở tầm quản lý vĩ mô, thông qua các số liệu trên BOP, các nhà quản lý sẽ điều chỉnh chính sáchđối ngoại đặc biệt là chính sách thương mại quốc tế nhằm tác động lên hoạt động xuất nhập khẩuhàng hóa và dịch vụ của quốc gia Ví dụ, BOP của một quốc gia thể hiện cán cân thương mạiluôn thâm hụt xuất phát chủ yếu từ việc nhập khẩu các hàng hóa tiêu dùng có giá trị cao, điềunày khiến cho nền kinh tế luôn trong tình trạng khan hiếm ngoại tệ, ngoại tệ sẽ có xu hướng tănggiá Để hạn chế tác động tiêu cực này, nhà hoạch định chính sách vĩ mô điều chỉnh tăng thuếnhập khẩu đối với hàng hóa tiêu dùng giá trị cao (một nội dung quan trọng trong chính sáchthương mại quốc tế) nhằm hạn chế nhập khẩu từ đó cải thiện tình trạng thâm hụt của cán cânvãng lai Ngoài ra, thông qua các số liệu trên cán cân thanh toán quốc tế, các nhà quản lý sẽ đưa
ra các biện pháp quản lý đối với sự di chuyển của các luồng vốn bao gồm đầu tư trực tiếp nướcngoài, đầu tư gián tiếp nước ngoài, vay nợ nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài Trong đó đặc biệtquan trọng là quản lý đầu tư gián tiếp nước ngoài và vay nợ nước ngoài Xuất phát từ tính ngắnhạn, bất ổn và dễ đảo chiều của vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, sự tăng lên quá mức của lượngvốn này chưa chắc đã phải là một tín hiệu tốt đối với nền kinh tế do đó buộc các nhà quản lý kinh
tế phải đưa ra các biện pháp để kiểm soát kịp thời Bên cạnh đó, vay nợ nước ngoài cũng là mộttrong những chỉ tiêu đáng quan tâm trong bảng BOP của các quốc gia Vay nợ nước ngoài vượtquá khả năng chi trả của nền kinh tế có thể dẫn một quốc gia tới tình trạng nợ nước ngoài Thựctrạng của cán cân thanh toán quốc tế còn có ý nghĩa quan trọng đối với NHTW các quốc gia
Trang 14trong việc điều hành chính sách tỷ giá Cán cân thanh toán quốc tế phản ánh các khoản thu chibằng ngoại tệ giữa người cư trú và người không cư trú hay nói cách khác cán cân thanh toánquốc tế phản ánh sự chênh lệch giữa cung ngoại tệ và cầu ngoại tệ từ đó tác động tới tỷ giá Điềunày có thể làm chệch đi mục tiêu về chính sách tỷ giá mà một quốc gia đã đề ra trong từng thời
kỳ nhất định Trong trường hợp này, NHTW buộc phải sử dụng các công cụ của chính sách tỷ giánhư công cụ lãi suất, điều chỉnh biên động dao động hay mua/bán ngoại tệ trực tiếp trên thịtrường ngoại hối… để điều chỉnh tỷ giá về đúng mức kỳ vọng như ban đầu Số liệu về cán cânthanh toán không chỉ quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách mà còn có ý nghĩa đốivới các nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư, người tiêu dùng bởi vì thực trạng của cán cânthanh toán quốc tế thông qua biến động của tỷ giá có thể tác động tới một số biến động kinh tế vĩ
mô quan trọng trong nền kinh tế như tổng sản phẩm quốc nội, việc làm, lạm phát và lãi suất Đặcbiệt, BOP có ý nghĩa lớn đối với các chủ thể có hoạt động liên quan chủ yếu đến ngoại tệ như cácdoanh nghiệp xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư ngoại tệ Các số liệu phản ánh trên BOP có thể giúpcác chủ thể dự đoán biến động của tỷ giá trong tương lai từ đó đưa ra quyết định mua/bán ngoại
tệ vào thời điểm nào hoặc có sử dụng các biện pháp phái sinh ngoại tệ hay không…
Tóm lại, cán cân thanh toán quốc tế là một trong những chỉ số kinh tế vĩ mô quan trọng,phản ánh tình trạng hay sức khỏe của một nền kinh tế Chỉ số này có vai trò quan trọng không chỉđối với các nhà hoạch định chính sách kinh tế mà còn có ý nghĩa ở tầm vi mô trong hoạt độngcủa các doanh nghiệp, các nhà đầu tư hay người dân của một quốc gia và các quốc gia cần cânbằng BOP trong trường hợp thâm hụt hay thặng dư
2 Trình bày các biện pháp cân bằng BOP trường hợp Thâm hụt và Thặng dư?
Các giải pháp thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế ở tình trạng thặng dư:
- Tăng nhập khẩu và giảm xuất khẩu hàng hóa
Khi cán cân thương mại thặng dư (xuất siêu ) tức là X – M > 0, xuất khẩu lớn hơn rấtnhiều so với nhập khẩu Lúc này, nếu chúng ta muốn đưa cán cân thương mại trở lại trạng tháithăng bằng thì cần phải tăng M lên, giảm X xuống tức là tăng nhập khẩu lên, giảm xuất khẩuxuống Đặc biệt chúng ta nên nhập tư liệu sản xuất và hàng hóa tiêu dùng là những mặt hàngthiết yếu cho đời sống nhân dân cũng như cải thiện điều kiện sản xuất, hạn chế xuất khẩu nhữnghàng hóa như nguyên liệu thô để duy trì tài nguyên quốc gia và bảo vệ môi trường
- Tăng khoản chi và giảm khoản thu
Khi cán cân vãng lai thăng dư tức là (X – M + SE + IC +TR) > 0, thu nhập (incomeinflows ) của người cư trú từ người không cư trú là lớn hơn so với chi ( income outflows ) chongười không cư trú Điều này có nghĩa là giá trị ròng của các giấy tờ có giá do người không cưtrú phát hành nằm trong tay người cư trú tăng lên Để điều chỉnh cán cân vãng lai trở lại trạngthái thăng bằng thì chúng ta cần phải tăng khoản chi và giảm khoản thu từ người không cư trú
- Tăng dự trữ quốc tế và mua lại các khoản nợ, tăng xuất khẩu vốn ra nước ngoài
Trang 15Đối với cán cân tổng thể, nếu thặng dư (+), nó cho biết số tiền có sẵn để một quốc gia cóthể sử dụng để tăng (mua vào) dự trữ ngoại hối Dự trữ ngoại hối thường được các NHTW sửdụng vào can thiệp để mua nội tệ trong những trường hợp cần bảo vệ nội tệ khỏi bị giảm giá.
Các giải pháp thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế ở tình trạng thâm hụt :
- Vay nợ nước ngoài:
Đây là phương pháp để thanh toán các khoản chi trả và đến hạn trả: đảo nợ và sự gia tăng
nợ (thâm hụt) trong dài hạn
Đây là biện pháp truyền thống và phổ biến Biện pháp này thông qua các nghiệp vụ qualại với các ngân hàng đại lý ở nước ngoài để vay ngoại tệ cần thiết nhằm bổ sung thêm lượngngoại hối cung cấp cho thị trường Ngày nay việc vay nợ không còn giới hạn bởi quan hệ giữangân hàng nước này với nước kia, mà nó đã được mở rộng ra nhiều ngân hàng khác, đặc biệt làvới các tổ chức tài chính tín dụng quốc tế trên cơ sở các hiệp định đã được ký giữa các bên
- Thu hút tư bản ngắn hạn từ nước ngoài:
Ngân hàng Trung ương của các nước thường áp dụng những chính sách tiền tệ, tín dụngcần thiết thích hợp để thu hút được nhiều tư bản ngắn hạn từ các thị trường nước ngoài di chuyểnđến nước mình, làm tăng thêm phần thu nhập ngoại tệ của cán cân thanh toán, thu hẹp khoảncách về sự thiếu hụt giữa thu và chi trong cán cân thanh toán đó Trong số những chính sách tiền
tệ tín dụng được sử dụng để thu hút tư bản vào, thì chính sách chiết khấu được sử dụng phổ biếnhơn
Để thu hút được một lượng tư bản từ thị trường nước ngoài vào nước mình thì Ngân hàngTrung ương sẽ nâng lãi suất chiết khấu, dẫn đến lãi suất tín dụng trên thị trường tăng lên làmkích thích tư bản nước ngoài dịch chuyển vào
Cần lưu ý rằng, biện pháp nâng lãi suất chiết khấu chỉ có hiệu quả khi tình hình kinh tế,chính trị, xã hội của quốc gia đó tương đối ổn định, tức là ít rủi ro trong đầu tư tín dụng
Phá giá tiền tệ là sự công bố của Nhà nước về sự giảm giá đồng tiền của nước mình sovới vàng hay so với một hoặc nhiều đồng tiền nước khác Phá giá làm cho khối lượng xuất khẩutăng và khối lượng nhập khẩu giảm, nhưng không vì thế mà cán cân thương mại phải được cảithiện Trong ngắn hạn, hiệu ứng giá cả có tính trội so với hiệu ứng khối lượng làm cho cán cân
Trang 16thương mại bị xấu đi: trong dài hạn, hiệu ứng khối lượng lại có tính trội so với hiệu ứng giá cảlàm cho cán cân thương mại được cải thiện, đây chính là nguyên nhân tạo nên hiệu ứng tuyến J.Hơn nữa, phá giá dễ thành công với các nước công nghiệp phát triển, nhưng lại không chắc chắnvới các nước đang phát triển; chính vì vậy, đối với một nước đang phát triển, trước khi chọn giảipháp phá giá cần thiết phải tạo ra được các tiền đề để có thể phản ứng tích cực với những lợi thế
mà phá giá đem lại, có như vậy cán cân thương mại mới có thể được cải thiện chắc chắn trongthời gian dài hạn
- Vận hành các chính sách :
Thương mại quốc tế theo hướng tăng xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu:
Khi cán cân thương mại thâm hụt (nhập siêu ) tức là X – M < 0, xuất khẩu nhỏ hơn rấtnhiều so với nhập khẩu Lúc này, nếu chúng ta muốn đưa cán cân thương mại trở lại trạng tháithăng bằng thì cần phải tăng X lên, giảm M xuống tức là tăng xuất khẩu lên, giảm nhập khẩuxuống
Chính sách tài khoá theo hướng thắt chặt Ngân sách Nhà nước: chính sách “thắt lưngbuộc bụng”
Chính sách tiền tệ theo hướng thắt chặt mức cung tiền tệ
Khi cán cân vãng lai thâm hụt tức là (X – M + SE + IC +TR ) > 0, thu nhập (incomeinflows ) của người cư trú từ người không cư trú là thấp hơn so với chi ( income outflows ) chongười không cư trú Điều này có nghĩa là giá trị ròng của các giấy tờ có giá do người không cưtrú phát hành nằm trong tay người cư trú giảm lên Để điều chỉnh cán cân vãng lai trở lại trạngthái thăng bằng thì chúng ta cần phải giảm khoản chi và tăng khoản thu từ người không cư trú
- Giảm dự trữ quốc tế : thông qua bán các giấy tờ có giá và xuất khẩu vàng
Đối với cán cân tổng thể, nếu thâm hụt ( - ), nó cho biết số tiền mà quốc gia phải hoàn trảbằng cách giảm ( bán ra ) dự trữ ngoại hối là như thế nào
Trong hệ thống tỷ giá cố định, một quốc gia có thâm hụt cán cân tổng thể phải chịu áp lựccung nội tệ lớn hơn cầu, do đó, để tránh phá giá, NHTW phải tiến hành bán dự trữ ngoại hối đểmua nội tệ vào
- Tuyên bố tình trạng vỡ nợ hay mất khả năng trả nợ nước ngoài
3 Mỗi biện pháp có tác động tích cực hay tiêu cực đối với kinh tế-xã hội ở các quốc gia?
Những biện pháp nhằm điều tiết xuất khẩu
Trang 17Chính sách khuyến khích xuất khẩu nhằm mục đích chuyển dịch chi tiêu nước ngoài vàocác sản phẩm nội địa Tác dụng của các biện pháp này là làm tăng khối lượng xuất khẩu, làmgiảm thâm hụt cán cân thương mại và đồng thời còn làm tăng khả năng chịu đựng của cán cânvãng lai Nó cho pháp cán cân vãng lai thiếu hụt lớn mà không dẫn đến một cuộc khủng hoảngbên ngoài nào Đặc biệt trong điều kiện khủng hoảng kinh tế hiện nay, khuyến khích xuất khẩulại càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
Những biện pháp nhằm điều tiết nhập khẩu
Chính sách hạn chế nhập khẩu nhằm mục đích cố gắng dịch chuyển chi tiêu nội địa từnước ngoài và hàng hóa trong nướcTác dụng của biện pháp này là làm giảm số lượng hay giá trịnhập khẩu trong một khoảng thoài gian nhất định Do đó, ban đầu nó có tác động trược tiếp cảithiện cán cân thương mại nói riêng và cán cân vãng lai nói chung Tuy nhiên, các biện pháp nàychỉ có tác dụng làm giảm thiếu hụt cán cân vãng lai lúc ban đầu Nhưng sau đó, do giảm suấtkhẩu, người tiêu dùng trong nước sẽ quay sang mua hàng hóa sản xuất trong nước làm tăng tổngcầu đối với nền kinh tế dẫn đến sản lượng và thu nhập quốc dân tăng lên Thư nhập quốc dân sẽlàm cho nhập khẩu tăng và cuối cùng làm cho sự cải thiện cán cân vãng lai ban đầu giảm đi
Biện pháp thu hút chuyển tiền nước ngoài
Do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng,thị trường trong nước và thịtrường ngoài nước được mở rộng và gắn kết với nhau nên lượng người Việt Nam sinh sống tạinước ngoài và lao động xuất khẩu ngày càng tăng lên Và thực tế cho thấy,số tiền do nhữngngười Việt Nam ở nước ngoài gửi về nước luôn là nguồn tài trợ quan trọng cho thâm hụt cán cânvãng lai Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang diễn ra, nguồn kiều hối gửi về ViệtNam đã bị giảm sút do phần còn lại của thế giới cũng lâm vào tình trạng khó khăn
Những biện pháp thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nước ngoài
Cũng như các nước đang phát triển khác, Việt Nam đứng trước hai vấn đề quan trọng cóliên quan đến vốn đầu tư để đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững:
Tỷ lệ huy động vốn trong nước thông qua kênh tiết kiệm và các khoản thu củaNhà nước không đáp ứng đủ nhu cầu vốn đầu tư
Tình trạng nhập siêu không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu công nghiệp hóađất nước dẫn đến thâm hụt cán cân vãng lai và sự thiếu hụt ngoại tệ trong một thời gian dài
Cả 2 vấn đề này có thể giải quyết bằng cách thu hút vốn ngoài nước, trong đó có FDI vàODA Cho nên để tài trợ cho thâm hụt cán cân vãng lai, cải thiện cán cân thanh toán, Chính phủnên thu hút các luồng vốn này Tuy việc thu hút các luồng vốn đầu tư nước ngoài vào sẽ có tácdụng làm tăng sản lượng, tạo việc làm và tài trợ cho thiếu hụt cán cân vãng lai nhưng cũng sẽlàm tăng thiếu hụt cán cân vãng lai do tăng nhập khẩu và tăng các khoản trả lợi nhuận, lãi vaycho nước ngoài Do vậy, để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, tăng xuất khẩu giải quyết việc