1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích quy định của pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

14 474 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 28,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể; giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về năng lực pháp luật dân sự của chủ thể; giao dịch dân sự phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện thể hiện ý chí của chủ thể; mục đích, nội dung của giao dịch không vi phạm điều pháp luật cấm, không trái với đạo đức xã hội.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2

1 Phân tích quy định của pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu

do không tuân thủ quy định về hình thức 2 1.1 Khái quát về giao dịch dân sự 2 1.2 Pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức 2 1.3 Những kiến nghị đối với Điều 129 BLDS 2015 6

2 Sưu tầm một bản án của Tòa án giải quyết về vấn đề này và nêu quan điểm cá nhân nội dung được giải quyết 7 KẾT LUẬN 10 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

MỞ ĐẦU

Luật dân sự điều chỉnh quan hệ xã hội với phạm vi rất rộng và phức tạp Đối tượng điều chỉnh của luật dân sự là quan hệ nhân thân và tài sản cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm Để đi tìm hiểu sâu sắc nội dung của luật dân sự, em xin chọn đề tài số 4 là bài tập để nghiên cứu, đánh giá kết quả học tập môn luật dân sự

Đề 4: Phân tích quy định của pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức Sưu tầm một bản án của Tòa án giải quyết về vấn đề này

và nêu quan điểm cá nhân nội dung được giải quyết.

Trang 3

NỘI DUNG

1 Phân tích quy định của pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức 1.1 Khái quát về giao dịch dân sự.

Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể; giao dịch dân sự có hiệu lực khi

có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về năng lực pháp luật dân sự của chủ thể; giao dịch dân sự phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện thể hiện ý chí của chủ thể; mục đích, nội dung của giao dịch không vi phạm điều pháp luật cấm, không trái với đạo đức xã hội

Ngoài ra, trong trường hợp pháp luật có quy định hình thức

là điều kiện có hiệu lực của giao dịch như: Phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng

ký hoặc xin phép thì giao dịch phải tuân theo các quy định đó (chẳng hạn, hợp đồng về chuyển quyền sử dụng đất, hợp đồng mua bán nhà phải được công chứng) thì giao dịch dân sự phải tuân theo, nếu không giao dịch đó sẽ vô hiệu

1.2 Pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức.

Căn cứ vào Điều 129 BLDS 2015:

“Điều 129.Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

Trang 4

1 Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa

vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.

2 Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa

án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực”.

Theo quy định của Điều 129 BLDS nêu trên, chúng ta có thể thấy một số vấn đề sau đây:

Thứ nhất, hình thức của giao dịch dân sự là phương tiện

thể hiện nội dung của giao dịch Có hai trường hợp giao dịch được coi là không tuân thủ về hình thức,đó là: 1

Văn bản giao dịch không đúng quy định của pháp luật và văn bản giao dịch vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực Như vậy, giao dịch dân sự đã được xác lập giữa các bên, trước hết, phải được thể hiệnbằng văn bản vàtrường hợp giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch

điện tử cũng được coi là giao dịch bằng văn bản (khoản 1

Điều 119 BLDS năm 2015)

Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng hành vi

cụ thể thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của điều luật này

1 https://kiemsat.vn/hieu-luc-cua-giao-dich-dan-su-khong-tuan-thu-hinh-thuc-theo-bo-luat-dan-su-2015-47124.html

Trang 5

Ở đây, cần xác địnhrõ thế nào là giao dịch bằng văn bản nhưng văn bản đó không đúng quy định của luật,vì hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn vấn đề này Theo cách hiểu thông thường thì giao dịch đúng quy định của luật là giao dịch tuân thủ các nội dung mà pháp luật quy định

Chẳng hạn, hợp đồng có thể có các nội dung nội sau đây: Đối tượng của hợp đồng; số lượng, chất lượng; giá, phương thức thanh toán; thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; quyền, nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; phương thức giải quyết tranh chấp (Điều 398 BLDS năm 2015).Hợp đồng vay có các nội dung như: Nghĩa vụ của bên cho vay, nghĩa vụ trả nợ của bên vay, lãi suất, sử dụng tài sản vay (các điều 466, 467, 468 BLDS năm 2015)…; và một số loại hợp đồng theo quy định của luật chuyên ngành cũng có những nội dung bắt buộc

Cụ thể, theo Điều 18, Luật Kinh doanh bất động sản năm

2014 thì nội dung hợp đồng mua bán, cho thuê, cho thuê mua nhà, công trình xây dựng phải có các nội dung chính sau đây: Tên, địa chỉ của các bên; các thông tin về bất động sản; giá mua bán, cho thuê, cho thuê mua;phương thức và thời hạn thanh toán; thời hạn giao, nhận bất động sản và hồ sơ kèm theo; bảo hành; quyền và nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do

vi phạm hợp đồng; phạt vi phạm hợp đồng; các trường hợp chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng và các biện pháp xử lý; giải quyết tranh chấp; thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

Như vậy, quy định về các nội dung của hợp đồng trong BLDS năm 2015 và Luật chuyên ngành chưa có sự thống nhất

Bộ luật Dân sự không yêu cầu hợp đồng phải có các nội dung

Trang 6

bắt buộc, mà chỉ quy định mang tính tùy nghi là “có thể có các nội dung”, trong khi Luật Kinh doanh bất động sản thì quy định các nội dung mang tính bắt buộc.2

Những văn bản bắt buộc phải công chứng, chứng thực được quy định trong BLDS và các văn bản luật chuyên ngành Theo khoản 2 Điều 119 BLDS năm 2015: Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó Theo đó, những giao dịch pháp luật bắt buộc phải có công chứng, chứng thực như: Trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng (khoản 1 Điều 122 Luật nhà ở năm 2014); hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (khoản

3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013); giấy bán, cho, tặng xe của

cá nhân phải có công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực (Điều 10, Thông tư 15/2014/TT- BCA quy định về đăng ký xe)…

Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 129 BLDS năm 2015 thì nếu các bên vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực

mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, khi giải quyết thì Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó và các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực

2 Tạp chí Kiểm sát số 24/2016

Trang 7

Thứ hai, điều kiện để văn bản không tuân thủ hình thức

được Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực là một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch Theo Điều 274 BLDS năm 2015: Nghĩa vụ là việc mà theo

đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy

tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền).Theo đó, đối tượng của nghĩa

vụ là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không thực hiện, và đối tượng phải xác định được Quy định đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch có thể hiểu là:

(1) Một bên hoặc các bên đã chuyển giao ít nhất hai phần

ba vật (nếu là vật cùng loại thì phải giao ít nhất 2/3 số lượng với chất lượng như đã thỏa thuận là hợp lý), nhưng với vật đặc định hoặc vật đồng bộ thì việc xác định 2/3 nghĩa vụ sẽ gặp khó khăn

(2) Đã chuyển giao ít nhất hai phần ba quyền

(3) Một bên hoặc các bên đã trả ít nhất hai phần ba tiền hoặc giấy tờ có giá

(4) Một bên hoặc các bên đã thực hiện hoặc không thực hiện ít nhất hai phần ba công việc đã thỏa thuận Tuy nhiên, việc xác định thế nào cho chính xác một hoặc các bên đã thực hiện hai phần ba nghĩa vụ sẽ gặp khó khăn trong thực tiễn giải quyết, dễ dẫn đến sự tùy tiện trong áp dụng khi chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể

Thứ ba, không phải việc một bên hoặc các bên đã thực

hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì giao dịch

Trang 8

đó đương nhiên có hiệu lực, mà cần có thêm điều kiện là phải thông qua con đường Tòa án Cụ thể là, theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, sau khi xem xét đầy đủ các điều kiện của giao dịch như đã nêu trên thì Tòa án sẽ ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.3

1.3 Những kiến nghị đối với Điều 129 BLDS 2015.

Từ những phân tích nêu trên, chúng tôi cho rằng, khi áp dụng Điều 129 BLDS cần lưu ý những vấn đề sau đây:

Một là, Điều 129 chỉ áp dụng cho giao dịch mà pháp luật

quy định hình thức của giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch, nhưng các bên không tuân thủ quy định về hình thức, song một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch thì công nhận giao dịch đó theo yêu cầu của một bên hoặc các bên;

Hai là, chỉ công nhận giao dịch khi không vi phạm các điều

kiện có hiệu lực khác và việc khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu về hình thức trong thời hạn 2 năm kể từ ngày xác lập giao dịch;

Ba là, sau 2 năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập

mới khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu về hình thức (không vi phạm các điều kiện có hiệu lực khác), dù bên có nghĩa vụ đã thực hiện hoặc chưa thực hiện được ít nhất 2/3 nghĩa vụ vẫn công nhận giao dịch, nhưng không phải là áp dụng Điều 129 mà áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 132 và các điều tương ứng với quan hệ pháp luật đang giải quyết;

Bốn là, việc xác định 2/3 nghĩa vụ không phải với nghĩa

tổng số nghĩa vụ trong giao dịch mà chỉ cần một bên đã thực

3 http://npklaw.com/en/nhung-van-de-can-luu-y-khi-ap-dung-dieu-129-bo-luat-dan-

su-nam-2015-ve-giao-dich-dan-su-vo-hieu-khong-tuan-thu-quy-dinh-hinh-thuc.html

Trang 9

hiện được ít nhất 2/3 nghĩa vụ của họ trong giao dịch là đủ điều kiện áp dụng Điều 129

Năm là, chỉ các giao dịch có đền bù thì mới áp dụng điều

kiện về hình thức theo quy định của Điều 129; các quan hệ dân

sự không có đền bù không áp dụng khoản 2,3 Điều 129

2 Sưu tầm một bản án của Tòa án giải quyết về vấn đề này và nêu quan điểm cá nhân nội dung được giải quyết.

Bản án 143/2017/DS-PT về tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của TAND thành phố Hà Nội.

Trong bản án này, Nguyên đơn: Ông Ngô Đăng Thự, sinh năm 1960; Địa chỉ: Khu Trung, thôn Dục Nội, xã Việt Hùng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Bị đơn:1 Ông Trần Thanh Sơn, sinh năm 1961

Địa chỉ: Tập thể Công ty Bắc Hà, xã Vân Nội, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội2 Bà Nguyễn Thị Lan, sinh năm 1958 (vợ ông Sơn)

Địa chỉ: Tập thể Công ty Bắc Hà, xã Vân Nội, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1 Chị Trần Thị Quý, Sinh năm 1986

2 Anh Trần Quốc Toản, sinh năm 1988

3 Anh Trần Quốc Toàn, sinh năm 1991

Cùng địa chỉ: Tập thể Công ty Bắc Hà, xã Vân Nội, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

Nội Dung:

Trang 10

Ngày 11/6/1994, ông mua của vợ chồng ông Trần Thanh Sơn, bà Nguyễn Thị Lan diện tích đất 63m2 thuộc ô số 13 Tập thể Công ty Bắc Hà (trước đây thuộc khu tập thể của Nông Trường Đông Anh I) với giá 45.000.000 đồng, trên đất có nhà cấp 4 diện tích 20m2 Hai bên lập “Giấy nhượng lại thành quả lao động”, bên mua là ông ký, bên bán là ông Sơn, bà Lan ký, người làm chứng là ông Nguyễn Văn Dũng bạn ông ký Trong

“Giấy chuyển nhượng thành quả lao động” này ghi số tiền chuyển nhượng là 10 triệu đồng mục đích giảm thuế Ông Sơn

tự tay viết giấy biên nhận số tiền 45.000.000 đồng của ông.4

Sau khi mua đất của ông Sơn, do ông chưa có nhu cầu sử dụng và gia đình ông Sơn xin mượn lại gian nhà trên đất để ở tạm, khi nào ông cần dùng thì trả lại ông nên hai bên chưa tiến hành giao nhận đất cho nhau Năm 1998, ông đi lao động xuất khẩu tại Nga Năm 2004, ông về nước có yêu cầu gia đình ông Sơn trả đất nhưng ông Sơn không trả mà yêu cầu trả lại 45.000.000 cho ông Ông không nhất trí nhận lại tiền nên hai bên đưa nhau ra UBND xã Vân Nội hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả Nay ông khởi kiện ra Tòa án, yêu cầu gia đình ông Sơn thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất giữa hai bên lập ngày 11/6/1994 là bàn giao 63m2 đất cho ông Trường hợp gia đình ông Sơn không đồng ý thực hiện hợp đồng giao đất cho ông và Tòa án không chấp nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này có hiệu lực pháp luật thì ông đề nghị Tòa án giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu, buộc gia đình ông Sơn bồi thường thiệt hại cho ông

Nhận định của Tòa:

4 https://banan.thuvienphapluat.vn/ban-an/ban-an-1432017dspt-ve-tranh-chap-yeu-cau-huy-hop-dong-chuyen-nhuong-quyen-su-dung-dat-7688

Trang 11

Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để xác định ông Ngô Đăng Thự và vợ chồng ông Trần Thanh Sơn, bà Nguyễn Thị Lan có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 63m2 đất tại ô 13

mà ông Trần Thanh Sơn được Nông trường Đông Anh I cấp năm

1992, không có căn cứ xác định giữa hai bên chỉ có việc đặt cọc như yêu cầu kháng cáo của ông Sơn

Tuy nhiên, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 63m2 đất này giữa ông Ngô Đăng Thự và vợ chồng ông Trần Thanh Sơn thể hiện bằng văn bản viết tay là: “Giấy nhượng lại thành quả lao động” ngày 11/6/1994 chưa được công chứng, chứng thực hợp lệ theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự 1991; Tại thời điểm hai bên giao kết hợp đồng thì diện tích đất ông Sơn được cấp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có một phần đất ông Sơn được Nông trường Đông Anh I cho mượn không được phép chuyển nhượng,

do đó 63m2 đất này hai bên chuyển nhượng khi bên chuyển nhượng là ông Sơn bà Lan chưa được quyền chuyển nhượng Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/6/1994 giữa ông Thự và vợ chồng ông Sơn bà Lan đã vi phạm cả về hình thức và nội dung, hơn nữa hai bên chưa tiến hành giao nhận đất cho nhau

Quyết định của Tòa:

Áp dụng: Điều 31 Luật đất đai 1993; khoản 2 Điều 13 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991; Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 và theo Nghị quyết số 02/2004/01/2003/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao; Điều 27, 30 Pháp lệnh án phí lệ phí toà án và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Pháp lệnh án phí,

Ngày đăng: 21/09/2019, 00:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w