Giao dịch dân sự là một trong những vấn đề phổ biến và quan trọng trong lĩnh vực dân sự bởi đây là phương tiện hữu hiệu để thỏa mãn quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Do đó, làm rõ những vấn đề liên quan đến hiệu lực của giao dịch dân sự luôn là nội dung then chốt của giao dịch dân sự, góp phần đảm bảo hiệu quả thực thi của luật, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan. Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề này, em mạnh dạn chọn Đề số 15: Phân tích quy định của pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức. Minh chứng bằng một tình huống thực tiễn” làm bài tập lớn học kì môn Luật Dân sự 1.Do kiến thức lí luận và thực tế còn hạn chế nên bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô để bài viết của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀI, Khái quát chung về giao dịch dân sự (GDDS) vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức.1.Giao dịch dân sự.Trong quá trình sản xuất kinh doanh, cũng như trong cuộc sống hằng ngày một yếu tố không thể thiếu được là phải có sự giao dịch dân sự, đó là sự chuyển giao tài sản, quyền và nghĩa vụ giữa người này sang người khác, tổ chức này với tổ chức khác. Sự thoải thuận đó được hình thành trên cơ sở pháp lý được quy định tại “Chương VIII: Giao dịch dân sự” trong Bộ luật dân sự 2015. Khái niệm giao dịch dân sự được quy định tại điều 116 BLDS năm 2015.Điều 116. Giao dịch dân sựGiao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.Từ quy định trên, ta thấy giao dịch dân sự được xác định là kết quả của việc làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự. Giao dịch dân sự là một sự kiện pháp lí (hành vi pháp lí đơn phương hoặc đa phương – một bên hoặc nhiều bên) làm phát sinh hậu quả pháp lí. Tuỳ từng giao dịch cụ thể mà làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự. Giao dịch là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định, cho nên giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, với những mục đích và động cơ nhất định. Để giao dịch dân sự có hiệu lực pháp lý thì khi xác lập giao dịch phải tuân thủ những điều kiện do pháp luật quy định. Những vấn đề đó là một trong nhiều cơ sở pháp lý để xác lập giao dịch có đúng pháp luật và có hiệu lực. Các điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự 2015. Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.Tuy nhiên, không phải giao dịch dân sự nào cũng có hiệu lực và bị pháp luật coi là vô hiệu nếu không có những điều kiện có hiệu lực được quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự 2015 vừa nêu trên, trừ những trường hợp pháp luật có quy định khác liên quan (Điều 123 – Điều 130 Bộ luật dân sự 2015).2.Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức.2.1. Hình thức của giao dịch dân sự.Căn cứ theo điều 119 Bộ luật dân sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 hình thức giao dịch dân sự được quy định như sau:Điều 119. Hình thức giao dịch dân sự1.Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.2.Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.Hình thức của GDDS là phương thức thể hiện nội dung của giao dịch. Hình thức của GDDS có vai trò là sự công bố ý chí của chủ thể GDDS, là cách thức để truyền đạt với chủ thể không tham gia sự xác lập GDDS, là chứng cứ xác lập các quan hệ đã, đang tồn tại giữa các bên, qua đó xác định trách nhiệm dân sự khi có hành vi vi phạm xảy ra. Một giao dịch dân sự có thể được thể hiện, ghi nhận dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau:a.Hình thức giao dịch bằng lời nói: Là hình thức xác lập giao dịch diễn ra tương đối thông dụng trong cuộc sống ngày của con nguời thường áp dụng cho những giao dịch dân sự được thực hiện hoặc chấm dứt ngay sau khi thực hiện (như mua bán trao tay) hoặc áp dụng giữa những chủ thể có sự tin cậy hoặc mối quạn hệ thân thiết.Ví dụ: B đến cửa hàng A để mua 10 thùng sữa. Sau khi A giao sữa cho B B trả đủ tiền cho A.Giao dịch này coi như chấm dứt. A không thể tiếp tục đòi B trả tiền sữa và B cũng không thể yêu cầu A giao thêm sữa.Hình thức này có hiệu lực rất thấp nên khi sảy ra tranh chấp giữa các bên thực hiện giao dịch, đưa ra cơ quan có chức năng giải quyết như ra tòa thì sẽ rất khó chứng minh được nội dung mà mình đã giao dịch cũng như các quyền và nghĩa vụ cần thực hiện khi giao dịch đã có hiệu lực nếu bên kia phủ nhận. Có trường hợp giao dịch dân sự nếu được thể hiện bằng hình thức miệng phải bảo đảm tuân thủ những điều kiện luật định mới có giá trị (di chúc miệng Điều 629 BLDS 2015). b.Hình thức văn bản:•Văn bản thường: Áp dụng trong trường hợp các bên tham gia giao dịch dân sự thoả thuận hoặc pháp luật quy định giao dịch dân sự phải thể hiện bằng hình thức văn bản. Nội dung giao dịch dân sự được thể hiện trên văn bản có chữ kí xác nhận của các chủ thể cho nên hình thức này là chứng cứ xác định chủ thể đã tham gia vào một giao dịch dân sự.•Văn bản có công chứng chứng nhận, uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền chứng thực: Được áp dụng trong những trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự bắt buộc phải được lập thành văn bản hoặc các bên có thoả thuận phải có chứng nhận, chứng thực, đăng kí hoặc xin phép thì khi xác lập giao dịch các bên phải tuân thủ hình thức, thủ tục đó (mua bán nhà, chuyển quyền sử dụng đất...).c.Hình thức giao dịch bằng hành vi: Giao dịch dân sự có thể được xác lập thông qua những hành vi nhất định theo quy ước định trước. Ví dụ: Mua nước ngọt bằng máy tự động, chụp ảnh bằng máy tự động, gọi điện thoại tự động… Hình thức là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực của giao dịch dân sự. Ở các giao dịch đơn thuần, chủ thể tham gia có thể lựa chọn bất kỳ hình thức giao dịch nào, nhưng đối với các giao dịch dân sự đặc biệt và có giá trị lớn thì nhà nước đã quy định giao dịch đó phải tuân thủ một hình thức nhất định, nếu không thì giao dịch đó sẽ vô hiệu về hình thức. Một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về hình thức văn bản của hợp đồng như: khoản 2 Điều 453 “hợp đồng mua trả chậm hoặc trả dần phải được lập thành văn bản”, “hợp đồng về quyền sử dụng đất (Điều 502)... Ngoài ra, Luật Thương mại năm 2005 cũng quy định nhiều loại hợp đồng khác phải lập thành văn bản như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Điều 27), hợp đồng dịch vụ khuyến mại (Điều 90),…Ví dụ: Hình thức của hợp đồng chuyển nhượng, thế chấp... quyền sử dụng đất. Tại Điều 502 Bộ luật dân sự 2015 liên quan đến hình thức của hợp đồng về quyền sử dụng đất có quy định:1. Hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan”. Cụ thể, áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013 thì Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này”.
Trang 1Mục Lục
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1
I, Khái quát chung về giao dịch dân sự (GDDS) vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức 1
1 Giao dịch dân sự 1
2 Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức 2
2.1 Hình thức của giao dịch dân sự 2
2.2 Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức 5
2.3 Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu 7
II, MINH CHỨNG BẰNG MỘT TÌNH HUỐNG THỰC TẾ 7
KẾT THÚC VẤN ĐỀ 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Giao dịch dân sự là một trong những vấn đề phổ biến và quan trọng trong lĩnh vực dân sự bởi đây là phương tiện hữu hiệu để thỏa mãn quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể Do đó, làm rõ những vấn đề liên quan đến hiệu lực của giao dịch dân sự luôn là nội dung then chốt của giao dịch dân sự, góp phần đảm bảo hiệu quả thực thi của luật, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan
Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề này, em mạnh dạn chọn Đề số 15: Phân tích
quy định của pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức Minh chứng bằng một tình huống thực tiễn” làm bài tập lớn học kì môn
Luật Dân sự 1
Do kiến thức lí luận và thực tế còn hạn chế nên bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô để bài viết của em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I, Khái quát chung về giao dịch dân sự (GDDS) vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức.
1 Giao dịch dân sự.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, cũng như trong cuộc sống hằng ngày một yếu tố không thể thiếu được là phải có sự giao dịch dân sự, đó là sự chuyển giao tài sản, quyền và nghĩa vụ giữa người này sang người khác, tổ chức này với
tổ chức khác Sự thoải thuận đó được hình thành trên cơ sở pháp lý được quy định tại “Chương VIII: Giao dịch dân sự” trong Bộ luật dân sự 2015 Khái niệm giao dịch dân sự được quy định tại điều 116 BLDS năm 2015
Điều 116 Giao dịch dân sự
Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
1
Trang 3Từ quy định trên, ta thấy giao dịch dân sự được xác định là kết quả của việc làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự Giao dịch dân sự là một sự kiện pháp lí (hành vi pháp
lí đơn phương hoặc đa phương – một bên hoặc nhiều bên) làm phát sinh hậu quả pháp lí Tuỳ từng giao dịch cụ thể mà làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự Giao dịch là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định, cho nên giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, với những mục đích và động cơ nhất định Để giao dịch dân
sự có hiệu lực pháp lý thì khi xác lập giao dịch phải tuân thủ những điều kiện do pháp luật quy định
Những vấn đề đó là một trong nhiều cơ sở pháp lý để xác lập giao dịch có đúng pháp luật và có hiệu lực Các điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự 2015
Điều 117 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.
Tuy nhiên, không phải giao dịch dân sự nào cũng có hiệu lực và bị pháp luật coi là vô hiệu nếu không có những điều kiện có hiệu lực được quy định tại Điều
117 Bộ luật dân sự 2015 vừa nêu trên, trừ những trường hợp pháp luật có quy định khác liên quan (Điều 123 – Điều 130 Bộ luật dân sự 2015)
2 Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức.
Trang 42.1 Hình thức của giao dịch dân sự.
Căn cứ theo điều 119 Bộ luật dân sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 hình thức giao dịch dân sự được quy định như sau:
Điều 119 Hình thức giao dịch dân sự
1 Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành
vi cụ thể.
Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp
dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.
2 Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản
có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.
Hình thức của GDDS là phương thức thể hiện nội dung của giao dịch Hình thức của GDDS có vai trò là sự công bố ý chí của chủ thể GDDS, là cách thức để truyền đạt với chủ thể không tham gia sự xác lập GDDS, là chứng cứ xác lập các quan hệ
đã, đang tồn tại giữa các bên, qua đó xác định trách nhiệm dân sự khi có hành vi vi phạm xảy ra Một giao dịch dân sự có thể được thể hiện, ghi nhận dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau:
a Hình thức giao dịch bằng lời nói:
Là hình thức xác lập giao dịch diễn ra tương đối thông dụng trong cuộc sống ngày của con nguời thường áp dụng cho những giao dịch dân sự được thực hiện hoặc chấm dứt ngay sau khi thực hiện (như mua bán trao tay) hoặc áp dụng giữa những chủ thể có sự tin cậy hoặc mối quạn hệ thân thiết
Ví dụ: B đến cửa hàng A để mua 10 thùng sữa Sau khi A giao sữa cho B B trả
đủ tiền cho A.Giao dịch này coi như chấm dứt A không thể tiếp tục đòi B trả tiền sữa và B cũng không thể yêu cầu A giao thêm sữa.
Hình thức này có hiệu lực rất thấp nên khi sảy ra tranh chấp giữa các bên thực hiện giao dịch, đưa ra cơ quan có chức năng giải quyết như ra tòa thì sẽ rất khó
3
Trang 5chứng minh được nội dung mà mình đã giao dịch cũng như các quyền và nghĩa vụ cần thực hiện khi giao dịch đã có hiệu lực nếu bên kia phủ nhận Có trường hợp giao dịch dân sự nếu được thể hiện bằng hình thức miệng phải bảo đảm tuân thủ
những điều kiện luật định mới có giá trị (di chúc miệng - Điều 629 BLDS 2015)
b Hình thức văn bản:
Văn bản thường: Áp dụng trong trường hợp các bên tham gia giao dịch dân sự
thoả thuận hoặc pháp luật quy định giao dịch dân sự phải thể hiện bằng hình thức văn bản Nội dung giao dịch dân sự được thể hiện trên văn bản có chữ kí xác nhận của các chủ thể cho nên hình thức này là chứng cứ xác định chủ thể đã tham gia vào một giao dịch dân sự
Văn bản có công chứng chứng nhận, uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền
chứng thực: Được áp dụng trong những trường hợp pháp luật quy định giao dịch
dân sự bắt buộc phải được lập thành văn bản hoặc các bên có thoả thuận phải có chứng nhận, chứng thực, đăng kí hoặc xin phép thì khi xác lập giao dịch các bên phải tuân thủ hình thức, thủ tục đó (mua bán nhà, chuyển quyền sử dụng đất )
c Hình thức giao dịch bằng hành vi:
Giao dịch dân sự có thể được xác lập thông qua những hành vi nhất định theo
quy ước định trước Ví dụ: Mua nước ngọt bằng máy tự động, chụp ảnh bằng
máy tự động, gọi điện thoại tự động…
Hình thức là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực của giao dịch dân
sự Ở các giao dịch đơn thuần, chủ thể tham gia có thể lựa chọn bất kỳ hình thức giao dịch nào, nhưng đối với các giao dịch dân sự đặc biệt và có giá trị lớn thì nhà nước đã quy định giao dịch đó phải tuân thủ một hình thức nhất định, nếu không thì giao dịch đó sẽ vô hiệu về hình thức
Một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về hình thức văn bản của hợp đồng như: khoản 2 Điều 453 “hợp đồng mua trả chậm hoặc trả dần phải được lập thành văn bản”, “hợp đồng về quyền sử dụng đất (Điều 502) Ngoài ra, Luật Thương mại năm 2005 cũng quy định nhiều loại hợp đồng khác phải lập thành văn
Trang 6bản như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Điều 27), hợp đồng dịch vụ khuyến mại (Điều 90),…
Ví dụ: Hình thức của hợp đồng chuyển nhượng, thế chấp quyền sử dụng đất.
Tại Điều 502 Bộ luật dân sự 2015 liên quan đến hình thức của hợp đồng về quyền
sử dụng đất có quy định:"1 Hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai
và quy định khác của pháp luật có liên quan” Cụ thể, áp dụng quy định tại khoản
3 Điều 167 Luật Đất đai 2013 thì "Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp,
góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này”.
2.2 Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức.
Căn cứ pháp lý:
Điều 129 Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:
1 Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.
2 Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa
án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực
Theo quy định nêu trên của BLDS năm 2015, áp dụng với hợp đồng, chúng
ta có thể thấy một số vấn đề sau đây:
5
Trang 7Thứ nhất, hình thức của hợp đồng là phương tiện thể hiện nội dung của hợp
đồng Có hai trường hợp hợp đồng được coi là không tuân thủ về hình thức đó là: (i) Hình thức văn bản không đúng quy định của pháp luật và; (ii) Hình thức văn bản
vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực Theo đó, giao dịch dân sự
đã được xác lập giữa các bên, trước hết, phải được thể hiện bằng văn bản và trường hợp giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử cũng được coi là giao dịch bằng văn bản (khoản 1 Điều 119 BLDS năm 2015)
Thứ hai, điều kiện để hợp đồng không tuân thủ hình thức được Tòa án ra
quyết định công nhận hiệu lực đó là tồn tại trên thực tế việc một bên hoặc các bên
đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ hợp đồng Nghĩa vụ là việc mà theo đó,
một hoặc nhiều chủ thể (bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (bên có quyền) Như vậy, theo Điều 129 BLDS năm 2015 việc thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch có thể hiểu là: (1) Một bên hoặc các bên đã chuyển giao ít nhất hai phần
ba vật; (2) Đã chuyển giao ít nhất hai phần ba quyền (3) Một bên hoặc các bên đã trả ít nhất hai phần ba tiền hoặc giấy tờ có giá (4) Một bên hoặc các bên đã thực hiện hoặc không thực hiện ít nhất hai phần ba công việc đã thỏa thuận làm cơ sở tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là hoàn toàn phù hợp Bởi lẽ, một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu của giao dịch dân sự nói chung là nguyên tắc tôn trọng quyền tự do ý chí của các bên Khi giao dịch dân sự được các bên thực hiện một cách tự nguyện, không bị lừa dối, không bị ép buộc, nội dung giao dịch không trái pháp luật và đạo đức xã hội (nghĩa là giao dịch đáp ứng tất cả các điều kiện có hiệu lực của giao dịch quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015) và các bên
đã thực hiện được 2/3 nghĩa vụ thì để bảo đảm tính ổn định trong các quan hệ dân
sự, pháp luật dân sự cho phép Tòa án tuyên bố giao dịch không tuân thủ quy định
về hình thức có hiệu lực pháp luật
Trang 8Ngoài ra, theo quy định tại Điều 132 Bộ luật dân sự năm 2015, nếu sau thời hạn 2 năm, kể từ ngày giao dịch được xác lập, các bên tham gia giao dịch không có yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực
Tuy nhiên, không phải việc một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng thì hợp đồng đó đương nhiên có hiệu lực, mà cần
có thêm điều kiện là phải thông qua con đường Tòa án Cụ thể là, theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, sau khi xem xét đầy đủ các điều kiện của hợp đồng như đã nêu trên thì Tòa án sẽ ra quyết định công nhận hiệu lực của hợp đồng đó1
2.3 Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
Căn cứ Điều 131 BLDS năm 2015: Khi giao dịch vô hiệu thì quyền và nghĩa
vụ của các bên không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Nếu hợp đồng chỉ mới xác lập mà chưa thực hiện thì các bên không được phép thực hiện, còn trường hợp đang thực hiện thì không tiếp tục thực hiện nữa, nếu hợp đồng đã thực hiện thì các bên xử lý tài sản Như vậy, giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao kết
– Các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, khôi phục lại tình trạng ban đầu Nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì hoàn trả bằng tiền Về quy định tính thành tiền để hoàn trả trong trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật, quy định như vậy nhưng không nêu cụ thể khi nào thì “không hoàn trả được bằng hiện vật” và “hoàn trả bằng tiền”
– Bồi thường thiệt hại khi có thiệt hại xảy ra: Khi giao dịch bị vô hiệu, bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường Như vậy, để buộc một bên bồi thường thì chúng ta phải xác định đủ 2 yếu tố: một là yếu tố có lỗi, hai là thực tế phải tồn tại thiệt hại
II, MINH CHỨNG BẰNG MỘT TÌNH HUỐNG THỰC TẾ
Em xin nêu tóm tắt một tình huống mà đã được Tòa án giải quyết thực tế:
Năm 2007, Hộ ông Đinh Văn X gồm 7 người được UBND huyện ST cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số thuộc thửa đất (GCNQSD số 452, diện tích 20.801m2, mục đích sử dụng đất rừng sản xuất
1 Nguyễn Thị Thu Hải (2016), “Về hiệu lực của giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức theo Bộ luật dân sự năm 2015”, Tạp chí Kiểm sát, Số 23, tr 38-41.
7
Trang 9Năm 2008, ông X và vợ là bà Đ đã tự ý bán một phần (6.095m2) cho ông Đinh Văn S, ông X đã nhận đủ tiền và giao Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho ông S tự đi tách thửa, giao dịch này chỉ thỏa thuận bằng lời nói, không lập thành văn bản, nhưng ông Đinh Văn S không thực hiện tách thửa, sang tên
Diện tích đất còn lại, ông X và bà Đ tự ý cho em vợ là L mượn và cho con gái là H Việc này do vợ chồng ông X, bà Đ tự ý thực hiện mà không thông qua ý kiến của các thành viên khác trong hộ gia đình đã được cấp đất năm 2007 và không lập thành văn bản
Sau khi sử dụng một phần thửa đất 452 của hộ ông X, bà Đ thì ông S, L, chị
H chuyển nhượng như sau:
- Ông S đã chuyển nhượng phần đất nhận chuyển nhượng của hộ ông X cho
bà K,ông O Hợp đồng chuyển nhượng ghi ngày 17/6/2009, diện tích 10.400m2 với giá 40.000.000đ(ông S đã nhận) và giao GCNQSDĐ thửa đất 452 cho bà K
- Ông L có mượn của ông V 20.000.000đ, do không có tiền trả nên đã cho ông
V đến sử dụng phần đất ông X cho mượn, ông V sau đó lại chuyển nhượng phần đất này cho bà K, ông O với giá 60.000.000đ (đã nhận tiền), bà K lập hợp đồng nhận chuyển nhượng với L ghi tháng 6/2009, diện tích 5.801m2 giá 80.000.000đ nhưng không đưa tiền
- Chị Đinh Thị H sau khi được cho đất cũng đổi phần đất này cho bà K để nhận 20.000.000đ (đã nhận tiền) và bà K hứa đổi cho thửa đất khác, nhưng bà K không thực hiện việc giao đất khác cho chị H
Bà K, ông O sau đó đã đến nhà ông X đưa cho ông X bà Đ ký vào hợp đồng
đề ngày 16/6/2009, nội dung ghi chuyển nhượng thửa đất số 452 với số tiền ghi trong hợp đồng là 145.000.000đ Sau đó bà tiếp tục mang đến nhà ông X một bản hợp đồng khác ngày 06/3/2016, nội dung tương tự, số tiền trong hợp đồng là
60.000.000đ, ký vào hợp đồng này bên nhận chuyển nhượng có ông X, bà Đ, anh Đinh Văn B1 (con ông X, bà Đ), bên nhận chuyển nhượng là bà K, ông O Đều chưa đưa tiền
Trang 10Sau khi biết việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất 452 không đúng pháp luật và có sự tranh chấp nên gia đình ông Đinh Văn X đã khởi kiện yêu cầu tuyên bố các giao dịch về đất đối với thửa đất 452 là vô hiệu và giải quyết hậu quả của giao vô hiệu, buộc bà K, ông O trả lại thửa đất 452 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
*Cách giải quyết của cơ quan có thẩm quyền:
1 Tuyên bố các giao dịch đối với thửa đất 452, các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/6/2009 và ngày 06/3/2016 là vô hiệu toàn bộ
2 Buộc bà K, ông O trả lại: Quyền sử dụng đất, GCNQSDĐ thuộc thửa đất 452
3 Buộc ông X, bà Đ phải có nghĩa vụ trả lại số tiền là 1.600.000 đồng là giá trị chuyển nhượng thửa đất 452 đồng thời bồi thường thiệt hại cho ông S là
34.970.000 đồng do lỗi làm giao dịch dân sự vô hiệu Buộc ông S phải có nghĩa vụ trả lại số tiền là 40.000.000 đồng cho bà O, ông K Buộc Chị Đinh Thị H, phải có nghĩa vụ trả lại số tiền là 20.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại cho cho bà K, ông O là 12.892.000 đồng
Phân tích tình huống
Thửa đất 452 được cấp giấy chứng nhận ngày 04/6/2007 cho hộ gia đình ông Đinh Văn X gồm có 07 người là ông X, bà Đ và các con ông X bà Đ Như vậy đây
là tài sản chung nhưng ông X bà Đ tự ý chuyển nhượng cho ông S, cho ông L mượn, tặng cho chị H mỗi người một phần đất trong thửa 452 là xâm phạm đến tài sản chung của các con ông X và vi phạm pháp luật đất đai Do đó, ông S, ông L, chị H chuyển nhượng cho vợ chồng bà O cũng là không đúng pháp luật
Khoản 2 Điều 109 Bộ luật dân sự 2005 quy định:“Việc định đoạt tài sản là
tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý…”.Tại khoản 2 Điều 146 Nghị định
181/2004 quy định:“Hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, thuê lại quyền sử
dụng đất; hợp đồng hoặc văn bản tặng cho quyền sử dụng đất, hợp đồng thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng chung của hộ gia
9