Bên cạnh đó, Luyện từ và câu là một trong những phân môn quan trọng góp phần hình thành tri thức và kĩ năng diễn đạt trong Tiếng Việt cho học sinh ở nhà trường tiểu học.Tuy nhiên, việc d
Trang 1BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu:
Tiếng Việt là vốn ngôn ngữ phát triển toàn diện nhất, có khả năng đáp ứng mọi nhu cầu giao tiếp trong xã hội Tiếng Việt là tiếng nói phổ thông của cả nước, có vai trò đặc biệt quan trọng trong cộng đồng người Việt Nam nói chung và trong trường phổ thông nói riêng mà đặc biệt là trường tiểu học Bên cạnh đó, Luyện từ
và câu là một trong những phân môn quan trọng góp phần hình thành tri thức và
kĩ năng diễn đạt trong Tiếng Việt cho học sinh ở nhà trường tiểu học.Tuy nhiên, việc dạy Tiếng Việt nói chung và phân môn Luyện từ và câu nói riêng còn nhiều băn khoăn và trăn trở bởi sự diễn đạt trong Tiếng Việt rất phong phú và đa dạng Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Con ngườihọc ngôn ngữ từ thuở còn thơ và suốt cuộc đời không ngừng trau dồi ngôn ngữcho mình Luyện từ và câu là phân môn của môn Tiếng Việt, thông qua phân mônnày, học sinh biết: Mở rộng và hệ thống hóa vốn từ, trang bị cho học sinh một sốhiểu biết cơ bản về từ và câu Rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ và câu, sử dụngdấu câu phù hợp.Bồi dưỡng học sinh thói quen dùng từ đúng, nói và viết thànhcâu.Có ý thức sử dụng Tiếng Việt trong văn hóa giao tiếp Có lẽ vì thế mà môn Luyện từ và câu trong sách Tiếng Việt lớp 4 và lớp 5 thường được đánh giá là khôkhan, trừu tượng trong các phân môn của Tiếng Việt.Trong cuộc sống, Tiếng Việt
là vốn ngôn ngữ phát triển toàn diện nhất, có khả năng đáp ứng mọi nhu cầu giaotiếp trong xã hội
Tiếng Việt là tiếng nói phổ thôngcủa cả nước, có vai trò đặc biệt quan trọng trongcộng đồng người Việt Nam nóichung và trong trường phổ thông nói riêng mà đặcbiệt là trường tiểu học Việc dạy Tiếng Việt nói chung và phân môn Luyện từ vàcâu nóiriêng còn nhiều băn khoăn và trăn trở bởi sự diễn đạt trong Tiếng Việt rất
Trang 2phong phú và đa dạng Do đó, cần phải có biện pháp giúp học sinh học tốt phânmôn Luyện từ và câu Muốn làm được điều này học sinh phải có kiến thức vữngchắc về Tiếng Việt Đó không chỉ là kiến thức về ngữ pháp, về vốn từ mà còn phảinắm vững kiến thức về nghĩa cuả từ Trong chương trình Tiếng Việt 5 học sinhđược học kiến thức về nghĩa của từ: các hiện tượng trái nghĩa, đồng âm, đồngnghĩa và nhiều nghĩa, liên kết câu, quan hệ từ, cặp quan hệ từ mở rộng vốn từtruyênhf thống, trật tự an ninh… Lớp 4 các em được học về dấu câu, các kiểucâu chia theo mụ đích, trạng ngữ, chủ ngữ, vị ngữ, kiểu câu Ai là gì?, Ai thế nào?,
Ai làm gì?, Câu cảm, câu kiến, câu hỏi, từ loại, và mở rộng vốn từ theo từng chủđiểm.Nội dung kiến thức phân môn luyện từ và câu lớp 4 và lớp 5 đòi hỏi họcsinh phải tư duy tốt và biết vận dụng nhưng trong quá trình học các em học sinhcòn gặp nhiều khó khăn về việc vận dụng làm bài tập Để giúp các em học sinhbiết vận dụng thành thạo các mạch kiến thức đó để làm tốt các bài tập có liên quanmột cách tốt nhất, gây hứng thú học tập cho các em học sinh.Đó cũng là lý do tôichọn đề tài :
“Biện pháp dạy Luyện từ và câu lớp 4 - 5”.
Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy các em thường không thích môn học này.Sau khi nghiên cứu tôi thấy, nội dung phân môn Luyện từ và câu là phù hợp với năng lực nhận thức của các em.Nếu người giáo viên có phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, tổ chức hướng dẫn các hoạt động một cách linh hoạt, nhẹ nhàng,thì các em sẽ rất hứng thú, chủ động nắm chắc kiến thức
Vậy làm thế nào để dạy học tốt phân môn luyện từ và câu góp phần nâng cao
chất lượng của môn Tiếng Việt?
Trong khuôn khổ bài viết này, tôi mạnh dạn trình bày:“Biện pháp dạy Luyện
từ và câu lớp 4- 5”mà tôi đã rút ra trong quá trình giảng dạy.
2 Tên sáng kiến: :“Biện pháp dạy Luyện từ và câu lớp 4- 5”
Trang 33 Tác giả sáng kiến:
-Họ và tên: Dương Thị Lan Thành
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Dương Thị Lan Thành - Giáo viên trường Tiểu họcYên Thạch - huyện Sông Lô - tỉnh Vĩnh Phúc
-Số điện thoại: 0358192074
E-mail:duongthilanthanh.gvc1y enthach @vinhphuc.edu.vn
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến :
Giáo viên: Dương Thị Lan Thành- Giáo viên trường Tiểu học Yên Thạch- huyệnSông Lô - tỉnh Vĩnh Phúc
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Sáng kiến đượcáp dụng trong việc thực hiện tổ chức giảng dạy phân môn Luyện
từ và câu cho học sinh lớp 4 và lớp 5 tại trường Tiểu học Yên Thạch nhằm nângcao chất lượng môn Tiếng Việt cho học sinh
Đối tượng áp dụng: học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Yên Thạch
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:
Ngày sáng kiến áp dụng lần đầu: Ngày 10 tháng 9 năm 2019
7 Mô tả bản chất của sáng kiến:
7.1.Về nội dung của sáng kiến:
Trang 4- Sự quan tâm của phụ huynh học sinh cũng góp phần nâng cao chất lượng môn họcnói riêng và môn tiếng việt nói chung
- Các em học sinh đều được học 2 buổi/ngày Vừa học lý thuyết vừa được luyện tậpcủng cố để khắc sâu kiến thức.Từ đó giúp các em có khả năng sử dụng thành thạocác bài tập thực hành và áp dụng linh hoạt vào các phân môn khác Học sinh đượchọc luyện từ và câu,bước đầu biết phân biệt các âm vần dễ lẫn ngay từ lớp một, tàiliệu sách giáo khoa và tài liệu tham khảo có đầy đủ
b.Khó khăn:
- Do nhận thức của học sinh còn nhiều hạn chế học sinh chưa nắm chắc kiến thức
về luyện từ và câu, chưa biết vận dụng để làm bài tập, ý thức học tập chưa cao
- Học sinh khi làm bài tập về câu hay từ rất hay nhầm lẫn
- Sự quan tâm của phụ huynh chưa đồng đều.Bên cạnh đó là học sinh với lối tư duy
cụ thể, một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến con em mình còn có quanđiểm '' trăm sự nhờ nhà trường, nhờ cô'' cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng họctập bộ môn
7.1.2.Biện pháp bồi dưỡng:
Giáo dục bậc tiểu học là một khoa học giáo dục khó nhất Nó là nền móng đầu tiên
để giúp con người tồn tại và phát triển, đặc biệt là môn Tiếng Việt có vị trí quantrọng trong tất cả các môn ở trường, nó hình thành khả năng giao tiếp, là cơ sở đểphát triển tư duy cho trẻ để tiếp thu và học các môn học khác Học sinh muốn giỏiTiếng Việt trước hết phải hiểu tiếng mẹ đẻ từ đó có vốn từ ngữ phong phú hơn
Ta đã biết rằng Việt Nam ta từ khi chưa có chữ viết đã có văn học dân gian,văn học truyền miệng Đây là kho tàng khổng lồ về ngôn ngữ, kinh nghiệm thực tếcuộc sống trên tất mọi mặt mà ông cha ta đã qua thực tế lao động chiến đấu Họcsinh phải có năng lực cảm nhận giá trị nghệ thuật của bài văn, bài thơ, đoạn thơ,đoạn văn.Nắm chắc vốn từ ngữ đã được học ở các chủ điểm
Trang 5Đây cũng là vấn đề góp phần rất lớn trong việc hình thành nhân cách, giáo dụctruyền thống tốt đẹp của dân tộc, giáo dục tình cảm yêu quê hương đất nước, tìnhcảm bạn bè, tình cảm gia đình ,
- Giáo viên sử dụng linh hoạt các phương pháp theo tình hình thực tế học sinh
trong lớp của mình
Ví dụ :
-Phương pháp và giải quyết vấn đề là giáo viên đưa ra những tình huống gợi mởvấn đề điều khiển học sinh phát hiện vấn đề hoạt động tự giác tích cực chủ động vàsáng tạo để giải quyết vấn đề thông qua đó mà kiến tạo tri thức rèn luyện kỹ năng.Tăng thêm sự hiểu biết và khả năng áp dụng lý thuyết vào giải quyết vấn đề củathực tiễn nâng cao kỹ năng phân tích từ tình huống cụ thể và khả năng độc lậpcũng như khả năng hợp tác trong quá trình giải quyết vấn đề
Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên cần chuẩn bị trước câu hỏi sao cho phùhợp với mục đích, yêu cầu và nội dung của bài đảm bảo tính sư phạm, đáp ứng vớicác đối tượng học sinh, giáo viên cần chuẩn bị tốt kiến thức để giải quyết vấn đề
mà học sinh đưa ra
- Học sinh phải nắm chắc nội dung kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa, làm cácbài tập trong sách giáo khoa thành thạo
- Củng cố vững chắc và hướng dẫn đào sâu kiến thức đã học thông qua việc gợi ýcác câu hỏi hướng dẫn đi sâu vào nội dung bài học, kiến thức trọng tâm thông quayêu cầu học sinh tự tìm thí dụ để minh hoạ Đặc biệt thông qua vận dụng thực hành.Kiểm tra kiến thức đã tiếp thu các bài tập đã làm
- Yêu cầu giải các bài tập cần có sự tư duy cao
-Nhớ các khái niệm mà học sinh đã được học vận dụng thực hành tốt
- Giáo viên sử dụng các phương pháp linh hoạt, để phát huy tính tích cực tính sángtạo của học sinh
Trang 6- Giới thiệu tiểu sử một số nhà văn, nhà thơ.
- Tổ chức cho học sinh thi khảo sát thường xuyên vào cuối tuần, cuối tháng
- Cho học sinh làm bài kiểm tra trên lớp theo cấu trúc đề khác nhau tuỳ theo lượngthời gian quy định
- Giáo viên chấm chữa bài cho học sinh, có những bài giáo viên cần phải trao đổitrực tiếp ( chấm tay đôi cùng với từng học sinh) Có những bài kiểm tra của họcsinh giáo viên chấm chữa và công bố điểm sau đó gửi về gia đình yêu cầu học sinh
cho phụ huynh xem bài kiểm tra và kí tên (Có hiệu quả rất tốt).
- Thường xuyên cho học sinh làm bài kiểm tra và cho học sinh trao đổi bài chonhau tự đánh giá bài làm của bạn sau đó giáo viên là người kết luận cuối cùng -Thường xuyên phối kết hợp giữa giáo viên và gia đình thì công tác giảng dạy mới
có hiệu quả cao
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói,đọc, viết) và cung cấp những kiến thức sơ giản gắn trực tiếp với việc học TiếngViệt nhằm tạo ra ở học sinh năng lực dùng Tiếng Việt để học tập ở Tiểu học và cáccấp học cao hơn, để giao tiếp trong các môi trường hoạt động lứa tuổi
- Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp, phán đoán,…)
- Cung cấp những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa và văn học của Việt Nam và nước ngoài để từ đó:
- Góp phầnbồi dưỡng tình yêu cái đẹp, cái thiện, lòng trung thực, lòng tốt, lẽ phải
và sự công bằng xã hội; góp phần hình thành lòng yêu mến và thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt
- Góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại: có tri thức, biết tiếpthu truyền thống tốt đẹp của dân tộc, biết rèn luyện lối sống lành mạnh, ham thích
Trang 7làm việc và có khả năng thích ứng với cuộc sống xã hội sau này.-Yêu cầu đối vớigiáo viên có vốn từ ngữ phong phú:
- Cách dạy phải đa dạng không lệ thuộc máy móc vào sách giáo khoa, phải cósáng tạo, sinh động mới cuốn hút được học sinh; điều kiện giảng dạy không đơnđiệu mà phải có tranh ảnh Để tiết dạy Luyện từ và câu lớp 4 và lớp 5 đạt hiệu quảcao, giáo viên cần chú trọng đến việc tìm nhiều hình thức truyền thụ kiến thức đểgây hứng thú nâng cao chất lượng học Luyện từ và câu cho học sinh
Từ thực tế trên, tôi nhận thấy để thực hiện tốt yêu cầu đổi mới phương phápdạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong
giờ học Luyện từ và câu trên lớp “ nhẹ nhàng hơn, tự nhiên hơn, chất lượng hơn” Bản thân tôi đã tìm tòi nghiên cứu biện pháp dạy Luyện từ và câu lớp 4 và
lớp 5, tôi nhận thấy hiệu quả giờ học có chuyển biến tốt, học sinh hứng thú họcLuyện từ và câu hơn, giờ học thật vui, thật nhẹ nhàng, sôi nổi Đặc biệt mỗi họcsinh đều được bộc lộ suy nghĩ về vốn sống, vốn từ của mình
-Phát huy tối đa tính tích cực, chủ động của học sinh trong tiết học, buổi học
- Đối với dạng bài học mở rộng vốn từ đều mang tính trừu tượng và là con đườngthuận lợi cho việc phát triển tư duy và nhận thức về hiện thực đời sống Giáo viêncần phối hợp các phương pháp dạy học để phát huy tính tích cực học tập của họcsinh Mặt khác mở rộng vốn từ không chỉ dừng lại ở việc giúp học sinh huy độngvốn từ, tìm từ ngữ theo chủ điểm mà giáo viên cần hướng dẫn học sinh chủ độnglựa chọn từ ngữ và sử dụng từ ngữ đó trong học tập và giao tiếp
- Giáo viên giao bài cho học sinh tự làm rồi kiểm tra kết quả bài làm so sánh đốichiếu với bạn bè về kết quả đó
- Ngoài những bài tập sách giáo khoa các em cần tham khảo nhiều bài, nhiều dạngbài dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Trang 8- Đối với dạng bài về cấu tạo câu, cấu tạo từ là tương đối khó nhưng yêu cầu họcsinh phải thực hành thành thạo bằng cách học thuộc các khái niệm về câu, từ, từloại, làm nhiều dạng bài tập khác nhau.
Để có thể thực hiện các yêu càu về kiến thức, kỹ năng của phân môn luyện từ vàcâu Chúng tôi có đề xuất một số biện pháp sau:
* Phát huy tính tích cực của học sinh bằng hình ảnh trực quan.
Muốn phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh người giáo viênphải có hệ thống câu hỏi trong mỗi bài phải thật cụ thể phù hợp với mọi đối tượnghọc sinh
Ví dụ 1: Bài Mở rộng vốn từ “Đồ chơi – Trò chơi”
Giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị 1 số đồ chơi các con hay chơi hàng ngày.Sau
đó, miêu tả lại đồ vật đó cùng cách chơi
Ví dụ 2: Bài Mở rộng vốn từ Nhân hậu - Đoàn kết (trang 17)
Bài 1: Tìm các từ ngữ:
a Thể hiện lòng nhân hậu, tình cảm yêu thương đồng loại
b Trái nghĩa với nhân hậu hoặc yêu thương
c Thể hiện tinh thần đùm bọc hoặc giúp đỡ đồng loại.
d Trái nghĩa với đùm bọc hoặc giúp đỡ.
Ở bài tập này, tôi hướng dẫn học sinh như sau:
- Dựa vào các bài Tập đọc Dế Mèn bênh vực kẻ yếu, bài Chính tả Mười năm cõng
bạn đi học để tìm các từ theo các yêu cầu của bài tập.
- Cho học sinh xem một trích đoạn đĩa hình về cảnh cứu trợ, ủng hộ đồng bào gặpthiên tai, ủng hộ người nghèo… để giúp các em liên hệ tìm từ dễ hơn
Trang 9- Các em có thể tìm: tương thân tương ái, đùm bọc, khó khăn, hoạn nạn, thiên tai,đoàn kết, chia sẻ, cảm thông
Với cách làm này, học sinh dễ dàng tìm từ mà không bị nhầm và sai từ, các em tìmđược nhiều từ khá phong phú
*Thay đổi nhiều hình thức dạy học phong phú, đa dạng.
Ví dụ:
- Thảo luận nhóm để tìm từ đúng với yêu cầu đề bài
- Chơi trò chơi “Gắn thẻ từ” Từ trò chơi tạo cho học sinh hứng thú học tập
- Tọa đàm, trao đổi, và trả lời các câu hỏi do mình đưa ra dẫn dắt để giúp học sinhhiểu thế nào là danh từ
- Học sinh vận dụng những kiến thức đã học để hoàn thành các bài vào phiếu
Như vậy trong một tiết học, việc giáo viên vận dụng linh hoạt các hình thức dạyhọc trong dạy luyện từ và câu là nhiệm vụ cần thiết Với cách làm này đã thu húthọc sinh hào hứng tham gia vào bài học, các em học sinh chủ động tiếp thu kiến thức,vận dụng làm bài tốt mà giờ học vẫn nhẹ nhàng
*Bồi dưỡng học sinh năng khiếu, nâng cao chất lượng đại trà:
Một lớp học bao giờ cũng có nhiều đối tượng như học sinh khá, giỏi, học sinhtrung bình và có thể có cả học sinh yếu Các bài tập trong sách giáo khoa theo yêucầu của Chuẩn kiến thức, kĩ năng thì mọi đối tượng học sinh đều phải đạt được.Hơn nữa nhà trường tổ chức học hai buổi trên ngày nên có nhiều thời gian rènluyện thêm vào buổi chiều Chính vì vậy, bản thân tôi nhận thấy cần phải có các bàitập dành cho học sinh năng khiếu, từng bước nâng cao chất lượng học sinh trungbình và yếu là việc làm thường xuyên trong các giờ học
Ví dụ:Bài Mở rộng vốn từ: Ý chí - Nghị lực
Trang 10Buổi sáng, các em đã được làm các bài tập trong SGK Đến buổi chiều, tôi xâydựng thêm hệ thống bài tập cho các em rèn luyện thêm như sau:
Bài tập 1: Chọn từ thích hợp trong các từ sau để điền vào ô trống: ý chí, quyết chí,
chí hướng, chí thân.
a Nam là người bạn … của tôi
b Hai người thanh niên yêu nước ấy cùng theo đuổi một……
c ……… của Bác Hồ cũng là ……của toàn thể nhân dân Việt Nam
*Phối hợp bài dạy với các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Ví dụ 1 : Tổ chức các cuộc thi; hội vui học tập, ….
Ví dụ 2 : Qua trò chơi Rung chuông vàng, tôi hướng dẫn học sinh chơi như sau:
- Bước 1: Phổ biến luật chơi
- Bước 2: Nêu yêu cầu chơi
Học sinh suy nghĩ, lần lượt viết vào bảng con các từ thích hợp trong ngoặc để hoànchỉnh các câu thành ngữ.Sau thời gian quy định học sinh sẽ giơ bảng Em nào sai sẽ
bị loại đứng sang một bên và phải hát một bài hoặc làm một động tác gây cười cho
cả lớp mới được quay lại “sàn thi đấu”
Trang 11- Bước 3: Yêu cầu học sinh chơi
Sau đó tôi chốt lời giải đúng cho học sinh ghi nhớ các câu thành ngữ đã hoàn chỉnh.Tóm lại trong dạy học, tạo hứng thú cho học sinh là rất quan trọng.Nó gần nhưquyết định hiệu quả của việc dạy học.Luyện từ và câu được đánh giá là khô khantrong các phân môn Tiếng Việt Vì vậy việc phối hợp với các hoạt động ngoài giờlên lớp sẽ tạo hứng thú cho học sinh trong việc tiếp thu kiến thức Khi học sinh cóhứng thú, các em sẽ tự giác, chủ động học tập chủ động nắm được kĩ năng, kiếnthức
*Thay đổi ngữ liệu yêu cầu của bài trong Sách giáo khoa sao cho phù hợp với thực tế và tư duy của học sinh.
- Ví dụ 1: Trong bài: Luyện tập cẩu kể Ai là gì?
Bài tập :Viết đoạn văn ngắn khoảng 5 câu kể về một người bạn mà em mới quen (có dùng câu kể "Ai là gì?”).
Kiến thức tiếng Việt vốn bắt nguồn từ đời sống thực tế, nếu trong khi dạy, giáo viênliên hệ thực tế để học sinh tìm kiến thức thì các em làm bài tập tốt hơn, hứng thúhơn.Ngược lại sau mỗi hoạt động hoặc mỗi bài, giáo viên cần liên hệ thực tế đểgiáo dục các em vận dụng những điều đã học vào cuộc sống Có như vậy, các emmới cảm thấy kiến thức bài học thật gần gũi, yêu thích môn học hơn
Ví dụ 2: Mở rộng vốn từ: Ý chí - Nghị lực (tuần 13)
Bài tập: Viết một đoạn văn ngắn nói về một người do có ý chí, nghị lực nên đã vượt
qua nhiều thử thách, đạt được thành công.
Với bài tập này, tôi yêu cầu học sinh có thể liên hệ ngoài việc viết về nhữngnhân vật mà các em được học, được xem trên báo, đài các em có thể viết về nhữngbạn trong lớp, trong trường hoặc chính người thân của em Và thực tế khi dạy bàinày, khá nhiều học sinh trong lớp tôi đã chọn viết bạn trong lớp và người thân củamình.Khi mời đọc bài, sửa trước lớp, các em rất ngạc nhiên, thích thú Tôi đã chọn
Trang 12bài làm tốt kể về những người gần gũi xung quanh để giáo dục, nêu gương trướclớp Vì những nhân vật đó chính là con người cụ thể mà các em được biết, đượcthấy, như vậy sẽ có tính giáo dục tốt hơn.
Như vậy từ thực tiễn cuộc sống, các con đã gắn vào với bài học một cách nhẹnhàng.Rất nhiều học sinh trong lớp có bài viết hay, cảm động với lời kể chân thànhmộc mạc
DẠNG 1: CẤU TẠO TỪ
1 Hướng dẫn và tổng hợp cho học sinh ghi nhớ nội dung kiến thức
Khi giảng dạy, tôi luôn cố gắng rèn học sinh trong các giờ học Tổng hợp cho họcsinh hiểu và ghi nhớ những kiến thức trọng tâm.Hướng dẫn học sinh cách phân biệt
từ ghép và từ láy
* Từ ghép: Là từ do hai hoặc nhiều tiếng có nghĩa ghép lại tạo thành nghĩa chung
Từ ghép được chia thành hai kiểu:
- Từ ghép có nghĩa tổng hợp: Là từ ghép mà nghĩa của nó biểu thị những loại rộng
hơn, lớn hơn, khái quát hơn so với nghĩa các tiếng trong từ
- Từ ghép có nghĩa phân loại: Thường gồm có hai tiếng, trong đó có một tiếng chỉ
loại lớn và một tiếng có tác dụng chia loại lớn đó thành loại nhỏ hơn
* Từ láy: Là từ gồm hai hay nhiều tiếng láy nhau Các tiếng láy có thể có một phầnhay toàn bộ âm thanh được lặp lại
- Căn cứ vào bộ phận được lặp lại, người ta chia từ láy thành bốn kiểu: Láy tiếng,láy vần, láy âm, láy cả âm và vần
- Căn cứ vào số lượng tiếng được lặp lại, người ta chia thành ba dạng từ láy: láyđôi, láy ba, láy tư
2 Hướng dẫn học sinh cách phân định ranh giới từ
Trang 13Để xác định được từ nào đó là một từ (từ phức) hay hai từ đơn bằng cách xem xét
tổ hợp ấy về hai mặt: kết cấu và nghĩa
* Về mặt kết cấu, tôi hướng dẫn học sinh dùng thao tác chêm, xen:
Ví dụ : tung cánh Tung đôi cánh
lướt nhanh Lướt rất nhanh
- Yêu cầu học sinh so sánh từ tung cánh với từ tung đôi cánh có gì khác nhau?
- Quan hệ giữa các tiếng trong từ như thế nào?
- Sau đó tôi chốt cho học sinh hiểu nếu quan hệ giữa các tiếng trong từ mà lỏng lẻo,
dễ tách rời, có thể chêm, xen một tiếng khác từ bên ngoài vào mà nghĩa của từ về
cơ bản vẫn không thay đổi thì đó là hai từ đơn
ấy là kết hợp của hai hay nhiều từ đơn
Ví dụ: trải rộng, chạy đi,…
Lưu ý học sinh:
+ Có những từ mang tính chất trung gian, nghĩa của nó mang đặc điểm của cả hailoại (từ phức và hai từ đơn) Trong trường hợp này, tuỳ từng trường hợp cụ thể mà
ta có kết luận nó thuộc loại nào
+ Khả năng dùng một yếu tố thay cho cả từ cũng là cách để chúng ta xác định từ
Ví dụ: Mùa xuân những cánh én đã bay về (cánh én chỉ con chim én)
Trang 14Những bắp ngô chỉ còn chờ tay người đến mang về (tay người chỉ con
người)
3 Hướng dẫn học sinh các cách phân biệt từ ghép và từ láy dễ lẫn lộn.
- Nếu các tiếng trong từ có cả quan hệ về nghĩa và quan hệ về âm (âm thanh) thì taxếp vào nhóm từ ghép
Ví dụ: thúng mủng, tươi tốt, đi đứng, mặt mũi, phẳng lặng, mơ mộng,
- Nếu các từ chỉ còn một tiếng có nghĩa, còn một tiếng đã mất nghĩa nhưng hai
tiếng không có quan hệ về âm thì ta xếp vào nhóm từ ghép
Ví dụ: Xe cộ, tre pheo, gà qué, chợ búa,
- Nếu các từ chỉ còn một tiếng có nghĩa, còn một tiếng đã mất nghĩa nhưng hai
tiếng có quan hệ về âm thì ta xếp vào nhóm từ láy
Ví dụ: chim chóc, đất đai, tuổi tác, thịt thà, cây cối, máy móc,
- Các từ không xác định được hình vị gốc (tiếng gốc) nhưng có quan hệ về âm thìđều xếp vào lớp từ láy
Ví dụ: nhí nhảnh, bâng khuâng, dí dỏm, chôm chôm, thằn lằn, chích choè,
- Các từ có một tiếng có nghĩa và một tiếng không có nghĩa nhưng các tiếng trong
từ được biểu hiện trên chữ viết không có phụ âm đầu thì cũng xếp vào nhóm từ láy(láy vắng khuyết phụ âm đầu)
Ví dụ: ồn ào, ầm ĩ, ấm áp, im ắng, ao ước, yếu ớt,
- Các từ có một tiếng có nghĩa và một tiếng không có nghĩa có phụ âm đầu đượcghi bằng những con chữ khác nhau nhưng có cùng cách đọc (c/k/q; ng/ngh; g/gh)cũng được xếp vào nhóm từ láy
Ví dụ: cuống quýt, cũ kĩ, ngốc nghếch, gồ ghề,
4 Bài luyện tập luyện thêm:
Trang 15Bài tập: Phân loại các từ trong hai khổ thơ sau:
Cô dạy em tập viết
Gió đưa thoảng hương nhài Nắng ghé vào cửa lớp
Xem chúng em học bài
Những lời cô giáo giảng
Ấm trang vở thơm tho
Yêu thương em ngắm mãiNhững điểm mười cô choĐáp án:
Từ ghép : chúng em, cô giáo, yêu thương
Từ láy: thơm tho
Từ đơn: cô, dạy, em, tập, viết, gió, đưa, thoảng, hương, nhài, nắng, ghé ,vào, cửa, lớp, xem, học, bài, những, lời, giảng, ấm, trang, vở, em, ngắm, mãi, nhữn,g, điểm, mười, cô, cho
Ví dụ:
Tìm từ đơn, từ ghép ,từ láy trong đoạn thơ sau :
Tìm nơi thăm thẳm rừng sâuBập bùng hoa chuối trắng màu hoa ban
Tìm nơi bờ biển sóng trànHàng cây chắn bão dịu dàng mùa hoa
Trang 16Hướng dẫn:
Từ đơn: tìm, nơi, rừng, sâu, trắng, màu, tìm, nơi, bờ, biển, sóng, tràn, hàng, cây, chắn, bão, mùa, hoa
Từ ghép: hoa chuối, hoa ban
Từ láy :dịu dàng, thăm thẳm, bập bùng
DẠNG 2: TỪ LOẠI
1 Hướng dẫn và tổng hợp cho học sinh những kiến thức cần ghi nhớ về danh
từ, động từ, tính từ.
* Danh từ: là những từ dùng chỉ sự vật; người, vật, hiện tượng, khái niệm, đơn
vị, Có hai loại danh từ đó là danh từ chung và danh từ riêng
- Danh từ chung: Dùng để gọi chung tên của các sự vật
Tôi yêu cầu học sinh cho ví dụ cụ thể cho mỗi loại danh từ:
- Danh từ chỉ người: bố, mẹ, học sinh, bộ đội,
- Danh từ chỉ vật: bàn ghế, sách vở, sông, suối, cây cối,
- Danh từ chỉ hiện tượng: nắng, mưa, gió, bão, động đất,
- Danh từ chỉ đơn vị: (ghép được với số đếm)
- Danh từ khái niệm : Là các khái niệm trừu tượng tồn tại trong nhận thức của
người, không nhìn được bằng mắt.Không cảm nhận được bằng các giác quan
Ví dụ: đạo đức, kinh nghiệm, cách mạng, tư tưởng, tinh thần, hạnh phúc, cuộc sống,
lịch sử, tình yêu, niềm vui,
- Danh từ riêng: Dùng chỉ các tên riêng của người hoặc địa danh.
Ví dụ: - Chỉ tên người: Phạm Đức Hải Huy, Thu Hiền,
- Từ dùng với ý nghĩa đặc biệt: Người, Bác Hồ,
Trang 17- Danh từ có thể kết hợp với các từ chỉ số lượng ở phía trước, các từ chỉ định ở phíasau và một số từ ngữ khác để lập thành cụm danh từ Cụm danh từ là loại tổ hợp từ
do danh từ và một số từ ngữ phụ thuộc nó tạo thành
* Động từ: Động từ là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật.
Ví dụ : - Đi, chạy ,nhảy, (động từ chỉ hoạt động )
- Vui, buồn, giận, (động từ chỉ trạng thái )
Khi dạy những bài về động từ, tôi lưu ý học sinh mấy lưu ý về động từ chỉ trạngthái:
- Đặc điểm ngữ pháp nổi bật nhất của động từ chỉ trạng thái là:
+ Động từ chỉ hoạt động có thể kết hợp với từ xong ở phía sau
(ăn xong, đọc xong,…)
+ Động từ chỉ trạng thái không kết hợp với xong ở phía sau (không
nói: còn xong, hết xong, kính trọng xong,…)
- Trong Tiếng Việt có một số loại động từ chỉ trạng thái sau:
+ Động từ chỉ trạng thái tồn tại (hoặc trạng thái không tồn tại): còn, hết, có,
…
+ Động từ chỉ trạng thái biến hoá: thành, hoá,…
+ Động từ chỉ trạng thái tiếp thụ: được, bị, phải, chịu,…
+ Động từ chỉ trạng thái so sánh: bằng, thua, hơn, là,…
- Một số động từ sau đây cũng được coi là động từ chỉ trạng thái: nằm, ngồi, ngủ,thức, nghỉ ngơi, suy nghĩ, đi, đứng, lăn, lê, vui, buồn , hồi hộp, băn khoăn, lo lắng,
…Các từ này có một số đặc điểm sau:
+ Một số từ vừa được coi là động từ chỉ hành động, lại vừa được coi là động
từ chỉ trạng thái
Trang 18+ Một số từ chuyển nghĩa thì được coi là động từ chỉ trạng thái (trạng thái tồntại.)
Ví dụ: Bác đã đi rồi sao Bác ơi! (Tố Hữu)
Anh ấy đứng tuổi rồi
+ Một số từ mang đặc điểm ngữ pháp của tính từ ( kết hợp được với các từ chỉmức độ )
Sau khi học sinh nắm chắc các khái niệm về động từ, tôi hướng dẫn cho học sinhhiểu thế nào là cụm động từ: Cụm động từ là loại tổ hợp từ do động từ với một số
từ ngữ phụ thuộc nó tạo thành Nhiều động từ phải có các từ ngữ phụ thuộc đi kèm,tạo thành cụm động từ mới trọn nghĩa
*Tính từ : Tính từ là những từ miêu tả đặc điểm hoặc tính chất của sự vật, hoạt
động, trạng thái,…
Tôi chốt cho học sinh có hai loại tính từ đáng chú ý là:
- Tính từ chỉ tính chất chung không có mức độ (xanh, tím, sâu, vắng,)
- Tính từ chỉ tính chất có xác định mức độ - mức độ cao nhất (xanh lè, tím ngắt, sâu
hoắm, vắng tanh,…)
Sau khi học sinh nắm chắc các khái niệm về tính từ, tôi hướng dẫn cho học sinhhiểu thế nào là cụm tính từ:
- Tính từ có thể kết hợp với các từ chỉ mức độ như: rất, hơi, lắm, quá, cực kì, vô
cùng,…để tạo tạo thành cụm tính từ (khả năng kết hợp với các phụ từ mệnh lệnh
( như động từ ) ngay trước nó là rất hạn chế)
2 Hướng dẫn học sinh phân biệt từ chỉ đặc điểm, từ chỉ tính chất, từ chỉ trạng thái.
- Từ chỉ đặc điểm: Đặc điểm là nét riêng biệt, là vẻ riêng của một một sự vật nào đó
(có thể là người, con vật, đồ vật, cây cối, ) Đặc điểm của một vật chủ yếu là đặc