Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu của nhà nước để đấu tranh, phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm cho công dân được sống trong môi trường xã hội lành mạnh. Đặc biệt, pháp luật hình sự Việt Nam luôn luôn chú trọng bảo vệ sức khỏe, tính mạng của con người. Trong số các quyền nhân thân, quyền sống của con người là quyền tự nhiên, thiêng liêng và cao quí nhất, không một quyền nào có thể so sánh được. Bởi lẽ, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Thêm vào đó, con người còn là chủ thể của quan hệ xã hội, nếu quyền sống của con người bị xâm phạm thì các quan hệ xã hội sẽ bị phá vỡ. Chính vì những lí do trên mà mục tiêu bảo vệ quyền sống của con người luôn được đặt lên hàng đầu đối với mọi dân tộc, mọi quốc gia, mọi thời đại và mọi chế độ. Nhận thức được tầm quan trọng của việc phòng chống tội phạm, dựa trên kiến thức về lí luận, thực tiễn và để đi sâu tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, em đã mạnh dạn chọn đề tài số 3 làm bài tập lớn học kì môn Luật hình sự Việt Nam. Đây là tình huống liên quan đến tội giết người được qui định tại điều 123 BLHS 2015. Do kiến thức lí luận và thực tế còn hạn chế nên bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô để bài viết của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Tình huống: Bài tập số 2: A (20 tuổi), B (17 tuổi) bàn nhau vào nhà C lấy tài sản. A đứng ngoài canh gác cho B dùng kìm cộng lực phá khóa vào nhà C lấy tài sản. Khi B dắt chiếc xe máy của C ra đến giữa sân (chiếc xe trị giá 30 triệu đồng), thì bị T (hàng xóm nhà C) phát hiện, bắt giữ. B bỏ xe, lấy dao mang theo trong người đâm một nhát vào ngực T rồi bỏ chạy. Do vết thương quá nặng, anh T đã tử vong. Sau khi phạm tội, B bị bắt còn A bỏ trốn (công an chưa bắt được). B bị tòa án kết án về hai tội: tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 BLHS và tội giết người theo khoản 2 Điều 123 BLHS. Câu hỏi: 1. Tội trộm cắp tài sản và tội giết người mà B thực hiện trong tình huống nêu trên loại tội phạm nào theo phân loại tội phạm tại Điều 9 BLHS? (1,5 điểm) 2. Hình phạt cao nhất mà toà án có thể áp dụng đối với B trong tình huống nêu trên? (2 điểm) 3. Giả sử B mới 15 tuổi thì B có phải chịu TNHS về tội giết người và tội trộm cắp tài sản trong tình huống nêu trên không? Tại sao? (2 điểm) 4. A có bị coi là đồng phạm với B về tội giết người trong tình huống nêu trên không? Tại sao? (1,5 điểm) 1, Tội trộm cắp tài sản và tội giết người mà B thực hiện trong tình huống nêu trên loại tội phạm nào theo phân loại tội phạm tại Điều 9 BLHS? (1,5 điểm) Căn cứ vào khoản 1, Điều 9 Bộ luật hình sự năm 2015 (Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về phân loại tội phạm: “Điều 9. Phân loại tội phạm 1. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây: a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm; b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểmcho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù; c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù; d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.” Như vậy thì phân loại tội phạm sẽ dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong BLHS. Nói cách khác, căn cứ phân loại tội phạm phải dựa trên mức cao nhất của khung hình phạt (do Điều luật quy định), còn mức hình phạt do Tòa án áp dụng là hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án, không phải căn cứ phân loại tội phạm theo Điều 9 BLHS. B đã thực hiện hai hành vi phạm tội: Trộm cắp tài sản và giết người. 1.1. Tội trộm cắp tài sản. Trộm cắp tài sản là một trong những tội phổ biến nhất xã hội hiện nay. Dấu hiệu đặc trưng của tội trộm cắp tài sản là thủ đoạn lén lút của người phạm tội, lợi dụng sơ hở của người bị hại để nhằm chiếm đoạt tài sản của họ. Qua đó theo Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định về hành vi này như sau: “Điều 173. Tội trộm cắp tài sản 2 . Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; đ) Hành hung để tẩu thoát; e) Tài sản là bảo vật quốc gia; g) Tái phạm nguy hiểm.”
Trang 11
Trang 2MỤC LỤC 2
ĐẶT VẤN ĐỀ 3
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3
1, Tội trộm cắp tài sản và tội giết người mà B thực hiện trong tình huống nêu trên loại tội phạm nào theo phân loại tội phạm tại Điều 9 BLHS? (1,5 điểm) 4 1.1 Tội trộm cắp tài sản 4 1.2 Tội giết người 6
2 Hình phạt cao nhất mà toà án có thể áp dụng đối với B trong tình huống nêu trên? (2 điểm) 6
3 Giả sử B mới 15 tuổi thì B có phải chịu TNHS về tội giết người và tội trộm cắp tài sản trong tình huống nêu trên không? Tại sao? (2 điểm) 8
4 A có bị coi là đồng phạm với B về tội giết người trong tình huống nêu trên không? Tại sao? (1,5 điểm) 8
KẾT THÚC VẤN ĐỀ 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
2
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu của nhà nước để đấu tranh, phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo
vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm cho công dân được sống trong môi trường xã hội lành mạnh Đặc biệt, pháp luật hình sự Việt Nam luôn luôn chú trọng bảo vệ sức khỏe, tính mạng của con người Trong số các quyền nhân thân, quyền sống của con người là quyền tự nhiên, thiêng liêng và cao quí nhất, không một quyền nào có thể so sánh được Bởi lẽ, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Thêm vào đó, con người còn là chủ thể của quan hệ xã hội, nếu quyền sống của con người bị xâm phạm thì các quan hệ xã hội sẽ bị phá vỡ Chính vì những lí do trên
mà mục tiêu bảo vệ quyền sống của con người luôn được đặt lên hàng đầu đối với mọi dân tộc, mọi quốc gia, mọi thời đại và mọi chế độ Nhận thức được tầm quan trọng của việc phòng chống tội phạm, dựa trên kiến thức về lí luận, thực tiễn và để
đi sâu tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, em đã mạnh dạn chọn đề tài số 3 làm bài tập lớn học kì môn Luật hình sự Việt Nam Đây là tình huống liên quan đến tội giết người được qui định tại điều 123 BLHS 2015
Do kiến thức lí luận và thực tế còn hạn chế nên bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô để bài viết của em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Tình huống: Bài tập số 2:
A (20 tuổi), B (17 tuổi) bàn nhau vào nhà C lấy tài sản A đứng ngoài canh gác cho B dùng kìm cộng lực phá khóa vào nhà C lấy tài sản Khi B dắt chiếc xe máy của C ra đến giữa sân (chiếc xe trị giá 30 triệu đồng), thì bị T (hàng xóm nhà C) phát hiện, bắt giữ B bỏ xe, lấy dao mang theo trong người đâm một nhát vào ngực T rồi bỏ chạy Do vết thương quá nặng, anh T đã tử vong Sau khi phạm tội,
B bị bắt còn A bỏ trốn (công an chưa bắt được) B bị tòa án kết án về hai tội: tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 BLHS và tội giết người theo khoản 2 Điều
123 BLHS
Câu hỏi:
4
Trang 51 Tội trộm cắp tài sản và tội giết người mà B thực hiện trong tình huống nêu trên loại tội phạm nào theo phân loại tội phạm tại Điều 9 BLHS? (1,5 điểm)
2 Hình phạt cao nhất mà toà án có thể áp dụng đối với B trong tình huống nêu trên? (2 điểm)
3 Giả sử B mới 15 tuổi thì B có phải chịu TNHS về tội giết người và tội trộm cắp tài sản trong tình huống nêu trên không? Tại sao? (2 điểm)
4 A có bị coi là đồng phạm với B về tội giết người trong tình huống nêu trên không? Tại sao? (1,5 điểm)
1, Tội trộm cắp tài sản và tội giết người mà B thực hiện trong tình huống nêu trên loại tội phạm nào theo phân loại tội phạm tại Điều 9 BLHS? (1,5 điểm)
Căn cứ vào khoản 1, Điều 9 Bộ luật hình sự năm 2015 (Luật hình sự sửa đổi,
bổ sung năm 2017) quy định về phân loại tội phạm:
“Điều 9 Phân loại tội phạm
1 Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:
a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;
b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểmcho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là
từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;
c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho
xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;
d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử
hình.”
Như vậy thì phân loại tội phạm sẽ dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong BLHS Nói cách khác, căn cứ phân loại tội phạm phải dựa trên mức cao nhất của khung hình phạt (do Điều luật quy định), còn mức hình phạt do Tòa án áp dụng là hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án, không phải căn cứ phân loại tội phạm theo Điều 9 BLHS
B đã thực hiện hai hành vi phạm tội: Trộm cắp tài sản và giết người
5
Trang 61.1 Tội trộm cắp tài sản.
Trộm cắp tài sản là một trong những tội phổ biến nhất xã hội hiện nay Dấu hiệu đặc trưng của tội trộm cắp tài sản là thủ đoạn lén lút của người phạm tội, lợi dụng sơ hở của người bị hại để nhằm chiếm đoạt tài sản của họ Qua đó theo Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định về hành vi này như sau:
“Điều 173 Tội trộm cắp tài sản
2 1 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Tài sản là bảo vật quốc gia;
g) Tái phạm nguy hiểm.”
Ở tình huống trên, B dùng kìm cộng lực phá khóa vào nhà C lấy tài sản (chiếc xe máy) và cố ý hành hung để tẩu thoát khi bị T phát hiện và ngăn chặn
đã vi phạm điểm đ) Khoản 2 Điều 173 BLHS 2015 vì hành vi dùng sức mạnh chống trả lại việc bắt giữ để tẩu thoát
Mục đích của việc chống trả là nhằm để tẩu thoát chứ không phải nhằm mục đích giữ bằng được tài sản vừa mới chiếm đoạt được vì sau khi bị T (hàng xóm
nhà C) phát hiện, bắt giữ thì B bỏ xe, lấy dao mang theo trong người đâm một nhát vào ngực T rồi bỏ chạy.
Nguyên tắc phân loại tội phạm phải dựa trên khung hình phạt được ghi trong một điều luật của Bộ luật hình sự, mà không phải dựa trên mức án cụ thể mà tòa
án tuyên phạt Trường hợp của A đã được tòa án xác định là phạm tội giết
người theo khoản 2 Điều 173 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017: “…bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”, mức phạt cao nhất của hành vi này là phạt tù 7
năm
Như vậy, căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt thì tội trộm cắp tài sản mà A đã thực hiện là loại tội phạm nghiêm trọng
1 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 34 điều 1 của Luật số 12/2007/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 ăm 2018
6
Trang 71.2 Tội giết người.
Giết người là hành vi trái pháp luật của người có năng lực TNHS cố ý tước bỏ quyền sống của người khác
Khi B dắt chiếc xe máy của C ra đến giữa sân thì bị T (hàng xóm nhà C) phát hiện, bắt giữ B bỏ xe, lấy dao mang theo trong người đâm một nhát vào ngực T rồi
bỏ chạy Do vết thương quá nặng, anh T đã tử vong Như vậy, theo Khoản 2 Điều
123 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội giết người như sau:
“2 Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.”
Hành vi giết người của B không thuộc điểm nào tại Khoản 1 Điểu 123 BLHS
2015, B bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người theo quy định tại khoản 2 Điều 123 BLHS năm 2015; nên mức phạt tù đối với B sẽ là từ 07 năm đến 15 năm Mức cao nhất của khung hình phạt là 15 năm tù
Vậy căn cứ theo khoản 1 Điều 9 về phân loại tội phạm thì: Tội giết người mà B
đã thực hiện trong tình huống là loại tội phạm rất nghiêm trọng
2 Hình phạt cao nhất mà toà án có thể áp dụng đối với B trong tình huống nêu trên? (2 điểm)
B bị tòa án kết án về hai tội: tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 BLHS và tội giết người theo khoản 2 Điều 123 BLHS và B(17 tuổi) dưới 18 tuổi Trong trường hợp này, hình phạt sẽ được tổng hợp theo Khoản 1 Điều 103 Bộ luật Hình sự 2015:
“Điều 103 Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội
1 Khi xét xử cùng một lần người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội thì Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt chung theo quy định tại Điều
55 của Bộ luật này.
Nếu hình phạt chung là cải tạo không giam giữ thì mức hình phạt cao nhất được
áp dụng không quá 03 năm Nếu hình phạt chung là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không được vượt quá 18 năm đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội và 12 năm đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới
16 tuổi khi phạm tội”
Điều 55 Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội
Khi xét xử cùng 01 lần một người phạm nhiều tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo quy định sau đây:
7
Trang 81 Đối với hình phạt chính:
a) Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn;
b) Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
c) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tù chung thân thì hình phạt chung là tù chung thân;
d) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình thì hình phạt chung là tử hình;
đ) Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác; các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;
e) Trục xuất không tổng hợp với các loại hình phạt khác;
Theo điểm a) Khoản 1 Điều 55 BLHS 2015, vì hai tội mà B vi phạm có hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên cùng là tù có thời hạn thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung Nhưng B thực hiện cả 2 tội trên khi chưa đủ 18 tuổi, vậy, áp dụng Khoản 1 Điều 101 BLHS 2015
Điều 101 Tù có thời hạn
Mức phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định như sau:
1 Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được
áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;
Vì vậy, nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định
Theo mức hình phạt cao nhất của tội trộm cắp tài sản thì B phải chịu mức án là:
7x3/4 = 5,25 = 5 năm 3 tháng Theo mức hình phạt cao nhất của tội giết người thì B phải chịu mức án là:
15x3/4= 11,25 = 11 năm 3 tháng
8
Trang 9Vậy mức hình phạt tổng hợp mà toà án có thể áp dụng đối với B trong tình huống là:
5,25 + 11,25 = 16,5 = 16 năm 6 tháng < 18 năm (Theo Khoản 1 Điều 103)
=> Mức phạt tù cao nhất mà Tòa án có thể áp dụng đối với B là 16 năm 6 tháng tù.
3 Giả sử B mới 15 tuổi thì B có phải chịu TNHS về tội giết người và tội trộm cắp tài sản trong tình huống nêu trên không? Tại sao? (2 điểm)
Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm
2017 quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự:
Điều 12 Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
2 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều
123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249,
250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.
Trong trường hợp này, giả sử B mới 15 tuổi ( đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi) Vậy
B không phải chịu TNHS về tội trộm cắp tài sản do đây là loại tội phạm nghiêm trọng được quy định ở khoản 2 điều 173 mà chỉ phải chịu TNHS về tội giết người
do đây là loại tội phạm rất nghiêm trọng được quy định tại Khoản 2 Điều 123 BLHS 2015
4 A có bị coi là đồng phạm với B về tội giết người trong tình huống nêu trên không? Tại sao? (1,5 điểm)
Theo Chương III về tội phạm của BLHS 2015 có quy định về đồng phạm tại Điều 17 như sau:
Điều 17 Đồng phạm
1 Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
2 Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.
3 Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.
9
Trang 10Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm
Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.
4 Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.
Để có thể là đồng phạm thì A và B phải thỏa mãn các dấu hiệu của đồng phạm
Thứ nhất, để có thể là đồng phạm thì A và B cần đáp ứng những được những
dấu hiệu khách quan là đủ từ 2 hai người trở lên và có đủ điều kiện chủ thể của tội phạm là có năng lực TNHS Ta dễ dàng nhận thấy A và B thỏa mãn điều kiện đủ 2 người trở lên và A, B 17 tuổi đã có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng chưa có đầy đủ
Bên cạnh đó, A và B phải cùng thực hiện 1 tội phạm: Hành vi của người đồng phạm này phải có sự liên kết chặt chẽ với hành vi của người đồng phạm kia Hành
vi của A và B cũng phải hướng đến một tội phạm là tội giết người, phải tạo điều kiện, hành vi của A phải hỗ trợ cho B để thực hiện hành vi giết người một cách thuận lợi, nói cách khác hành vi của A phải là tiền đề cho hành vi của B Tuy nhiên hành vi của A chỉ giúp sức cho B để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chứ không tạo điều kiện giúp cho B hoàn thành hành vi giết người và không có sự liên kết thống nhất với hành vi giết người của B
Căn cứ vào hậu quả tác hại: Hậu quả do tội phạm gây ra trong vụ án giết người này không phải là hậu quả chung do toàn bộ những hành vi của A và B gây ra
Thứ hai, để có thể là đồng phạm thì A và B phải thỏa mãn được các dấu
hiệu của mặt chủ quan Theo khái niệm đồng phạm thì A và B phải đều có lỗi cố ý
và có cùng mục đích
Về mặt lỗi: Khi thực hiện hành vi giết người- nguy hiểm cho xã hội, A và B
không chỉ cố ý về hành vi của mình mà còn phải có sự mong muốn tham gia sự tham gia của những người đồng phạm Tuy nhiên A và B không có chung lỗi trong
vụ giết người, A và B chỉ đồng phạm trong vụ trộm tài sản của ông T
Về lý trí: Để có thể là đồng phạm thì A phải nhận thức được hành vi của mình
và hành vi của B là nguy hiểm cho xã hội và thấy trước được hậu quả cho hành vi của mình và B gây ra Tuy nhiên A không biết về hành vi giết người của B- hành
10